Lý do ch ọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, nơi mà cách mạng khoa học và công nghệ mang lại nhiều thành tựu mới Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ cao và những thay đổi nhanh chóng đang đặt ra yêu cầu cho nền giáo dục Việt Nam phải tiếp tục đổi mới, nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Ngành Giáo dục và Đào tạo cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm những người lao động có trí tuệ, tay nghề thành thạo và phẩm chất tốt đẹp Họ phải được đào tạo và bồi dưỡng trong một môi trường giáo dục tiên tiến, kết hợp với khoa học công nghệ hiện đại Đồng thời, nguồn nhân lực này cần có cơ cấu hợp lý, phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương.
Để đạt được các mục tiêu giáo dục, việc tăng cường công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là rất cần thiết, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến phân luồng học sinh sau bậc trung học.
Luật giáo dục xác định rằng một trong những mục tiêu chính của giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức về kỹ thuật và hướng nghiệp, giúp họ có thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, học nghề hoặc tham gia vào thị trường lao động Đặc biệt, giáo dục phổ thông bậc Trung học phổ thông cần đảm bảo nội dung chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho tất cả học sinh.
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển giáo dục, với phương châm "Thực hiện phương châm".
Học đi đôi với hành và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là những nguyên tắc quan trọng trong việc hướng nghiệp cho học sinh trung học, giúp thanh niên chuẩn bị cho nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục lao động hướng nghiệp là ưu tiên hàng đầu trong đổi mới mục tiêu giáo dục, thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đà Nẵng, với vị thế là thành phố trực thuộc Trung ương, đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp.
Đến năm 2005, thành phố phấn đấu đạt cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công nghiệp chiếm 45,7%, dịch vụ chiếm 49,3% và nông nghiệp chiếm tỷ trọng còn lại.
Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Đà Nẵng đạt 21%, nhưng chất lượng lao động vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là tỷ lệ lao động kỹ thuật và cơ cấu trình độ không hợp lý Tình trạng "thầy nhiều hơn thợ" và thiếu hụt công nhân lành nghề đang ngày càng nghiêm trọng Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển đổi cơ cấu nguồn nhân lực, Thành ủy Đà Nẵng đã nhấn mạnh giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông như một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể, cần thực hiện tốt công tác tư vấn tuyển sinh để phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở một cách hợp lý.
Trong những năm qua, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở thành phố Đà
Nẵng đã nhận được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo ngành Giáo dục Đào tạo trong việc triển khai công tác hướng nghiệp Tuy nhiên, việc tổ chức và quản lý vẫn chưa đồng bộ, dẫn đến hiệu quả chưa cao Đặc biệt, Đà Nẵng là thành phố duy nhất trong cả nước không có trung tâm hướng nghiệp.
Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp từ năm 1997 đến nay chưa được một đơn vị chủ công nào quan tâm nghiên cứu và tham mưu cho Sở Giáo dục và Đào tạo Để khắc phục tình trạng này, cần tổ chức nghiên cứu nghiêm túc dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, nhằm đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý công tác hướng nghiệp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội địa phương Đây là vấn đề cấp bách được quan tâm bởi các cấp chính quyền, Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và quần chúng nhân dân Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài luận văn tốt nghiệp: "Quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp".
M ục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này hệ thống hóa các vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng hoạt động hướng nghiệp tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên ở Đà Nẵng Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp, từ đó hỗ trợ phân luồng học sinh sau đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại thành phố Đà Nẵng.
Gi ả thuyết khoa học
Giáo dục hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh trung học Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý hướng nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả phân luồng học sinh sau tốt nghiệp, điều chỉnh cơ cấu lao động hợp lý và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại Đà Nẵng theo định hướng đã đề ra.
Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
Hoạt động hướng nghiệp cho học sinli phổ thông bậc Trung học tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Ph ạm vi và giới hạn đề tài
Đề tài luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học tại 7 trung tâm Giáo dục thường xuyên ở Đà Nẵng Mục tiêu là tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao quy mô và chất lượng hướng nghiệp tại các trung tâm này Luận văn không đi sâu vào các hoạt động giáo dục lao động, giáo dục kỹ thuật tổng hợp hay dạy nghề phổ thông, mà chỉ xem chúng như những điều kiện hỗ trợ cho công tác hướng nghiệp.
Nhi ệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hướng nghiệp là rất quan trọng trong việc quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học Điều này cần được thực hiện tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên để đảm bảo học sinh nhận được sự hỗ trợ và định hướng nghề nghiệp phù hợp Việc xây dựng một khung lý thuyết vững chắc sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình hướng nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp tốt hơn trong tương lai.
Khảo sát nhằm phát hiện thực trạng quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên ở thành phố Đà Nẵng.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Phương pháp nghiên cứu
+ Quan điểm lịch sử và thực tiễn
Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên ở Đà Nẵng trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đầu thế kỷ 21 cho thấy thành phố chưa có trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Do đó, các trung tâm Giáo dục thường xuyên phải đảm nhận chức năng này Các giải pháp quản lý cần đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tiễn và gắn liền với nhiệm vụ hướng nghiệp theo quy chế đã ban hành.
+ Quan điểm tổng hợp, toàn diện
Các giải pháp hướng nghiệp tại Đà Nẵng cần được xây dựng một cách toàn diện, xem xét mối quan hệ tương quan giữa giáo dục, kinh tế và văn hóa - xã hội của từng khu vực Mục tiêu chung là thúc đẩy hiệu quả công tác hướng nghiệp, góp phần phát triển bền vững cho thành phố.
