1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay

17 590 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế độ xã hội đầu tiên của loài người là cộng sản nguyên thủy sau đó là chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, va hiện nay con người đang tiến đến một xã hội tiến bộ nhất đó là c

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ khi xuất hiện đến nay, con người đã trải qua những bước phát triển khác nhau Gắn liền với những bước phát triển đó là những chế độ xã hội khác nhau Chế độ xã hội đầu tiên của loài người là cộng sản nguyên thủy sau đó là chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, va hiện nay con người đang tiến đến một xã hội tiến bộ nhất đó là cộng sản chủ nghĩa.Ở bất kể chế độ nào con người cũng phải sản xuất, sản xuất là đặc trưng cơ bản nhất cho sự phát triển của con người và có 2 mặt cơ bản la lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.Đây là 2 mặt luôn gắn liền và có quan hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên để sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất, ngược lại chúng sẽ kìm hãm sản xuất Vì vậy xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn là yêu cầu tất yếu đăt ra cho mọi chế độ xã hội

Nước ta hiện nay đang trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Với điểm xuất phát định hướng lên Chủ nghĩa xã hội còn thấp cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất do vậy việc xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới

để thúc đẩy lực lượng sản xuât và xã hội phát triển là cực kì quan trọng Nó đã trở thành một rong những vấn đề cơ bản được trình bày trong văn kiện của rất nhiều các kì đại hội Đảng

Trước đây, trong một thời gian dài nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng đó là ta không nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, áp dụng một quan hệ sản xuất ở trình độ cao trong khi lực lượng sản xuất vẫn còn lạc hậu Nhìn lại quá khứ và trước tình hình thực tế, chúng ta có thể khẳng định rằng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuât là một trong các yếu tố quan trọng nhất trong xây dựng Xã hội chủ nghĩa cũng như trong mọi chế

độ xã hội Nó đã và đang là một vấn đề xuyên suốt trong tất cả các chính sách kinh tế xã hội của nước ta

Như vậy quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

và sự vận dung nó vào sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay đã và đang là một vấn đề cực kì quan trọng.Trước tình hình đó đòi hỏi phải có một nhận thức đúng đắn, khách quan về vấn đề này Vì thế em chọn đề tài này mong rằng có thể hiểu rõ thêm phần nào tầm quan trọng của nó

Trang 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1 Phương thức sản xuất

1.1 Khái niệm

- Sản xuất: sản xuất vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên, biến đổi các vật liệu của tự nhiên để tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của con người

Sản xuất của cải vật chất là cơ sở, nền tảng của đời sống xã hội, sự phát triển của sản xuất xã hội là cơ sở phát triển tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội

- Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Trong sản xuất, con người có “quan hệ song trùng”:

+ Quan hệ giữa con người với tự nhiên đó là lực lượng sản xuất

+ Quan hệ giữa con người với con người đó là quan hệ sản xuất

Tổ hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có nghĩa là cách thức mà con người tác động tới thế giới vật chất và cách thức mà con người có quan hệ

xã hội với nhau, đựoc gắn kết cùng nhau Con ngừoi cần phải tiêu dùng để tồn tại nhưng để tiêu dùng thì con người phải sản xuất, và trong quá trình sản xuất

họ cần thiết phải tham gia vào các quan hệ mà chúng tồn tại đồc lập với ý chí của họ

Vậy phưong thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

1.2 Những phương thức sản xuất đặc trưng:

Sản xuất xã hội có lịch sử lâu dài, mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phưong thức sản xuất nhất định Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao Như vậy

có một số phương thức sản xuất sau:

+ Phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy

+ Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ

+ Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

+ Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

2 Lực lượng sản xuất:

2.1 Khái niệm:

Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến thế giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình

Giới tự nhiên luôn hiện ra trước mắt như những lực lượng mù quáng, bướng bỉnh với những quy luật của nó Muốn chiếm lĩnh đựoc tự nhiên, con người

Trang 3

không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải bằng sức mạnh vật chất Và lực lượng sản xuất chính là sức mạnh do con người, xã hội tạo ra để sử dụng nó làm biến đổi tự nhiên phục vụ cho nhu cầu của mình

