1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018

94 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa năm 2018
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Huỳnh Văn Thưởng
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Y học cổ truyền, Phục hồi chức năng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU (0)
    • 1.1. Đại cương về trầm cảm (14)
    • 1.2. Tổng quan về đột quỵ não (20)
    • 1.3. Trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não (23)
    • 1.4. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não (25)
    • 1.5. Một số nghiên cứu liên quan trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não trên thế giới và Việt Nam (28)
    • 1.6. Khung nghiên cứu (30)
    • 1.7. Sơ lược địa điểm nghiên cứu (31)
  • Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4. Cỡ mẫu (32)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (33)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (33)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (34)
    • 2.8. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (36)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (40)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (40)
    • 2.11. Biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu (40)
  • Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (41)
    • 3.2. Đánh giá trầm cảm (45)
    • 3.3. Các yếu tố liên quan (53)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (58)
    • 4.2. Thực trạng trầm cảm (60)
    • 4.3. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm (66)
    • 4.4. Ưu điểm, hạn chế nghiên cứu (71)
  • KẾT LUẬN (3)

Nội dung

QUAN TÀI LIỆU

Đại cương về trầm cảm

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm (TC) là một rối loạn tâm thần phổ biến, với các triệu chứng như buồn phiền, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác tội lỗi, rối loạn giấc ngủ, chán ăn, mệt mỏi và khó tập trung.

TC được các nhà tâm thần học mô tả với các đặc trưng cụ thể, trong đó cảm xúc, hành vi và tư duy đều bị ức chế Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ

Hội chứng TC là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm và thích thú, cùng với sự giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi Triệu chứng mệt mỏi thường xuất hiện rõ rệt sau những nỗ lực nhỏ và kéo dài ít nhất 2 tuần.

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trầm cảm

Rối loạn trầm cảm là thuật ngữ đầu tiên được sử dụng trong học thuyết thể dịch của Hippocrates (460 – 377 trước Công nguyên) Năm 1686, Bonet mô tả một dạng bệnh tâm thần gọi là hưng cảm – sầu uất Đến năm 1882, nhà tâm thần học Karl Kahlbaum đã sử dụng thuật ngữ bệnh khí sắc chu kỳ (Cyclothymia) để mô tả hưng cảm và trầm cảm như các giai đoạn cảm xúc của cùng một bệnh Pinet sau đó đã xác định trầm uất là một trong bốn loại loạn thần Năm 1896, Kraepelin đã thống nhất quan điểm về hai trạng thái trầm cảm và hưng cảm trong một bệnh lý chung, đặt tên là loạn thần hưng trầm cảm (psychose maniaco-depressive) Đến năm 1950, Kleist phân ra hai thể loạn thần hưng trầm cảm: lưỡng cực và đơn cực Các nhà tâm thần học đã mô tả rối loạn này một cách cụ thể hơn vào những năm 80 của thế kỷ XX, với đặc trưng là cảm xúc, hành vi và tư duy đều bị ức chế.

Trong thế kỷ XX, rối loạn tâm trạng (TC) đã được nghiên cứu và hoàn thiện về khái niệm bệnh học, cũng như phân loại các rối loạn TC trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) năm 1992 của Tổ chức Y tế Thế giới, và mới nhất là DSM-V Trong phân loại này, TC được xếp trong nhóm rối loạn cảm xúc, mục F30-F39.

1.1.3 Tình hình trầm cảm trên thế giới

TC là một rối loạn cảm xúc với các triệu chứng như buồn bã, giảm hứng thú, sút cân, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, cảm giác không xứng đáng, giảm khả năng tập trung, do dự và có thể kèm theo sự kích động.

TC đang thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia nhờ vào sự phát triển nhanh chóng và những mối đe dọa mà nó gây ra cho sức khỏe và kinh tế xã hội Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 300 triệu người ở mọi lứa tuổi mắc TC, chiếm khoảng 3-5% dân số toàn cầu.

Các giai đoạn trầm cảm (TC) thường tái diễn, gây tổn thất cho cá nhân, gia đình và xã hội, và là nguyên nhân của 2/3 các trường hợp tự sát TC cũng dẫn đến nhiều tai nạn tại nhà và nơi làm việc, làm giảm hiệu suất lao động, gây tan vỡ gia đình và tăng chi phí bảo hiểm Năm 2014, tại Mỹ, khoảng 17,6 ngàn người bị TC mỗi năm, nhưng hơn 2/3 trong số họ không nhận ra bệnh và không được điều trị Tại Australia, TC chiếm 20-30% dân số, trong đó 3-4% là mức độ vừa và nặng; ở Italia, tỷ lệ này là 5,2% Tại Trung Quốc, tỷ lệ TC ở các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu là 4,8-8,6%, trong khi ở Thái Lan là 0,6-1,1% Đáng lo ngại, 48% người bị TC có ý tưởng tự sát, và 24% trong số họ không nhận được hỗ trợ điều trị Trầm cảm ngày càng phổ biến và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, nếu không có biện pháp phòng ngừa và chương trình quản lý điều trị hiệu quả, tỷ lệ TC sẽ tiếp tục gia tăng toàn cầu.

1.1.4 Tình hình trầm cảm tại Việt Nam Ở nước ta, theo thống kê của Hội tâm thần học Việt Nam hiện có khoảng 30% dân số có rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ TC chiếm 25% Mỗi năm, số người tự tử do TC ở nước ta từ 36.000 - 40.000 người [10].Trong năm 2016, tại bệnh viện Bạch Mai đã khám và điều trị ngoại trú 18.402 lượt người bệnh TC (chiếm 30%), luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

6 điều trị nội trú 446 lượt người bệnh (chiếm 13%) và trung bình mỗi ngày có khoảng

Trong một nghiên cứu về tình hình bệnh tật, có 200 người đến khám và điều trị về tình trạng rối loạn tiêu hóa (TC), trong đó từ 10-20 người phải nhập viện do bệnh nặng Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Siêm (2010) tại xã Quất Động, Thường Tín, Hà Tây, tỷ lệ mắc rối loạn TC trong dân số đạt 8,35%.

Từ 15 tuổi trở lên, tỷ lệ nữ/nam mắc bệnh là 5/1, với 58,21% người bệnh trong độ tuổi 30-59 và 36,9% từ 60 tuổi trở lên Tỷ lệ mới mắc bệnh là 0,48%, trong đó 94,24% người bệnh đã mắc bệnh trên 1 năm, và 70,3% mắc bệnh trên 4 năm Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cao năm 2011 tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Cạn cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 4,3%, trong đó nam là 1,6% và nữ là 8,3%.

Rối loạn TC (trầm cảm) đang trở thành một vấn đề phổ biến ở nam giới tại Việt Nam, nhưng tỷ lệ phát hiện và điều trị chuyên khoa vẫn còn thấp Do đó, cần thiết phải triển khai các chương trình khảo sát TC trên diện rộng để xây dựng chính sách hiệu quả cho việc điều trị, quản lý và phục hồi chức năng cho những người mắc bệnh này.

Theo bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10: International Classification of Diseases), TC được phân loại và xếp ở các mục sau: [18]

- F32: Rối loạn trầm cảm F32.0: Rối loạn TC nhẹ

F32.2: Rối loạn TC nặng không có triệu chứng loạn thần

F32.3: Rối loạn TC nặng có triệu chứng loạn thần

F32.8: Các rối loạn TC khác

F32.9: Rối loạn TC, không biệt định

Rối loạn trầm cảm tái diễn (F33) là tình trạng mà bệnh nhân trải qua nhiều lần giai đoạn trầm cảm, không có bất kỳ giai đoạn hưng cảm nào, ngoại trừ hưng cảm nhẹ có thể xảy ra sau khi điều trị bằng thuốc chống trầm cảm.

F33.1: Rối loạn TC tái diễn, hiện tại giai đoạn vừa

Rối loạn TC tái diễn (F33.2) hiện đang ở giai đoạn nặng mà không có triệu chứng loạn thần.

F33.3: Rối loạn TC tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng có các triệu chứng loạn thần

F33.4: Rối loạn TC tái diễn, hiện tại thuyên giảm

F33.8: Các rối loạn TC tái diễn khác

F33.9: Rối loạn TC tái diễn, không biệt định [18]

1.1.5 Nguyên nhân/Cơ chế bệnh sinh

Hiện nay nguyên nhân chính xác gây bệnh TC vẫn còn nhiều tranh cãi, về cơ bản có thể chia nguyên nhân của TC làm 3 nhóm cơ bản sau:

Trầm cảm phản ứng là tình trạng tâm lý xuất hiện sau các sự cố sang chấn hoặc căng thẳng kéo dài, thường là nguyên nhân phổ biến gây ra trầm cảm Sang chấn tâm lý, hay còn gọi là stress, có thể xuất phát từ các yếu tố bên ngoài như mâu thuẫn trong gia đình, bạn bè, hoặc công việc Ngoài ra, stress cũng có thể đến từ các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng bên trong cơ thể, chẳng hạn như các bệnh nan y như ung thư hay đột quỵ.

