------ PHẠM THỊ HẢI YẾN THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỲ NÃO TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN THÁI NGUYÊN NĂM 2019 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1 Định nghĩa đột quỵ Đột quỳ là một bệnh lý mạch máu và đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là một hội chứng lâm sàng bao gồm "các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn chức năng não (khu trú hoặc toàn thể) phát triển nhanh, kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong, không xác định nguyên nhân nào khác ngoài căn nguyên mạch máu" [1]
1.2.1 Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được
Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền
Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này nhƣ sau:
Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1)
Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỳ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng
Cư dân Châu Á có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với Đông Âu, trong khi tỷ lệ thấp nhất được ghi nhận ở Tây Âu và Bắc Mỹ Ngoài ra, người dân sống ở thành phố cũng có xu hướng mắc bệnh nhiều hơn so với những người ở nông thôn.
Người già là nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, tiếp theo là người trung niên, trong khi tỷ lệ mắc bệnh ở thanh thiếu niên giảm dần và thấp nhất ở trẻ em.
1.2.2 Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được
Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rƣợu, lạm dụng thuốc, ít vận động
Các nguyên nhân chính gây đột quỵ bao gồm tuổi cao, vữa xơ động mạch não và cao huyết áp Ngoài ra, các vấn đề từ tim như viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá và rối loạn nhịp tim cũng đóng vai trò quan trọng Bên cạnh đó, các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh lý nội ngoại khoa khác cũng có thể góp phần vào nguy cơ đột quỵ.
Có 2 dạng đột quỳ thường gặp hiện nay: Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: bệnh thường gặp sau một cơn đau hoặc cục máu đông có thể hình thành trong các mạch máu của não hoặc trong mạch máu dẫn đến não hay trong các mạch máu ở những nơi khác của cơ thể đi đến não; những cục máu đông chặn lưu lượng máu đến các tế bào của não, dạng này chiếm tỷ lệ cao trên 80% các ca đột quỳ do thiếu máu cục bộ Đột quỵ do xuất huyết não: xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, kết quả là máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh, do rối loạn đông máu hoặc người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông
Hình 1.1 Các dạng đột quỵ
Tổn thương mạch máu não có thể xảy ra do tắc nghẽn hoặc vỡ mạch, dẫn đến việc ngừng cung cấp máu cho não, gây ra tổn thương cho các vùng não liên quan Khi phần não bị tổn thương không thể hoạt động, các chức năng cơ thể do vùng não đó điều khiển cũng bị ảnh hưởng Khác với các bộ phận khác, tế bào não không có khả năng dự trữ năng lượng, vì vậy chúng hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung cấp máu liên tục Sự gián đoạn trong cung cấp máu càng kéo dài, tổn thương não càng nghiêm trọng và tình trạng bệnh nhân càng trở nên trầm trọng hơn.
Khi đột quỵ xảy ra, tế bào não chết đầu tiên ở vùng lõi và sau đó lan rộng ra vùng lân cận, gọi là vùng penumbra Vùng penumbra được coi là có thể cứu vãn, vì tổn thương ở đây có thể đảo ngược nếu được cung cấp máu kịp thời.
1.4 Hậu quả của đột quỵ Đột quỳ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Theo tổ chức y tế thế giới, có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỳ mang tàn tật vĩnh viễn Người bệnh đột quỳ thuộc loại đa tàn tật vì ngoài khả năng giảm vận động, người bệnh còn nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác [24]
1.5 Chăm sóc người bệnh đột quỵ [13]
Đột quỵ là một bệnh cấp tính, có thể diễn biến nặng dần tùy thuộc vào nguyên nhân và mức độ tổn thương, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng nếu không được điều trị và chăm sóc chu đáo Do đó, người điều dưỡng cần tiếp xúc với bệnh nhân một cách nhẹ nhàng, ân cần và thông cảm.
Trạng thái tinh thần của người bệnh: lo lắng, sợ hãi
Có biết bị tăng huyết áp không và thời gian bị tăng huyết áp?
Có đi lại đƣợc không?