Lực lựong sản xuất là biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nhưng không phải mọi mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đều là lực lướng sản xuất Bởi giữa con ngừoi với tự nhiên còn có rất nhiều mối quan hệ: quan hệ thẩm mỹ, quan hệ tình cảm, quan hệ nhận thức, quan hệ thích nghi vá cải tạo…Chỉ có mối quan hệ trong đó con người cải tạo những sự vật của tự nhiên thành những sản phẩm vật chất của xã hội mới là những biểu hiện của lực lượng sản xuất

2.2 Những giai đoạn phát triển của lực lựong sản xuất:

- Ở thời kì đầu, con người chưa biết sử dụng công cụ lao động mà họ lấy chính bản thân họ làm lực lượng sản xuất (cụ thể là sức mạnh cơ bắp)

- Khi có lao động, ý thức và tư duy của con người phát triển Con người không chỉ lây sức mạnh cơ bắp của họ làm lực lượng sản xuất nữa mà còn có cả sưc mạnh trí tuệ Đây là bước phát triển rất quan trọng mở ra một thời đại mới cho lực lượng sản xuất

2.3 Các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất:

- Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động

- Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất và thói quen lao động, biết

sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất

Ngày nay, tư liệu sản xuất bao gồm:

+ Đối tượng lao động

+ Tư liệu lao động: - Công cụ lao động

Những tư liệu lao động khác

Đối tượng lao đông là một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất, được con người sử dụng Con người không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng lao đông sẵn có,mà còn sáng tao ra đối tượng lao động.Việc đua những đối tượng lao đong mới vào sản xuất chính la sự phát triển của sản xuất và nâng cao năng suất lao động

Tư liêu lao động là vật thể hay là phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượnglao động Chúng dẫn chuyền sư tác động tích cực của con người vào đối tượng lao động Trong tư liệu lao động, công cụ lao động chính là xương cốt và bắp thịt của sản xuất Để giảm nhẹ lao động và tăng năng suất lao động, con người luôn cải tiến công cụ lao động và sáng tạo ra những công cụ lao động mới

Trong lực lượng sản xuất, con người giữ vị trí số một là chủ thể tích cực, sáng tạo, có vai trò quyết định nhất Con người chế tạo ra các phương tiện, công

cụ lao động và nguyên liệu trong sản xuất LêNin đã nói: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”

Trang 4

- Hiện nay, khoa học công nghệ đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp Khoa học là một hệ thống tri thức được tích lũy trong quá trình lịch sử, được thực tiễn kiểm nghiệm, giúp con người có năng kực cải tạo thế giới.Lí do

để khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là vì:

+ Nền sản xuất hiện nay đang phát triển mạnh mẽ, ngày càng có tính quốc tế cao, biến động phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề mà thiếu khoa học công nghệ thì không thể giải quyết được

+ Ngày nay máy móc kĩ thuật ngày càng hiện đại, tinh vi làm tăng năng suất lao động Muốn không bị tụt hậu thì các nhà sản xuất phải không ngừng đổi mới trang bị máy móc với khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, tinh vi

+ Kĩ thuật công nghệ hiện đại phải có khoa học định hướng, dẫn đường và làm cơ sở lí thuyết thì mới có thể phát triển nhanh

+ Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra ngày càng hiện đại, thời gian để một lí thuyết khoa học đi vào thực tế sản xuất ngày càng được rút ngắn

2.4 Quan hệ giữa các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất:

Các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất không tồn tại và phát triển độc lập

mà quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc vào nhau Sự hoạt động của tư liệu lao động phụ thuộc vào trí thông minh, sự hiểu biết, kinh nghiệm của con người Những kinh nghiệm và thói quen của họ thì phụ thuộc vào tư liệu sản xuất Ngày nay, khoa học công nghệ xuất hiện và nó thâm nhập vào tất cả các yếu tố của lực lượng sản xuất Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Có thể nói: “khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại và đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”

Bối cảnh thế giới hôm nay buộc các nước kém phát triển phải nỗ lực vượt bậc để vượt lên hòa nhập vào cộng đồng thế giới nếu không muốn tụt hậu và trở thành nô lệ Sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính thế giới cùng với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại đang tạo điều kiện thuận lợi để những nước kém phát triển đi sau có thể tranh thủ sự hợp tác quốc tế, tiếp thu các phương tiện kĩ thuật hiện đaị, nhảy tắt công nghệ để đuổi kịp các nước phát triển