Tổng quan về đột quỵ não

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Đột quỵ não (ĐQN) là một hội chứng lâm sàng với sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng, thể hiện tổn thương khu trú của não, kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong trước 24 giờ.

11 thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do mạch máu bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương”

Khái niệm ĐQN không bao gồm các loại chảy máu như chảy máu ngoài màng cứng, chảy máu dưới màng cứng, cũng như những trường hợp chảy máu não do chấn thương, nhiễm trùng hoặc u não.

1.2.1 Nguyên nhân gây đột quỵ não

Tùy theo từng thể ĐQN mà nguyên nhân khác nhau, trong đó:

- ĐQN do chảy máu não thường có liên quan đến tăng huyết áp (nhóm người cao tuổi) hoặc dị dạng mạch máu não (nhóm trẻ tuổi hơn)

- ĐQN do thiếu máu não cục bộ:

Huyết khối tại ĐQN thường hình thành ở các mảng xơ vữa động mạch, đặc biệt là tại những vị trí bị nứt vỡ Sự phát triển của huyết khối có thể làm tắc nghẽn lòng mạch, dẫn đến tình trạng thiếu máu ở vùng não mà mạch này cung cấp.

Cục tắc mạch thường di chuyển từ xa đến, phổ biến nhất là huyết khối trong buồng nhĩ ở bệnh nhân rung nhĩ Ngoài ra, cũng có thể gặp các mảng xơ vữa từ quai động mạch chủ hoặc cục sùi do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, nhưng những trường hợp này hiếm hơn.

+ ĐQN cũng có thể xảy ra khi mạch máu não bị xơ vữa gây hẹp nhiều nhưng chưa tắc hẳn

1.2.2 Phân loại tai biến mạch máu não ĐQN gồm 2 loại chính: Nhồi máu não và chảy máu não

Nhồi máu não, hay còn gọi là thiếu máu não cục bộ, xảy ra khi một mạch máu trong não bị tắc nghẽn, dẫn đến việc khu vực não mà mạch máu đó cung cấp bị thiếu máu và gây hoại tử.

Chảy máu não là hiện tượng máu thoát ra khỏi mạch máu và chảy vào nhu mô não, có thể xảy ra ở nhiều vị trí khác nhau như vùng bao trong, nhân xám trung ương, thùy não và tiểu não.

1.2.3 Các triệu chứng lâm sàng thường gặp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Đau đầu: Thường đau đầu đột ngột, rất mãnh liệt, đạt cường độ đau ngay từ những phút đầu, giờ đầu

Chóng mặt có thể là dấu hiệu cho thấy chức năng của bộ phận tiền đình ngoại vi hoặc trung tâm bị kích thích Nguyên nhân thường liên quan đến rối loạn tuần hoàn, chẳng hạn như huyết khối tiểu não, chảy máu hoặc thiếu máu cục bộ động mạch sống - nền thoáng qua.

- Rối loạn thị giác: Trong bệnh mạch máu não, rối loạn thị giác thường gặp là mất thị giác và nhìn đôi

- Rối loạn ngôn ngữ: Mất ngôn ngữ vận động xuất hiện khi tổn thương vùng Bocca (phần sau hồi trán ba)

Rối loạn cảm giác là một triệu chứng phổ biến ở những người bị tổn thương não, thường biểu hiện qua cảm giác tê Trong trường hợp đột quỵ não (ĐQN), mất cảm giác hoặc rối loạn cảm giác thường đi kèm với tình trạng liệt nửa người.

- Yếu và liệt nửa người: Là dấu hiệu thường gặp trong ĐQN, mức độ liệt nửa người trong hội chứng lâm sàng có thể giúp định khu tổn thương

Hôn mê là trạng thái mà sự thức tỉnh được duy trì nhờ vào hệ thống dẫn truyền của thân não trên và các neuron đồi thị, cùng với hệ thống lưới kích hoạt Khi hệ thống lưới giảm hoạt động, hoạt động chung của hai bán cầu não cũng suy giảm, dẫn đến tình trạng hôn mê.

1.2.4.Đặc điểm dịch tễ đột quỵ não

Trong những năm gần đây, số người mắc ĐQN đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới, trở thành một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu theo thống kê của WHO (2014) Tỷ lệ tử vong do ĐQN đứng thứ 2 sau bệnh tim mạch và là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển Tại châu Âu, ĐQN là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong, trong khi ở Mỹ, theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA 2016), hàng năm có khoảng 610.000 người mắc ĐQN lần đầu và 185.000 người tái phát Ước tính có khoảng 6,6 triệu người Mỹ trên 20 tuổi đã bị ĐQN Ở Trung Quốc, tỷ lệ tử vong do ĐQN chiếm 19,9%, và tại khu vực ASEAN, ĐQN cũng là một trong 4 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu.

13 hàng đầu, cụ thể cao nhất ở Indonesia, đứng thứ ba ở Philippin và Singapo và thứ 4 là Brunei, Malaysia và Thái Lan [37]

Tại Việt Nam, ĐQN là nguyên nhân gây tử vong cho 18% nam giới và 23% nữ giới hàng năm, đồng thời cũng là nguyên nhân chính gây gánh nặng chăm sóc với 14% ở nữ và 9% ở nam.

Nghiên cứu của Lê Văn Thính và cộng sự (2010) tại 78 bệnh viện đa khoa cho thấy nhồi máu não chiếm 59,2% và chảy máu não chiếm 40,8% Tỷ lệ bệnh viện có số bệnh nhân ĐQN trên 20 người/tháng cao nhất ở miền Nam là 93,3%, trong khi miền Trung là 73,3% Tỷ lệ tử vong do ĐQN ở miền Nam là 5%, miền Bắc là 4,4%, và miền Trung là 4,1%, với tỷ lệ tử vong chung của cả nước là 4,6%.

Trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não

TC là một di chứng phổ biến ở bệnh nhân ĐQN, thường được mô tả là cảm giác tuyệt vọng ảnh hưởng đến hoạt động và chất lượng cuộc sống Khoảng 1/3 số bệnh nhân ĐQN gặp phải tình trạng này.

Theo một nghiên cứu năm 2007 tại Hồng Kông, 69% bệnh nhân sống sót sau đột quỵ được phát hiện mắc trầm cảm ngay sau giai đoạn cấp tính, và 48% trong số họ vẫn tiếp tục gặp phải tình trạng này.

TC sau 6 tháng ĐQN[63] Trong một nghiên cứu khác tại Brazin, báo cáo tỷ lệ mắc

TC trong vòng 3 tháng đầu sau ĐQN dao động từ 22% đến 31%[67]

1.3.1 Nguyên nhân của trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não

Nguyên nhân gây ra tình trạng TC ở bệnh nhân ĐQN rất phức tạp và vẫn đang được nghiên cứu Nó có thể xuất phát từ những thay đổi thần kinh liên quan đến ĐQN, hoặc là phản ứng của cơ thể trước những thay đổi thể chất và tâm lý đối với bệnh tật, hoặc là sự kết hợp của cả hai yếu tố này.

1.3.1.1 Các yếu tố tâm lý

Phản ứng tâm lý của người bệnh sau khi trải qua ĐQN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành triệu chứng ĐQN được xem là một biến cố bất ngờ, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý của người bệnh.

Chấn thương tâm lý và thể chất có thể xảy ra một cách đột ngột và nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng người bệnh Sau khi trải qua trải nghiệm đe dọa tính mạng, nhiều người cảm thấy phản ứng tiêu cực mạnh mẽ, sống trong trạng thái giữa sự sống và cái chết, cùng với những di chứng kéo dài Một số bệnh nhân có thể cảm thấy mình là người khuyết tật, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày và mối quan hệ với bạn bè, gia đình Thời gian phục hồi có thể kéo dài, dẫn đến những tác động tâm lý nghiêm trọng.