Trung tâm Giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục không chính quy, có những đặc thù riêng so với các đơn vị giáo dục hướng nghiệp Khi đánh giá hoạt động quản lý công tác hướng nghiệp, cần đặt nó trong mối quan hệ với các nhiệm vụ chung của đơn vị Đồng thời, các trung tâm cần được xem xét trong bối cảnh là cơ sở giáo dục thực hiện những nhiệm vụ giáo dục nhất định Do đó, các giải pháp quản lý phải đảm bảo tính khả thi, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống mà không làm mất đi tính ổn định.
- Các phương pháp cụ thể
+ Phương pháp phân tích tài liệu: được sử dụng để tìm hiểu những vấn đề lí luận cơ bản làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu
+ Phương pháp quan sát kết hợp nghiên cứu sản phẩm hoạt động + Phương pháp trò chuyện, trao đổi
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu + Phương pháp toán học xử lý số liệu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC
T ổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tính t ất yếu của công tác hướng nghiệp
Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới, đã tạo ra nhiều ngành nghề mới Để làm việc hiệu quả trong các lĩnh vực này, người lao động cần được đào tạo và sở hữu những phẩm chất nhất định Nếu quá trình tuyển chọn không chú ý đến các tiêu chuẩn phù hợp, sẽ dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong công việc, gia tăng số người bỏ nghề và chuyển nghề, gây lãng phí trong đào tạo và sử dụng lao động Do đó, cần thiết phải thực hiện các hoạt động xác định sự phù hợp giữa cá nhân và nhu cầu của các ngành nghề đang phát triển trong xã hội.
Để phát triển nền kinh tế, cần có nguồn nhân lực chất lượng với cơ cấu hợp lý Việc hướng nghiệp cho học sinh từ khi còn học ở trường là rất quan trọng Nếu năng lực và nguyện vọng của từng cá nhân được điều hòa với nhu cầu lao động của xã hội, năng suất lao động sẽ tăng lên, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế Chọn nghề phù hợp là sự giao thoa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nguyên lý giáo dục, nhấn mạnh sự kết hợp giữa học tập và thực hành, giáo dục và lao động sản xuất, lý luận và thực tiễn, cũng như sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội Nhà trường cần dựa vào năng lực và sở trường của từng học sinh, cùng với yêu cầu phân công lao động xã hội tại địa phương, để hướng dẫn các em lựa chọn ngành nghề phù hợp Điều này giúp các em phát triển niềm yêu thích và nhanh chóng thành thạo trong nghề nghiệp.
Công tác hướng nghiệp là một yếu tố thiết yếu, mang lại ý nghĩa kinh tế và xã hội, đồng thời thể hiện giá trị nhân văn Hoạt động này giúp cân bằng giữa năng lực và sở trường cá nhân với yêu cầu phân công lao động trong xã hội.
1.1.2 Công tác hưởng nghiệp ở một số nước trên Thế giới
Công tác hướng nghiệp đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ những năm cuối thế kỷ XIX và trở thành vấn đề ngày càng cấp thiết
Năm 1948, trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, nhiều ngành nghề mới ra đời Để hỗ trợ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp và phát huy hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ, các chuyên gia hướng nghiệp tại Pháp đã xuất bản cuốn sách "Hướng dẫn chọn nghề".
Công nghệ đổi mới nhanh chóng đã dẫn đến năng suất lao động tăng cao, nhưng cũng khiến lực lượng lao động giảm và nhiều thợ thuyền thất nghiệp Các nhà máy và hầm mỏ hiện nay chỉ tuyển dụng nhân viên sau khi được giám định bởi chuyên gia hướng nghiệp Nhiều quốc gia như Anh, Pháp, và Mỹ đã thành lập các phòng hướng nghiệp để tư vấn nghề nghiệp và tiến hành trắc nghiệm khả năng thích ứng của người lao động Công tác hướng nghiệp và dạy nghề đang được chú trọng ở nhiều nơi, ví dụ như bang Victoria, Australia, nơi công nghệ là một trong tám lĩnh vực học tập chính trong trường Trung học cơ sở Thái Lan cũng chú trọng giáo dục nghề nghiệp thông qua các khóa học tự chọn, nhằm phát triển năng lực lựa chọn nghề phù hợp với sở trường cá nhân Ở các nước như Đức, Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Malaysia, và New Zealand, nội dung hướng nghiệp và giáo dục công nghệ cũng được quan tâm, tuy nhiên, mức độ chú trọng còn phụ thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia.
1.1.3 Khái quát v ề công tác hướng nghiệp và quản lý công tác hướng nghiệp ở nước ta trong nh ững năm qua Ở nước ta, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông còn là vấn đề mới mẻ và mới chỉ được quan tâm tổ chức thực hiện từ năm 1981, sau khi Chủ tịch Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 126/CP (ngày 19/3/1981) "về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường" Để triển khai thi hành quyết định này, ngày 17/11/1981 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư số 31/TT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, chỉ rõ vị trí và nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp, cách thức tổ chức thực hiện, quy định rõ cơ cấu bộ máy và phân công trách nhiệm cho các thành viên trong nhà trường và các cấp quản lý giáo dục
Đẩy mạnh hướng nghiệp cho thanh niên, đặc biệt là học sinh phổ thông, là nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy định triển khai các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học theo các chương trình cụ thể.
