1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thực trạng phòng chống loét cho người bệnh liệt nửa người tại khoa thần kinh bệnh viện đa khoa tỉnh nam định năm 2018

47 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Phòng Chống Loét Cho Người Bệnh Liệt Nửa Người Tại Khoa Thần Kinh Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Nam Định Năm 2018
Tác giả Trần Thị Ngọc Ánh
Người hướng dẫn TS. BS Trương Tuấn Anh
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 610,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. ĐẶT VẤN ĐỀ (10)
  • 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (11)
    • 2.1 Cơ sở lý luận (11)
      • 2.1.1 Liệt nửa người (11)
      • 2.1.2 Cấu trúc hệ thống da (12)
      • 2.1.3 Chức năng hệ thống da (13)
      • 2.1.4 Loét do đè ép (14)
      • 2.1.5 Phân loại loét ép (15)
      • 2.1.6 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây loét ép (16)
      • 2.1.7 Đối tượng có nguy cơ mắc loét ép (18)
      • 2.1.8 Những vị trí dễ bị loét ép (18)
      • 2.1.9 Người chăm sóc (19)
    • 2.2 Cơ sở thực tiễn (19)
      • 2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (19)
      • 2.2.2 Các mô hình giải pháp đã được áp dụng để phòng loét cho người bệnh tại Việt Nam và trên thế giới (20)
  • 3. LIÊN HỆ THỰC TIỄN (22)
    • 3.1 Thực trạng chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh liệt nửa người tại khoa thần kinh bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định (22)
      • 3.1.1 Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định (22)
      • 3.1.2 Thực trạng chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh liệt nửa người (22)
    • 3.2 Những thuận lợi và khó khăn (32)
      • 3.2.1 Thuận lợi (32)
      • 3.2.2 Khó khăn (32)
    • 3.3 Hậu quả (32)
  • 4. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (33)
    • 4.1 Kiến nghị (33)
    • 4.2. Đề xuất giải pháp (34)
      • 4.2.1 Nguyên tắc dự phòng cơ bản (34)
      • 4.2.2 Các phương pháp dự phòng (35)
  • 5. KẾT LUẬN (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (43)
  • PHỤ LỤC (44)

Nội dung

Loét do tỳ đè loét ép là một trong những biến chứng chính của người bệnh bị liệt vận động.. Tuy nhiên, phần lớn các dạng loét điểm tỳ có thể ngăn ngừa được nhưng thực trạng thì người bện

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

Liệt nửa người là tình trạng giảm hoặc mất khả năng vận động có ý thức ở một bên cơ thể, bao gồm tay và chân, và có thể kèm theo liệt mặt cùng bên Hiện tượng này thường xảy ra do tổn thương ở đường thần kinh vận động trung ương.

Tổn thương não do đột quỵ ảnh hưởng đến khả năng vận động của cơ thể, gây ra liệt nửa người bên phải hoặc bên trái tùy thuộc vào bên não bị tổn thương Cụ thể, tổn thương não trái dẫn đến liệt nửa người phải và ngược lại Mặc dù người bệnh có thể vẫn cử động được bên liệt, nhưng thường sẽ yếu hơn hoặc không thể cử động trong một số trường hợp Bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng và có thể để lại di chứng nặng nề về vận động và trí tuệ cho người bệnh.

Liệt nửa người thường có hai dạng, bao gồm:

- Liệt nửa người bẩm sinh: từng bị tổn thương não trong hoặc ngay sau khi sinh

Liệt nửa người thường xảy ra do chấn thương sọ não gây máu tụ nội sọ hoặc các bệnh lý như bệnh tim mạch có huyết khối lên não, tắc mạch, tăng huyết áp dẫn đến tai biến mạch máu não, đột quỵ, nhiễm trùng thần kinh, và khối u chèn ép tổ chức não.

2.1.2 Cấu trúc hệ thống da

Hình ảnh 2.1: Cấu tạo của da

Da được cấu tạo từ ba phần chính: thượng bì (biểu bì), trung bì (nội biểu bì) và hạ bì (lớp mỡ dưới da) Mỗi phần có chức năng và cấu trúc riêng, liên kết chặt chẽ với nhau, góp phần tạo nên vẻ đẹp của làn da.

Lớp biểu bì, như lớp da bên ngoài mà chúng ta có thể nhìn thấy và chạm vào, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ da khỏi độc tố và vi khuẩn Lớp này bao gồm 5 lớp tế bào.

Lớp sừng là lớp ngoài cùng của da, có chức năng bảo vệ da khỏi tác động của môi trường Mỗi chu kỳ từ 10-30 ngày, lớp sừng sẽ thoái hóa và chuyển thành tế bào chết, nhưng vẫn có khả năng tái tạo.

Lớp sáng: Gồm những tế bào không nhân có màu sáng Các tế bào bị ép nhẹ, trở nên bằng phẳng và không phân biệt được

Quá trình sừng hóa bắt đầu ở lớp hạt, nơi các tế bào sản sinh ra những hạt nhỏ Những hạt này di chuyển lên trên và dần biến đổi thành chất sừng cùng với các lipid biểu bì.

Lớp gai, hay còn gọi là lớp Malpigi, là lớp dày nhất của da, bao gồm các tế bào chồng lên nhau và liên kết chặt chẽ thông qua các cầu nối hóa học.