Hoàn cảnh gia đình và mối quan hệ xã hội của người bệnh ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện của triệu chứng Sự thiếu quan tâm từ người thân có thể khiến người bệnh cảm thấy bị bỏ rơi và lãng quên Điều này dẫn đến nguy cơ thay đổi công việc, vị trí trong gia đình và xã hội, cũng như giảm tính độc lập và chất lượng cuộc sống của họ.

“người thừa”, “người không còn giá trị với gia đình, xã hội”, do đó dễ hình thành nên TC [16]

Mức độ nghiêm trọng của tình trạng TC ở bệnh nhân ĐQN thường liên quan đến thể chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Nghiên cứu cho thấy môi trường sống và sự hỗ trợ từ xã hội có ảnh hưởng lớn đến khả năng phát triển TC Việc điều trị hiệu quả và hỗ trợ xã hội có thể giảm nguy cơ phát triển TC sau ĐQN.

Chấn thương não sau ĐQN được xem là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng trầm cảm (TC) Những tổn thương này ảnh hưởng đến cấu trúc não, làm thay đổi cơ chế sinh học và mạch thần kinh liên quan đến việc điều hòa tâm trạng, dẫn đến sự thay đổi tâm trạng ở bệnh nhân sau ĐQN Do đó, chấn thương não có thể là yếu tố quan trọng gây ra TC ở những người bệnh này.

Vị trí tổn thương não có thể ảnh hưởng đến tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân đột quỵ não Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nhồi máu não ở bán cầu trái, đặc biệt là tổn thương vùng trước trán, thường có tỷ lệ trầm cảm cao hơn.

Mất ngôn ngữ thường xảy ra do tổn thương ở bán cầu trái, dẫn đến khả năng giao tiếp bị suy giảm, khiến người bệnh dễ bị cô lập khỏi xã hội Do đó, mất ngôn ngữ được coi là một trong những thiếu sót và thâm hụt liên quan đến phản ứng tâm lý.

Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trầm cảm (TC) ở bệnh nhân đột quỵ não (ĐQN) rất phức tạp và liên quan đến nhiều yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, hỗ trợ xã hội, tình trạng yếu liệt, khó khăn trong tự chăm sóc, ảnh hưởng đến người thân, tiên lượng xấu và chi phí kinh tế Mặc dù các yếu tố này đã được công nhận là quan trọng, nhưng mối liên hệ giữa chúng và mức độ TC ở bệnh nhân ĐQN vẫn còn nhiều tranh cãi Nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố như tuổi, giới, trình độ học vấn, bệnh kèm theo, mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, hỗ trợ xã hội và mức độ tự tin với TC ở bệnh nhân ĐQN.

1.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, và mối quan hệ giữa tuổi tác và trầm cảm ở bệnh nhân Đà Nẵng vẫn đang gây tranh cãi Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tuổi càng cao thì nguy cơ mắc trầm cảm càng lớn, do những thay đổi tâm lý, mất mát người thân hoặc mắc các bệnh mãn tính Nghiên cứu của Berg và cộng sự chỉ ra rằng tuổi là một yếu tố quan trọng liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân Đà Nẵng, với tỷ lệ mắc trầm cảm tăng theo độ tuổi Tương tự, kết quả nghiên cứu của Alajbegovic cũng hỗ trợ quan điểm này.

16 sự (2014)[19], Sathirapanya và cộng sự (2014) [59] cũng chỉ ra giữa tuổi và TC ở người bệnh ĐQN có mối quan hệ tích cực

Nghiên cứu của Qamar (2012) cho thấy người bệnh lớn tuổi thường chấp nhận sự thiếu hụt của họ dễ dàng hơn so với người trẻ tuổi, trong khi người trẻ có thể phản ứng tiêu cực và cảm thấy bất công khi mất đi sức khỏe Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy sự phân biệt về tuổi ở người bệnh ĐQN khi phân loại theo mức độ thiếu hụt, và mối quan hệ giữa tuổi và thiếu hụt ở người bệnh ĐQN được Huang và cộng sự (2014) chỉ ra là không đáng kể.

Rối loạn TC có thể xảy ra ở cả nam và nữ, và mối quan hệ giữa giới tính và TC ở bệnh nhân ĐQN tương tự như ở các độ tuổi khác Nghiên cứu của Glamcevski và Pierson (2005) với 53 bệnh nhân cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ TC giữa các giới Thêm vào đó, nghiên cứu của Dương Minh Tâm chỉ ra rằng tỷ lệ TC sau nhồi máu não ở nam (30,9%) và nữ (31,9%) cũng không có sự khác biệt.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nữ giới có nguy cơ mắc chứng TC ở người bệnh ĐQN cao hơn so với nam giới Cụ thể, nghiên cứu của Gaete và Bogousslavsky (2008) cho thấy nữ giới có nguy cơ mắc TC cao hơn từ 7% đến 10% Nghiên cứu năm 2011 của Tang và cộng sự cũng khẳng định phái nữ là một yếu tố nguy cơ của chứng TC ở người bệnh ĐQN Các nghiên cứu khác như của Chiu và cộng sự (2005) và Lenzi và cộng sự (2008) cũng đưa ra kết quả tương tự.

TheoHộiTâmthần học Mỹ (2000),rối loạn TCcóthểgặpởmọi tầnglớpxãhội,không phân biệtvềtrìnhđộvănhóa[20] Nghiên cứu của Nys và cộng sự

Nghiên cứu năm 2005 cho rằng không có sự khác biệt về trình độ học vấn giữa ba nhóm bệnh nhân (TC nhẹ, trung bình và nặng) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng trình độ học vấn có liên quan đến nguy cơ mắc TC ở bệnh nhân ĐQN Theo nghiên cứu của Qamar năm 2011, có mối liên hệ giữa trình độ học vấn và nguy cơ mắc bệnh.

Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa trình độ học vấn và nguy cơ mắc bệnh ung thư (TC) ở người bệnh ĐQN Cụ thể, trình độ học vấn càng cao thì nguy cơ mắc TC càng tăng, điều này cũng được xác nhận bởi Chiu và các cộng sự.

Người bệnh ĐQN chủ yếu là người lớn tuổi, dễ mắc các bệnh mãn tính, và việc mắc nhiều bệnh cùng lúc ảnh hưởng lớn đến tâm lý Nghiên cứu cho thấy nguy cơ gia tăng tình trạng TC ở người bệnh ĐQN, đặc biệt là những người có tiền sử tăng huyết áp và bệnh động mạch ngoại vi Tăng huyết áp có mối liên hệ cao nhất với TC, trong khi tăng homocystein máu cũng là yếu tố nguy cơ Tại Mỹ, hàng năm có khoảng 600.000 người bị nhồi máu cơ tim, trong đó từ 10% đến 27% có TC điển hình và 15% đến 40% có triệu chứng TC trong hai tháng sau nhồi máu Đặc biệt, người bệnh nhồi máu não có bệnh lý đái tháo đường có nguy cơ bị TC cao gấp 2,655 lần so với người không mắc đái tháo đường.

1.5.2 Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày là khả năng thực hiện các hoạt động chức năng cơ bản như đi lại, ăn uống, thay quần áo và vệ sinh cá nhân của người bệnh Đây là yếu tố quan trọng liên quan đến tỷ lệ tử vong (TC) ở bệnh nhân đột quỵ não (ĐQN) và đã được nghiên cứu rộng rãi Nhiều nghiên cứu cho thấy sự hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày có mối liên hệ đáng kể với tỷ lệ TC ở người bệnh ĐQN Chỉ số Barthel thường được sử dụng để đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, cho thấy mối tương quan nghịch giữa khả năng độc lập và TC; tức là, mức độ hạn chế càng ít thì tỷ lệ TC càng thấp Huang và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng giảm mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày là yếu tố nguy cơ cho sự xuất hiện TC ở bệnh nhân ĐQN.

18 và cộng sự (2010) [27], Glamcevski và Pierson (2005) [37], Nys và cộng sự (2005) [57] cũng cho kết quả tương tự

Hỗ trợ xã hội đã được nghiên cứu trong lĩnh vực điều dưỡng từ những năm 1970 và được xem là giải pháp quan trọng để bảo vệ bệnh nhân khỏi những tác động tiêu cực và căng thẳng trong cuộc sống Sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và những người xung quanh có vai trò thiết yếu trong việc ảnh hưởng đến tình trạng tâm lý của bệnh nhân ĐQN Chất lượng hỗ trợ xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với sự gia tăng của chứng trầm cảm, với nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân thiếu hỗ trợ xã hội có nguy cơ cao hơn mắc chứng này Nghiên cứu của Mpembi và cộng sự (2013) nhấn mạnh rằng gia đình là nguồn hỗ trợ chính cho bệnh nhân ĐQN, và mức độ hỗ trợ xã hội thấp có liên quan đến sự gia tăng trầm cảm trong nhóm bệnh nhân này.