- Dạy kỹ thuật tổng hợp chương trình chính khóa 2 tiết/tuần (theo Quyết định 305/QĐ ngày 26/3/1986 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Dạy thực hành kỹ thuật hoặc lao động sản xuất 1 buổi = 3 tiết/tuần
- Sinh hoạt hướng nghiệp 1 buổi - 3 tiết/tháng
- Dạy nghề phổ thông theo chương trình tối thiểu 90 tiết cho học sinh Trung học cơ sở và
180 tiết cho học sinh Trung học phổ thông
Số lượng học sinh theo học nghề phổ thông trên toàn quốc đang gia tăng, cho thấy việc dạy nghề đã dần đi vào nề nếp Nhiều học sinh tốt nghiệp phổ thông không tiếp tục học lên, nhưng với kiến thức được trang bị tại trường, họ đã trở thành những nhân tố tích cực, có khả năng tiếp thu kỹ thuật mới và ứng dụng vào sản xuất, đặc biệt ở những vùng đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Năm học 2000-2001, cả nước có gần 300 trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp,
Có 180 trung tâm Giáo dục thường xuyên và 3 trường trung cấp kỹ thuật tham gia vào việc hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông, với tổng số học sinh tham gia học nghề lên tới 732.413 em, trong đó có 415.107 học sinh Trung học cơ sở và 317.306 học sinh Trung học phổ thông Số học sinh tham gia thi nghề đạt 567.571 em, bao gồm 328.210 học sinh Trung học cơ sở và 239.243 học sinh Trung học phổ thông.
Trong năm học 2001-2002, cả nước đã mở thêm 10 trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, thu hút 1.648.510 học sinh cuối cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông tham gia học nghề, đạt tỷ lệ 67,3% tổng số học sinh cuối cấp.
Công tác hướng nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc phân luồng học sinh phổ thông, giúp các em bước vào cuộc sống một cách dễ dàng hơn với những kỹ năng cơ bản đã được trang bị.
Hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tương lai của thế hệ trẻ, do đó, nhiều tác giả đã dành sự quan tâm nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này Các đề tài và công trình nghiên cứu của các tác giả như Phạm đã góp phần làm rõ những khía cạnh cần thiết trong việc định hướng nghề nghiệp cho thanh niên.
Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Trần Trọng Thủy, Đặng Danh Ánh, Phan Thị Tố Oanh, Nguyễn
Trọng Quế tập trung nghiên cứu xu hướng chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp, và công tác định hướng, tư vấn nghề Bên cạnh đó, có một số bài tổng kết từ các Hiệu trưởng trường phổ thông về quản lý hướng nghiệp trong nhà trường Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ về quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên.
Từ năm 1997, chức năng hướng nghiệp tại các trung tâm Giáo dục Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp ở Đà Nẵng đã được chuyển giao cho các trung tâm Giáo dục thường xuyên Điều này dẫn đến việc nghiên cứu về công tác hướng nghiệp và quản lý trong lĩnh vực này vẫn còn bị bỏ ngỏ, tạo ra khó khăn trong việc tiếp cận và nghiên cứu vấn đề.
Khái ni ệm về quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc Trung học
tại trung tâm Giáo dục thường xuyên
1.2.1 V ấn đề hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc Trung học a Khái niệm hướng nghiệp
Với ý nghĩa là sự định hướng nghề nghiệp, có nhiều khái niệm khác nhau về hướng nghiệp :
Theo từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998) thì hướng nghiệp được hiểu là
Thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo phân bố hợp lý nguồn nhân lực theo ngành nghề và loại lao động, chú trọng đến năng khiếu, năng lực và thể lực của từng cá nhân, từ đó hỗ trợ việc lựa chọn ngành nghề phù hợp.
Giáo dục hướng nghiệp được định nghĩa là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển ý thức chọn lựa nghề nghiệp, phù hợp với nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của thị trường lao động xã hội ngay từ khi còn học tại trường phổ thông.
Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống biện pháp giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, tri thức và kỹ năng Mục tiêu là giúp họ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất và xây dựng Tổ quốc Đồng thời, giáo dục hướng nghiệp còn phát huy năng lực và sở trường của từng cá nhân, điều chỉnh nguyện vọng của họ cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội.
Hướng nghiệp có thể được sơ đồ hóa như sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ quá trình hướng nghiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
(Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Một số cơ sở của công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông Hà Nội, tháng 8 năm 2000, trang 11)
Hướng nghiệp không phải là một công việc chỉ thực hiện một lần trong đời, mà là một quá trình lặp lại, bắt đầu từ việc định hướng nghề nghiệp, thích ứng với nghề và đạt được sự phù hợp trong công việc Mỗi cá nhân cần thực hiện lại việc hướng nghiệp trước những bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp, do ảnh hưởng của xã hội và nhu cầu riêng Đặc biệt, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc Trung học cần được chú trọng để giúp các em có định hướng rõ ràng cho tương lai.
Học sinh phổ thông đang trong giai đoạn phát triển quan trọng về thể chất, năng lực và nhân cách Đặc biệt, ở các lớp cuối cấp, các em phải đối mặt với sự lựa chọn giữa việc học nghề, tham gia lao động sản xuất hoặc tiếp tục học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Những quyết định này cần phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội và đặc điểm kinh tế - xã hội của khu vực nơi các em sinh sống.
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là quá trình sử dụng các biện pháp giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo Mục tiêu là hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, ý thức và kỹ năng, giúp họ tham gia vào lao động ở các ngành nghề mà xã hội cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú và năng lực cá nhân.
Trong trường phổ thông, công tác hướng nghiệp cho học sinh là quá trình giáo dục nhằm điều chỉnh động cơ và hứng thú nghề nghiệp, giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp một cách có ý thức Mục tiêu là giúp học sinh tốt nghiệp chọn nghề phù hợp với năng lực cá nhân và xu thế phát triển kinh tế - xã hội Hướng nghiệp có tính chất xã hội rộng rãi và kéo dài suốt đời, đòi hỏi sự tham gia của ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội, bao gồm cả nhà máy và các cơ quan đoàn thể Kinh nghiệm thực tế cho thấy không thể chỉ một cơ quan đảm nhận công tác hướng nghiệp mà cần sự phối hợp để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Hướng nghiệp là một quá trình liên tục diễn ra suốt cuộc đời, bắt đầu từ những năm đầu cấp phổ thông cho đến khi học nghề và hành nghề Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, hướng nghiệp trong trường phổ thông cần thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng.