Lớp tế bào đáy là một lớp duy nhất nhưng rất quan trọng, có khả năng tái tạo các lớp da trên khi bị chấn thương hoặc trầy xước nhẹ, giúp không để lại sẹo Trong lớp tế bào này, các hạt melanin với số lượng và kích thước khác nhau quyết định màu da của mỗi người.

* Trung bì ( nội biểu bì)

- Nằm dưới thượng bì, gồm 2 phần:

+ Lớp nhú: Là lớp nuôi dưỡng, rất mỏng chỉ khoảng 0.1mm Trên bề mặt có những gai hình nón ăn sâu vào trong lòng thượng bì

Lớp trung bì là lớp chống đỡ dày khoảng 0.4mm, chứa nhiều bó liên kết chằng chịt và các phần phụ của da như tuyến mồ hôi, tuyến bã, nang lông, cùng với các vi thể thần kinh cảm nhận áp lực, nhiệt độ và đau Cấu trúc của trung bì bao gồm các bó sợi, sợi keo (Elastin), sợi lưới và sợi đàn hồi (collagen) Khi còn trẻ, các bó sợi này liên kết chặt chẽ và ở dạng thẳng đứng, giúp da trở nên săn chắc.

* Hạ bì ( mỡ dưới da)

Lớp da bên trong cùng không chỉ sản xuất năng lượng cho cơ thể mà còn đóng vai trò như một tấm đệm và cách nhiệt hiệu quả.

Các tế bào mỡ: Gắn kết lại với nhau thành nhóm như một lớp đệm

Số lượng tế bào chất béo ở mô dưới da khác nhau giữa các vùng trên cơ thể, và sự hình thành các tế bào này cũng có sự khác biệt giữa nam và nữ, cùng với cấu trúc của các bộ phận khác của da.

2.1.3 Chức năng hệ thống da

Da là lớp màng sinh học không chỉ là vỏ bọc bên ngoài cơ thể mà còn đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau

Bảo vệ da khỏi tác động của môi trường và duy trì độ ẩm là rất quan trọng Lớp biểu bì ngoài cùng chứa các nhân tố dưỡng ẩm tự nhiên (NMFs) giúp gắn kết với nước, từ đó duy trì sự đàn hồi, vững chắc và mềm mại cho da Khi độ ẩm của lớp sừng giảm xuống dưới 8-10%, da sẽ trở nên khô, sần sùi và dễ bị nứt nẻ.

Đàn hồi và bảo vệ da là chức năng quan trọng của các tế bào mỡ trong mô dưới da, giúp tạo lớp đệm bảo vệ cho các mô cơ và sợi mô xung quanh Màng hydrolipid và axit bảo vệ có khả năng đệm, bảo vệ cơ thể khỏi các chất hóa học có tính kiềm gây hại Ngoài ra, chúng còn hỗ trợ bài tiết các chất độc như ure, ammoniac và acid uric ra ngoài cơ thể.

- Bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn và vi rút: lớp sừng của biểu bì và các axit bảo vệ chống lại các loại vi khuẩn và nấm

Điều chỉnh nhiệt độ cơ thể là một quá trình quan trọng, trong đó da tiết mồ hôi giúp làm mát và thu nhỏ hệ thống mạch máu ở hạ bì Quá trình này giúp duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định, không vượt quá 37 độ C.

- Kiểm soát cảm xúc: Đầu các dây thần kinh ở da khiến da nhạy cảm với áp lực, chấn động, va chạm, nỗi đau và nhiệt độ

- Sự tái tạo: da có khả năng phục hồi các vết thương

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

* Nghiên cứu trên thế giới[10]

Loét ép là một vấn đề toàn cầu được nghiên cứu và đầu tư cho việc phòng ngừa và điều trị Tình trạng này không chỉ gây đau đớn cho người bệnh mà còn ảnh hưởng đến tinh thần của họ, tạo gánh nặng kinh tế cho cả bệnh nhân và gia đình, đồng thời kéo dài thời gian điều trị và làm tăng chi phí y tế.

Nghiên cứu của Daniel Bluestein và Ashkan Javaheri năm 2008 chỉ ra rằng 70% trường hợp loét ép xảy ra ở người trên 65 tuổi, nhưng những người trẻ hơn với tình trạng giảm thần kinh hoặc bệnh nặng cũng có nguy cơ cao Tỷ lệ mắc loét ép trong thời gian nằm viện dao động từ 4,7% đến 32,1%, và từ 8,5% đến 22% khi ở nhà Điều này cho thấy loét ép không chỉ xảy ra ở người già yếu mà còn ở bất kỳ bệnh nhân nào có thời gian bất động kéo dài, đặc biệt là trong thời gian điều trị bệnh khác.

* Nghiên cứu tại Việt Nam[10]

Nghiên cứu của Cầm Bá Thức và cộng sự (2012) tại bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương cho thấy 24.6% bệnh nhân mắc loét ép, với mức độ loét có mối tương quan thuận với hạn chế vận động Cụ thể, 57.9% bệnh nhân bị loét độ 4 đều có tình trạng liệt nặng Tuy nhiên, nghiên cứu này gặp khó khăn do thời gian kéo dài, ảnh hưởng đến việc thu thập dữ liệu.