Thuốc và cách điều trị tăng huyết áp nhƣ thế nào?
Các bệnh tim mạch đã mắc? Đã bao giờ bị liệt hay bị yếu tay chân chƣa?
Có hay nhức đầu, mất ngủ hay nhìn có bị mờ không?
Gần đây nhất có dùng thuốc gì không? luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Có buồn nôn, nôn và rối loạn tiêu hoá không?
Khả năng nói của người bệnh?
Có bị bệnh thận trước đây không?
Có hay bị sang chấn gì không?
Tình trạng đi tiểu: số lƣợng và màu sắc? Đánh giá bằng quan sát:
Tình trạng tinh thần của người bệnh: mệt mỏi, tỉnh táo hay hôn mê
Quan sát vận động tay chân của người bệnh
Quan sát các tổn thương trên da
Tình trạng miệng và mặt có bị méo không?
Tuổi trẻ hay lớn tuổi?
Tự đi lại đƣợc hay phải giúp đỡ?
Người bệnh mập hay gầy?
Tình trạng đại và tiểu tiện của người bệnh
Quan trọng là đo dấu hiệu sống, trong đó huyết áp là dấu hiệu quan trọng nhất Phải chú ý đến cả huyết áp tối đa và tối thiểu
Khám các dấu hiệu thần kinh khu trú
Khám dấu cơ lực và trương lực của bệnh nhân, cùng với việc kiểm tra mắt và các tổn thương khác là rất quan trọng Bên cạnh đó, cần chú ý đến các triệu chứng khác như tình trạng tim mạch, dấu hiệu ngoại biên, lượng nước tiểu và tình trạng phù.
Tham khảo hồ sơ bệnh án
Kiểm tra các xét nghiệm, các thuốc và cách sử dụng các thuốc nếu có
Thu thập thông tin qua gia đình, hồ sơ bệnh án
Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể gặp ở người bệnh bị đột quỳ:
Nhức đầu do tăng huyết áp
Mất khả năng vận động do liệt
Khả năng giao tiếp bằng lời giảm do đột quỳ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nguy cơ loét ép do chăm sóc không tốt
Nguy cơ nhiễm trùng hô hấp do nằm lâu
1.5.3 Lập kế hoạch chăm sóc
Việc khai thác các dấu chứng giúp điều dưỡng viên đưa ra chẩn đoán chính xác Họ cần phân tích và tổng hợp thông tin để xác định nhu cầu của bệnh nhân, từ đó xây dựng kế hoạch chăm sóc cụ thể Khi lập kế hoạch, điều dưỡng viên phải xem xét toàn trạng bệnh nhân, xác định vấn đề ưu tiên và sắp xếp thứ tự thực hiện các can thiệp phù hợp với từng trường hợp.
Chăm sóc cơ bản: Để người bệnh nghỉ ngơi, nằm ở tư thế đầu cao, nằm nghiêng về một bên
Giải thích cho người bệnh và gia đình về tình trạng bệnh tật Ăn đầy đủ năng lượng và nhiều hoa quả tươi
Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày
Hướng dẫn gia đình tự theo dõi các tác dụng phụ của thuốc, biểu hiện bất thường
Cho người bệnh uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định
Làm các xét nghiệm cơ bản
Tình trạng đột quỳ: tinh thần, vận động
Theo dõi các nguyên nhân gây đột quỳ
Theo dõi một số xét nghiệm nhƣ: bilan lipid máu, điện tim, siêu âm, soi đáy mắt Theo dõi tác dụng phụ của thuốc
Theo dõi các biến chứng
Người bệnh và gia đình cần nắm rõ nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây đột quỵ, cũng như cách nhận biết dấu hiệu của đột quỵ Việc hiểu biết về phương pháp phòng ngừa, điều trị và theo dõi tình trạng sức khỏe của người bệnh đột quỵ là rất quan trọng.