1.5.4 Mức độ tự tin vào bản thân

Sự tự tin được định nghĩa là đánh giá của cá nhân về giá trị bản thân, lòng tự trọng và sự chấp nhận chính mình Nó có liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý lâm sàng, và sự mất tự tin có thể xảy ra ở bất kỳ ai, kể cả những người không mắc bệnh lý Nghiên cứu của Fung và cộng sự (2006) trên 73 bệnh nhân sống sót sau ĐQN cho thấy có mối quan hệ giữa lòng tự tin và chứng trầm cảm ở những người này, với phát hiện rằng lòng tự trọng cao hơn có liên quan đáng kể đến tình trạng trầm cảm.

Một số nghiên cứu liên quan trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não trên thế giới và Việt Nam

Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người sống sót sau ĐQN mắc

TC xuất hiện nhiều hơn đáng kể so với nhóm chứng cùng độ tuổi, và khoảng 1/3 số bệnh nhân sống sót sau ĐQN gặp phải TC Nghiên cứu của Maree L Hackett và các cộng sự từ trường Đại học cho thấy mối liên hệ này.

Auckland – Newzealand, tổng hợp số liệu của 51 nghiên cứu công bố trên 96 ấn phẩm từ năm 1977 đến 2002 cho thấy số người bệnh bị TC sau ĐQN vào khoảng 33% [39]

Nghiên cứu của Jessica L Johnson và Pamela A Minarik chỉ ra rằng, khoảng 33% bệnh nhân sống sót sau đột quỵ não (ĐQN) gặp phải tình trạng trầm cảm, trong đó nhiều trường hợp không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Nghiên cứu của Hama S tại Nhật Bản cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân ĐQN đạt 31,6%, trong khi 40,1% bệnh nhân ĐQN có biểu hiện lâm sàng là rối loạn cảm xúc dạng thờ ơ lãnh đạm.

Risto Vataja và cộng sự đã theo dõi 486 bệnh nhân nhồi máu não trong 4 tháng, với độ tuổi từ 55 đến 85, và phát hiện 40% trong số họ bị trầm cảm Tại Phần Lan, nghiên cứu của Kauhanen M.L trên 106 bệnh nhân, gồm 46 nữ và 60 nam, có tuổi trung bình 65,8, cho thấy 52% bệnh nhân bị trầm cảm sau 3 tháng và 42% sau 12 tháng theo dõi.

Trong một nghiên cứu khác của Terroni và cộng sự báo cáo tỷ lệ hiện mắc

TC ở người bệnh ĐQN trong vòng 3 tháng đầu dao động từ 22% đến 31% [67]

Việt Nam, một quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á, đang chứng kiến sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm Đái tháo đường (ĐQN) hiện là một vấn đề đáng lo ngại, trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và gánh nặng bệnh tật, đặc biệt ở người cao tuổi Mặc dù ĐQN và các biến chứng của nó phổ biến tại Việt Nam và trên toàn thế giới, nhưng nghiên cứu về tình trạng này vẫn còn hạn chế.

Chứng TC ở người bệnh ĐQN tại Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, với nhiều yếu tố ảnh hưởng chưa được công bố Điều này phần lớn do người bệnh ĐQN thường chỉ tập trung vào việc điều trị bệnh chính, dẫn đến việc chứng TC thường bị bỏ qua.

Theo báo cáo của Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự (2011), tỷ lệ mắc TC ở Việt Nam là khoảng 12% ở phụ nữ và 3,5% ở nam giới.

Nghiên cứu của Dương Minh Tâm (2015) về TC ở người bệnh sau nhồi máu não tại Hà Nội cho thấy có 31,3% người bệnh bị TC trong vòng 6 tháng đầu [16]

Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tuyền (2015) cho thấy 69,6% bệnh nhân ĐQN tại Đà Nẵng mắc chứng trầm cảm (TC) ở nhiều mức độ khác nhau Kết quả cũng chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày và sự hỗ trợ xã hội với tình trạng TC của người bệnh.

Khung nghiên cứu

Biểu đồ 1.1 Khung nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện đánh giá mức độ tự chăm sóc (TC) của bệnh nhân ĐQN và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ này Mục tiêu là xác định nguyên nhân và mức độ TC, từ đó cung cấp hỗ trợ cần thiết cho bệnh nhân Điều này giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.

TRẦM CẢM Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO

HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HÀNG NGÀY

TÌNH TRẠNG BỆNH, BỆNH KÈM THEO luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Việc hiểu rõ 21 nghĩa giúp người bệnh tự tin hơn, rút ngắn thời gian điều trị, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và hỗ trợ họ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

Sơ lược địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa được thành lập vào ngày 05/09/2012, dựa trên việc tổ chức lại Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng.

Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa hiện có 17 khoa phòng, bao gồm 6 phòng chức năng, 7 khoa lâm sàng và 4 khoa cận lâm sàng Bệnh viện thực hiện 6 chức năng và nhiệm vụ chính trong quá trình phát triển.

- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh

- Đào tạo cán bộ y tế

- Nghiên cứu khoa học về y học

- Điều dưỡng và phục hồi chức năng

- Thực hiện công tác hợp tác quốc tế theo quy định của Nhà nước

Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa, với hơn 40 năm hình thành và phát triển, đã đóng góp đáng kể vào công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, điều dưỡng và phục hồi chức năng cho người dân trong tỉnh Quản lý kinh tế trong y tế, bao gồm quản lý thu chi và hoạt động dịch vụ y tế, là yếu tố quan trọng giúp bệnh viện nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng.

Trong năm 2015, tổng số người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện là 15.850 người, trong khi con số này tăng lên 20.694 người vào năm 2016 Đối với điều trị nội trú, năm 2015 có 7.989 người bệnh, và năm 2016 con số này là 8.557 người Số lượng người bệnh đến khám và điều trị bệnh TBMMN tại bệnh viện cũng được ghi nhận trong năm này.

2015 là 1237 người, năm 2016 là 1.406 người và trong 6 tháng đầu năm 2017 là 979 người [1] luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả người bệnh bị ĐQN đến khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa

Người bệnh được chẩn đoán ĐQN cần thỏa mãn các tiêu chuẩn lâm sàng theo ICD-10, bao gồm khởi phát đột ngột và có biểu hiện rối loạn chức năng thần kinh khu trú hoặc toàn thể của não Tình trạng này kéo dài trên 24 giờ và đã qua giai đoạn cấp cứu.

- Có điều kiện sức khoẻ ổn định cho phép họ tham gia phỏng vấn

- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu

- Người bệnh rối loạn chức năng nặng: hôn mê, không có khả năng giao tiếp

- Người bệnh rối loạn ngôn ngữ

- Người bệnh bị mù chữ

- Người bệnh có rối loạn về tâm thần đang tồn tại

- Các trường hợp sa sút trí tuệ mức độ nặng.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 1/2018 → tháng 5/2018

- Địa điểm: Bệnh viện Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa.

Thiết kế nghiên cứu

- Phương pháp mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu

Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu 185 bệnh nhân ĐQN đến khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa, tất cả đều đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10.

Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng là chọn mẫu toàn bộ, bao gồm tất cả bệnh nhân bị ĐQN đến khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa trong khoảng thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018 Tất cả bệnh nhân đều đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10, và sự tham gia của họ được xác nhận qua bảng đồng ý tham gia nghiên cứu.

Phương pháp thu thập số liệu

Sau khi nhận được sự đồng ý từ Hội đồng khoa học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Bệnh viện Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa, việc thu thập số liệu sẽ được tiến hành với sự tham gia của người bệnh.

- Thông tin/số liệu sẽ được thu thập trong thời gian 4 tháng từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018

Điều tra viên sẽ phỏng vấn trực tiếp người bệnh hoặc hướng dẫn họ tự điền thông tin cần thiết vào bộ câu hỏi có sẵn tại khoa Khám, khoa Y học cổ truyền và khoa Bệnh người cao tuổi của Bệnh viện Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa.

- Các bước thu thập số liệu:

Bước 1: Lựa chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu vào thời điểm sau khi người bệnh đã được thăm khám

Bước 2: Các đối tượng đủ tiêu chuẩn sẽ được giới thiệu về mục đích, nội dung, phương pháp và quyền lợi khi tham gia nghiên cứu Nếu đồng ý, họ sẽ ký vào bản đồng thuận và được hướng dẫn về cách tham gia cũng như cách trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi.