Nghiên cứu của Võ Thị Nhu và cộng sự tại An Giang cho thấy nhiều người chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch máu não còn thiếu kiến thức chăm sóc Cụ thể, 40% người chăm sóc không biết cách xoay trở bệnh nhân để phòng ngừa loét ép và huyết khối tĩnh mạch Tuy nhiên, sau can thiệp giáo dục, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 11,8% Việc dự phòng loét ép cho bệnh nhân, đặc biệt là những người bị liệt nửa người, là rất cần thiết và nên được thực hiện ngay khi bệnh nhân nhập viện.

2.2.2 Các mô hình giải pháp đã được áp dụng để phòng loét cho người bệnh tại Việt Nam và trên thế giới

* Kiểm tra da hàng ngày [4], [5]: Những vấn đề về da luôn luôn có thể phòng ngừa được bằng cách kiểm tra da đều đặn

Đối với bệnh nhân liệt vận động có nguy cơ cao bị loét điểm tỳ, việc kiểm tra da hàng ngày là rất quan trọng Cần chú ý phát hiện các dấu hiệu bất thường trên da như nốt phồng rộp hoặc vết tấy đỏ để kịp thời xử lý.

Lật trở người bệnh theo chương trình, đặt người bệnh ở các tư thế thoải mái như nằm ngửa, nghiêng trái, hoặc nghiêng phải khoảng 2 giờ/lần Trong những trường hợp đặc biệt, có thể thay đổi tư thế cho người bệnh nhiều lần trong ngày theo chỉ định của bác sĩ.

Khi da ở vùng xương cùng bị đỏ, cần để người bệnh nằm nghiêng hoặc nằm sấp Tuy nhiên, không nên để người bệnh nằm nghiêng quá 2 giờ và cần lót giữa hai đầu gối bằng một gối êm mỏng hoặc vòng đệm hơi để tránh tổn thương da ở vùng ụ lớn xương đùi Ngoài ra, nên đặt vòng bông ở các ụ xương khác như mắt cá chân, gót chân và bả vai bên nằm nghiêng.

Khi người bệnh nằm ngửa, cần kê một gối mỏng và mềm dưới lưng để hỗ trợ Đồng thời, việc kê cao bắp chân bằng gối mềm sẽ giúp giảm áp lực lên gót chân.

Mặt giường của bệnh nhân cần được đảm bảo với ga trải giường và đệm nằm được kéo phẳng Hiện nay, hầu hết các bệnh nhân liệt vận động đều được khuyến cáo sử dụng các biện pháp chăm sóc hợp lý để nâng cao chất lượng giấc ngủ và sức khỏe.

Sử dụng đệm hơi và đệm nước giúp giảm nguy cơ loét do tỳ đè bằng cách tạo ra sóng nước, giúp lưu thông máu đến các mao mạch nuôi dưỡng vùng da của bệnh nhân Điều này góp phần làm giảm nguy cơ loét do thiểu dưỡng da ở những khu vực bị tỳ đè.

Khi cho người bệnh đi đại tiện, cần lót vải mềm lên mép bô để giảm áp lực từ cơ thể lên thành bô cứng, nhằm tránh tổn thương da ở vùng tiếp xúc.

* Giữ gìn da khô sạch:

- Hàng ngày chúng ta phải quan sát những vùng da dễ có nguy cơ bị loét

- Giữ vệ sinh không để da bị ẩm ướt bởi các loại dịch tiết như mồ hôi, nước tiểu, phân…

Để chăm sóc da cho bệnh nhân, cần giữ cho da luôn khô ráo Điều dưỡng có thể phối hợp với gia đình để tắm hoặc lau người cho bệnh nhân bằng nước ấm trong phòng kín gió ít nhất một lần mỗi ngày, sau đó dùng khăn bông mềm để lau khô.

* Xoa bóp các vùng bị tỳ đè[8], [5]:

- Ta có thể xoa bóp làm khô da bằng bột talc hoặc cồn 70 o để đảm bảo da không bị ẩm ướt

Xoa bóp nhẹ nhàng từ vùng có bắp cơ dày đến vùng dễ bị mảng mục, với thời gian xoa kéo dài khoảng 15 - 20 phút mỗi lần Nên thực hiện đều đặn từ 1 - 2 lần mỗi ngày để đạt hiệu quả tốt nhất.

Để đạt hiệu quả tối ưu, việc kết hợp tập luyện phục hồi chức năng cho bệnh nhân là rất quan trọng, nhằm ngăn ngừa các di chứng như teo cơ và cứng khớp trong tương lai.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Thực trạng chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh liệt nửa người tại khoa thần kinh bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

3.1.1 Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, với diện tích 2.7 ha, tọa lạc trong khu vực nội thành của thành phố Nam Định, có quy mô lớn hơn nhiều so với các cơ sở y tế khác trong khu vực.

Bệnh viện có 700 giường bệnh, 7 phòng chức năng, 21 khoa lâm sàng và 9 khoa cận lâm sàng, với hơn 700 y bác sỹ và điều dưỡng viên Mỗi năm, bệnh viện thực hiện hơn 6000 ca phẫu thuật bằng các kỹ thuật tiên tiến Theo quy hoạch tổng thể ngành y tế Nam Định đến năm 2020, bệnh viện sẽ được nâng cấp lên 1000 giường để đảm bảo phục vụ tốt hơn cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.