1.5.4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc Đặc điểm của người bệnh đột quỳ não là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần Bệnh để lại di chứng rất nặng nề nếu không đƣợc điều trị và chăm sóc một luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si cách đúng đắn Người bệnh có thể tử vong do những biến chứng của bệnh, hoặc do tai biến điều trị
Thực hiện chăm sóc cơ bản: Đặt người bệnh nằm nghỉ ngơi đầu cao và nghiêng về một bên
Tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ
Vận động và xoa bóp tay chân
Thay đổi tƣ thế mỗi 2 giờ /lần Động viên, trấn an người bệnh để người bệnh an tâm điều trị
Theo dõi dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là huyết áp, là rất quan trọng Tần suất theo dõi có thể thay đổi từ 15 phút đến 2 giờ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Ngoài ra, cần hút đờm dãi khi có tình trạng ứ đọng.
Giữ ấm cho người bệnh là rất quan trọng Cần đảm bảo chế độ ăn uống đủ năng lượng, giàu vitamin và hạn chế muối dưới 5g/ngày, đồng thời giảm thiểu mỡ và chất béo động vật Nên kiêng rượu, thuốc lá và trà đặc Nếu người bệnh không thể nuốt, cần đặt sonde dạ dày để cung cấp dinh dưỡng.
Tránh các yếu tố kích thích cho người bệnh
Cơ sở thực tiễn
2.1 Tình hình đột quỵ trên Thế giới và Việt Nam 2.1.1 Thế giới
Theo thống kê của WHO, đột quỵ là một trong mười nguyên nhân gây tử vong cao nhất, đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư Mỗi năm, toàn cầu ghi nhận 15 triệu ca mắc đột quỵ não, trong đó có 5 triệu ca tử vong và 5 triệu người phải chịu đựng khuyết tật vĩnh viễn, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội Tại Hoa Kỳ, đột quỵ não cũng đứng thứ ba về nguyên nhân tử vong với 143.579 ca, tương đương với tỷ lệ 100.000 dân.
794 người bị, còn ở Pháp, trong 1000 dân có 60 người bị tai biến mạch não
Mỗi năm, có khoảng 795.000 ca đột quỵ, trong đó ba phần tư xảy ra ở người trên 65 tuổi, với nguy cơ tăng gấp đôi mỗi 10 năm Theo thống kê của WHO năm 2014, châu Á ghi nhận 2,9 triệu ca tử vong do đột quỵ, trong đó Trung Quốc chiếm 1,3 triệu, 448.000 ở Ấn Độ và 390.000 ở các quốc gia khác Tỷ lệ bệnh nhân điều trị đột quỵ ở Trung Quốc là 40%, Philippines 10%, Indonesia 8%, Việt Nam 7%, Thái Lan 6% và Malaysia 2% Đáng chú ý, đột quỵ đang gia tăng ở người trẻ tuổi, ảnh hưởng lớn đến lực lượng lao động.
Tại Việt Nam, với dân số trên 80 triệu người, hàng năm có hơn 200.000 ca đột quỵ não Hiện có khoảng 486.000 người sống với các di chứng về thần kinh và vận động, chiếm 90% tổng số ca, trong khi đó, số người tử vong do đột quỵ lên tới 104.800 người.
Theo thống kê năm 2006, tại Việt Nam có 115 người trên 100.000 dân bị đột quỵ Dữ liệu từ Khoa phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai (2005) cho thấy 22,41% bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa là do liệt nửa người do tai biến mạch máu não Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự chỉ ra rằng tỷ lệ hiện mắc đột quỵ ở Việt Nam hiện nay khá cao, với sự chênh lệch giữa các tỉnh, trong đó Cần Thơ có tỷ lệ cao nhất và Gia Lai thấp nhất, tổng tỷ lệ mắc trên toàn quốc là 1,62%.
2.2 Tình hình di chứng và tàn tật do đột quỵ 2.2.1 Thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ 1/3 đến 2/3 bệnh nhân sống sót sau đột quỵ sẽ trở thành tàn tật vĩnh viễn Hakett cũng cho biết rằng 61% bệnh nhân sống sót sau tai biến mạch não (TBMNN) để lại di chứng, trong khi 50% trong số họ phải phụ thuộc vào người khác trong sinh hoạt hàng ngày Tại Pháp, 50% trường hợp tàn phế là do đột quỵ.