Một là, giáo dục thái độ và ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp:
Giáo dục thái độ tích cực đối với nghề nghiệp là rất quan trọng, bao gồm việc phát triển lòng yêu lao động, xây dựng niềm tin vào giá trị của công việc, và bồi dưỡng những thói quen lao động tốt như trật tự, ngăn nắp, tổ chức kỷ luật, tinh thần thi đua và trách nhiệm.
Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước giúp học sinh nhận thức rõ ràng về trách nhiệm tham gia lao động sản xuất sau khi tốt nghiệp, đồng thời khuyến khích các em tình nguyện tham gia vào những lĩnh vực mà nhà nước và địa phương đang cần phát triển.
Hai là, giải thích, giới thiệu tuyên truyền nghề:
Giới thiệu và tuyên truyền nghề giúp học sinh hiểu rõ về cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cũng như vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các ngành chủ yếu và nghề cơ bản trong nước và địa phương, đặc biệt là các ngành nghề truyền thống Cụ thể, cần nêu rõ đặc điểm hoạt động của một số nghề, yêu cầu đối với người lao động như sức khỏe, trình độ văn hóa, năng lực, tâm sinh lý và những điều cần tránh Bên cạnh đó, cần thông tin về hệ thống đào tạo nghề, triển vọng và quyền lợi của các nghề này.
Nhà trường và cán bộ hướng nghiệp cần hiểu rõ sự phát triển kinh tế địa phương, nhu cầu lao động và xu hướng ngành nghề để cung cấp thông tin chính xác cho học sinh về yêu cầu sử dụng lực lượng lao động tại địa phương.
Ba là tổ chức giúp học sinh làm quen và thực tập với các nghề cơ bản, cũng như nghề truyền thống của địa phương.
Cho học sinh tham gia lao động nghề nghiệp, tao điều kiện phát ừiển hứng thú và năng lực nghề nghiệp
Bốn là, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi, có văn hóa
Giáo dục và động viên học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường, các trung tâm hướng nghiệp, chính quyền địa phương, và cha mẹ học sinh Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cần bao gồm các nội dung cụ thể, giúp các em tự nguyện lựa chọn những ngành nghề mà Nhà nước và địa phương đang cần Các con đường hướng nghiệp sẽ được thể hiện rõ ràng trong sơ đồ 2.
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông có thể được thực hiện qua các môn học, giúp học sinh định hướng tương lai và phát triển kỹ năng cần thiết cho nghề nghiệp.
Khái quát v ề điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo thành
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội Đà Nẵng là một thành phố ven biển miền Trung, được tách ra từ tỉnh Quảng Nam Đà
Nẵng (cũ) vào năm 1997 với tổng diện tích tự nhiên là 1.248,4 km 2 và bờ biển dài 30 km Đà
Nẵng có địa hình đa dạng và khí hậu ôn đới, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế:
Vùng núi, chân núi và đồi chuyển tiếp chiếm 84% diện tích thành phố, chủ yếu nằm ở phía Tây và Tây Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cơ sở kinh tế và xây dựng khu công nghiệp.
- Vùng đồng bằng ven biển phía Đông chiếm 16% diện tích, là vùng quan trọng, tập trung nhiều cơ sở công nghiệp, khu thương mại, du lịch
- Đà Nẵng có bờ biển dài với khí hậu thuận lợi là điều kiện tốt để phát ừiển ngành du lịch
Dịch vụ và đánh bắt hải sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, trong khi khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến nông-lâm-hải sản.
Đà Nẵng là một thành phố có 7 quận - huyện, bao gồm 5 quận và 2 huyện, trong đó có huyện đảo Trường Sa Thành phố có khoảng 750.000 người dân và 47 phường - xã Mật độ dân cư tại Đà Nẵng không đồng đều, với quận Thanh Khê có mật độ cao nhất đạt 16.557 người/km², trong khi huyện Hòa có mật độ thấp nhất.
Vang (200 người/km 2 ) Đà Nẵng đang trong quá trình chỉnh trang đô thị nên dân số có xu hướng tăng nhanh ở vùng ven đô
Trong những năm gần đây, thành phố Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế - xã hội, đặc biệt từ năm 1997 khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương Sự phát triển mạnh mẽ này phản ánh những thành công của sự nghiệp đổi mới trong cả nước.
Từ năm 1997 đến 2001, GDP của Đà Nẵng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 15,5%, trong khi nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 30,5%, cùng với sự ra đời của nhiều khu công nghiệp quy mô lớn, tạo ra nhu cầu cao về lực lượng lao động có tay nghề Các khu công nghiệp như An Đồn (Sơn Trà) và Hòa Khánh (Liên Chiểu) đang được xây dựng và thu hút đầu tư từ nhiều đối tác nước ngoài, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của thành phố.
2.1.2 Th ực trạng giáo dục - đào tạo thành phố Đà Nẵng
Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo, Đảng bộ và chính quyền địa phương đã nỗ lực phát triển sự nghiệp này ngay sau ngày giải phóng đất nước Đặc biệt, khi Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, sự đầu tư cho giáo dục - đào tạo đã được Thành ủy, Hội đồng Nhân dân và ủy ban Nhân dân thành phố chú trọng hơn Nhờ vào sự đầu tư vững chắc và đúng hướng, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của thành phố đã phát triển mạnh mẽ về quy mô và chất lượng, bao trùm tất cả các ngành học, bậc học và cấp học.
Trong bậc Trung học, bao gồm Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, có tổng cộng 47 trường Trung học cơ sở với 54.700 học sinh và 17 trường Trung học phổ thông với 26.130 học sinh Bên cạnh đó, còn có 10 trường Trung học chuyên nghiệp với 11.050 học sinh.