Khoa thần kinh, đơn nguyên đột quỵ bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, là nơi điều trị chính cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não, đột quỵ và u não, với khoảng 40-50 bệnh nhân nội trú tại một thời điểm Ngoài ra, còn có bệnh nhân liệt nửa người ở các khoa khác như hồi sức cấp cứu, tim mạch và phục hồi chức năng Số lượng bệnh nhân liệt nửa người tại bệnh viện là tương đối lớn, do đó, việc nâng cao kiến thức chăm sóc để phòng ngừa loét ép cho bệnh nhân là rất cần thiết và quan trọng.

3.1.2 Thực trạng chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh liệt nửa người

* Phân tích số liệu liên quan

Bảng 3.1: Phân bố đối tượng chăm sóc theo độ tuổi

Tuổi Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

- Độ tuổi của người chăm sóc chiếm nhiều nhất (70%) là 45-60 tuổi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Độ tuổi của người chăm sóc chiếm ít nhất (13.33%) là < 45 tuổi

Biểu đồ 3.1: Phân bố người chăm sóc theo giới tính

Nhận xét: Phần lớn người chăm sóc người bệnh liệt nửa người là nữ giới chiếm

63.33%, trong khi đó những NCS là nam giới có tỉ lệ 36.67%

Bảng 3.2: Phân bố nơi ở của người bệnh và người chăm sóc Địa điểm Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Khác ( vùng sâu vùng xa) 2 6.67

Tỷ lệ người bệnh và người chăm sóc sống ở nông thôn chiếm 83.33%, trong khi đó tỷ lệ ở thành phố chỉ đạt 10% và vùng sâu vùng xa là 6.67%.

Mù chữ Tiểu học THCS THPT TC/CĐ/ ĐH/Sau ĐH

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ đặc điểm trình độ học vấn của người chăm sóc

Kết quả cho thấy, trình độ văn hóa của người chăm sóc bậc trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất với 53.33%, trong khi tỷ lệ người mù chữ chỉ chiếm 3.33%.

Bảng 3.3: Phân bố đối tượng chăm sóc theo nghề nghiệp Nghề nghiệp Số lượng( người) Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ người chăm sóc bệnh nhân là nông dân chiếm cao nhất với 50%, trong khi tỷ lệ người chăm sóc là viên chức nhà nước thấp nhất chỉ đạt 6.67%.

Bảng 3.4: Đặc điểm mối quan hệ của người chăm sóc với người bệnh Mối quan hệ Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Con/ Cháu/ Người giúp việc 24 80

Tỷ lệ người chăm sóc người bệnh chiếm cao nhất (80%) là con/ cháu/ người giúp việc tiếp theo là vợ (chồng) chiếm 16.67% cuối cùng là nhân viên y tế chiếm (3.33%)

Chưa bị loét Đã từng bị

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ người đã từng bị loét ép và chưa bị loét ép

Nhận xét: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Tỷ lệ người bệnh chưa bị loét ép chiếm cao : chiếm 83.33%

- Tỷ lệ người bệnh đã từng bị loét chiếm ít : chiếm 16.67%

Bảng 3.5 : Tỷ lệ tình trạng ý thức của người bệnh liệt nửa người Ý thức của người bệnh Số lượng ( người ) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh liệt nửa người tỉnh chiếm cao nhất 60% tiếp theo là người bệnh có ý thức lơ mơ là 33.33% cuối cùng là hôn mê chiếm 6.67%

Bị loét ép Chưa bị loét ép

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ người bệnh liệt nửa người bị loét ép

- Tỷ lệ người bệnh liệt nửa người bị loét ép chiếm thấp 26.67%

- Tỷ lệ người bệnh liệt nửa người chưa bị loét ép chiếm 73.33% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 3.6: Phân bố đối tượng người bệnh đã nằm điều trị tại các cơ sở y tế Địa điểm Số lượng ( người ) Tỷ lệ (%)

- Tỷ lệ người bệnh nằm tại bệnh viện tỉnh chiếm tỷ lệ cao nhất (42.86%)

- Tỷ lệ người bệnh nằm tại trạm y tế chiếm tỷ lệ thấp nhất (0%) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 3.7: Tỷ lệ người chăm sóc và người bệnh biết cách phòng chống loét ép

Cách phòng chống loét Số lượng ( người ) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ người chăm sóc người bệnh cũng như người bệnh chưa biết cách phòng chống loét còn cao 70%, chỉ có 30% là biết cách phòng chống loét

Dự phòng loét ép Điều trị loét ép

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ NCS và NB thấy được tầm quan trọng của dự phòng loét

Theo ý kiến của người chăm sóc và bệnh nhân, 93.33% cho rằng điều trị loét ép quan trọng hơn việc dự phòng, trong khi chỉ có 6.67% nhận thức rằng dự phòng loét ép là quan trọng hơn.