Theo David [22] các di chứng thường gặp trong bộ máy vận động bao gồm:
Đau khớp vai bên liệt do không cử động được hết tầm chiếm 45% người bệnh liệt nửa người
Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%
Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lƣng bàn tay và duỗi các ngón tay chiếm 92%
Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%
Hiện tại, Việt Nam có khoảng 486.000 người sống sót sau đột quỵ, nhưng chỉ có 25-30% trong số họ có thể tự đi lại và phục vụ bản thân Khoảng 20-25% gặp khó khăn trong việc di chuyển và cần sự hỗ trợ từ người khác, trong khi 15-25% hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác.
Mặc dù tỷ lệ tử vong do đột quỵ tại Việt Nam đã giảm khoảng 17% từ năm 2013 đến nay, nhưng số lượng người bệnh bị tàn tật do đột quỵ lại tăng mạnh, chiếm đến 90% Những di chứng nặng nề mà bệnh nhân phải đối mặt bao gồm liệt chi, liệt nửa người, viêm phổi, co cứng gân cơ, suy giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần dạng trầm cảm, và loét vùng xương cùng - cụt do nằm lâu.
2.3 Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỳ não
Chopra J.S và cộng sự đã thực hiện một chương trình truyền thông về phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ trong 37 ngày Kết quả cho thấy 72% người chăm sóc nhận thức được tầm quan trọng của việc phục hồi chức năng sớm, ảnh hưởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân Ngoài ra, 63% người chăm sóc thường xuyên theo dõi sắc mặt của bệnh nhân trong quá trình tập phục hồi chức năng.
Trong 3 tháng truyền thông chương trình phục hồi chức năng cho 220 người chăm sóc chính của người bệnh đột quỳ não, Nakayama H và cộng sự đã giúp 68% người chăm sóc biết cách lăn trở người bệnh sang bên lành, lăn trở sang bên liệt 70% trong số đó biết cách tập cho người bệnh ngồi dậy, đứng lên [20] Đối với người bệnh đột quỳ não lần đầu, người chăm sóc chính của họ rất cần thiết về mặt kiến thức cũng như kỹ năng giúp người bệnh phục hồi Việc đưa người bệnh độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày là cần thiết Trong nghiên cứu của Motegi A và cộng sự có 62% trường hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày khi người chăm sóc chính có kiến thức đạt về phục hồi chức năng [14]
Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự cho biết rằng 43,5% người tàn tật đã hội nhập xã hội thông qua chương trình PHCN dựa vào cộng đồng Nghiên cứu tại 3 tỉnh Thái Bình, Nam Hà, và Hoà Bình cho thấy 75,5% người tàn tật có sức khoẻ được cải thiện, và 54,4% có khả năng tự chăm sóc bản thân tốt hơn sau khi tham gia chương trình Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ tại Hà Đông năm 2015 chỉ ra rằng chỉ 37,5% người chăm sóc chính có kiến thức về việc giúp người bệnh xoay trở Hơn nữa, kiến thức của người thân về tư thế nằm đúng cho người bệnh cũng còn thấp.
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy chỉ có 10% người bệnh được hướng dẫn về vị trí nằm đúng trên giường, trong khi tỷ lệ người thân có kiến thức về tư thế nằm đúng chỉ đạt 18,2% Về kiến thức chăm sóc người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp, 73,1% điều dưỡng viên có kiến thức đạt, nhưng chỉ 67,2% trong số đó hiểu biết về tổn thương thứ cấp, những biến chứng thường gặp nếu không được chăm sóc kịp thời Nghiên cứu của Mai Thọ Truyền và cộng sự năm 2010 cho thấy mức độ phục hồi của người bệnh sau đột quỵ tăng gấp 6,56 lần khi có sự chăm sóc từ người thân.