3 Quan hệ sản xuất:

3.1 Khái niệm:

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Trong xã hội loài người, con người không thể tự tách mình ra khỏi cộng đồng Hơn thế nữa giữa các con người trong cộng đồng bao giờ cũng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau: quan hệ xa hội, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, quan hệ kinh tế…Trong đó quan hệ kinh tế có một vai trò quan trọng, chi phối hàng loạt các quan hệ khác

Trang 5

Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế xa hội Tính vật chất của quan hệ sản xuất được biểu hiện ở chỗ chúng tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người Mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định

có một quan hệ sản xuất nhất định và tiêu biểu

+ Ở xã hội cộng sản nguyên thủy: chưa có sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, quan hệ sản xuất là cùng làm cùng hưởng

+ Ở xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa: đã có sự chiém hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất nên có hiện tượng người bóc lột người trong quá trình sản xuất:

Chủ nô bóc lột nô lệ

Địa chủ bóc lột sức lao động của nông dân

Tư sản bóc lột sức lao động của công nhân

+ Ở xa hội tương lai hay chủ nghĩa xã hội: xã hội cộng sản văn minh, phát triển cao, mọi người bình đẳng Đó là xã hội tiến bộ mỗi chúng ta cần vươn tới

3.2 Các mặt của quan hệ sản xuất:

- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

- Quan hệ trong tổ chức và quản lí sản xuất

- Quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra

Ba mặt cơ bản nói trên của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất

+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội, nó quyết định tất cả các quan hệ sản xuất khác Có hai hình thức cơ bản về tư liệu sản xuất đó là:

Sở hữu tư nhân: là loại hình sở hữu trong đó tư liệu sản xuất tập trung vào một số ít người, còn lại đa phần là không có hoặc có rất ít Do đó quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất và đời sống xã hội là quan

hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột

Sở hũu công cộng: là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng Do đó quan hệ giữa người với người trong mỗi cộng đồng là quan hệ bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau + Quan hệ tổ chức và quản lí sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất

+ Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất bị các quan hệ sản xuất khác chi phối song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người Do đó nó cũng kích thích đến sự công bằng, bình đẳng trong xa hội như làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít…

Nước ta hiện nay đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là gạt

bỏ tất cả quan hệ sở hữu cá thể tư nhân, chỉ còn là sở hữu công hữu và tập thể Trái lại, tất cả những gì thuộc sở hữu tư nhân góp phần vào sản xuất kinh doanh

Trang 6

thì chấp nhận nó như một bộ phận tự nhiên của quá trình kinh tế xây dựng chủ nghĩa xã hội, khuyến khích mọi hình thức kinh tế để phát triển sản xuất và nâng cao cuộc sống nhân dân Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, những năm qua do không nhận thức được đầy đủ vấn đề này, chúng ta đã mắc khuyết điểm là tuyệt đối hóa vai trò quan hệ sở hữu, coi nhẹ các quan hệ khác dẫn đến việc cải tạo quan hệ sản xuất không đồng bộ nên quan hệ sản xuất mới chỉ là hình thức Tuy nhiên, ngoài vai trò là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất còn là cơ sở của các quan hệ xã hội khác Vì vậy nó thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

4 Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất Chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử xa hội loài người – quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

4.1 Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất:

4.1.1 Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:

- Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của quan hệ sản xuất:

Khi loài người mới xuất hiện, lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp, công cụ lao động thô sơ, con người chủ yếu lấy đá mài, đẽo thành những vật dụng đơn giản Khả năng chinh phục tự nhiên của con người còn rất hạn chế, vì vậy con người buộc phải thực hiện “cùng làm cùng hưởng”.Đó là quan hệ sản xuất cộng sản nguyên thủy

Lực lượng sản xuất dần dần phát triển, công cụ lao động và các phương tiện sản xuất ngày càng hiện đại nhưng chỉ tập trung trong tay một số người Và đương nhiên họ trở thành ông chủ Quan hệ giữa những ông chủ này với những người làm thuê là quan hệ thống trị - bị trị Đây chính là cơ sở cơ bản nhất hình thành nên quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ và tiếp tục phát triển trong quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Hiện nay, con người đang hướng tới một quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa Đó là quan hệ bình đẳng giữa người và người trong quá trình sản xuất, không còn quan hệ thống trị và bị trị Mỗi người lao động theo sức của mình và hưởng theo những gì mình làm ra và dựa trên một lực lượng sản xuất hiện đại và tiên tiến