Bảng 3.8: Thống kê những cách người bệnh được sử dụng phòng loét ép Phương pháp Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Ghi chú

Dùng đệm nước 5 16.67% NB được sử dụng nhưng chưa đúng cách

Kê gối 2 6.67% Đã kê gối đúng cách do

Kê các quả bóng 3 10% Đã kê quả bóng đúng cách do

Thay đổi tư thế khi NB khó chịu hoặc khi nào NCS cảm thấy cần thay đổi tư thế cho

Dinh dưỡng theo bệnh chính là chính chưa quan tâm tới phòng loét ép

Thay đồ cho NB khi quần áo ướt

Kiểm tra da hàng ngày 10 33.33%

Chủ yếu là NB đã bị loét mới kiểm tra da hoặc những người đã tìm hiểu về cách phòng chống loét

NCS chưa chú trọng đến việc phòng ngừa loét cho bệnh nhân, dẫn đến việc hầu hết bệnh nhân chỉ áp dụng các biện pháp phòng loét thông qua các phương pháp kết hợp với bệnh lý chính như liệt nửa người.

Bảng 3.9: Thống kê những cách người bệnh được sử dụng chống loét ép Phương pháp Số lượng ( người) Tỷ lệ (%) Ghi chú

Xoa bóp 30 100% Xoa bóp theo phương pháp

PHCN cho NB liệt nửa người Thay đồ thường xuyên 30 100% Thay đồ cho NB 1 lần/ ngày hoặc khi quần áo NB ướt

Bôi thuốc 5 16.67% Bôi bột tal, thuốc tím …

Cắt lọc 1 3.33% Loét giai đoạn III

Kiểm tra da hàng ngày 10 33.33%

Chủ yếu là NB đã bị loét mới kiểm tra da hoặc những người đã tìm hiểu về cách phòng chống loét

Dinh dưỡng theo bệnh chính là chính chưa quan tâm tới phòng loét ép

NCS chưa chú trọng đến các phương pháp chống loét cho bệnh nhân, dẫn đến việc người bệnh chủ yếu chỉ áp dụng các biện pháp hỗ trợ như xoa bóp và thay đồ thường xuyên, đặc biệt là trong quá trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người 100% bệnh nhân được thực hiện các phương pháp này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 90% trong số 30 NCS tham gia chưa tìm hiểu kiến thức chăm sóc phòng chống loét cho bệnh nhân Mặc dù có nhiều phương tiện thông tin đại chúng và tài liệu hướng dẫn, NCS vẫn chưa chủ động tìm kiếm thông tin liên quan Thực trạng này không cải thiện ngay cả với những bệnh nhân đã nhập viện nhiều lần.

Kiến thức về chăm sóc và phòng chống loét cho người bệnh của NCS hiện đang ở mức thấp, cho thấy sự thiếu hụt kiến thức trong lĩnh vực này Đối tượng chăm sóc chủ yếu là những người trong độ tuổi từ 45 đến 60, với phần lớn có trình độ học vấn chỉ đạt cấp trung học cơ sở Họ chủ yếu sinh sống tại các khu vực nông thôn.

Hầu hết (90%) người chăm sóc ở vùng sâu vùng xa chưa tìm hiểu về loét ép, do thiếu kiến thức và phương tiện thông tin như Internet hay báo chí Hệ quả là họ không biết loét ép là gì và cách phòng ngừa cho người bệnh.

Trong 30 người tham gia điều tra đến 70% số người tham gia trả lời không biết cách phòng loét ép là như thế nào và 20% thì chỉ biết một vài cách phòng nhưng thực hành sai cách còn 10% còn lại thì đã có tìm hiểu về cách phòng và được nhân viên y tế hướng dẫn cách phòng nhưng khi người bệnh đã xảy ra loét ép thì người nhà mới tìm hiểu và phòng loét cho người bệnh Có người bệnh được người nhà cho sử dụng phối hợp nhiều cách phòng chống loét nhưng cũng có người bệnh do người nhà chưa biết, chưa ý thức được tầm quan trọng của việc phòng loét ép nên họ không phòng chống loét ép cho người bệnh Và 93.33% nhầm tưởng rằng trong công tác điều trị loét ép và dự phòng loét éo thì việc điều trị loét ép là quan trọng hơn dự phòng

Người bệnh có thể thực hiện một số phương pháp phòng chống loét nhờ sự hướng dẫn của nhân viên y tế, như xoa bóp, thay đổi tư thế và thay đồ hàng ngày Tuy nhiên, những phương pháp này chỉ giảm thiểu một phần nguy cơ loét Nếu không biết cách phối hợp các biện pháp phòng chống loét một cách hiệu quả, nguy cơ loét ở người bệnh liệt nửa người sẽ vẫn rất cao.

Nghiên cứu cho thấy thời gian nằm viện kéo dài làm tăng nguy cơ loét ép ở bệnh nhân, đặc biệt khi họ rơi vào trạng thái hôn mê Các vùng dễ bị tổn thương bao gồm vùng cùng cụt, hai bả vai và hai bên mấu chuyển lớn xương đùi Nguyên nhân chính là do người chăm sóc chưa nắm rõ các biện pháp phòng ngừa loét, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện Hầu hết người chăm sóc và bệnh nhân thường chỉ tập trung vào việc điều trị bệnh chính mà không chú ý đến việc dự phòng loét, cũng như các yếu tố nguy cơ khác có thể gây ra tai biến từ tình trạng liệt nửa người.