2.3.3 Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỵ não tại Thái Nguyên
Thái Nguyên, trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc, đang chứng kiến sự nâng cao đời sống của người dân, nhưng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là đột quỵ não, ngày càng gia tăng Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự (2013-2014) cho thấy tỷ lệ hiện mắc đột quỵ não toàn quốc là 1,62%, trong khi Thái Nguyên là 0,54% Tỉnh này cũng có tỷ lệ người mắc tăng huyết áp cao, một nguyên nhân chính dẫn đến đột quỵ não Đột quỵ não biểu hiện bằng các triệu chứng cấp tính, như liệt nửa người, tê bì, rối loạn cảm giác, khó nói hoặc nhìn, và có thể kèm theo hôn mê hoặc rối loạn tri giác.
Bệnh đột quỵ thường xảy ra đột ngột, có thể kèm theo các triệu chứng như đau đầu và buồn nôn Người bệnh có thể bị liệt hoàn toàn nửa người, bao gồm cả mặt, tay và chân cùng bên, đây là dấu hiệu phổ biến nhất Việc phục hồi chức năng cần được thực hiện toàn diện và sớm, tùy thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh Trong giai đoạn cấp, chăm sóc bệnh nhân đóng vai trò quan trọng, và phục hồi chức năng cần được tiến hành ngay Cần theo dõi sát sao tình trạng thần kinh và các chức năng sinh tồn như huyết áp, nhịp mạch, thân nhiệt và nhịp thở Một số bệnh nhân nặng có thể cần được theo dõi tại các phòng điều trị đặc biệt Ngoài các biện pháp điều trị của bác sĩ, người điều dưỡng, bệnh nhân và gia đình cũng cần tích cực trong việc chăm sóc, bao gồm chế độ ăn uống, tập luyện và sinh hoạt.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng, 70,1% sinh viên điều dưỡng nắm vững quy trình chăm sóc bệnh nhân đột quỵ Bên cạnh đó, 72,5% sinh viên hiểu đúng về chế độ ăn uống của người bệnh đột quỵ, và 68,2% sinh viên có kiến thức về chế độ nghỉ ngơi cũng như tập luyện cho bệnh nhân.
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỲ NÃO TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN THÁI NGUYÊN NĂM 2019
Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỳ não
Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Nguyên là bệnh viện hạng II, thuộc Sở Y tế, chuyên khám và chữa bệnh đa khoa, phục hồi chức năng, kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại Bệnh viện có quy mô 220 giường bệnh và đội ngũ 150 cán bộ, y bác sĩ, trong đó có 62 người có trình độ đại học.
Bệnh viện hiện có 12 bác sĩ với trình độ sau đại học (1 Tiến sĩ, 3 BS.CKII, 2 Thạc sĩ, 6 BS.CKI), 26 bác sĩ, 6 dược sĩ đại học, 17 cử nhân điều dưỡng, 1 cử nhân phục hồi chức năng, 13 kỹ thuật viên phục hồi chức năng, 45 điều dưỡng trung cấp và 20 cán bộ khác Hàng năm, Ban Giám đốc cử nhân viên đi học chuyên khoa tại các trung tâm đào tạo hàng đầu ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Nam Định Với phương châm “hướng đến người bệnh”, bệnh viện đã nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân Bệnh viện thực hiện hiệu quả các kỹ thuật điều trị, đặc biệt là các bệnh như liệt nửa người do đột quỵ não, thiểu năng tuần hoàn não, và các bệnh về khớp và thần kinh Ngoài ra, bệnh viện cũng chú trọng nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh bằng cách cử cán bộ đi học đại học điều dưỡng và điều dưỡng chuyên khoa 1 tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.
Bệnh đột quỵ não là một trong ba nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới, và những người sống sót thường để lại nhiều di chứng Việc phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau đột quỵ là rất cần thiết, kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền Từ tháng 20/5 - 10/6 năm 2019, Bệnh viện Y học Cổ truyền Thái Nguyên đã tiếp nhận 36 trường hợp bệnh nhân sau đột quỵ Các cán bộ y tế thực hiện khám, điều trị và chăm sóc phục hồi chức năng, đặc biệt là phục hồi chức năng vận động Quá trình chăm sóc được thực hiện liên tục, với việc bác sĩ đưa ra y lệnh điều trị và điều dưỡng ghi chép tình trạng bệnh nhân 100% bệnh nhân được đánh giá chức năng và xác định mục tiêu phục hồi Việc tập luyện được điều chỉnh theo giai đoạn bệnh, và người nhà cần hỗ trợ bệnh nhân thay đổi tư thế để tránh loét da Đối với bệnh nhân nhẹ, kế hoạch luyện tập hàng ngày được đề ra, bắt đầu từ mức độ nhẹ và tăng dần để bệnh nhân có thể thích nghi.