Trong 5 năm qua (1997 - 2001), giáo dục - đào tạo tại thành phố Đà Nẵng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội Những thay đổi này không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của người dân mà còn hỗ trợ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt, quy mô phát triển và chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh đã được cải thiện rõ rệt.
Mạng lưới trường lớp đã được quy hoạch hợp lý, hướng tới đa dạng hóa và xã hội hóa giáo dục, phù hợp với hệ thống giáo dục quốc dân Thành phố đã hoàn thành quy hoạch mạng lưới trường phổ thông từ năm 1998 đến 2010, được phê duyệt theo Quyết định số 6805/1998/QĐ-UB ngày 02/12/1998.
Về quy mô phát triển các ngành học, bậc học, cấp học liên tục được mở rộng, nhất là cấp
Ngành học phổ thông tại Trung học phổ thông đã phát triển mạnh mẽ và ổn định, với các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo đều đạt và vượt kế hoạch Tính đến tháng 1/1997, 100% xã phường trong thành phố đã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học và chống mù chữ Tỉ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-35 hiện nay đạt 99,8%, với mục tiêu đạt 100% vào năm 2003 Đà Nẵng đã đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở vào tháng 7 năm 2001 và đang nỗ lực để phổ cập Trung học cơ sở đúng độ tuổi vào năm 2005, cũng như phổ cập Trung học phổ thông trong tương lai gần.
Trong giai đoạn 1997-2002, hiệu quả đào tạo ở các cấp học đã có sự cải thiện đáng kể Cụ thể, ở Tiểu học, tỷ lệ đạt được là 85,5% vào năm học 1997-1998 và tăng lên 95,5% vào năm 2001-2002, tương ứng với mức tăng 10% Tại Trung học cơ sở, tỷ lệ này từ 76% đã tăng lên 84%, tăng 8% Ở Trung học phổ thông, tỷ lệ đạt được là 73% vào năm 1997-1998 và tăng lên 77% vào năm 2001-2002, với mức tăng 3% Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh phổ thông trên một vạn dân cũng liên tục gia tăng, từ 2083 học sinh/vạn dân năm 1997-1998 lên 2390 học sinh/vạn dân năm 2001-2002 Số lao động qua đào tạo đạt khoảng 20%.
Kết quả cho thấy dân trí ở Đà Nẵng ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nhân lực và phân luồng lao động hợp lý Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo về số lượng và ổn định về cơ cấu, với đầy đủ cán bộ quản lý tại các trường học đáp ứng tiêu chuẩn Tỉ lệ giáo viên trên lớp ở các ngành học tăng lên, và trình độ sư phạm chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn và trên chuẩn ở mức cao.
Thành phố đã đầu tư nâng cấp và xây dựng mới cơ sở vật chất trường học, đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về kỹ thuật Các phòng học và phòng chức năng, đặc biệt là phòng thực hành thí nghiệm, phòng công nghệ thông tin, đã được trang bị đầy đủ tại các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
Thành phố Đà Nẵng có sự khác biệt trong mạng lưới trường lớp so với các tỉnh, thành phố khác, ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp Sau khi thành lập đơn vị hành chính mới vào năm 1997, Đà Nẵng đã thiết lập các trung tâm Giáo dục thường xuyên tại quận, huyện, nhưng chỉ giữ lại một trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Tuy nhiên, trung tâm này sau đó đã được sát nhập với trường Trung học Kinh tế để thành lập trường Dạy nghề Kỹ thuật - Kinh tế Đà Nẵng, dẫn đến việc thành phố không còn hệ thống các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Điều này gây khó khăn cho Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp của thành phố, cho thấy việc thực hiện Luật Giáo dục chưa đạt yêu cầu.
Trong những năm đổi mới, nhất là tò sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
Từ năm 1997, giáo dục - đào tạo tại thành phố Đà Nẵng đã có những bước tiến đáng kể về quy mô và chất lượng Sự phát triển bền vững của các ngành học và bậc học, cùng với những thành tựu trong công tác phổ cập và xã hội hóa giáo dục, đã tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp.
Th ực trạng quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh pho thông bậc Trung học tại các trung tâm Giáo d ục thường xuyên trên địa bàn thành phổ Đà Nẵng
2.2.1 M ạng lưới các trung tâm Giáo dục thướng xuyên
Hiện nay, Đà Nẵng có 7 trung tâm giáo dục thường xuyên tham gia vào công tác hướng nghiệp, bao gồm dạy nghề phổ thông và tư vấn nghề Trung tâm được thành lập sớm nhất trong số này đã đóng góp tích cực vào việc phát triển nguồn nhân lực cho thành phố.
Năm 1985, hầu hết các trung tâm Giáo dục thường xuyên tại các quận, huyện được thành lập sau khi thành phố Đà Nẵng tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, ngoại trừ trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Thanh Khê và huyện Hòa Vang, vốn được thành lập từ trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp.
Bảng thống kê ở phụ lục 1 cho thấy các trung tâm được phân bổ đều trên tất cả các quận, huyện, với mỗi đơn vị hành chính có ít nhất 01 trung tâm, trong đó quận Sơn Trà có 02 trung tâm Mặc dù sự phân bố này tương đối hợp lý, nhưng vẫn thiếu một đơn vị giáo dục chủ công thực hiện công tác hướng nghiệp tại thành phố, đó là trung tâm Giáo dục Kỹ thuật tổng hợp Hướng nghiệp, theo tinh thần của Luật Giáo dục.
Sự phân bố các trung tâm hướng nghiệp và học nghề phổ thông hiện nay rất thuận lợi cho học sinh ở các quận - huyện Tuy nhiên, huyện Hòa Vang có địa hình khó khăn và rộng lớn, nên việc bố trí một trung tâm tại đây là cần thiết để hỗ trợ học sinh trong việc tiếp cận các cơ hội học tập.