- Lực lượng sản xuất quyết định tới sự tồn tại của quan hệ sản xuất:

Ta đã biết, quá trình sản xuất có “quan hệ song hành” :đó là quan hệ giữa người với tự nhiên ( lực lượng sản xuất ) và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất ( quan hệ sản xuất ) Hai quan hệ luôn luôn song hành, tồn tại song song với nhau, nhưng quan hệ 1 lại luôn quyết định quan hệ 2 Để sản xuất của cải vật chất, con người phải dựa vào thiên nhiên, khai thác thiên nhiên nhằm

Trang 7

biến đổi nó thành những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình Chính quá trình biến đổi đó phát sinh quan hệ giữa người với người ( quan hệ sản xuất ) Nếu không có quá trình sản xuất sẽ không bao giờ tồn tại quan hệ sản xuất

- Lực lượng sản xuất quyết định ở sự thay thế các loại hình quan hệ sản xuất: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

Sự phù hợp đó là động lực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Nhưng lực lượng sản xuất thường phát triển nhanh còn quan hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn định Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thành trướng ngại vật đối với sự phát triển của nó Do đó dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất, kìm hãm sự phát triển kinh tế Điều đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển

4.1.2 Lực lượng sản xuất làm biến đổi quan hệ sản xuất:

Lực lượng sản xuất là một yếu tố động, nó thường xuyên biến đổi Đó là quy luật vận động của thế giới khách quan Sự biến đổi của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất biến đổi theo Quan hệ sản xuất ổn định và tồn tại đến mức

độ nào là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên trong sự phù hợp ấy thì lực lượng sản xuất thường xuyên biến động đã kéo theo sự biến động cục bộ trong quan hệ sản xuất, còn bản chất quan hệ sản xuất vẫn không thay đổi

Ví dụ: lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho quan hệ sản xuất biến đổi cục bộ theo hai giai đoạn: giai đoạn tự do cạnh tranh và giai đoạn tư bản độc quyền Đó là hai hình thức khác nhau nhưng bản chất thì vẫn giống nhau Đó là bản chất bóc lột sức lao động, nâng cao giá trị thặng dư Khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn nữa, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được diễn ra theo hai bậc, đó là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

4.2 Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất:

Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ và do đó tác động đến

sự phát triển của lực lượng sản xuất Mặt khác, quan hệ sản xuất thể hiện sự kết hợp giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất Do vậy sự kết hợp ấy diễn ra như thế nào là điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất:

- Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất:

Khi đó quan hệ sản xuất là động lực cơ bản thúc đẩy, mở đường, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển

- Quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất:

Trang 8

Thường xảy ra khi lực lượng sản xuất đó phỏt triển cũn quan hệ sản xuất trở nờn lạc hậu, lỗi thời do tớnh ổn định của nú và tớnh chất thường xuyờn vận động của lực lượng sản xuất Khi đú, quan hệ sản xuất kỡm hóm sự phỏt triển của lực lượng sản xuất, nhưng theo một quy luật, đến một lỳc nào đú mõu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ được giải quyết và thay vào đú là sự phự hợp

Cú thể xảy ra khi quan hệ sản xuất vượt quỏ giới hạn cho phộp Điều này chỉ xảy ra trong xó hội đương thời do tớnh năng động thỏi quỏ (do tớnh chủ quan duy

ý chớ củ giai cấp thống trị đó muốn lựa chọn một quan hệ sản xuất tiờn tiến nhưng chưa phự hợp)

Túm lại:

Quy luật quan hệ sản xuất phự hợp với trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tỏc động tong toàn bộ tiến trỡnh lịch sử nhõn loại Sự tỏc động của quy luật này đó đưa xó hội loài người trải qua cỏc phương thức sản xuất từ thấp đến cao Cộng sản nguyờn thủy, chiếm hữu nụ lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và phương thức cộng sản trong tương lai