Trong quá trình phục hồi chức năng vận động, việc tái lượng giá là cần thiết để đánh giá hiệu quả của các can thiệp đã thực hiện Nếu các mục tiêu không đạt được, cần điều chỉnh lại các can thiệp Đáng chú ý, 67,8% bệnh nhân được tái lượng giá, chủ yếu do các kỹ thuật viên phục hồi chức năng có trình độ đại học, cao đẳng và kinh nghiệm thực tiễn.
Do yếu hoặc liệt một bên nửa người, bệnh nhân gặp khó khăn trong việc lăn trở trên giường và thay đổi tư thế Ngay cả khi nửa người không hoàn toàn liệt, việc di chuyển vẫn trở nên khó khăn do rối loạn thăng bằng hoặc mất cảm giác ở bên liệt.
Việc lăn người sang hai bên, đặc biệt là sang bên lành, gặp nhiều khó khăn, và người bệnh cũng gặp trở ngại khi ngồi dậy và giữ thăng bằng Đến 96,2% bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ từ người nhà trong việc lăn trở và ngồi dậy, trong khi chỉ có 3,8% được điều dưỡng thực hiện Khó khăn trong việc đứng dậy và đi lại thường xảy ra khi bệnh nhân đã ổn định hơn Kỹ thuật viên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và nhắc nhở bệnh nhân thực hiện động tác đứng dậy, đồng thời giám sát khi bệnh nhân tự đứng Việc nhắc nhở thường xuyên giúp bệnh nhân hình thành thói quen tập luyện, giảm thiểu tình trạng sợ đau và lười biếng trong việc luyện tập Tuy nhiên, vẫn còn 11,2% kỹ thuật viên chuyển giao trách nhiệm hỗ trợ bệnh nhân tập đứng và đi lại cho người nhà.
Người bệnh gặp khó khăn trong việc di chuyển và thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày do hạn chế cử động tay và thân mình Những hoạt động như ăn uống, rửa mặt, đánh răng, thay quần áo và tắm giặt đều cần sự hỗ trợ Tất cả người bệnh trong viện đều nhận được sự giúp đỡ từ người nhà.
Co cứng là tình trạng các cơ bị cứng ngay cả khi nghỉ ngơi, gây cản trở cho vận động bình thường Khi nắn bắp cơ, cảm giác rắn chắc hơn bình thường sẽ được nhận thấy Bệnh nhân bị liệt nửa người thường gặp phải co cứng cơ sau vài tháng Khi cử động chi bên liệt, họ cảm thấy sự cứng nhắc và khó khăn, như thể bị cản trở Tất cả bệnh nhân đều có biểu hiện co cứng tương tự, do đó được gọi là mẫu co cứng của người liệt nửa người.
Các cơ ở nửa người bên liệt thường co cứng và co ngắn hơn so với bên lành, dẫn đến tình trạng cổ và thân mình nghiêng sang bên liệt.
Tay liệt xảy ra do sự co cứng của các cơ gập, khép và xoay trong, dẫn đến tình trạng khớp vai, khớp khuỷu, cổ tay và bàn tay bị gập, khép và xoay vào trong.
Hông bên liệt khi đi bị kéo cao hơn bên lành
Khớp háng, khớp gối và cổ chân bị duỗi nên khi đi chân liệt có cảm giác dài hơn chân lành, hông bên liệt buộc phải nhấc cao hơn
Cơ bị co cứng lâu dài có thể dẫn đến co rút, làm cho cơ và mô mềm co ngắn lại, gây hạn chế vận động khớp và đau khi cử động Các cơ gấp ở tay và cơ duỗi ở chân thường gặp tình trạng co rút này.