Giáo dục thường xuyên là chưa hợp lý Quận Sơn Trà là một đơn vị hành chính không lớn với
Quận Hải Châu, nằm ở trung tâm thành phố, có 11 trường Trung học cơ sở và 5 trường Trung học phổ thông, nhưng chỉ có một đơn vị làm công tác hướng nghiệp Trong khi đó, 6 trường Trung học cơ sở và 2 trường Trung học phổ thông khác lại có đến 2 đơn vị làm công tác này, dẫn đến sự phân tán trong việc đầu tư.
01 trung tâm Giáo dục thường xuyên Hải Châu làm công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông
2.2.2 Quy mô, ch ất lượng và cơ cấu ngành nghề đào tạo
Quy mô học sinh tham gia học nghề phổ thông và cơ cấu ngành nghề
Trong các năm học 2000-2001 và 2001-2002, các trung tâm Giáo dục thường xuyên đã tập trung vào hoạt động hướng nghiệp bằng cách tổ chức dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học Qui mô học sinh được hướng nghiệp thông qua dạy nghề phổ thông được phân chia theo cơ cấu ngành nghề đào tạo và được tổng hợp trong các bảng 1 và 2.
Tại thành phố Đà Nẵng, tỷ lệ học sinh trung học tham gia học nghề phổ thông còn thấp, chỉ đạt 23,4% trong năm học 2000-2001, so với 76,56% ở Hà Nội và 79,87% tại thành phố Hồ Chí Minh Tỷ lệ này tăng lên 42,5% trong năm học 2001-2002, nhưng vẫn chưa đạt mức cao như các thành phố lớn khác.
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tương ứng là 83,79 % và 79,25 %) [l0, 35]
Số học sinh tham gia học nghề phổ thông ở địa bàn trung tâm thành phố (quận Hải Châu,
Thanh Khê có quy mô lớn với sự đa dạng trong ngành nghề học, bao gồm 9 nghề khác nhau Tại đây, học sinh chủ yếu tập trung vào các môn học liên quan đến Kỹ thuật công nghiệp và Kỹ thuật phục vụ, phục vụ cho các lĩnh vực chế biến và dịch vụ du lịch.
Số lượng học sinh tham gia học nghề phổ thông tại các quận vùng ven và huyện Hòa Vang còn thấp, với chỉ từ 3 đến 5 nghề được đào tạo Tuy nhiên, có sự gia tăng trong việc học tập môn Lâm sinh - trồng trọt, liên quan đến ngành nông-lâm nghiệp Một số nghề như Tin học, Điện dân dụng, và Làm hoa được giảng dạy tại tất cả các trung tâm, trong khi các nghề như Cắt may, Gia chánh, và Lâm sinh chỉ có tại một số ít trung tâm.
Nghề có số lượng học sinh theo học đông nhất bao gồm Tin học, điện dân dụng, làm hoa và gia chánh, trong khi số lượng học sinh học các nghề như Vẽ kỹ thuật, Điện tử và Điện dân dụng đang có xu hướng giảm Để hiểu rõ hơn về cơ cấu ngành nghề mà học sinh được hướng nghiệp qua dạy nghề phổ thông tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên, chúng ta cần xem xét các số liệu tổng hợp.
Các nghề được phân loại thành ba nhóm chính: Kỹ thuật Công nghiệp (KTCN), Kỹ thuật Phục vụ (KTPV) và Kỹ thuật Nông nghiệp (KTNN) Nhóm KTNN bao gồm các lĩnh vực như Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Chế biến, và Nuôi trồng thủy sản, hải sản.
Hiện nay, nghề Kỹ thuật Công nghiệp, đặc biệt là Tin học, đang được học sinh ưa chuộng Trong khi đó, nhóm Kỹ thuật Nông nghiệp chỉ có môn Lâm sinh được giảng dạy, còn các nghề chế biến và nuôi trồng thủy hải sản vẫn chưa được đưa vào chương trình Đặc biệt, các nghề truyền thống địa phương như làm đá mỹ nghệ, trồng hoa, cây cảnh và làm nấm chưa có trong danh mục nghề tại các đơn vị hướng nghiệp.
Cơ cấu ngành nghề tại Đà Nẵng đang được tổ chức nhằm hướng nghiệp cho học sinh, nhưng vẫn còn nhiều bất hợp lý Thành phố này có lợi thế về biển và đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp đang cần một đội ngũ lao động chất lượng để phục vụ cho các khu công nghiệp và khu chế xuất Cần định hướng cho học sinh vào các nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp như điện, cơ khí, chế biến, cũng như các ngành dịch vụ như du lịch, chế biến hải sản, nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp truyền thống của địa phương.
Chất lượng dạy - học nghề phổ thông:
Chất lượng dạy và học nghề phổ thông là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả hướng nghiệp tại Đà Nẵng Việc đánh giá này diễn ra trong quá trình dạy học, nhưng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết quả được ghi trên chứng chỉ là từ hai bài thi: bài lý thuyết hệ số 1 và bài thực hành hệ số 3 Dưới đây là thống kê kết quả thi nghề phổ thông của học sinh trong các năm học 2000 - 2001 và 2001 - 2002.