Bước 3: Người bệnh tham gia nghiên cứu sẽ được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn, mất khoảng 25-30 phút để hoàn thành Sau khi hoàn tất, phiếu điều tra sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo không bỏ sót thông tin Nếu phát hiện thiếu sót, dữ liệu sẽ được bổ sung hoặc loại bỏ trước khi tiến hành phân tích thống kê Đối với những người bệnh yếu liệt không thể tự viết, điều tra viên sẽ hỗ trợ trong quá trình thu thập thông tin.

24 hành phỏng vấn trực tiếp, giải thích cho người bệnh các thông tin trong phiếu, điều tra viên sẽ đánh dấu vào phiếu theo lựa chọn của người bệnh

Bước 4: Điều tra viên sử dụng mã quản lý của người bệnh để tìm hồ sơ bệnh án và bổ sung các thông tin cần thiết.

Các biến số nghiên cứu

Được chia làm 3 nhóm biến số:

- Nhóm 1: Thông tin chung (nhân khẩu học)

- Nhóm 3: Các yếu tố liên quan đến trầm cảm (mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, hỗ trợ xã hội, mức độ tự tin)

2.7.1 Biến số về thông tin chung của nhóm nghiên cứu

- Tuổi: là biến thứ tự, phân thành 4 nhóm: 5 triệu/tháng

- Loại tổn thương não: là biến định danh, có 2 giá trị: nhồi máu não, chảy máu não

Vị trí liệt được xác định qua biến định danh, bao gồm các loại như không liệt, liệt nửa người bên trái, liệt nửa người bên phải và liệt cả hai bên Việc đánh giá tình trạng này dựa vào kết quả khám lâm sàng.

Bài viết này đánh giá các loại bệnh kèm theo, trong đó tăng huyết áp và đái tháo đường được xem là các biến nhị phân với hai giá trị: có và không.

25 o Tăng lipid máu: là biến nhị phân, có 2 giá trị có và không o Các bệnh tim mạch: là biến nhị phân, có 2 giá trị có và không

Tình trạng bệnh kèm theo được phân loại thành ba nhóm: không có bệnh kèm theo, có ít nhất một bệnh kèm theo, và có hai bệnh kèm theo trở lên.

2.7.2 Biến số về mức độ trầm cảm

Mức độ trầm cảm: là biến định tính, đánh giá dựa vào thang điểm Beck (BDI) Có 4 nhóm:

- Không có trầm cảm: dưới 14 điểm

- Trầm cảm nhẹ: từ 14-19 điểm

- Trầm cảm vừa: từ 20-29 điểm

- Trầm cảm nặng: từ 30 điểm trở lên

2.7.3 Biến số về các yếu tố liên quan đến trầm cảm 2.7.3.1 Biến số về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày được đánh giá thông qua thang điểm Barthel, chia thành 5 nhóm: Độc lập hoàn toàn (80 - 100 điểm), Trợ giúp ít (60 - 79 điểm), Trợ giúp trung bình (40 - 59 điểm), Phụ thuộc nhiều (20 - 39 điểm), và Phụ thuộc hoàn toàn (< 20 điểm).

2.7.3.2 Biến số về hỗ trợ xã hội

- Hỗ trợ xã hội: là biến định tính, đánh giá dựa vào thang điểm MSPSS

Có 3 nhóm: + Hỗ trợ xã hội thấp: từ 1 – 2,9 điểm

+ Hỗ trợ xã hội vừa phải: từ 3 – 5 điểm + Hỗ trợ xã hội cao: từ 5,1 – 7 điểm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

2.7.3.3 Biến số về mức độ tự tin

Mức độ tự tin: là biến định tính, đánh giá dựa vào thang điểm RSE

Có 3 nhóm: + Lòng tự tin thấp: dưới 15 điểm

+ Lòng tự tin trung bình: từ 15 – 25 điểm

+ Lòng tự tin cao: trên 25 điểm.

Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Bộ công cụ nghiên cứu là một bộ câu hỏi được thiết kế gồm 5 phần:

Bài viết đề cập đến 11 câu hỏi quan trọng, bao gồm: tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, công việc, tình hình kinh tế gia đình, loại tổn thương não, vị trí yếu liệt và các bệnh kèm theo.

* Ba triệu chứng điển hình

- Khí sắc trầm bất thường rõ rệt cả ngày, trong nhiều ngày, không bị chi phối bởi ngoại cảnh và tồn tại ít nhất 2 tuần

- Giảm rõ rệt sự quan tâm và thích thú hoặc không thấy hài lòng với những hoạt động dễ chịu hàng ngày

- Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi chỉ sau một cố gắng nhỏ

* Bảy triệu chứng thường gặp

- Giảm khả năng tư duy hoặc giảm tập trung, chú ý

- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin

- Xuất hiện những ý tưởng bị tội và không xứng đáng

- Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan

- Có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại cơ thể hoặc tự sát

- Rối loạn giấc ngủ bất kỳ dạng nào

- Ăn không ngon miệng cùng với sự biến đổi trọng lượng tương ứng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 2.1 Bảng chẩn đoán mức độ trầm cảm

TC nặng Không loạn thần

1 Triệu chứng chính ≥ 2 ≥ 2 Cả 3 Cả 3

3 Mức độ nặng của triệu chứng

Không có Không có Có Có Ý định và hành vi tự sát Không có Không có Có Có Hoang tưởng, ảo giác Không có Không có Không có Có

4 Thời gian ≥ 2 tuần ≥ 2 tuần ≥ 2 tuần ≥ 2 tuần

Trắc nghiệm tâm lý Beck (thực hiện theo thang điểm BDI) được sử dụng để đánh giá tình trạng tâm lý của người bệnh ĐQN Bảng câu hỏi này bao gồm 21 mục, mỗi mục có 4 câu hỏi, với điểm số từ 0 đến 3 cho mỗi câu hỏi.

-Mụcđích:đánhgiámứcđộTCcủa người bệnh tham gia nghiêncứu

-Phươngpháptiếnhành: Khảosáttrắcnghiệmtâmlýtheothang điểm BDIởtấtcả người bệnh tham gia nghiêncứu khoảngtừ ngàythứ 2-5saukhi người bệnh nhập viện

Khi tính điểm, chỉ giữ lại điểm cao nhất trong mỗi loạt câu trả lời Tổng điểm cho 21 đề mục sẽ xác định điểm tổng cộng cho từng trường hợp Điểm tổng cộng cao hơn cho thấy mức độ rối loạn tâm lý của đối tượng thử nghiệm nặng hơn, với điểm tối đa là 63 điểm.

- Điểm tổng cộng đến < 14 điểm: không có trầm cảm

- Điểm tổng cộng từ 14-19 điểm: trầm cảm nhẹ

- Điểm tổng cộng từ 20-29 điểm: trầm cảm vừa luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Điểm tổng cộng từ 30 điểm trở lên: trầm cảm nặng [72]

2.8.1.3 Đánh giá mức độ độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày theo thang điểm Barthel (BI) [59], [34]

Thang điểm Barthel, được giới thiệu bởi Barthel vào năm 1965, là công cụ lâm sàng dùng để đánh giá khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày của bệnh nhân Thang điểm này bao gồm 10 hoạt động sinh hoạt, trong đó 8 mục liên quan đến chăm sóc cá nhân và 2 mục liên quan đến kiểm soát bàng quang và ruột Mỗi mục được đánh giá riêng biệt với hướng dẫn cụ thể trong phiếu đánh giá Tổng điểm Barthel, là tổng điểm của 10 mục, cho thấy mức độ độc lập trong các hoạt động hàng ngày; điểm số cao hơn biểu thị khả năng tự lập tốt hơn.

-Mụcđích:đánhgiámứcđộđộc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh tham gia nghiêncứu

-Phươngpháptiếnhành: Khảosátđánh giá mức độ độc lập của người bệnh theothang điểm BIởtấtcả người bệnh tham gia nghiêncứu khoảngtừ ngàythứ 2- 5saukhi người bệnh nhập viện

Điểm Barthel có giá trị từ 0 đến 100, trong đó 0 điểm thể hiện tình trạng phụ thuộc hoàn toàn và 100 điểm thể hiện sự độc lập hoàn toàn Điểm số này được phân loại theo tiêu chí của Sinoff G và Ore L (1997) để đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày.