Những thuận lợi và khó khăn

- Internet, công nghệ phát triển việc tìm kiếm thông tin phòng loét ép dễ dàng

- Các phương pháp thực hiện phòng chống loét dễ dàng

- Giá thành các dụng cụ hỗ trợ phòng chống loét rẻ, bền, đẹp…

- Các dụng cụ hỗ trợ dễ sử dụng

- Người chăm sóc (45-60 tuổi) là những người có sức khỏe và không ngại khó khăn để chăm sóc người bệnh

- Người chăm sóc (45-60 tuổi) với trình độ học vấn chủ yếu là THCS sẽ có ít kinh nghiệm tìm tòi kiến thức qua internet báo đài…

- Người chăm sóc chủ yếu ở nông thôn ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ tìm kiếm thông tin khó khăn hơn

- Người bệnh là những người bị liệt nửa người khi thực hiện các phương pháp phòng chống loét rất vất vả

- Người chăm sóc chưa ý thức được tầm quan trọng của loét ép

- Cơ sở vật chất, phương tiện phòng chống loét chưa có đầy đủ

- NVYT chưa có nhiều thời gian hướng dẫn tận tình người bệnh cách chăm sóc phòng chống loét cho người bệnh

Hậu quả

Người bệnh liệt nửa người có nguy cơ cao bị loét nếu không được phòng chống đúng cách, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thể chất và tinh thần Loét ép xảy ra do sự tỳ nén kéo dài lên mô mềm giữa xương và bề mặt cơ thể, dẫn đến thiếu máu nuôi tổ chức và chết tế bào Hậu quả của loét ép có thể rất nghiêm trọng đối với bệnh nhân.

Tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm trùng, bao gồm nhiễm trùng huyết và viêm xương.

- Rỉ huyết tương, mất dinh dưỡng, suy kiệt

- Có nguy cơ cụt chi ,tàn tật…

- Mùi tanh, mùi hôi khó chịu cho người bệnh, người chăm sóc và những người xung quanh

- Hàng ngày phải rửa, thậm chí cắt lọc vệ sinh mất nhân công chăm sóc

- Người bệnh đau đớn, khó khăn trong sinh hoạt

- Kéo dài thời nằm viện

- Tăng chi phí chăm sóc y tế, tiêu tốn thuốc men…

- Tăng thêm gánh nặng, lo lắng cho gia đình

- Làm giảm hiệu quả của quá trình điều trị, việc chăm sóc trở nên khó khăn hơn

- Làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, tăng thêm nỗi lo lắng cho người bệnh

Việc để xảy ra loét tỳ đè trong quá trình điều trị có thể dẫn đến tử vong và gây ra hậu quả nghiêm trọng, không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn tạo gánh nặng cho bệnh viện Do đó, cần thiết phải tuyên truyền giáo dục sức khỏe về phòng chống loét cho bệnh nhân và người nhà, theo dõi thực hành phòng ngừa loét cũng như tiến triển của vết loét để có biện pháp xử trí kịp thời, tránh những hậu quả nghiêm trọng.

KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Kiến nghị

* Đối với khoa phòng, bệnhviện luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Sau khi phân tích số liệu, tôi nhận thấy cần tổ chức nhiều buổi truyền thông giáo dục sức khỏe để cung cấp thông tin tin cậy và bổ ích về chăm sóc và phòng ngừa loét ép cho bệnh nhân và người chăm sóc Đồng thời, cần có biện pháp đánh giá kịp thời kiến thức và thực hành trong việc chăm sóc phòng ngừa loét cho người bệnh.

Nhân viên y tế dành thời gian tư vấn và giải thích cho bệnh nhân cùng người nhà về cách chăm sóc người bệnh liệt nửa người, đồng thời hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa loét hiệu quả.

* Đối với gia đình và xã hội

Tăng cường tìm hiểu kiến thức từ mạng và thông tin đại chúng về chăm sóc người bệnh liệt nửa người, cũng như các biện pháp phòng ngừa loét sau khi ra viện tại cộng đồng.

Việc hiểu rõ tầm quan trọng của việc theo dõi thường xuyên và phát hiện các biểu hiện bất thường ở người bệnh là rất cần thiết Điều này giúp chăm sóc kịp thời, ngăn ngừa biến chứng, đặc biệt là biến chứng loét.

Tăng cường chăm sóc sức khỏe và nâng cao ý thức tự giác bảo vệ sức khỏe cho người bệnh là rất quan trọng Cần điều chỉnh phương pháp chăm sóc phù hợp với tình trạng bệnh và điều kiện sống của từng cá nhân để đạt hiệu quả tốt nhất.

Đề xuất giải pháp

Để phòng chống loét ép cho người bệnh, đặc biệt là người liệt nửa người, cần thiết phải truyền thông giáo dục sức khỏe cho cả bệnh nhân và người chăm sóc Việc cung cấp kiến thức và hướng dẫn thực hành là rất quan trọng trong việc ngăn ngừa loét ép Dưới đây là một số biện pháp dự phòng loét ép cho người bệnh.