Th ực trạng hoạt động quản lý công tác hướng nghiệp của Giám đốc các trung tâm Giáo d ục thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.3.1 Xây d ựng bộ máy làm công tác hướng nghiệp Để quản lý công tác hướng nghiệp tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giám đốc các trung tâm cần thiết phải thành lập Ban, tổ đảm nhận công tác hướng nghiệp, chịu ừách nhiệm về việc tổ chức công tác hướng nghiệp tại đơn vị
Kết quả điều tra tại 7 trung tâm Giáo dục thường xuyên cho thấy rằng các trung tâm như Hải Châu, Thanh Khê, Thành phố và huyện Hòa Vang có tổ hướng nghiệp - dạy nghề, trong khi các trung tâm khác chỉ có bộ phận hướng nghiệp do Giám đốc hoặc một Phó Giám đốc kiêm nhiệm Tuy nhiên, số lượng giáo viên cơ hữu và hợp đồng dài hạn rất hạn chế, dẫn đến việc không đủ giáo viên để cấu trúc các tổ bộ môn Do đó, ở tất cả các trung tâm, giáo viên chỉ sinh hoạt chuyên môn chung theo nhóm nghề mà chưa được phân chia thành từng tổ bộ môn theo ngành nghề, gây khó khăn trong công tác điều hành và chỉ đạo các hoạt động chuyên môn hướng nghiệp.
Đến nay, hầu hết các trung tâm Giáo dục thường xuyên tại Đà Nẵng đã thành lập các tổ hoặc ban hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông Tuy nhiên, chưa có đơn vị nào ban hành quyết định chính thức về việc thành lập Ban hướng nghiệp, quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Mặc dù các trung tâm đã có các bộ phận hướng nghiệp, sự phân công công việc vẫn mang tính tự phát và chỉ được thực hiện trong các cuộc họp Hội đồng sư phạm.
Tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giám đốc hoặc Phó Giám đốc đảm nhận vai trò chỉ đạo các hoạt động chuyên môn do thiếu đội ngũ tổ trưởng chuyên môn cho tất cả các bộ môn Điều này dẫn đến việc công tác quản lý chưa được sâu sát và hiệu quả chưa cao.
2.3.2 L ập kế hoạch thực hiện công tác hướng nghiệp
Lập kế hoạch là bước quan trọng nhất trong quản lý, như đã phân tích ở phần 1.2.2 Giám đốc các trung tâm Giáo dục thường xuyên chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động hướng nghiệp tại đơn vị Mỗi năm, kế hoạch này được căn cứ vào kế hoạch năm học do Sở giáo dục đề ra.
Giáo dục và Đào tạo đã ban hành kế hoạch năm học, và các trung tâm đang xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị mình Qua nghiên cứu thực tế, kế hoạch năm học của các trung tâm cho thấy sự cần thiết phải điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu và mục tiêu giáo dục.
Nhiệm vụ hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông là một trong bốn nhiệm vụ chính trị quan trọng của các trung tâm Giáo dục thường xuyên Các đơn vị này đã xác định chỉ tiêu về số lượng và chất lượng thực hiện hàng năm, đồng thời đề ra các biện pháp cụ thể để đạt được những chỉ tiêu đó.
Kế hoạch sẽ được thảo luận tại Hội nghị cán bộ công chức đầu năm học, nhằm tạo cơ hội cho tập thể hội đồng sư phạm góp ý và bổ sung các giải pháp thực hiện.
Sau khi lập kế hoạch tổng thể cho năm học, các trung tâm đã xây dựng kế hoạch triển khai dạy nghề phổ thông dựa trên hướng dẫn của Phòng Giáo dục chuyên nghiệp - Giáo dục thường xuyên Hoạt động dạy nghề được chia thành hai đợt: đợt 1 từ tháng 6 đến tháng 8 và đợt 2 từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên, chỉ có hai đơn vị, trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Sơn Trà và trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Thanh Khê, cụ thể hóa nội dung kế hoạch theo từng tháng, từng tuần và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên.
2.3.3 T ổ chức thực hiện các con đường hướng nghiệp a Tổ chức các con đường hướng nghiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Theo điều tra, 85,4% cán bộ quản lý và giáo viên cho rằng các trung tâm Giáo dục thường xuyên hiện nay chủ yếu tập trung vào dạy nghề phổ thông để thực hiện công tác hướng nghiệp Hình thức sinh hoạt hướng nghiệp chỉ được lồng ghép với các hoạt động của Đoàn thanh niên mà chưa được triển khai thành nhiệm vụ cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, với chỉ 18,3% ý kiến cho rằng hình thức này được thực hiện hiệu quả Kết quả này cũng tương đồng với ý kiến của học sinh, trong đó 81,9% cho biết đã được hướng nghiệp qua học nghề phổ thông, 22,5% qua các hoạt động ngoại khóa, và 10,6% nhờ sinh hoạt hướng nghiệp.
Việc tổ chức dạy nghề phổ thông được thực hiện một cách bài bản thông qua sự phối hợp giữa các trung tâm và trường trung học, nhằm khuyến khích học sinh tham gia học nghề Các trung tâm đã tiến hành chiêu sinh và biên chế lớp học theo quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo, lập thời khóa biểu cho các lớp nghề và tổ chức giảng dạy theo chương trình đã được phê duyệt Để đảm bảo chất lượng, các trung tâm cũng cử giáo vụ theo dõi việc thực hiện các quy chế chuyên môn và quy định của nhà trường.
Cuối khóa học, những học sinh đủ điều kiện sẽ tham gia kỳ thi cấp chứng chỉ nghề phổ thông do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức, đánh dấu kết quả thực hiện các nội dung hướng nghiệp.
Công tác hướng nghiệp cần thực hiện các nội dung trong sơ đồ tam giác hướng nghiệp của K.K PLATÔNÔP, bao gồm việc giới thiệu cho học sinh ý nghĩa của việc chọn nghề, trang bị kiến thức sơ bộ về ngành nghề, giúp học sinh nhận diện đặc điểm cá nhân phù hợp với nghề nghiệp, và tạo điều kiện để hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình chọn nghề.
Theo số liệu điều tra, 42,7% cán bộ quản lý và giáo viên cho rằng các trung tâm Giáo dục thường xuyên chỉ đáp ứng yêu cầu cho học sinh làm quen với nghề, trong khi 72,1% cho rằng hướng nghiệp đã cung cấp kiến thức sơ bộ về ngành nghề, nhưng các yêu cầu khác còn hạn chế Đặc biệt, hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên tập trung vào việc dạy kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, trong khi chỉ 30,5% quan tâm đến đặc điểm nhân cách, tâm sinh lý và năng lực của học sinh Để đạt được yêu cầu hướng nghiệp, cần thực hiện ba nội dung cơ bản Kết quả khảo sát cho thấy 72% người được hỏi cho rằng đã tổ chức hoạt động cho học sinh bộc lộ phẩm chất và năng lực, 34,1% đã cho học sinh tìm hiểu họa đồ nghề, nhưng chỉ 10,97% cho rằng đã tạo điều kiện cho học sinh được tư vấn nghề.
2.3.4 Ki ểm tra đánh giá việc tổ chức thực hiện công tác hướng nghiệp
Kiểm tra là một khâu quan trọng trong hoạt động quản lý của Giám đốc các trung tâm
Giáo dục thường xuyên cho thấy rằng lãnh đạo không kiểm tra thi thì không thực sự lãnh đạo Để kiểm tra có hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát triển của hệ thống, cần đảm bảo tính kịp thời, thường xuyên, có hệ thống, chính xác và thu hút đông đảo quần chúng tham gia Điều này cũng giúp xây dựng ý thức tự kiểm tra của cá nhân và đơn vị Trong quản lý công tác hướng nghiệp, hoạt động kiểm tra cần tập trung vào việc tổ chức công tác chiêu sinh và quản lý học sinh.
Mỗi năm hai đợt, các trung tâm đã tiến hành chiêu sinh học sinh học nghề phổ thông
Đánh giá chung
Nghiên cứu thực trạng tổ chức và quản lý công tác hướng nghiệp tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên ở Đà Nẵng cho thấy nhiều thành tựu đã đạt được, như quy hoạch mạng lưới và xây dựng các trung tâm, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, cũng như đầu tư vào trang thiết bị phục vụ hướng nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần khắc phục để nâng cao chất lượng dạy nghề phổ thông.
Tỉ lệ học sinh được hướng nghiệp tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên hiện nay còn thấp so với tổng số học sinh phổ thông trong khu vực.
Cơ cấu ngành nghề hướng nghiệp cho học sinh hiện nay chưa phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, dẫn đến việc học sinh không được tiếp cận đầy đủ với các tiến bộ của khoa học.
- kỹ thuật và chưa được định hướng vào các ngành nghề truyền thống cũng như các ngành nghề địa phương có nhu cầu
Ba là, các cách thức hướng nghiệp còn nghèo nàn, chủ yếu chỉ là hướng nghiệp qua dạy nghề phổ thông
Hoạt động hướng nghiệp chủ yếu diễn ra trong khuôn viên trường học với cơ sở vật chất hạn chế và lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu định hướng nghề nghiệp Hơn nữa, chưa có sự tham gia của các tổ chức xã hội trong công tác này.
Nh ững tồn tại trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Nhận thức về hướng nghiệp của cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, cha mẹ và học sinh vẫn còn nhiều lệch lạc và đôi khi bị xem nhẹ.
Mạng lưới các trung tâm giáo dục hiện nay chưa được phân bố hợp lý, thiếu một đơn vị chủ lực trong công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật.
Đội ngũ cán bộ quản lý tại các trung tâm hiện có đủ số lượng và trình độ bằng cấp, nhưng vẫn thiếu nhân lực được đào tạo từ các khoa kỹ thuật hoặc được bồi dưỡng kỹ năng tổ chức và quản lý công tác hướng nghiệp Hầu hết các trung tâm Giáo dục thường xuyên chưa thiết lập được bộ máy quản lý hoạt động hướng nghiệp để nghiên cứu và triển khai các con đường hướng nghiệp một cách nghiêm túc Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp không chỉ thiếu về số lượng mà còn không đạt chuẩn đào tạo, và chưa có sự tham gia của các nghệ nhân trong hoạt động này.
Việc tổ chức hoạt động hướng nghiệp hiện nay còn thiếu tính toàn diện và chậm đổi mới phương pháp Nội dung hướng nghiệp nghèo nàn, chương trình và giáo trình phục vụ cho hoạt động này còn thiếu sót và chưa phù hợp, không được cập nhật kịp thời với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật.
Vào thứ năm, các trung tâm hướng nghiệp gặp khó khăn do cơ sở vật chất và trang thiết bị còn thiếu thốn Hiện tại, chưa có các phòng dạy nghề đạt tiêu chuẩn và các phòng sinh hoạt hướng nghiệp, trong khi thiết bị vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu.
Vào thứ sáu, nguồn tài chính cho công tác hướng nghiệp còn hạn chế, và cơ chế chính sách đối với giáo viên và học sinh chưa thực sự hợp lý, dẫn đến việc chưa thu hút được nhiều giáo viên giỏi và có tay nghề cao tham gia giảng dạy.
Vào thứ bảy, công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch của Giám đốc các trung tâm đã có những bước tiến nhưng vẫn chưa đạt được tính khoa học cần thiết Các con đường hướng nghiệp chưa được tổ chức thực hiện đầy đủ theo chức năng và nhiệm vụ của các trung tâm, trong khi công tác kiểm tra và tổng kết vẫn chưa mang lại hiệu quả cao.
Công tác tuyên truyền để huy động nguồn lực cho hướng nghiệp tại Đà Nẵng còn hạn chế, với sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục chưa chặt chẽ và thiếu sự tham gia của các nhà máy, xí nghiệp Để cải thiện hướng nghiệp cho học sinh trung học, cần tìm ra các giải pháp tổ chức và quản lý khoa học nhằm khắc phục những tồn tại này.