Tuy nhiờn, để cú sự phự hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất khụng phải là một điều đơn giản Nú phải thụng qua nhận thức và hoạt động cải tạo của con người Nú là một quỏ trỡnh lõu dài, diễn ra dần dần từng bước, khụng thể nhanh chúng và ngay lập tức Khi mõu thuẫn được giải quyết thỡ cũng

là lỳc quỏ trỡnh phự hợp mới được xỏc lập, nhưng trờn cơ sở trỡnh độ mới của lực lượng sản xuất Cũng như quỏ trỡnh giải quyết, sự phự hợp được xỏc lập từ thấp đến cao, từ ớt đến nhiều, từ cục bộ độn toàn bộ Lỳc này sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được tạo ra

II.Vận dụng quy luật sự phự hợp của quan hệ sản xuất với trỡnh

độ phỏt triển của lực lượng sản xuất vào sự nghiệp đổi mới ở nước

ta hiện nay.

1 Tình hình n ướ c ta tr ướ c Đạ i h ộ i Đả ng to n qu àn qu ố c l ầ n VI n ă m 1986

Sau khi giành đợc chính quyền từ tay đế quốc Pháp (1954) nền kinh tế Miền Bắc nớc ta đi lên theo nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ trình

độ khoa học kém phát triển, quan hệ giữa lực lợng sản xuất với trình độ sản xuất rời rạc, tẻ nhạt Tuy nhiên duy trì chế độ bao cấp vào thời gian đó là hợp lý bởi lúc đó Miền Bắc có nhiệm vụ vô cùng to lớn là vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chi viện sức ngời, sức của cho Miền Nam kháng chiến chống Mỹ Nếu không sử dụng phương thức quản lý bao cấp thì nước ta sẽ không thể đủ sức chống trọi với kẻ thù mạnh về tiềm lực t i chính v quân sài chính và quân s ài chính và quân s ự Tuy nhiên duy trì nền kinh tế bao cấp tự cung tự cấp quá lâu sau chiến tranh, không cho phép tồn tại bất kỳ một hình thức sở hữu tư nhân n o ài chính và quân s đó dẫn nước ta lâm v o tình trài chính và quân s ạng khủng hoảng kinh tế-xã hội Nớc ta đi lên xã hội chủ nghĩa với một lực lợng sản xuất cũng chưa phát triển và tiềm năng mọi mặt còn non trẻ đòi hỏi phải có một chế độ kinh tế phù hợp với nớc nhà và do đó nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ra đời Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do

Trang 9

quá cờng điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nớc ta quá độ

đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền t bản chủ nghĩa Đồng nhất tư hữu với chủ nghĩa tư bản, quan hệ sản xuất phát triển quá xa so với lực lượng sản xuất lài chính và quân s những sai lầm chúng ta đã mắc phải Không thấy rõ các bớc đi có tính qui luật trên con đờng tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đờng lối "đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đa quan hệ sản xuất đi trớc mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể" Quan niệm cho rằng có thể đa quan hệ sản xuất đi trớc

để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ Sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên Trên con đờng tìm tòi lối thoát của mình từ trong lòng nền xã hội đã nảy sinh những hiện tợng trái với ý muốn chủ quan của chúng ta có nhiều hiện tợng tiêu cực nổi lên trong đời sống kinh tế nh quản lý kém, tham ô, Nhng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lợng sản xuất với những hình thức kinh tế

- xã hội xa lạ đợc áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực l-ợng sản xuất mới nảy sinh và phát triển Khắc phục những hiện tl-ợng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta cha làm hết nhiệm vụ mình phải làm Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế Thiết lập quan

hệ sản xuất mới với những hình thức và bớc đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nớc cách mạng Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa t bản và luôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất

2 Tình hình n ướ c ta sau đổ i m ớ i- sau Đạ i h ộ i Đả ng VI 1986:

2.1 Những đổi mới trong Quan hệ sản xuất:

Các nhà báo của nớc ngoài từng phỏng vấn nguyên Tổng bí th Lê Khả Phiêu rằng "với một ngời có bằng cấp về quân sự nhng không có bằng cấp về kinh tế

ông có thể đa nớc Việt Nam tiến lên không", trả lời phỏng vấn Tổng bí th khẳng

định rằng Việt Nam chúng tôi khác với các nớc ở chỗ chúng tôi đào tạo một ngời lính thì ngời lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi, và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đờng chủ quan của t bản, nhng không phải triệt tiêu t bản trên đất nớc Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa t bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và nh vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế t bản là sáng suốt Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không những khôi phục thành phần kinh tế t bản t nhân và kinh tế cả thế mà phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nớc Nhng điều quan trọng là phải nhận thức đợc vai trò của thành phần kinh tế nhà nớc trong thời kỳ quá độ Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gơng về các mặt năng suất, chất lợng và hiệu quả Thực hiện đầy đủ đối với nhà nớc Đối với thành phần kinh tế t bản t nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp

để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất trong thời kỳ quá độ Vì nh thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lợng lao động

Điều lệ Đảng trước đây không cho phép Đảng viên l m kinh tài chính và quân s ế tư nhân, nhưng nay do có sự nhận thức đúng đắn hơn đặc biệt l vài chính và quân s ề quy luật quan hệ sản xuất phải phự hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: thứ nhất, chúng

ta không thể ngay lập tức xoỏ bỏ hình thức sở hữu tư nhân, thứ hai, dân ta có

Trang 10

gi u thì nài chính và quân s ước ta mới mạnh- Đảng viên l m gi u chính ài chính và quân s ài chính và quân s đáng cũng chính l hài chính và quân s ọ đang xây dựng cơ sở cho sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, lực lượng sản xuất phát triển chưa cao v có nhiài chính và quân s ều trình độ khác nhau Do đó, trong nền kinh tế tồn tại

ba hình thức sở hữu tư liệu sản xuất cơ bản: sở hữu to n dân, sài chính và quân s ở hữu tập thể vài chính và quân s

sở hữu tư nhân Trên cơ sở ba hình thức sở hữu cơ bản đó, hình th nh 5 th nhài chính và quân s ài chính và quân s phần kinh tế: kinh tế nh nài chính và quân s ước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ), kinh tế tư bản tư nhân v kinh tài chính và quân s ế có vốn đầu tư nước ngo i Hiài chính và quân s ện nay, các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất không tồn tại độc lập m ài chính và quân s đan xen nhau v tácài chính và quân s động lẫn nhau Sở hữu nh nài chính và quân s ước được xác lập trước hết đối với công cụ thuộc kết cấu hạ tầng, các nguồn t i nguyên, các t i sài chính và quân s ài chính và quân s ản quốc gia S… S ở hữu nh nài chính và quân s ước được thiết lập trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như: ngân h ng, bài chính và quân s ảo hiểm, bưu điện, đường sắt, h ng không, sài chính và quân s ản xuất điện,khai thác mỏ… S Đồng thời, do ho n cài chính và quân s ảnh lịch sử, sở hữu nh nài chính và quân s ước cũng được thiết lập ở các doanh nghiệp cung ứng h ng hoá, dài chính và quân s ịch vụ thông thường Với sự thiết lập sở hữu nhài chính và quân s nước, Nh nài chính và quân s ước trở th nh chài chính và quân s ủ thể kinh tế thực sự, thiết lập quan hệ kinh tế vài chính và quân s tác động đến các chủ thể kinh tế khác

2.2 Công nghiệp hoá sự vận dụng tuyệt vời của qui luật sự phự hợp của quan

hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nớc ta

Đất nớc ta đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nh

-ng cô-ng cụ của chú-ng ta còn thô sơ Nguy cơ tụt hậu của đất nớc -ngày cà-ng đợc khắc phục Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nớc về công nghiệp hoá - hiện đại hoá trớc hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng nh cơ cấu một xã hội hợp giai cấp Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vợt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc vì dân giàu nớc mạnh công bằng văn minh hãy còn phía trớc mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nớc ta

Trong 20 năm đổi mới, GDP của Việt Nam đó tăng liên tục Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), GDP chỉ tăng trưởng bình quân 3,9%/năm, thì trong 5 năm tiếp theo (1991-1995) đã nâng lên đạt mức tăng bình quân 8,2% Trong giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng GDP của Việt Nam l 7,5%, thài chính và quân s ấp hơn nửa đầu thập niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng t i chính châu Á.ài chính và quân s

Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng GDP của Việt Nam đó phục hồi, h ng nài chính và quân s ăm đều tăng ở mức năm sau cao hơn năm trước (năm 2001 tăng 6,9%, năm 2002 tăng 7%, năm 2003 tăng 7,3%, năm 2004 tăng 7,7%, năm 2005 tăng 8,4% Việt Nam đó dần thay thế được cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch húa, tập trung, quan

Ngày đăng: 30/05/2014, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w