4.2.1 Nguyên tắc dự phòng cơ bản là tạo cho máu dễ lưu thông [8], [9]:

- Tránh bị tỳ đè, thường xuyên thay đổi tư thế cho người bệnh

- Giữ gìn da khô sạch, nhất là những vùng hay bị tỳ đè

- Kích thích tăng tuần hoàn tại chỗ: Thường xuyên xoa bóp những vùng có nguy cơ bị loét cao

- Cung cấp dinh dưỡng đầy đủ đặc biệt là protein, các vitamin A, C, E luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

4.2.2 Các phương pháp dự phòng: Có 03 trường hợp khi người bệnh chưa bị loét, có dấu hiệu loét, sau khi vết loét bộc phát

* Khi người bệnh chưa bị loét [6]

- Thông tin huấn luyện cho bệnh nhân và thân nhân về vết loét:

Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích nguyên nhân chính gây ra vết loét, đó là do thiếu dinh dưỡng cho lớp da do lưu thông máu bị nghẽn do chèn ép.

+ Vận động cơ thể là điều rất quan trọng, gia đình cần phải giúp xoay trở bệnh nhân thường xuyên

Xoa bóp các vùng tỳ đè cho người bệnh là rất quan trọng Hãy thực hiện xoa bóp nhẹ nhàng từ vùng có bắp cơ dày đến những khu vực dễ bị mảng mục Thời gian xoa bóp nên kéo dài khoảng 15 - 20 phút mỗi lần và nên được thực hiện đều đặn từ 1 - 2 lần mỗi ngày.

+ Luôn giữ sạch sẽ NB và giường Giường ẩm ướt và dơ sẽ kích thích da và vết loét sẽ bộc phát dễ dàng

+ Nếu có thể cần cung cấp cho người bệnh cái gương để họ tự kiểm tra phát hiện sớm triệu chứng vết loét

- Thay đổi tư thế: Cần thay đổi tư thế cách khoảng 2 giờ một lần Xoay trở

NB giúp cải thiện lưu thông máu, vì vậy cần hướng dẫn người nhà cách xoay trở bệnh nhân bằng tay, tư thế đúng khi nằm và sử dụng gối hỗ trợ Ngoài ra, cần soạn thảo thời khóa biểu để nhắc nhở việc xoay trở bệnh nhân đúng lúc.

- Tăng tuần hoàn máu: Xoa bóp các vùng dễ tỳ đè, nền xương cứng, động tác này cần tiến hành thường xuyên 10 – 15 phút / lần, 2 – 3 lần/ngày

Nẹp phải phù hợp với người bệnh, đảm bảo không tạo sức ép lên vùng xương Dụng cụ như đai, giày, nẹp, và bó bột nếu quá chặt có thể gây tổn hại cho da và các cấu trúc cơ thể Khi băng bột, cần đệm vùng xương để giảm sức chèn ép từ chất bột cứng.

Chêm lót các vùng có nguy cơ loét là rất quan trọng, đặc biệt ở những vùng lồi xương dễ gây cọ xát da Cần sử dụng khăn hoặc gối để bảo vệ những khu vực này Ngoài ra, việc sử dụng các loại đệm chống loét như nệm điện, nệm hơi, hoặc nệm nước cũng rất cần thiết Tuyệt đối không nên dùng vòng cao su, và drap giường, áo quần của người bệnh phải luôn thẳng, sạch sẽ và khô ráo.

Để có làn da khỏe mạnh, việc vệ sinh da là rất quan trọng; da cần phải sạch sẽ và không ẩm ướt Bên cạnh đó, việc chăm sóc và bảo vệ da cũng không kém phần quan trọng để duy trì sức khỏe và vẻ đẹp của làn da.

Ngăn ngừa nhiễm trùng da và tăng cường tuần hoàn máu là rất quan trọng, đặc biệt đối với những bệnh nhân liệt Việc kiểm soát đại tiểu tiện không tự chủ có thể ảnh hưởng lớn đến vệ sinh da, do đó cần chú trọng đến sự thoải mái tâm lý cho người bệnh.

- Giảm thiểu sức chèn ép:

Giảm áp lực lên cơ thể và thay đổi tư thế thường xuyên là rất quan trọng Nếu tình trạng sức khỏe cho phép, nằm sấp là một giải pháp hiệu quả để phân bổ trọng lượng cơ thể lên một bề mặt rộng hơn Đừng quên sử dụng gối để hỗ trợ ở các vị trí như đầu gối và ngực.

+ Sử dụng giường, nệm để giảm cường độ đè và cọ sát của cơ thể + Sử dụng gối để chống loét

Xe lăn cần được thiết kế đặc biệt để hỗ trợ bắp đùi trong việc chịu lực Trọng lượng cơ thể cần được phân tán đều, tránh tập trung quá nhiều vào vùng bàn tọa.

- Chế độ ăn uống: Nâng cao tổng trạng NB bằng chế độ dinh dưỡng thích hợp

Năng lượng là yếu tố quan trọng liên quan đến trọng lượng cơ thể và việc hấp thụ năng lượng đầy đủ Khi người bệnh rơi vào tình trạng thiếu dinh dưỡng, lớp mỡ dưới da sẽ bị thiếu, dẫn đến việc khoảng cách giữa da và xương bị thu hẹp, làm giảm khả năng chịu đựng sức đè nén của cơ thể Ngược lại, nếu hấp thụ quá nhiều năng lượng, trọng lượng cơ thể sẽ tăng, làm gia tăng sức đè nén và nguy cơ loét Do đó, cần chú ý đến việc hấp thụ năng lượng ở mức thích hợp, đặc biệt là ở những người bị bại liệt, vì họ thường hấp thụ năng lượng ít hơn do mức vận động kém.

Thiếu đạm có thể gây ra nguy cơ loét nghiêm trọng, và khi đã hình thành vết loét, lượng đạm sẽ bị mất nhanh chóng qua vết thương Đạm có nhiều trong các thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa và các sản phẩm từ sữa.

Cơ thể cần đủ chất lỏng để ngăn ngừa tình trạng mất nước, điều này rất quan trọng vì mất nước có thể làm cho da trở nên nhạy cảm, đặc biệt là ở bệnh nhân loét Lượng chất lỏng mất qua vết thương cần được bù đắp, vì vậy mỗi người nên uống từ 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày.

Kẽm là một khoáng chất quan trọng trong quá trình hồi phục vết thương, với liều lượng hàng ngày khuyến nghị cho nam giới là 7mg – 10mg và cho nữ giới là 6mg – 9mg Việc bổ sung kẽm chỉ mang lại lợi ích cho những bệnh nhân thiếu hụt khoáng chất này.

+ Vitamin C: Vitamin C có tầm ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe của NB luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Thông thường cần 70mg VitaminC/ ngày là rất bổ ích VitaminC có nhiều trong rau,trái cây nhất là trong kiwi, cam

Khi xuất hiện dấu hiệu loét, việc tăng cường lưu thông máu đến vùng da bị tổn thương là rất quan trọng, đồng thời cần ngăn chặn sự hình thành tổn thương mới.

Vận động của NB trong giai đoạn này bao gồm:

- NB và NNNB phối hợp với NVYT phát hiện nguyên nhân gây ra triệu chứng tiền loét và tìm cách ngăn chặn các lưu thông tổn thương khác

- Chú ý xoay trở và đặt NB ở những tư thế thích hợp

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Mạnh Dũng, Nguyễn Thị Minh Chính, Đinh Thị Thu Hằng, Vũ Thị Là, Phạm Thị Hằng, Võ Thị Thu Hương (2016), “ Điều dưỡng cơ sở II”.Trường đại học điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng cơ sở II
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng, Nguyễn Thị Minh Chính, Đinh Thị Thu Hằng, Vũ Thị Là, Phạm Thị Hằng, Võ Thị Thu Hương
Nhà XB: Trường đại học điều dưỡng Nam Định
Năm: 2016
2. Bộ môn nội - Đại học Điều dưỡng Nam Định (2017), Điều dưỡng lao - da liễu - thần kinh, Trường đại học điều dưỡng Nam Định, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng lao - da liễu - thần kinh
Tác giả: Bộ môn nội
Nhà XB: Trường đại học điều dưỡng Nam Định
Năm: 2017
3. WHO. (2015) Stroke, Cerebrovascular accident, truy cập ngày, tại trang web http://www.who.int/topics/cerebrovascular_accident/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke, Cerebrovascular accident
Tác giả: WHO
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2015
4. Phan Xuân Trung (2000), Dự phòng - chăm sóc và điều trị mảng mục, truy cập ngày, tại trang web Http:\\www.Ykhoanet.com/baigiang/dieuduong/bai14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự phòng - chăm sóc và điều trị mảng mục
Tác giả: Phan Xuân Trung
Năm: 2000
5. American Heart Association (AHA) (2015), Heart Disease and Stroke Statistics - At-a- Glance, truy cập ngày 01-03-2016, tại trang web www.heart.org/idc/groups/ahamah-public/@wcm/@sop/@smd/documents/downloadable/ucm_470704.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heart Disease and Stroke Statistics - At-a-Glance
Tác giả: American Heart Association (AHA)
Năm: 2015
6. Lê Xuân Đại(2017), Thay đổi kiến thức chăm sóc phòng chống loét của người chăm sóc chính người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch, Luận văn thạc sỹ điều dưỡng, Đại học Điều dưỡng Nam Định, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi kiến thức chăm sóc phòng chống loét của người chăm sóc chính người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch
Tác giả: Lê Xuân Đại
Nhà XB: Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2017
7.M. S Messer (2012), Development of a Tool for Pressure Ulcer Risk Assessment and Preventive Interventions in Ancillary Services Patients, Doctoral dissertation, University of South Florida Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of a Tool for Pressure Ulcer Risk Assessment and Preventive Interventions in Ancillary Services Patients
Tác giả: M. S Messer
Nhà XB: University of South Florida
Năm: 2012
8.WHO. (2015) Stroke, Cerebrovascular accident, truy cập ngày, tại trang web http://www.who.int/topics/cerebrovascular_accident/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke, Cerebrovascular accident
Tác giả: WHO
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2015
9.Paraplegia (2002), "“An incurable Malady?”", Paraplegia News, tr. Part I (13 - 17), part II (33 - 38) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An incurable Malady
Nhà XB: Paraplegia News
Năm: 2002
10. Phạm Thị Thúy Liên(2016), Thay đổi kiến thức dự phòng loét ép của người chăm sóc chính người bệnh tai biến mạch máu não tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định 2016, Luận văn thạc sĩ điều dưỡng, Đại học điều dưỡng Nam Định, Nam Định.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi kiến thức dự phòng loét ép của người chăm sóc chính người bệnh tai biến mạch máu não tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
Tác giả: Phạm Thị Thúy Liên
Nhà XB: Đại học điều dưỡng Nam Định
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w