Cơ bị co cứng và co rút gây hạn chế vận động của khớp, dẫn đến tình trạng cứng khớp nếu kéo dài Các khớp vai, khớp háng và khớp cổ chân bên liệt thường bị cứng trước, trong khi cứng khớp ở các vị trí khác xuất hiện muộn hơn.
Hạn chế biến chứng này người bệnh được tập luyện thường xuyên ngày hai lần với sự giúp đỡ của kỹ thuật viên
Ông Nguyễn Văn A đang được phục hồi vận động khớp khuỷu tay Trong quá trình này, kỹ thuật viên có trình độ đại học hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm cho cán bộ trẻ có trình độ thấp hơn, nhằm giúp họ hoàn thiện kỹ năng chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh.
Hình 2.3 Bà Bùi Thị B đang đƣợc phục hồi vận động khớp gối, khớp háng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nhiều người bệnh thường lười vận động vì sợ đau, nhưng chỉ có 37,2% kỹ thuật viên thực hiện việc nhắc nhở và hỗ trợ họ trong việc tập các động tác mà họ không muốn thực hiện Việc phối hợp các bài xoa bóp giúp làm mềm cơ và mang lại cảm giác dễ chịu cho người bệnh.
Tập đi lại bằng thanh song song giúp người bệnh tự di chuyển, với sự hướng dẫn và giám sát của kỹ thuật viên trong buổi tập đầu tiên Người bệnh được hướng dẫn tự tập đứng với sự hỗ trợ của thanh song song, hai tay vịn nhẹ lên hai bên, và trọng lượng cơ thể dồn đều trên hai chân Họ cần chuyển trọng lượng sang chân liệt và bước chân lành lên một vật cao 15-20 cm Khi khả năng thăng bằng và vận động cải thiện, người bệnh sẽ được hướng dẫn đứng thẳng và di chuyển Kỹ thuật viên sẽ đứng bên chân liệt để hỗ trợ và ngăn ngừa nguy cơ ngã.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc PHCN vận động cho người bệnh đột quỳ não
Để cải thiện hiệu quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân đột quỵ não tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Thái Nguyên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp khả thi như sau:
2.3.1 Đối với bệnh viện và cán bộ y tế
- Nghiên cứu để bổ sung thêm nhân lực phục vụ cho công tác chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh
- Nghiên cứu giảm bớt thủ tục hành chính để điều dƣỡng, kỹ thuật viên có thời gian giúp người bệnh vận động
- Mở các lớp tập huấn cho điều dƣỡng, kỹ thuật viên mới, ít kinh nghiệm về kỹ năng PHCN vận động cho người bệnh đột quỳ não
- Liên tục cử điều dƣỡng, kỹ thuật viên đi học để nâng cao trình độ chuyên môn
Điều dưỡng trưởng khoa phối hợp với điều dưỡng chăm sóc và kỹ thuật viên để chủ động lập kế hoạch tái lƣợng giá vận động Đồng thời, họ giám sát việc thực hiện phục hồi chức năng vận động của điều dưỡng, kỹ thuật viên và người bệnh.
- Điều dƣỡng, kỹ thuật viên phải đƣợc đào tạo nhắc lại 1 lần/năm về PHCN vận động cho người bệnh đột quỳ não
- Giáo dục sức khỏe giúp người bệnh hiểu được mục đích và hiệu quả PHCN vận động
Khuyến khích bệnh nhân tham gia các hoạt động thể chất tại phòng tập và trong quá trình điều trị, thực hiện các bài tập phù hợp với tình trạng bệnh lý của họ Bệnh nhân nên tự theo dõi mức độ và diễn biến tình trạng liệt của mình Tổ chức các buổi nói chuyện nhằm nâng cao nhận thức về việc phòng ngừa tái phát đột quỵ não thông qua việc tuân thủ điều trị, đặc biệt là khi bị tăng huyết áp Ngoài ra, chia sẻ thông tin về chế độ ăn uống, chế độ luyện tập và tác dụng phụ của thuốc cũng rất quan trọng trong quá trình phục hồi chức năng vận động sau đột quỵ não.