+ Độc lập hoàn toàn: 80 - 100 điểm + Trợ giúp ít: 60 - 79 điểm

+ Trợ giúp trung bình: 40 - 59 điểm + Phụ thuộc nhiều: 20 - 39 điểm + Phụ thuộc hoàn toàn: < 20 điểm

2.8.1.4 Công cụ đo lường về các hỗ trợ xã hội đa chiều (MSPSS)

Bộ công cụ đánh giá hỗ trợ xã hội đa chiều (Multidimensional Scale of Perceived Social Support) được phát triển bởi Zimet và cộng sự bao gồm 12 mục, tập trung vào 3 nguồn hỗ trợ chính: gia đình, bạn bè và những người khác.

Phần hỗ trợ từ gia đình bao gồm các mục 5, 6, 7, 8; phần hỗ trợ từ bạn bè gồm mục 9, 10, 11, 12; và phần hỗ trợ từ những người cần thiết khác bao gồm mục 1, 2, 3.

4 Mỗi mục được đo lường bằng thang Likert 7 điểm từ1= rất không đồng ý, 2=không đồng ý, 3=không đồng ý chút ít,4= không có ý kiến gì, 5= đồng ý chút ít, 6= đồng ý và 7= rất đồng ý

Mục đích của nghiên cứu là đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội của người bệnh tham gia Phương pháp thực hiện là khảo sát thông qua bảng câu hỏi MSPSS, áp dụng cho tất cả người bệnh trong khoảng thời gian từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 sau khi nhập viện.

Cách tính điểm hỗ trợ xã hội cho người bệnh được thực hiện bằng cách lấy tổng điểm của 12 câu hỏi và chia cho 12 Tổng số điểm hỗ trợ xã hội có thể dao động từ 1 đến mức tối đa nhất định.

7 điểm Điểm hỗ trợ xã hội được phân loại như sau : [86]

Từ 1 – 2,9 điểm: hỗ trợ xã hội thấp

Từ 3 – 5 điểm: hỗ trợ xã hội vừa phải

Từ 5,1 – 7 điểm: hỗ trợ xã hội cao

2.8.1.5 Thang đo mức độ tự tin Rosenberg (RSE)

RSE, hay thang đo lòng tự tin, được phát triển bởi Morris Rosenberg vào năm 1965 Công cụ này bao gồm 10 câu hỏi nhằm đánh giá cảm xúc của cá nhân về giá trị bản thân Mỗi câu hỏi được đánh giá theo thang Likert 4 điểm, với các mức độ từ 1 (rất không đồng ý) đến 4 (rất đồng ý).

-Mụcđích:đánhgiámứcđộtự tin của người bệnh tham gia nghiêncứu

-Phươngpháptiếnhành: Khảosátđánh giá mức độ tự tin của người bệnh theobảng câu hỏi RSE ởtấtcả người bệnh tham gia nghiêncứu khoảngtừ ngàythứ 2- 5saukhi người bệnh nhập viện

Cách tính điểm: tổng điểm của thang RSE từ 10 đến 40 điểm

- Dưới 15 điểm: lòng tự tin thấp

- Từ 15 – 25 điểm: lòng tự tin trung bình

- Trên 25 điểm: lòng tự tin cao luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Thang đo trầm cảm BDI đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam với độ tin cậy cao

Thang đo MSPSS, BI, RES đã được dịch sang tiếng Việt trong nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tuyền về trầm cảm sau đột quỵ ở người lớn tuổi tại Đà Nẵng Các bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 30 bệnh nhân sau đột quỵ tại khoa Tim mạch – bệnh viện C Đà Nẵng, với độ tin cậy Cronbach's α lần lượt là 0,87; 0,94 và 0,82.

Phương pháp phân tích số liệu

Tất cả dữ liệu thu thập sẽ được kiểm tra tính phù hợp và mã hóa bởi người nghiên cứu Sau đó, dữ liệu sẽ được lưu trữ trong tập tin trên máy vi tính, đảm bảo không có lỗi trước khi xuất sang phần mềm.

 Phân tích dữ liệu: - Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Được sự cho phép của ban Giám đốc bệnh viện

Mục đích và nội dung của nghiên cứu cần được giải thích rõ ràng trước khi tiến hành, đồng thời phải đảm bảo rằng nghiên cứu được thực hiện với sự chấp thuận của đối tượng tham gia.

- Thông tin về đối tượng nghiên cứu được mã hóa và giữ bí mật

- Kết quả nghiên cứu chỉ để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, không dùng cho mục đích khác.

Biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu

- Các khái niệm, thuật ngữ rõ ràng

- Thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.2 Phân Nhận xét: Người b tuổi Người bệnh nằm trong đ chiếm tỷ lệ 43,8% Bên c 4,3% người bệnh trong đ

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU a đối tượng nghiên cứu

Phân bố người bệnh theo giới tính (n = 185) mắc bệnh ở nam giới chiếm 61,1% cao hơn ở

Trong một nghiên cứu với 185 bệnh nhân mắc bệnh ĐQN, độ tuổi của họ dao động từ 33 đến 83, với độ tuổi trung bình là 59 Đặc biệt, nhóm tuổi từ 45 đến 59 chiếm tỷ lệ 43,2%, trong khi đó, 8,6% bệnh nhân thuộc nhóm tuổi trên 75.

(n = 185) i và trung bình là 59 ộ tuổi từ 60 - 75 m trong độ tuổi < 45 và

Nam luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac siNữ

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn (n = 185) Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

THPT 29 15,7 Đại học/ cao đẳng 52 28,1

Nhóm đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ tiểu học, chiếm 29,7%, tiếp theo là trình độ đại học/cao đẳng với tỷ lệ 28,1% Trong khi đó, tỷ lệ người có trình độ sau đại học là thấp nhất, chỉ đạt 5,4%.

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo tình trạng kinh tế (n = 185) Đặc điểm Số lượng(n) Tỷ lệ (%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số người bệnh, tỷ lệ có thu nhập từ 2 – 5 triệu/tháng chiếm cao nhất với 35,1%, trong khi đó, những người sống phụ thuộc chiếm 30,8% Đáng chú ý, tỷ lệ người bệnh có thu nhập dưới 2 triệu/tháng chỉ chiếm 8,1%.

Bảng3.1 Phân b Đặc điểm Độc thân

Ly hôn Goá vợ/chồng

68,6%, theo sau là đối tư tượng ly hôn với 4,3%

Nhận xét: Đối tư người bệnh đang làm việ 19,5%

Phân bố người bệnh theo tình trạng hôn nhân (n = 185)

185 n lớn đối tượng phỏng vấn thuộc nhóm đã kế tượng goá vợ/chồng chiếm tỷ lệ 21,6% và th

Trong nghiên cứu với 185 người bệnh, phân bố theo nghề nghiệp cho thấy 36,2% là người già hoặc nghỉ hưu Các nhóm khác bao gồm những người đang làm việc và những người thất nghiệp hoặc nội trợ.

100 ết hôn với tỷ lệ

% và thấp nhất là đối

(n = 185) ếm tỷ lệ 44,3%; i trợ chiếm tỷ lệ 44,3% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 3.1 Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu (n = 185) Đặc điểm Số lượng(n) Tỷ lệ (%)

Tình trạng bệnh kèm theo

Nhận xét: Người bệnh ĐQN thể nhồi máu mão chiếm tỷ lệ cao hơn là

89,2%; người bệnh thể chảy máu não chiếm 10,8% Người bệnh có từ 0 – 1 bệnh kèm theo chiếm 43,8%; có trên 2 bệnh kèm theo chiếm tỷ lệ 56,2%

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo tình trạng yếu liệt (n = 185) Đặc điểm Số lượng(n) Tỷ lệ (%)

Kết quả từ bảng cho thấy tỷ lệ người bệnh bị liệt bên phải là cao nhất, đạt 52,4%, trong khi tỷ lệ liệt bên trái là 43,2% Đáng chú ý, tỷ lệ người bệnh không bị liệt chỉ chiếm 0,5%.

Đánh giá trầm cảm

Nhận xét: Kết qu ĐQN có điểm số tương đương v không mắc TC theo điểm kh

Mức độ trầm cảm lư

Không trầm cảm Trầm cảm nhẹ Trầm cảm vừa Trầm cảm nặng Tổng

Nhận xét: Qua kh không mắc TC chiếm 37,3%

TC vừa chiếm 17,8% (Mean = 25,36) (Mean = 41,92)

Theo khảo sát bằng thang điểm Beck, 35% người tham gia cho thấy mức độ trầm cảm, trong khi 62,7% có triệu chứng tương đương với mức độ mắc bệnh Tỷ lệ người không mắc trầm cảm chiếm 37,3%.

