Tính cấp thiết của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh NHNNo&PTNT tỉnh Quảng Bình.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung trên tại NHNNo&PTNT Tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 2014 – 2016 và nguồn số liệu sơ cấp điều tra năm 2017.
Phương Pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu bao gồm hai loại chính: số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo hoạt động kinh doanh, tín dụng và báo cáo tài chính hàng năm của chi nhánh NHNNo&PTNT tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2014 – 2016, nhằm khái quát thực trạng công tác thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp Bên cạnh đó, tài liệu liên quan đến tín dụng ngân hàng như bài báo, tạp chí, sách và các báo cáo khoa học cũng được rà soát để xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
Dữ liệu sơ cấp định lượng được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp khách hàng sử dụng tài sản đảm bảo thế chấp cho các khoản vay, nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo (TSĐB) Luận văn áp dụng phương pháp phân tích nhân tố để nghiên cứu chất lượng thẩm định TSĐB tại ngân hàng Nông nghiệp Quy mô mẫu điều tra được tính theo công thức n = số items x 5 quan sát, với dự kiến có từ 20 đến 25 biến quan sát liên quan đến năng lực đội ngũ, đạo đức nghề nghiệp và các quy định pháp lý Do đó, quy mô mẫu tối thiểu dự kiến là n = 22 x 5.
Nghiên cứu sẽ mở rộng quy mô mẫu điều tra thêm 10% so với tổng số 110 quan sát ban đầu để đảm bảo tính chính xác, phòng ngừa các mẫu câu hỏi không hoàn thành và tỷ lệ hồi âm thấp Phương pháp điều tra được thực hiện bằng cách chọn ngẫu nhiên từ danh sách khách hàng doanh nghiệp có các khoản vay tín dụng tại NHNNo&PTNT Phương pháp phân tích số liệu sẽ được áp dụng để xử lý và đánh giá kết quả.
Phương pháp phân tích thống kê mô tả được áp dụng để phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp trong luận văn, nhằm đánh giá và phân tích hiệu quả công tác thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp thông qua hệ thống các chỉ số.
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá sẽ được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài sản đảm bảo của khách hàng doanh nghiệp Dựa trên kết quả phân tích nhân tố, phân tích hồi quy tuyến tính và các kiểm định thống kê sẽ được sử dụng nhằm ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đối với chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo tại NHNNo&PTNT Tỉnh Quảng Bình.
Ngoài các phần mục lục, danh mục bảng biểu, tóm tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính được trình bày trong 3 phần:
Phần 1: Mở đầu Phần 2: Kết quả nghiên cứu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh NHNNo&PTNT Tỉnh Quảng Bình
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI SẢN ĐẢM BẢO TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệ m và đặ c điể m khách hàng doanh nghiệ p vay vố n tạ i Ngân hàng Thư ơ ng Mạ i
Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, doanh nghiệp được định nghĩa là một tổ chức kinh tế có tên riêng, sở hữu tài sản và có trụ sở giao dịch ổn định Doanh nghiệp phải được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật với mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo Lê Văn Tư (2005) Khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM rất đa dạng về ngành nghề, đối tượng kinh doanh và tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị.
Tại Việt Nam, các doanh nghiệp vay vốn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa với tổ chức sản xuất và quản lý linh hoạt, giúp tiết kiệm chi phí Những doanh nghiệp này có khả năng thích ứng nhanh với thay đổi thị trường và chuyển hướng kinh doanh hiệu quả Vốn đầu tư ban đầu thấp nhưng mang lại hiệu quả cao và thu hồi nhanh, tạo sức hấp dẫn cho đầu tư Khách hàng vay vốn tại ngân hàng thương mại chủ yếu là doanh nghiệp phi nhà nước, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
1.1.2 Khái niệ m và đặ c điể m cho vay khách hàng doanh nghiệ p tạ i Ngân hàng Thư ơ ng mạ i luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si a Khái niệm
Cho vay doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thương mại cung cấp cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng cho mục đích cụ thể trong thời gian đã thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi.
Cho vay doanh nghiệp là một trong những chiến lược phát triển tín dụng quan trọng của các ngân hàng thương mại hiện nay Theo Phan Thị Cúc (2007), các đối tượng khách hàng khác nhau sẽ có những đặc điểm cho vay khác nhau Cụ thể, cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp có những đặc điểm riêng biệt cần được chú ý.
- Cho vay doanh nghiệp với nhu cầu vay đa dạng và chủ yếu là phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Cho vay doanh nghiệp tạo ra thu nhập chiếm tỷ trọng cao trong các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
Số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại thường thấp hơn so với khách hàng cá nhân và hộ sản xuất kinh doanh, tuy nhiên, quy mô vốn vay của họ lại lớn hơn.
- Với quy mô vốn vay lớn nên khi xảy ra rủi ro trong hoạt động cho vay doanh nghiệp, mức độ thiệt hại lớn hơn.
- Cho vay doanh nghiệp thường chịu ảnh hưởng lớn của nền kinh tế vĩ mô vá các chính sách về tài chính, tiền tệ.
Đặc điểm của việc cho vay khách hàng doanh nghiệp là khả năng thu thập thông tin dễ dàng thông qua nhiều kênh khác nhau, điều này giúp ngân hàng thuận lợi hơn trong việc đưa ra quyết định cho vay.
1.1.3 Hoạ t độ ng đả m bả o tiề n vay bằ ng tài sả n củ a ngân hàng thư ơ ng mạ i 1.1.3.1 Khái niệm đảmbảo tiền vay
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP, đảm bảo tiền vay là trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro Điều này nhằm tạo ra cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ từ khách hàng Từ góc độ của người vay, đảm bảo tiền vay có những đặc trưng cơ bản quan trọng.
Giá trị của tài sản đảm bảo cần phải lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo, vì điều này không chỉ giúp ngân hàng thu hồi nợ mà còn khuyến khích người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ Nếu giá trị tài sản thấp hơn nghĩa vụ, người vay có thể có động cơ để không trả nợ.
Tài sản cần có thị trường tiêu thụ sẵn có, vì mức độ thanh khoản của tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người cho vay Tài sản có mức độ thanh khoản thấp, tức là khó bán, thường không được ngân hàng chấp nhận Trong khi đó, tài sản có mức độ thanh khoản trung bình có thể được chấp nhận, nhưng cần xem xét chi phí phát sinh do thời gian xử lý kéo dài.
Tài sản cần có đầy đủ cơ sở pháp lý để đảm bảo quyền ưu tiên xử lý cho người cho vay Điều này bao gồm việc tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bảo lãnh, được pháp luật cho phép giao dịch Ngoài ra, cần có cơ sở pháp lý rõ ràng để ngân hàng, với vai trò là chủ thể cho vay, có quyền ưu tiên trong việc xử lý tài sản nhằm thu hồi nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
1.1.3.2 Các hình thức đảmbảotiền vay
Khách hàng đến với ngân hàng ngày càng đa dạng và có nhu cầu cao, vì vậy các ngân hàng cần linh hoạt trong việc sử dụng các hình thức bảo đảm tiền vay Mức độ rủi ro của mỗi khoản vay khác nhau, phụ thuộc vào thời gian, mục đích sử dụng vốn vay và tư cách của người vay Do đó, ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay phù hợp cho từng khoản vay Theo Phan Thị Cúc (2007), ngân hàng thực hiện bảo đảm tiền vay thông qua nhiều hình thức khác nhau.
NHTM cung cấp hai hình thức bảo đảm tiền vay: bảo đảm không bằng tài sản và bảo đảm bằng tài sản Trong đó, bảo đảm tiền vay không bằng tài sản là một phương thức quan trọng.
Đảm bảo vay vốn có thể được thực hiện thông qua uy tín và năng lực tài chính của người vay hoặc bên bảo lãnh mà không cần tài sản đảm bảo Hình thức này thường dành cho khách hàng có uy tín, tình hình tài chính ổn định và mối quan hệ tín dụng lâu dài với ngân hàng Ngoài ra, việc đảm bảo tiền vay bằng tài sản cũng là một phương thức phổ biến trong các giao dịch tín dụng.
Đảm bảo tín dụng bằng tài sản là việc bên vay sử dụng tài sản của mình hoặc tài sản của bên thứ ba để cam kết khả năng hoàn trả nợ Có nhiều phương thức thực hiện, bao gồm thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, đảm bảo bằng tài sản hình thành trong tương lai và tài sản của bên thứ ba.
Quy trình thực hiện các nghiệp vụ đảm bảo tiền vay bằng tài sản
Theo Phan Thị Cúc (2007 ) quy trình đảmbảo tiền vay gồm 5 bước sau đây: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ bảo đảm
Bộ phận tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ tài sản bảo đảm Họ có trách nhiệm xác minh tính pháp lý và khả năng sử dụng của tài sản để đảm bảo phù hợp với các điều kiện nhận bảo đảm tại ngân hàng và quy định pháp luật.
-Tài sản không đủ điều kiện: Thông báo cho khách hàng và đề nghị đổi tài sản khác.
Bộ phận tín dụng cần gửi giấy đề nghị định giá tài sản cùng với bản sao các giấy tờ sở hữu tài sản đến bộ phận định giá để thực hiện quy trình định giá.
Bước 2: Thẩm định tài sản bảo đảm
Thẩm định tài sản bảo đảm là một khâu hết sức quan trọng, nó là khâu quyết định mức cho vay Căn cứ để thẩm định bao gồm:
- Hồ sơ tài liệu và thông tin do khách hàng cung cấp
Cán bộ tín dụng tiến hành khảo sát thực tế để xác nhận thông tin đã thu thập từ khách hàng, đồng thời phát hiện những vấn đề mới cần được thẩm định thêm.
- Các cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ liên quan tới tài sản bảo đảm.
- Các nguồn thông tin khác: chính quyền địa phương, công an, tòa án, cơ quanđăng ký giao dịch bảo đảm, các ngân hàng khác…
Thẩm định giá trị pháp lý của tài sản bảo đảm nợ vay:
- xem xét tính hợp pháp của tài sản bảo đảm, có thuộc loại tài sản cấm hay không?
-Tài sản có đang cầm cố, thế chấp ở một tổ chức tín dụng khác không?
-Có bị tranh chấp pháp lý hay không?
Để thẩm định tính sở hữu của tài sản, cần xác định tài sản thuộc sở hữu của ai Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, việc thẩm định được thực hiện thông qua kiểm tra giấy tờ sở hữu Trong trường hợp tài sản không đăng ký quyền sở hữu, ngân hàng cần xem xét tính sở hữu từ các nguồn thông tin khác, như ý kiến của trung tâm phòng ngừa rủi ro và các cư dân liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay.
Thẩm định tính hiện hữu của tài sản: Tài sản có thực sự tồn tại hay không?
Về số lượng, chất lượng như thế nào?
Thẩm định giá trị tài sản là bước quan trọng để xác định giá trị thực của tài sản Bộ phận định giá sẽ thông báo cho bộ phận tín dụng về thời gian định giá và yêu cầu bổ sung hồ sơ tài sản nếu cần thiết Sau đó, bộ phận tín dụng sẽ hẹn khách hàng thời gian định giá và đề nghị khách hàng chuẩn bị hồ sơ để thuận tiện cho cán bộ ngân hàng khi thực hiện định giá tại hiện trường.
Thẩm định khả năng phát mại của tài sản bao gồm việc đánh giá tính thanh khoản và thị trường tiêu thụ hiện tại Cần xem xét dự đoán trong tương lai về sự xuất hiện của các loại tài sản thay thế khác.
Bước 3: Lập hợp đồng bảo đảm
Sau khi thẩm định, hai bên đã thống nhất các điều kiện tín dụng, và bộ phận tín dụng sẽ soạn thảo hợp đồng bảo đảm tiền vay để trình giám đốc hoặc người được ủy quyền ký Hợp đồng được lập thành 3 bản chính: khách hàng giữ 01 bản, ngân hàng giữ 02 bản, mỗi bản lưu tại phòng tín dụng và Ngân quỹ Tùy thuộc vào hình thức và loại tài sản bảo đảm, hợp đồng có thể được tích hợp trong hợp đồng tín dụng hoặc lập thành hợp đồng bảo đảm riêng Đối với tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay, khi tài sản đã được đưa vào sử dụng, các bên cần lập phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản, trong đó mô tả đặc điểm và xác định giá trị tài sản.
Hợp đồng cầm cố thế chấp có thể được phân loại là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự, tùy thuộc vào bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng Hành vi cầm cố thế chấp tài sản nhằm mục đích đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng bảo đảm tiền vay cần tuân thủ các thủ tục hành chính theo quy định pháp luật, bao gồm việc công chứng hợp đồng bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tùy thuộc vào hình thức bảo đảm.
Sau khi ký kết hợp đồng cầm cố thế chấp, các bên liên quan hoặc người được ủy quyền cần thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm và nhập tài sản vào kho.
Bước 4: Tái định giá tài sản cầm cố, thế chấp và xử lý sau tái định giá
Tái định giá tài sản được thực hiện định kỳ theo quy định của ngân hàng hoặc khi phát hiện sự thay đổi lớn ảnh hưởng đến giá trị tài sản Bộ phận tín dụng chủ động đề xuất việc này và phối hợp với bộ phận định giá để thực hiện Biên bản tái định giá tài sản phải được lập và là phụ kiện của biên bản định giá Bộ phận tín dụng có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo về các trường hợp liên quan.
- Giá trị tài sản sau định giá lại không đủ bảo đảm tiền vay
Khi tài sản bị mất mát hoặc hư hỏng nghiêm trọng đến mức không thể sử dụng, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp thêm giá trị tài sản bảo đảm hoặc thực hiện thu hồi nợ phần thiếu bảo đảm.
Nếu tái định giá mà giá trị tài sản bảo đảm tăng thì ngân hàng có thể tăng dư nợ cho khách hàng nếu khách hàng có nhu cầu.
Khi người vay hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc tài sản bảo đảm cho người vay Đồng thời, ngân hàng lập giấy xác nhận giải tỏa tài sản bảo đảm và gửi tới các đơn vị liên quan, tiến hành thanh lý hợp đồng bảo đảm, cũng như thông báo giải chấp tới các phòng ban như phòng công chứng, phòng tài nguyên môi trường, và trung tâm đăng ký giao dịch động sản.
Khi khách hàng không thể thanh toán nợ đúng hạn, ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng Nếu các bên không thể thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận, họ sẽ phải đưa vụ việc ra tòa án để giải quyết.
Về phương thức xử lý: Nếu các bên có thỏa thuận, có thể xử lý theo một trong các phương thức sau:
- Bán tài sản bảo đảm
Nhận tài sản bảo đảm chính là một phương thức thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm.
- Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm.
Công tác thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
1.3.1 Nộ i dung công tác thẩ m đị nh Danh mục tài sản bảo đảm
Mỗi ngân hàng xây dựng danh mục tài sản đảm bảo tiền vay phù hợp với chính sách của mình Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại phát triển danh mục tài sản đảm bảo dựa trên quy định của Nghị định 178/1999/NĐ-CP.
+ Tài sản hữu hình như xe cộ, máy móc, thiết bị, hàng hóa, vàng bạc, tàu biển, máy bay, …
+ Số dư trên tài khoản tiền gửi tại TCTD bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ.
+ Giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu.
Quyền tài sản bao gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ và các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc các căn cứ pháp lý khác Ngoài ra, lợi tức và quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng là một phần quan trọng trong quyền tài sản.
+ Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Nhà ở và công trình xây dựng là những tài sản gắn liền với đất, bao gồm cả các tài sản liên quan đến nhà ở và công trình xây dựng cũng như các tài sản khác gắn liền với đất.
+ Quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+ Trường hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ, thì vật phụ đó cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận.
+ Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
* Nội dungcông tác thẩm định tài sản đảmbảolần đầu
Theo Nguyễn Hữu Đại (Sưu tầm và hệ thống) Ngân hàng chovay thường xem xét thẩm định TSĐB theo các khía cạnh:
- Tính hiện hữu: Thẩm định về việc tài sảncó thất trên thực tế hay không.
Để đảm bảo tính vững chắc về pháp lý, cần thẩm định tính pháp lý của các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, cũng như các giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo Việc này nhằm xác minh rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay và không có tranh chấp.
Tài sản bảo đảm cần phải thuộc quyền sở hữu rõ ràng của bên bảo đảm và không có tranh chấp, nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro tiềm ẩn liên quan đến tài sản này.
- Thẩm định giá và xác định tỷ lệ cho vay tối đa
* Phương pháp thẩm định giá
Các NHTM thường sử dụng một số phương pháp định giá như sau:
Phương pháp so sánh Phương pháp chi phí Phương pháp thu nhập Phương pháp thặng dư Phương pháp lợi nhuận
*Tỷ lệ cho vay tối đatrên giá trị tài sản bảo đảm:
NHTM xác định tỷ lệ cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo (TSĐB) dựa vào nhiều yếu tố, bao gồm loại TSĐB, khả năng và mức độ biến động giá trên thị trường của tài sản đó Ngoài ra, ngân hàng cũng phải xem xét chi phí phát sinh trong quá trình xử lý tài sản để thu nợ, nhằm đảm bảo thu đủ nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn, cũng như bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong quá trình xử lý nợ mà ngân hàng phải gánh chịu.
Khả năng chuyển nhượng của tài sản là yếu tố quan trọng, cho phép tài sản được giao dịch hợp pháp qua các hình thức như mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng và thế chấp Tài sản bảo đảm cần phải có khả năng "bán" để thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp khi có vi phạm Đồng thời, tài sản này phải không thuộc danh mục bị pháp luật cấm lưu thông hoặc không bị thu giữ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tài sản dễ bán và chuyển nhượng, ít bị mất giá thường là những tài sản thông dụng, có độ hao mòn vô hình thấp do tiến bộ khoa học Những tài sản này ít thay đổi công nghệ và có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, phục vụ cho nhiều đối tượng.
Ngân hàng yêu cầu cán bộ thẩm định đánh giá khả năng rủi ro của tài sản đối với khoản vay lớn Các rủi ro cần xem xét bao gồm rủi ro liên quan đến hồ sơ pháp lý của tài sản đảm bảo, rủi ro giảm giá trị tài sản, rủi ro về tính thanh khoản, và rủi ro do sự thay đổi chính sách của Nhà nước.
Ngân hàng cần có khả năng quản lý tài sản hiệu quả, bao gồm việc theo dõi và kiểm tra định kỳ để đảm bảo rằng tài sản và các giấy tờ luôn trong tình trạng tốt Điều này cũng giúp kịp thời phát hiện các sự cố có thể làm giảm giá trị của tài sản đảm bảo.
- Những vướng mắc có khả năng xảy ra nếu xử lý tài sản và biện pháp phòng ngừa.
Nội dung tái thẩm định tài sản bảo đảm được thực hiện định kỳ hàng quý, 6 tháng hoặc đột xuất Cán bộ thẩm định có trách nhiệm thực hiện tái thẩm định tài sản đảm bảo (TSĐB) Việc kiểm tra và giám sát TSĐB cần được ghi chép vào văn bản và thể hiện một số nội dung cơ bản.
Kiểm tra tình hình thực tế của tài sản đảm bảo (TSĐB) so với các thời điểm thẩm định trước đó là rất quan trọng Cần xác định xem có tranh chấp nào phát sinh hay không Nếu có, cán bộ thẩm định cần kịp thời đề xuất thay đổi biện pháp quản lý TSĐB khi cần thiết.
- Đối với tài sản hình thành trong tương lai thực hiện giám sát kiểm tra quá trình hình thành TSĐB.
Thẩm định lại giá trị tài sản là quá trình kiểm tra xem giá trị tài sản đảm bảo (TSĐB) có bị sụt giảm hay không, nhằm đảm bảo rằng nó vẫn đáp ứng được nghĩa vụ bảo đảm Nếu cần thiết, bên bảo đảm có thể được yêu cầu bổ sung tài sản, giảm dần mức cấp tín dụng hoặc thực hiện các thỏa thuận khác để đảm bảo tính an toàn trong giao dịch.
* Kết quả thẩm định tài sản bảo đảm
- Đối với thẩm định TSĐB lần đầu, kết quả thẩm định giúp NH trong quyết định cho vay hay không cho vay khách hàng.
Kết quả tái thẩm định tài sản đảm bảo (TSĐB) được ngân hàng sử dụng để quản lý rủi ro liên quan đến tài sản, từ đó giúp ngân hàng đưa ra quyết định về việc tăng, giảm hoặc thu hồi khoản vay, cũng như làm cơ sở cho việc xử lý tài sản.
1.3.2 Các chỉ tiêu phả n ánh kế t quả thẩ m đị nh tài sả n đả m bả o trong cho vay khách hàng doanh nghiệ p củ a ngân hàng thư ơ ng mạ i
(1)Cơ cấu tài sản đảmbảo
Mỗi ngân hàng cần xây dựng một cơ cấu tài sản đảm bảo tiền vay riêng, phù hợp với chính sách bảo đảm và tín dụng của mình Điều này giúp tránh sự tập trung quá mức vào một số tài sản đảm bảo nhất định, đồng thời cần đa dạng hóa danh mục tài sản đảm bảo để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định tài sản đảm bảo
Bảo đảm tiền vay là hoạt động quan trọng nhằm phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nhận định chính xác về khách hàng và việc kiểm soát rủi ro Một số ngân hàng chưa thực hiện nghiêm túc quy chế cho vay và bảo lãnh, dẫn đến việc gia hạn nợ tùy tiện và tạo ra tình trạng tài chính giả tạo Hơn nữa, việc tập trung cho vay vào các dự án lớn và nhóm khách hàng liên quan có thể gây ra rủi ro lớn khi doanh nghiệp gặp khó khăn Cuối cùng, năng lực cán bộ, đặc biệt trong khâu thẩm định cho vay, còn yếu kém, ảnh hưởng đến khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng.
Chiến lược kinh doanh, mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ
Trong từng giai đoạn, ngân hàng thương mại áp dụng các chính sách cho vay khác nhau, có thể là mở rộng hoặc thắt chặt, ảnh hưởng lớn đến hoạt động bảo đảm tiền vay Khi ngân hàng muốn tăng cường tín dụng, họ sẽ mở rộng danh mục tài sản bảo đảm và linh hoạt hơn trong quy trình bảo đảm, nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn Ngược lại, khi ngân hàng thu hẹp quy mô tín dụng, ngoài việc điều chỉnh lãi suất, việc áp dụng các quy định nghiêm ngặt hơn về tài sản bảo đảm cũng là một công cụ hiệu quả.
Chất lượng của cán bộ tín dụng ngân hàng
Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh, nhiều cán bộ ngân hàng đã đánh mất đạo đức nghề nghiệp trước sức mạnh của đồng tiền Họ có thể định giá sai tài sản bảo đảm và cung cấp thông tin sai lệch, dẫn đến rủi ro lớn cho ngân hàng khi khách hàng không trả nợ Để thực hiện tốt công tác thẩm định tài sản và khách hàng, cán bộ ngân hàng không chỉ cần đạo đức nghề nghiệp mà còn phải có trình độ chuyên môn cao Công tác thẩm định rất phức tạp và đòi hỏi sự am hiểu thị trường cũng như khả năng phán đoán Do đó, thành công của ngân hàng phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ vừa giỏi chuyên môn vừa có đạo đức nghề nghiệp.
Chất lượng công tác thẩm định khách hàng là yếu tố then chốt trong quy trình bảo đảm tiền vay của ngân hàng Để cho vay, ngân hàng cần thực hiện các bước như thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân, theo dõi và kiểm tra việc sử dụng vốn vay cho đến khi thu hồi nợ và lãi Thẩm định đóng vai trò quan trọng nhất, ảnh hưởng đến mức cho vay, phương thức vay, lãi suất, thời hạn và tài sản bảo đảm Nếu khâu thẩm định không được thực hiện tốt, sẽ gây ra những tác động nghiêm trọng đến toàn bộ hoạt động cho vay của ngân hàng.
Chất lượng công tác định giá tài sản bảo đảm ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh các ngân hàng cạnh tranh bằng nhiều chính sách ưu đãi và gói sản phẩm mới Chính sách về tài sản bảo đảm đang trở nên đa dạng và linh hoạt hơn, yêu cầu việc định giá phải được thực hiện cẩn thận và chính xác Việc định giá tài sản bảo đảm vốn đã khó khăn, lại thêm những biến động khó lường của thị trường, khiến cho công tác này trở nên phức tạp hơn Do đó, để hoạt động bảo đảm tiền vay diễn ra hiệu quả, việc thực hiện tốt công tác định giá tài sản bảo đảm là điều kiện không thể thiếu.
Ba là, chất lượng công tác quản lý tài sản bảo đảm
Tài sản đảm bảo ngày càng đa dạng và phong phú, mỗi loại có những đặc thù riêng, do đó ngân hàng cần quản lý tài sản bảo đảm một cách hiệu quả Việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá lại tài sản bảo đảm là rất quan trọng để phát hiện kịp thời những sự cố làm giảm giá trị tài sản so với định giá ban đầu Nếu không thực hiện định kỳ, ngân hàng sẽ không nhận biết được những thay đổi về giá trị tài sản trước các biến động, dẫn đến rủi ro trong việc xử lý tài sản bảo đảm Do đó, quản lý tài sản bảo đảm một cách có kế hoạch sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu tổn thất và tránh những rủi ro không đáng có.
1.4.2 Các nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan, đặc biệt là khách hàng, đóng vai trò quan trọng trong công tác thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay Khách hàng không chỉ là chủ thể vay vốn mà còn là người chịu trách nhiệm trực tiếp đối với việc bảo đảm khoản vay Do đó, chất lượng và độ an toàn của tài sản bảo đảm tiền vay phụ thuộc nhiều vào khách hàng.
Tư cách đạo đức của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động bảo đảm tiền vay Thông tin mà khách hàng cung cấp là cơ sở để ngân hàng thực hiện thẩm định và quyết định cho vay Nếu khách hàng không trung thực và cung cấp thông tin sai lệch, ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro lớn nếu không phát hiện kịp thời Ngược lại, khách hàng trung thực và hợp tác, cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu sẽ hỗ trợ ngân hàng trong việc thẩm định tài sản bảo đảm và đưa ra quyết định cho vay chính xác.
Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tiền vay, ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội và sự ổn định, phát triển của xã hội Hoạt động ngân hàng, với tính chất đặc thù, cần có hệ thống pháp luật chặt chẽ và phù hợp, đặc biệt là các quy định về bảo đảm tiền vay Một hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ sẽ không chỉ bảo vệ an toàn cho ngân hàng mà còn đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể trong xã hội, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay còn thiếu đồng bộ và chồng chéo, gây khó khăn trong việc thẩm định dự án và xử lý tài sản bảo đảm, tạo ra kẽ hở cho các hành vi lừa đảo Do đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn là điều cần thiết cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Hoạt động bảo đảm tiền vay bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ, thuế và lạm phát, tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng và tình hình kinh doanh của ngân hàng Dù khoản cho vay có thể được ghi nhận là an toàn, nhưng những biến động như lãi suất tăng cao hay suy thoái kinh tế có thể làm giảm doanh thu và thu nhập của khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động bảo đảm tiền vay.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo của một số ngân hàng
1.5.1 Kinh nghiệm thẩm định của BIDV
Để đạt hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư tín dụng, theo kinh nghiệm của BIDV, cơ cấu tổ chức quản lý tín dụng cần phải gọn nhẹ và phù hợp với đặc điểm kinh doanh Các bộ phận phải có chức năng rõ ràng, không trùng lặp, và trách nhiệm cá nhân được phân định cụ thể Năng lực quản lý tín dụng cần đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng, đặc biệt là trong phân tích, thẩm định tín dụng, theo dõi và giám sát khách hàng vay vốn cũng như quản lý nợ có vấn đề.
BIDV đã nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm của cán bộ thẩm định tín dụng, cho phép cá nhân và tập thể quyết định cấp tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trách nhiệm trong quy trình tín dụng được phân định rõ ràng, yêu cầu cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định và lãnh đạo phòng nghiệp vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình Mỗi cá nhân phải tự chịu trách nhiệm về sai sót trong thẩm định dự án đầu tư Đồng thời, BIDV cũng thường xuyên phân tích và lựa chọn khách hàng chiến lược để xây dựng chiến lược đầu tư hiệu quả, giảm thiểu rủi ro.
1.5.2 Kinh nghiệm thẩm định của Vietcombank
Vietcombank đã thiết lập cơ chế phân tách trách nhiệm giữa thẩm định và quyết định cho vay, cho phép bộ phận thẩm định đưa ra ý kiến độc lập trong báo cáo Trong quá trình thẩm định, ngoài yếu tố pháp lý, cần làm rõ tính khả thi, hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án Ngân hàng kiểm soát chặt chẽ giai đoạn cho vay và sau cho vay, nhằm đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và phát hiện kịp thời các rủi ro để có biện pháp xử lý thích hợp.
Vietcombank đang chuyển đổi để trở thành một ngân hàng thương mại hiện đại và đạt tiêu chuẩn quốc tế, với mục tiêu nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, đặc biệt là thẩm định tài sản đảm bảo Ngân hàng đã ban hành Sổ tay tín dụng từ tháng 1 năm 2004, hướng dẫn quy trình cho vay cho toàn hệ thống, bao gồm quy trình thẩm định, xét duyệt cho vay, phát tiền vay, và kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay Đồng thời, Vietcombank cũng chú trọng nâng cao vai trò quản trị điều hành của lãnh đạo và xác định rõ trách nhiệm của từng cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định.
Để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, các ngân hàng cần chú trọng vào một số yếu tố chính như hoàn thiện quy trình thẩm định, phân rõ trách nhiệm của từng bộ phận, tuyển chọn nhân tài có trình độ chuyên môn cao, đào tạo chuyên gia trong từng lĩnh vực, và hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ thẩm định cũng như hệ thống xếp hạng khách hàng nội bộ Những kinh nghiệm này rất quý giá cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Quảng Bình.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI SẢN ĐẢM BẢO
Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
2.1 Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Tỉnh Quảng Bình.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Bình, viết tắt là NHNo&PTNT Quảng Bình, là chi nhánh của NHNo&PTNT Việt Nam Tên giao dịch quốc tế của ngân hàng này là Viet Nam Bank for Agriculture Rural Development, Quang Binh Branch, và được viết tắt là AGRIBANK NHNo&PTNT Quảng Bình có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNNo&PTNT) Quảng Bình có nguồn gốc từ Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp tỉnh Bình Trị Thiên, được thành lập vào ngày 26/03/1988 theo Nghị định số 53/HĐBT Sau khi tỉnh Bình Trị Thiên được chia thành ba tỉnh vào ngày 01/07/1989, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp tỉnh Quảng Bình ra đời Đến ngày 14/11/1990, ngân hàng này được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Quảng Bình theo quyết định số 400/CT.
Vào ngày 15/11/1996, Thủ tướng đã ký quyết định ủy quyền, và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quyết định số 280/QĐ-NHNN, chính thức đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Quảng Bình thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Bình.
Từ khi thành lập cho đến ngày 01/10/1998, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Bình hoạt động theo Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ban hành ngày 23/05/1990, cùng với Điều lệ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt theo quyết định số 250/QĐ ngày 11/11/1992.
Từ ngày 01/10/1998, NHNNo&PTNT Quảng Bình hoạt động theo Luật các tổ chức Tín dụng được Quốc hội Việt Nam thông qua vào ngày 12/12/1997 Quyết định công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực từ ngày 01/10/1998, cùng với Điều lệ tổ chức và hoạt động được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn vào ngày 22/11/1997.
NHNNo&PTNT Chi nhánh Quảng Bình, là đơn vị thành viên của NHNNo&PTNT, được thành lập trong bối cảnh hệ thống chuyển hướng mạnh mẽ sang hoạt động kinh doanh đa năng Chi nhánh này đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Bình Hiện tại, NHNNo&PTNT Chi nhánh Quảng Bình có 1 trụ sở chính và 10 chi nhánh loại III.
13 phòng giao dịch thuộc các chi nhánh loại III.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của NHNNo&PTNT Quảng Bình
Trực tiếp kinh doanh trên địa bàn thông qua các nghiệp vụ ngân hàng:
Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ từ dân cư và các tổ chức kinh tế là một hoạt động quan trọng Ngoài ra, các tổ chức cũng được phép vay vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước khi cần thiết.
• Cho vay bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đến tất cả các thành phần kinh tế, ưu tiên hoạt động cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Tiếp nhận nguồn vốn tài trợ và đầu tư từ Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng các tổ chức quốc tế là yếu tố quan trọng cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
• Thực hiện các dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại.
• Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính ngân hàng một cách chuyên nghiệp với chất lượng tốt nhất.
2.1.3 Tình hình nhân lực và cơ cấu tổ chức nhân sự tại NHNNo&PTNT Quảng Bình
• Nguồn nhân lực: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 2.1 Tình hình nhân lực tại NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình giai đoạn 2014 – 2016
TỔNG SỐ 368 100 367 100 366 100 -1 -0,27 -1 -0,27 Trình độ học vấn
(Nguồn: Phòng hành chính nhân sựNHNNo&PTNT Quảng Bình)
Số liệu từ bảng 2.1 cho thấy sự biến động trong số lượng lao động của ngân hàng qua các năm Cụ thể, quy mô lao động năm 2014 là 368 người, giảm xuống 367 người vào năm 2015, tương ứng với mức giảm 0,27% Đến năm 2016, số lượng lao động tiếp tục giảm thêm 1 người, đạt 366 người, vẫn giữ tỷ lệ giảm 0,27%.
Trong những năm qua, tỷ lệ nhân viên nữ tại chi nhánh luôn chiếm ưu thế, với 204 người vào năm 2014, tương đương 55,4% tổng số nhân viên.
Vào năm 2015, số lượng nhân viên ngân hàng là 202 người, nhưng đến năm 2016 đã giảm xuống còn 201 người Sự chênh lệch về giới tính trong tổng số nhân viên ngân hàng chủ yếu do tính chất của các vị trí giao dịch, dẫn đến việc ngân hàng chủ yếu tuyển dụng nhân viên nữ.
Lực lượng lao động tại NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình chủ yếu có trình độ đại học và trên đại học, luôn chiếm trên 85% trong 3 năm qua Năm 2014, số lao động có trình độ từ đại học trở lên là 314 người, chiếm 85,3%, trong khi lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp và phổ thông chỉ có 54 người (14,7%) Số lượng lao động có trình độ đại học và trên đại học tiếp tục tăng, đạt 319 người (86,9%) vào năm 2015 và giữ nguyên đến năm 2016 Đồng thời, số lao động trình độ cao đẳng, trung cấp và phổ thông giảm mạnh, chỉ còn 48 người vào năm 2015 và 47 người vào năm 2016 Sự gia tăng nhân lực có trình độ cao tại NHNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình cho thấy ngân hàng chú trọng đến công tác tuyển dụng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh hiệu quả.
• Mô hình cơ cấu tổ chức nhân sự:
Mạng lưới chi nhánh của NHNNo&PTNT Quảng Bình bao gồm 1 chi nhánh cấp I và 08 phòng chuyên môn tại Hội sở, thực hiện các hoạt động kinh doanh và hướng dẫn nghiệp vụ cho các chi nhánh cấp dưới.
Bài viết đề cập đến 06 chi nhánh cấp III tại 06 huyện, cùng với 13 phòng giao dịch và 04 chi nhánh cấp III nằm trên địa bàn thành phố Đồng Hới Ngoài ra, có thông tin về việc tải luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất qua địa chỉ email luanvanfull@gmail.com.
Ghi chú: Quan hệ chức năng
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình
• Chức năng các phòng ban:
Giám đốc điều hành chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của chi nhánh, bao gồm các nghiệp vụ cụ thể liên quan đến việc tổ chức thẩm định vốn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của đơn vị.
Phòng hành chính nhân sự
Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ
Phòng kế toán và ngân quỹ
Phòng khách hàng HSX & cá nhân
Phòng khách hàng doanh nghiệp
Phó giám đốc Phó giám đốc
Các chi nhánh Agribank huyện
Các chi nhánh Agribank thành phố Đồng Hới (loại 3)
Các phòng giao dịch Giám đốc luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Thực trạng công tác thẩm định tài sản đảm bảo đối với khách hàng doanh nghiệp tại NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình
2.2.1 Tình hình cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh
2.2.1.1 Dư nợ cho vay doanh nghiệp Ngân hàng NHNo&PTNT cũng như các ngân hàng thương mại khác, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và hành lang pháp lý do các cơ quan có thẩm quyền ban hành Hơn nữa, ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, do đó đòi hỏi sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước càng phải chặt chẽ Chính vì vậy, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của Chính Phủ, của Ngân hàng Nhà nước, của các bộ ngành hữu quan thì Chi nhánh còn phải tuân thủ các công văn, quyết định của ngân hàng NHNNo&PTNT.
Các doanh nghiệp vay vốn tại NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình chủ yếu là các DNNVV trong tỉnh, giúp ngân hàng dễ dàng quản lý và kiểm tra việc sử dụng vốn vay Tất cả dư nợ cho vay đều có tài sản đảm bảo, và chi nhánh luôn chú trọng đến vai trò của tài sản đảm bảo trong quá trình thẩm định khách hàng, nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng cách không cho vay tín chấp.
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp phân theo ngành nghề kinh tế
(Đơn vị tính: triệu đồng)
STT Chỉ tiêu Số lượng KH Dư nợ
3 Công nghiệp chế biến, chế tạo 10 12 12 166.970 154.442 189.132
5 Sản xuất và phân phối 5 5 3 88.000 71.000 63.000
7 Bán buôn và bán lẽ 11 11 12 13.864 20.695 36.405
8 Hoạt động xuất, nhập khẩu 5 3 2 62.381 44.967 67.300
9 Dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ khác 11 13 15 10.794 16.668 28.401
4 Bán buôn và bán lẽ 107 105 109 192.996 268.530 362.169
5 Xây dựng 106 97 90 466.773 471.947 540.000 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
STT Chỉ tiêu Số lượng KH Dư nợ
6 Sản xuất và phân phối 4 4 6 4.096 8.996 15.000
7 Công nghiệp chế biến, chế tạo 25 29 23 79.781 87.022 103.014
8 Hoạt động xuất, nhập khẩu 17 20 12 99.052 121.000 83.000
9 Dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ khác 15 13 19 30.835 18.796 60.400
III Công ty Nhà nước 4 5 5 253.271 271.168 288.998
1 Sản xuất, kinh doanh và phân phối 5 6 6 253.271 271.168 288.998
IV Doanh nghiệp tư nhân 98 105 101 168.723 175.736 245.375
4 Công nghiệp chế biến, chế tạo 7 5 5 14.277 9.840 10.352
5 Sản xuất và phân phối - 2 2 - 1.050 1.085
7 Bán buôn và bán lẻ 45 57 53 87.288 102.788 156.920
8 Hoạt động xuất, nhập khẩu 1 3 1 2.000 11.070 9.688
9 Dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ khác 13 3 13 24.005 6.201 20.530
(Báo cáo thường niên NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình 2014–2016) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Theo bảng số liệu 2.6, cơ cấu dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp có sự khác biệt rõ rệt giữa các loại hình Năm 2016, tỷ trọng dư nợ cho vay ở các công ty TNHH chiếm 55,54%, tiếp theo là công ty Cổ phần 22,8%, doanh nghiệp Nhà nước 11,7% và doanh nghiệp tư nhân 9,96% Trong thời gian này, Chi nhánh NHNo&PTNT Quảng Bình đã điều chỉnh cơ cấu dư nợ cho vay, tăng tỷ trọng cho vay cho các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và doanh nghiệp Nhà nước Hiện nay, doanh nghiệp Nhà nước ít bị ảnh hưởng hơn, hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn thuận lợi nhờ sự hỗ trợ của nhà nước, dẫn đến nhu cầu vay vốn cao và tỷ lệ nợ xấu thấp Đồng thời, các doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu là các đơn vị kinh doanh nhỏ, cũng duy trì nhu cầu vay vốn cao do ít chịu tác động từ suy thoái kinh tế.
Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp của Chi nhánh đã được điều chỉnh tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Dữ liệu cho thấy tỷ trọng cho vay đối với các ngành sản xuất công nghiệp đang tăng, trong khi tỷ trọng ngành dịch vụ giữ ổn định và ngành nông nghiệp giảm Sự cắt giảm đầu tư công, thị trường bất động sản đóng băng và sức mua trong nước giảm đã ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, dẫn đến việc điều chỉnh cơ cấu dư nợ cho vay của Chi nhánh.
Sự giảm sút số lượng doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Quảng Bình chủ yếu do lãi suất cho vay cao và hàng tồn kho lớn, dẫn đến sản xuất bị ngưng trệ Để thu hút thêm khách hàng mới và hỗ trợ khách hàng cũ đang bị cạnh tranh từ các ngân hàng khác, NHNo&PTNT đã triển khai nhiều gói hỗ trợ lãi suất cho vay doanh nghiệp.
2.2.1.2 Dư nợ cho vay doanh nghiệp có tài sản đảm bảo
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay doanh nghiệp có TSĐB
STT Loài tài sản đảm bảo Năm 2014 Tỷ trọng Năm 2015 Tỷ trọng Năm 2016 Tỷ trọng
1 QSD đất và TS gắn liền đất
2 Dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị
3 Phương tiện vận tải 197.193 tr.đ 10% 161.130 tr.đ 8% 172.472 tr.đ 7%
4 Hàng hóa 138.035 tr.đ 7% 120.848 tr.đ 6% 147.833 tr.đ 6%
5 Giấy tờ có giá 39.439 tr.đ 2% 60.424 tr.đ 3% 73.917 tr.đ 3%
(Báo cáo thường niên NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình 2014 - 2016)
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản đảm bảo (TSĐB) cho vay doanh nghiệp, tiếp theo là phương tiện vận tải, hàng hóa, máy móc dây chuyền công nghệ và giấy tờ có giá TSĐB trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh rất đa dạng, với phần lớn là những loại tài sản phổ biến trên thị trường Tuy nhiên, có sự chênh lệch đáng kể về tỷ trọng giữa các loại tài sản, trong đó quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được ưa chuộng nhất.
Khi sử dụng bất động sản làm tài sản thế chấp, các chi nhánh có thể dễ dàng định giá và giám sát tài sản trong suốt quá trình cho vay cũng như sau đó, đồng thời giảm thiểu chi phí quản lý liên quan.
Bất động sản có giá trị ổn định hơn so với các loại tài sản khác, như động sản, thường mất giá nhanh chóng sau khi được sử dụng hoặc thế chấp.
Giá chuyển nhượng bất động sản có xu hướng tăng trong dài hạn nhờ vào tính khan hiếm của tài sản này Tuy nhiên, trong ngắn hạn, giá có thể giảm ở một số phân khúc thị trường do ảnh hưởng của các yếu tố như biến động thị trường nhà đất và chính sách của Nhà nước.
Bất động sản là tài sản có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu rõ ràng, giúp dễ dàng xác nhận chủ sở hữu Trong khi đó, tài sản động sản như phương tiện vận tải và máy móc chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, và việc định giá máy móc đã qua sử dụng rất khó khăn Điều này đòi hỏi các chi nhánh phải thường xuyên kiểm tra tình trạng tài sản và giám sát việc sử dụng của khách hàng Hơn nữa, máy móc còn chịu tác động của hao mòn vô hình, dẫn đến giá trị tài sản giảm nhanh chóng Việc kiểm soát tài sản động sản cũng gặp khó khăn, vì khách hàng có thể thay đổi một số bộ phận, làm giảm giá trị mà cán bộ ngân hàng không hay biết.
Tài sản giấy tờ có giá là nhóm tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn của công ty, với thời gian vay ngắn và độ an toàn cao Trong khi đó, cổ phiếu và phần góp vốn của công ty thường không được khuyến khích làm tài sản đảm bảo do độ rủi ro cao Tài sản hàng hóa giữ tỷ trọng ổn định khoảng 6%, mặc dù có độ rủi ro cao và khó kiểm soát, nhưng phần lớn tài sản đảm bảo trong nhóm này thuộc về các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng lâu năm và uy tín cao với chi nhánh.
2.2.2 Chính sách thẩm định tài sản đảm bảo trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh NHNNo&PTNT tỉnh Quảng Bình
Công tác thẩm định tài sản đảm bảo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Quảng Bình được thực hiện theo Quyết định số 35/QĐ-HĐTV-HSX ngày 15/01/2014 và Quyết định số 407/QĐ-HĐTV-HSX ngày 13/05/2014 của Hội đồng thành viên NHNNo&PTNT Những quy định này nhằm đảm bảo quy trình giao dịch bảo đảm cấp tín dụng trong hệ thống ngân hàng, đồng thời cập nhật và bổ sung các điều khoản cần thiết để nâng cao hiệu quả thẩm định tài sản.
TSĐB tiền vay của khách hàng doanh nghiệp tại NHNNo&PTNT chi nhánh Quảng Bình bao gồm các loại tài sản như hợp đồng tiền gửi, bất động sản (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất), động sản (phương tiện vận tải như ô tô, xe tải, xe đầu kéo, xe sơ mi rơ mooc, tàu biển, dây chuyền máy móc thiết bị, hàng hóa trong kho) và tài sản hình thành trong tương lai.
NHNNo&PTNT Chi nhánh Quảng Bình hạn chế nhận các loạiTSĐB sau:
Hạn chế việc nhận tài sản đảm bảo (TSĐB) là hàng hóa luân chuyển trong kinh doanh do cán bộ gặp khó khăn trong quản lý tài sản Công tác thẩm định cũng trở nên phức tạp vì giá trị của tài sản giảm nhanh chóng.
Chi nhánh hạn chế nhận tài sản cố định (TSĐB) như phương tiện vận tải, dây chuyền công nghệ và máy móc thiết bị Chỉ những doanh nghiệp đã thế chấp bất động sản để vay vốn ngân hàng trước đó, có lịch sử tín dụng tốt và quan hệ tín dụng lâu năm với chi nhánh mới được chấp nhận TSĐB tiền vay Điều này xuất phát từ đặc điểm của các tài sản này là nhanh chóng mất giá và khó chuyển nhượng trên thị trường.
- Hạn chế nhận TSĐBdo bên thứ ba ủy quyền vì phát sinh nhiều rủi ro pháp lý nếu bênủy quyền chết.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo tại
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo được xác định dựa trên lý thuyết từ Chương 1 và kết quả thảo luận nhóm với cán bộ ngân hàng cùng khách hàng có kinh nghiệm Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố thuộc về ngân hàng, nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo.
2.3.1 Đặ c điể m củ a đố i tư ợ ng khả o sát
Do thời gian hạn chế trong việc phỏng vấn khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng, mẫu kỳ vọng là 150 khách hàng Tuy nhiên, chỉ có 120 bản hỏi được hoàn thành và cung cấp thông tin cần thiết cho phân tích Đặc điểm của đối tượng khảo sát được thể hiện qua thông tin cá nhân của họ.
Bảng 2.9: Đặc điểm đối tượng khảo sát
Tiêu chí Phân loại Số lượng
Nguồn: Kết quảxửlý dữliệu điều tra
Trong 120 đối tượng khảo sát, có 72 nam (60,0%) và 48 nữ (40,0%), cho thấy không có sự chênh lệch về giới tính trong quan hệ tín dụng với ngân hàng Đối tượng khảo sát chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 36 đến 50, chiếm 53,3%, thường đã ổn định về gia đình và kinh tế Tiếp theo là nhóm tuổi từ 22 đến 35, chiếm 33,3%, trong khi nhóm trên 50 tuổi chỉ chiếm 13,4%, thường có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là vay vốn.
Trong khảo sát, 93,3% đối tượng có trình độ học vấn Đại học và Sau đại học, cho thấy khách hàng chủ yếu là những người có học vấn cao Chỉ có 6,7% đối tượng có trình độ Cao đẳng, điều này phản ánh xu hướng tìm đến ngân hàng của những người có trình độ học vấn cao.
2.3.2 Kết quả kiểm định Cronbachĩs Alpha
Kiểm định thang đo Cronbach's alpha là một phương pháp thống kê dùng để đánh giá độ tin cậy và mối tương quan giữa các biến quan sát Phương pháp này giúp loại bỏ các biến không phù hợp, chỉ giữ lại những biến có hệ số tương quan tổng phù hợp (Corrected Item-Total Correlation) lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach's alpha từ 0,6 trở lên, được coi là chấp nhận và phù hợp cho các bước tiếp theo.
Bảng 2.10 : Hệ số Cronbach Alpha của các nhóm biến quan sát
Nhóm biến Số lượng biến
Yếu tốCán bộ thẩm định (CLCB) 4 0,976
Yếu tốQuy trình thẩm định(QTTD) 4 0,968
Yếu tố Phương pháp thẩm định(PPTĐ) 4 0,965
Yếu tốNguồn thông tin (NTT) 4 0,962
Yếu tốChỉ tiêu thẩm định (CTTĐ) 3 0,953
(Nguồn: kết quảxửlý dữliệuđiều tra)
Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của tất cả các nhân tố đều lớn hơn 0,7, với nhân tố "Yếu tố Cán bộ thẩm định (CLCB)" đạt Cronbach's Alpha cao nhất là 0,976 Các hệ số Cronbach’s Alpha của các nhóm biến quan sát còn lại cũng đều cao, lớn hơn 0,7, và hệ số tương quan tổng của các biến quan sát trong mỗi nhóm đều lớn hơn 0,3 Điều này chứng tỏ rằng thang đo các nhân tố rút trích từ các biến quan sát là phù hợp và đáng tin cậy, cho phép sử dụng 5 nhóm biến này trong các bước phân tích tiếp theo.
2.3.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một phương pháp phổ biến trong các luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội Phương pháp này rất hữu ích cho việc nghiên cứu các vấn đề định tính, như chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo cho các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp Chất lượng này được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau, được thiết kế trong bộ câu hỏi và bảng kiểm định Cronbach's Alpha Việc áp dụng phân tích thống kê mô tả và các kiểm định thống kê truyền thống sẽ tốn nhiều thời gian và không đạt hiệu quả cao, do đó EFA trở thành lựa chọn tối ưu cho nghiên cứu này.
Trong phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), tiêu chuẩn Bartlett và hệ số KMO được sử dụng để đánh giá tính thích hợp EFA được coi là thích hợp khi KMO nằm trong khoảng từ 0,5 đến 1 và giá trị Sig nhỏ hơn 0,05, trong khi giả thuyết Ho (các biến không có tương quan) bị bác bỏ (Nguyễn Đình Thọ, 2013) Nếu KMO nhỏ hơn 0,5, phân tích nhân tố có thể không phù hợp với dữ liệu Các tiêu chí rút trích nhân tố bao gồm chỉ số Eigenvalue, đại diện cho lượng biến thiên được giải thích, và chỉ số Cumulative, cho biết tỷ lệ phần trăm phương sai được giải thích và phần trăm bị thất thoát.
Hệ số tải nhân tố (Factor loadings) thể hiện mối tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ ý nghĩa của phân tích nhân tố khám phá (EFA) theo nghiên cứu của Hair và cộng sự.
Trong nghiên cứu, factor loading được đánh giá theo các mức độ khác nhau: factor loading > 0,3 được coi là tối thiểu, > 0,4 là quan trọng, và > 0,5 là có ý nghĩa thực tiễn Đối với cỡ mẫu tối thiểu 350, tiêu chuẩn factor loading nên là > 0,3; với cỡ mẫu khoảng 100, tiêu chuẩn nên là > 0,55; và với cỡ mẫu khoảng 50, tiêu chuẩn là > 0,75 Mặc dù có thể giữ lại biến có factor loading < 0,3 nếu nó có giá trị nội dung, nhưng nếu các biến không đáp ứng tiêu chuẩn hoặc có trọng số chênh lệch nhỏ, chúng sẽ bị loại và các biến còn lại sẽ được nhóm vào nhân tố tương ứng.
Trước khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá, cần kiểm tra sự phù hợp của dữ liệu thông qua kiểm định KMO và Bartlett's Test.
Bảng 2.11: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,701
Nguồn: Kết quảxửlý dữliệu điều tra
Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test cho thấy giá trị Sig rất nhỏ (