Người bệnh nên xem xét việc mua bảo hiểm y tế để nhận thuốc do BHYT cấp hàng tháng, từ đó giảm bớt gánh nặng tài chính trong quá trình điều trị kéo dài.
Hướng dẫn người bệnh theo dõi huyết áp tại nhà sau khi ra viện là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe Việc sử dụng huyết áp đúng cách giúp người bệnh kiểm soát tình trạng sức khỏe của mình hiệu quả hơn Để có thông tin chi tiết và tài liệu hỗ trợ, người bệnh có thể tìm kiếm các luận văn tốt nghiệp mới nhất liên quan đến chủ đề này.
1 Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỳ tại bệnh viện y học Cổ truyền Thái Nguyên năm 2019 nhƣ sau :
Tất cả hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người bệnh đều nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, và 100% người bệnh được hướng dẫn tập đứng và di chuyển bằng thanh song song.
+Tỷ lệ kỹ thuật viên tái lƣợng giá chức năng vận động 67,8%
Chỉ có 3,8% điều dưỡng thực hiện việc lăn trở bệnh nhân sang hai bên và hỗ trợ họ ngồi dậy một cách vững vàng, trong khi phần lớn bệnh nhân còn lại phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ từ người nhà.
+ Có 11,2% kỹ thuật viên gửi trách nhiệm giúp người bệnh tập đứng và đi lại cho người nhà
Có 37,2% kỹ thuật viên nhắc nhở và hỗ trợ người bệnh thực hiện các động tác vận động mà họ thường ngần ngại Họ cũng phối hợp các bài xoa bóp để làm mềm cơ, mang lại cảm giác dễ chịu cho bệnh nhân.
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỳ não tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Thái Nguyên:
- Mở các lớp tập huấn cho điều dƣỡng, kỹ thuật viên mới, ít kinh nghiệm về kỹ năng PHCN vận động cho người bệnh đột quỳ não
- Liên tục cử điều dƣỡng, kỹ thuật viên đi học để nâng cao trình độ chuyên môn
Điều dưỡng trưởng khoa phối hợp với điều dưỡng chăm sóc và kỹ thuật viên để chủ động lập kế hoạch tái lƣợng giá vận động Đồng thời, họ giám sát việc thực hiện phục hồi chức năng vận động của điều dưỡng, kỹ thuật viên và người bệnh.
- Điều dƣỡng, kỹ thuật viên phải đƣợc đào tạo nhắc lại 1 lần/năm về PHCN vận động cho người bệnh đột quỳ não
- Giáo dục sức khỏe giúp người bệnh hiểu được mục đích và hiệu quả PHCN vận động
Khuyến khích người bệnh tham gia tập luyện tại phòng tập và phòng điều trị, thực hiện các bài tập phù hợp với tình trạng bệnh lý của từng cá nhân.
1 Bộ y tế (2018) Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỳ Nhà xuất bản y học Hà Nội Tr 4-18
2 Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên và Trần Văn Chương (2005), Dụng cụ trợ giúp đơn giản trong phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người do đột quỵ, kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học hội phục hồi chức năng Việt Nam, Nhà xuất bản y học, tr 28 - 31
3 Hội thần kinh học TP Hồ Chí Minh (2014), Hội nghị về đột quỵ khu vực Châu Á Thái Bình Dương 2014, TP Hồ Chí Minh
4 Nguyễn Thu Hằng (2017), "Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về PHCN cho người bệnh sau TBMMN của điều dưỡng tại bệnh viện trung ương Thái Nguyên", đề tài cơ sở
5 Lê Đức Hinh (2009), "Tình hình đột quỵ hiện nay tại các nước châu Á, Chẩn đoán và xử trí đột quỵ", Hội thảo liên khoa, khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai Hà
6 Lê Thị Hương và cộng sự (2014), " Tỷ lệ mắc đột quỳ tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng sinh thái Việt Nam năm 2013-2014 và một số yếu tố liên quan" Tạp chí nghiên cứu y học