Qua khảo sát cho thấy người bệnh có điểm số tương đương m m 37,3% (Mean = 11,57),TC nhẹ chiếm 31,4%(Mean = 15,81) (Mean = 25,36) và TC nặng chiếm tỷ lệ thấp nh

Mắc trầm cảm m Beck(n = 185) cho thấy người bệnh 62,7%; người bệnh m Beck (n5) Điểm trung bình

11,57 ± 1,33 15,81±1,42 25,36±2,59 41,92±6,73 24,16±10,79 tương đương mức (Mean = 15,81), p nhất là13,5%

Không mắc trầm cảm Mắc trầm cảm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 3.7 Các triệu chứng đặc trưng của trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não theo khảo sát bằng thang điểm Beck (n5)

Triệu chứng Số lượng(n) Tỷ lệ %

Giảm sự quan tâm, thích thú 110 94,8

Cảm giác mệt mỏi, giảm hoạt động 101 87,1

Giảm sút lòng tự tin 103 88,8 Ý tưởng có tội, không xứng đáng 36 31,0

Bi quan về tương lai 87 75,0

Kết quả từ bảng trên chỉ ra rằng các triệu chứng phổ biến của trầm cảm (TC) xuất hiện ở hầu hết bệnh nhân ĐQN mắc TC Cảm giác buồn chán được ghi nhận ở 100% trường hợp, trong khi giảm sự quan tâm và thích thú đạt 94,8%, và rối loạn giấc ngủ là 97,4% Tỷ lệ bệnh nhân có ý tưởng tự sát là thấp nhất, chỉ chiếm 12,9%.

Bảng 3.8 Phân bố mức độ trầm cảm theo giới (n = 185)

Mức độ trầm cảm Giới

Tổng 69 37,3 58 31,4 33 17,8 25 13,5 116 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trong các mức độ của tình trạng TC, nam giới có tỷ lệ mắc TC nhẹ cao nhất với 32,7%, trong khi tỷ lệ này ở nữ giới là 29,2% Đối với mức độ TC vừa và nặng, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn, lần lượt là 22,2% và 19,4%.

Bảng 3.9 Phân bố mức độ trầm cảm theo nhóm tuổi(n = 185)

Theo kết quả khảo sát, mức độ trầm cảm nhẹ chiếm tỷ lệ cao hơn ở tất cả các nhóm tuổi Đặc biệt, nhóm tuổi từ 45 – 59 và 60 – 74 có số trường hợp mắc trầm cảm cao nhất, với 52 trường hợp ở mỗi nhóm Ngoài ra, mức độ trầm cảm nặng ở nhóm tuổi 60 – 74 cũng đáng chú ý, chiếm tỷ lệ 18,5%.

Bảng 3.10 Phân bố mức độ trầm cảm theo trình độ học vấn (n = 185)

Không trầm cảm Trầm cảm nhẹ

Tổng 69 37,3 58 31,4 33 17,8 25 13,5 185 100,0 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Nhận xét: Người bệnh có trình độ tiểu học mắc TC theo khảo sát bằng thang

Beck dẫn đầu với 43 trường hợp mắc bệnh Trong tất cả các nhóm, tỷ lệ mắc TC nhẹ luôn chiếm ưu thế Đặc biệt, nhóm người bệnh có trình độ THCS và tiểu học có tỷ lệ mắc TC nặng cao, lần lượt là 23,1% và 20,0%.

Bảng 3.11 Phân bố mức độ trầm cảm theo tình trạng hôn nhân (n = 185)

Không trầm cảm Trầm cảm nhẹ

Trầm cảm nặng Tổng n % n % n % n % n % Độc thân 1 10,0 3 30,0 2 20,0 4 40,0 10 100

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân độc thân và góa vợ/chồng mắc bệnh TC nặng cao hơn so với các nhóm khác, với 40,0% thuộc nhóm độc thân và 25,0% thuộc nhóm góa vợ/chồng Ngược lại, nhóm bệnh nhân có vợ/chồng có tỷ lệ không mắc bệnh TC cao nhất, đạt 47,2%, trong khi tỷ lệ mắc TC nhẹ là 33,1%.

Bảng 3.12 Phân bố mức độ trầm cảm theo mức thu nhập (n = 185)

Mức độ trầm cảm Thu nhập

Tổng 69 37,3 58 31,4 33 17,8 25 13,5 185 100,0 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Người bệnh sống phụ thuộc có tỷ lệ mắc trầm cảm cao, với 45 trường hợp được khảo sát bằng thang điểm Beck Trong đó, tỷ lệ trầm cảm mức độ vừa và nặng chiếm 29,8% và 21,1% Đối với các nhóm thu nhập khác, tỷ lệ người bệnh mắc trầm cảm nhẹ là cao nhất.

Bảng 3.13 Phân bố mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo thang điểm

Khoảng điểm Điểm trung bình

Tiêu chuẩn Phụ thuộc hoàn toàn 11 5,9 10 - 15 0 - 19 14,55±1,51

Trợ giúp ít 119 64,3 60 -75 60 - 79 70,42 ± 3,48 Độc lập hoàn toàn

Phần lớn người bệnh ĐQN cần sự trợ giúp trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, với 64,3% người cần trợ giúp ít (Mean = 70,42) Tỷ lệ người cần trợ giúp trung bình là 13% (Mean = 47,92), trong khi 11,4% phụ thuộc nhiều (Mean = 28,33) và 5,9% phụ thuộc hoàn toàn (Mean = 47,92) Chỉ có 5,4% người bệnh độc lập hoàn toàn (Mean = 86).

Bảng 3.14 Phân bố mức độ trầm cảm theo mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (n = 185)

Trợ giúp ít 59 49,6 48 40,3 9 7,6 3 2,5 119 100 Độc lập hoàn toàn 8 80,0 0 0,0 2 20,0 0 0,0 2 100

Người bệnh cần trợ giúp trung bình có tỷ lệ mắc trầm cảm nặng theo thang điểm Beck cao nhất, chiếm 45,8% Tỷ lệ mắc trầm cảm nặng ở người bệnh phụ thuộc nhiều và phụ thuộc hoàn toàn cũng khá cao, lần lượt là 35,3% và 33,3% Trong khi đó, người bệnh cần trợ giúp ít có tỷ lệ mắc trầm cảm nhẹ cao nhất với 40,3%, tương đương 48 trường hợp Đặc biệt, không có trường hợp nào mắc trầm cảm nặng ở nhóm đối tượng độc lập hoàn toàn.

Bảng 3.15 Phân bố người bệnh theo mức hỗ trợ xã hội (n = 185)

Mức hỗ trợ xã hội

Khoảng điểm Điểm trung bình (X ± SD) Thực tế Tiêu chuẩn

Hỗ trợ xã hội thấp 25 13,5 1,83 – 2,92 1 - 2,9 2,5 ± 0,35

Hỗ trợ xã hội vừa phải 44 23,8 3 - 5 3 - 5 3,99 ± 0,74

Hỗ trợ xã hội cao 116 62,7 3,83 – 6,42 5,1 - 7 5,74 ± 0,39

Tổng 185 100 1,83 – 6,42 1 - 7 4,92 ± 1,29 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Nhìn chung, người bệnh nhận được mức hỗ trợ xã hội cao, với 62,7% có mức hỗ trợ cao (Mean = 5,74) Một phần 23,8% người bệnh có mức hỗ trợ xã hội vừa phải (Mean = 3,99), trong khi chỉ có 13,5% người bệnh có mức hỗ trợ xã hội thấp nhất (Mean = 2,5).

Bảng 3.16 Phân bố mức độ trầm cảm theo mức hỗ trợ xã hội (n = 185)

Mức hỗ trợ xã hội

Không trầm cảm Trầm cảm nhẹ

Hỗ trợ xã hội thấp 0 0,0 4 16,0 7 28,0 14 56,0 25 100

Hỗ trợ xã hội vừa phải 6 13,6 9 20,5 18 40,9 11 25,0 44 100

Hỗ trợ xã hội cao 63 54,3 45 38,8 8 6,9 0 0,0 116 21,6

Kết quả nghiên cứu cho thấy, người bệnh có mức hỗ trợ xã hội thấp có tỷ lệ mắc trầm cảm nặng cao nhất, đạt 56% Trong khi đó, những người có mức hỗ trợ xã hội vừa phải có tỷ lệ mắc trầm cảm vừa phải là 47,4% Đặc biệt, nhóm bệnh nhân với mức hỗ trợ xã hội cao có tỷ lệ mắc trầm cảm nhẹ cao nhất, lên tới 84,9%, và không ghi nhận trường hợp nào mắc trầm cảm nặng.

Bảng 3.17 Phân bố người bệnh theo mức độ tự tin (n = 185)

Mức độ tự tin Số lượng(n)

Khoảng điểm Điểm trung bình

X ± SD Thực tế Tiêu chuẩn

Mức tự tin trung bình 58 31,4 15 - 25 15 - 25 19,12 ± 3,13

Tổng 185 100 12 - 35 10 - 40 26,13 ± 6,38 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Nhìn chung, người bệnh thể hiện lòng tự tin cao, với 64,3% có mức độ tự tin cao (Mean = 30,19) Tỷ lệ người bệnh có lòng tự tin trung bình là 31,4% (Mean = 19,12), trong khi chỉ có 4,3% người bệnh có lòng tự tin thấp (Mean = 13,5).

Bảng 3.18 Phân bố mức độ trầm cảm theo mức độ tự tin của người bệnh

(n = 185) Mức độ trầm cảm Mức độ tự tin

Kết quả khảo sát cho thấy người bệnh có lòng tự tin thấp chủ yếu mắc trầm cảm ở mức độ vừa và nặng, với 50% ở mỗi mức độ, không có trường hợp nào mắc trầm cảm nhẹ Trong khi đó, nhóm người bệnh có lòng tự tin trung bình có tỷ lệ mắc trầm cảm vừa cao nhất, đạt 41,4% Đối với những người có lòng tự tin cao, tỷ lệ mắc trầm cảm nhẹ là 39,5%, trong khi 56,3% không mắc trầm cảm và không có trường hợp nào mắc trầm cảm nặng.

Các yếu tố liên quan

Bảng 3.19 Liên quan giữa tuổi và trầm cảm (n = 185)

< 45 tuổi 45-59 tuổi 60-74 tuổi ≥ 75 tuổi Tổng n % n % n % n % n %

Nhận xét: Người bệnh thuộc nhóm tuổi 45 – 59, 60 - 74 và ≥ 75 có tỷ lệ mắc

Theo khảo sát, tỷ lệ trầm cảm (TC) theo thang điểm Beck lần lượt là 65%, 64,2% và 75% Đặc biệt, nhóm bệnh nhân dưới 45 tuổi có tỷ lệ không mắc TC cao hơn, đạt 62,5% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ TC giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.20 Liên quan giữa giới và trầm cảm (n = 185)

Tổng 113 100 72 100 185 100 p X 2 = 3,3; p > 0,05 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở nam giới là 57,5%, trong khi tỷ lệ ở nữ giới là 70,8% Sự khác biệt giữa hai giới không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.21 Liên quan giữa tình trạng hôn nhân và trầm cảm (n = 185)

Tỷ lệ trầm cảm Độc thân Có vợ/chồng Ly hôn Goá vợ/chồng Tổng n % n % n % n % n %

Người bệnh độc thân, ly hôn và góa vợ/chồng có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn đáng kể so với nhóm không mắc, theo khảo sát sử dụng thang điểm Beck.

Theo khảo sát bằng thang điểm Beck, trong 8 đối tượng ly hôn, tất cả đều mắc trầm cảm (TC) Tỷ lệ mắc TC ở nhóm đối tượng có vợ/chồng là 52,8%, trong khi tỷ lệ không mắc TC là 47,2% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Y học cổ truyền và phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa (2017), truy cập tại &lt;http://www.benhvienyhct-phcnkhanhhoa.com.vn/tabid/41&gt;,ngày truy cập 28/11/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viện Y học cổ truyền và phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa
Năm: 2017
2. Nguyễn Quang Bính (2014), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân suy thận mạn tính, Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân suy thận mạn tính
Tác giả: Nguyễn Quang Bính
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2014
3. Bộ Môn Thần Kinh (2015). Sổ Tay Lâm Sàng Thần Kinh, Nhà xuất bản Y Học thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ Tay Lâm Sàng Thần Kinh
Tác giả: Bộ Môn Thần Kinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
4. Nguyễn Thanh Cao (2012), Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn năm 2011 và đề xuất một số giải pháp, Luận án chuyên khoa cấp II,Trường Đại học y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn năm 2011 và đề xuất một số giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thanh Cao
Nhà XB: Trường Đại học y dược Thái Nguyên
Năm: 2012
5. Cao Minh Châu (2003). Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não tại cộng đồng.Tạp chí nghiên cứu Y học, 54-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não tại cộng đồng
Tác giả: Cao Minh Châu
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Y học
Năm: 2003
6. Trần Văn Chương (2010).Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 83-145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não
Tác giả: Trần Văn Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
7. Vũ Thị Cẩm Doanh (2016). Nghiên cứu tình trạng trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Hải Phòng, Luận Văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại Học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Hải Phòng
Tác giả: Vũ Thị Cẩm Doanh
Nhà XB: Trường Đại Học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2016
8. Nguyễn Tấn Dũng (2013). Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng toàn diện cho người bệnh sau tai biến mạch máu não tại TP. Đà Nẵng.Tạp chí Khoa học và Phát triển, 170-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng toàn diện cho người bệnh sau tai biến mạch máu não tại TP. Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2013
9. Vũ Thị Thu Hà (2014), Chất lượng cuộc sống của người bệnh tai biến mạch máu não sau điều trị và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa năm 2014, Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của người bệnh tai biến mạch máu não sau điều trị và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Khánh Hòa năm 2014
Tác giả: Vũ Thị Thu Hà
Nhà XB: đại học Y tế công cộng
Năm: 2014
10. Hội tâm thần học Việt Nam (2017), Dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm, truy cập ngày, tại trang web http://hoitamthanhoc.com/en/home/119-tieng-viet/kien-thuc-tam-than-hoc/776-dich-te-lam-sang-cac-roi-loan-tram-cam.html.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm
Tác giả: Hội tâm thần học Việt Nam
Năm: 2017

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng chẩn đoán mức độ trầm cảm - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 2.1. Bảng chẩn đoán mức độ trầm cảm (Trang 37)
Bảng 3.1. Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.1. Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn (n = 185) (Trang 42)
Bảng 3.1. Phân bố người bệnh theo tình trạng yếu liệt (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.1. Phân bố người bệnh theo tình trạng yếu liệt (n = 185) (Trang 44)
Bảng 3.6.Mức độ - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.6. Mức độ (Trang 45)
Bảng 3.7. Các triệu chứng đặc trưng của trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.7. Các triệu chứng đặc trưng của trầm cảm ở người bệnh đột quỵ não (Trang 46)
Bảng 3.9. Phân bố mức độ trầm cảm theo nhóm tuổi(n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.9. Phân bố mức độ trầm cảm theo nhóm tuổi(n = 185) (Trang 47)
Bảng 3.12. Phân bố mức độ trầm cảm theo mức thu nhập (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.12. Phân bố mức độ trầm cảm theo mức thu nhập (n = 185) (Trang 48)
Bảng 3.13. Phân bố mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo thang điểm - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.13. Phân bố mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo thang điểm (Trang 49)
Bảng 3.14. Phân bố mức độ trầm cảm theo mức độ độc lập trong sinh hoạt - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.14. Phân bố mức độ trầm cảm theo mức độ độc lập trong sinh hoạt (Trang 50)
Bảng 3.16. Phân bố mức độ trầm cảm theo mức hỗ trợ xã hội (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.16. Phân bố mức độ trầm cảm theo mức hỗ trợ xã hội (n = 185) (Trang 51)
Bảng 3.19. Liên quan giữa tuổi và trầm cảm (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.19. Liên quan giữa tuổi và trầm cảm (n = 185) (Trang 53)
Bảng 3.20. Liên quan giữa giới và trầm cảm (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.20. Liên quan giữa giới và trầm cảm (n = 185) (Trang 53)
Bảng 3.22. Liên quan giữa trình độ học vấn và trầm cảm (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.22. Liên quan giữa trình độ học vấn và trầm cảm (n = 185) (Trang 54)
Bảng 3.21. Liên quan giữa tình trạng hôn nhân và trầm cảm (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.21. Liên quan giữa tình trạng hôn nhân và trầm cảm (n = 185) (Trang 54)
Bảng 3.23. Liên quan giữa bị mắc các bệnh kèm theo và trầm cảm (n = 185) - (Luận văn) thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y học cổ truyền   phục hồi chức năng tỉnh khánh hoà năm 2018
Bảng 3.23. Liên quan giữa bị mắc các bệnh kèm theo và trầm cảm (n = 185) (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm