1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư nội mạc tử cung tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2018

40 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư nội mạc tử cung tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2018
Tác giả Nguyễn Thị Liễu
Người hướng dẫn BSCK II. Trần Quang Tuấn
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng Sản phụ khoa
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 616,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Đặt vấn đề (8)
  • 2. Cở sở lý luận và thực tiễn (10)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (10)
      • 2.1.1. Dịch tễ học UTNMTC (10)
      • 2.1.2. Cơ chế bệnh sinh (15)
      • 2.1.3. Các phương pháp chẩn đoán (15)
      • 2.1.4. Điều trị (20)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (24)
  • 3. Liên hệ thực tiễn (33)
    • 3.1. Thực trạng cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức, điều trị của khoa (33)
    • 3.2. Thực trạng người bệnh tại khoa (34)
    • 3.3. Thực trạng chăm sóc sản phụ tại khoa (34)
    • 3.4. Ưu nhược điểm trong chăm sóc (37)
  • 4. Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc ........................................................... 30 KẾT LUẬN (37)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (39)

Nội dung

NGUYỄN THỊ LIỄU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2018 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NAM ĐỊNH - 2018 luan van

Cở sở lý luận và thực tiễn

Cơ sở lý luận

Tỷ lệ mắc và tử vong

Ung thư nội mạc tử cung là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ, với 199.000 trường hợp mới mắc vào năm 2002, chiếm 3,9% tổng số bệnh ung thư mới ở nữ giới Đến năm 2008, số ca mới mắc đã tăng lên khoảng 287.000, đứng thứ tư trong các loại ung thư ở phụ nữ, với 74.005 ca tử vong Tại Hoa Kỳ, có khoảng 40.000 trường hợp mắc mới và 7.500 ca tử vong trong năm 2008 Bệnh này phổ biến hơn ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, trong khi tỷ lệ thấp hơn ở Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á Phụ nữ da trắng có tỷ lệ mắc bệnh cao gấp đôi so với phụ nữ da đen ở cùng độ tuổi và cộng đồng.

Phụ nữ da đen có tỷ lệ mắc ung thư nội mạc tử cung (UTNMTC) cao hơn, với 13/100.000 người so với 23/100.000 phụ nữ da trắng, và nguy cơ tử vong gấp 4 lần Tỷ lệ tử vong cao ở nhóm này do nhiều yếu tố như chẩn đoán muộn, các típ mô học ác tính, và các vấn đề điều trị Những phụ nữ da đen thường mắc các típ mô học có tiên lượng xấu như thanh dịch, tế bào sáng, carcinosarcom và sarcom Tỷ lệ u xâm nhập ở phụ nữ da đen chiếm tới 53%, so với 36% ở phụ nữ da trắng.

UTNMTC thường gặp ở phụ nữ mãn kinh, với tỷ lệ từ 2-14% ở phụ nữ dưới 40 tuổi, cao nhất ở độ tuổi 55-65 và trung bình là 63 Theo báo cáo của Globocan 2012, ung thư nội mạc tử cung đứng thứ 6 toàn cầu với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 8,3%, sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung, nhưng cao hơn ung thư buồng trứng Số liệu về mới mắc và tử vong trong năm 2012 cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nước phát triển và kém phát triển.

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ mới mắc và tử vong do ung thư trong năm 2012

Tần suất ung thư nội mạc là khoảng 320.000 trường hợp mới mắc, chiếm 4,8% tổng số ung thư ở phụ nữ và 2,3% các trường hợp tử vong do ung thư Mặc dù vậy, nguyên nhân gây ung thư nội mạc được quan tâm hơn số lượng bệnh nhân, do đây là loại ung thư có tiên lượng tốt Tần suất bệnh cao nhất được ghi nhận ở khu vực Bắc.

Mỹ (19,1/100.000 phụ nữ), tiếp đến là Bắc và Tây Âu (12,9-15,6/100.000 phụ nữ)

Tỷ lệ mắc bệnh ở Bắc Á và hầu hết châu Phi rất thấp, chỉ dưới 5/100.000 phụ nữ Tỷ lệ tử vong dao động từ 0,9/100.000 phụ nữ tại Bắc Phi đến 3,8/100.000 phụ nữ ở Melanesia.

Trong năm 2009, Hoa Kỳ ghi nhận 42.160 trường hợp mắc mới ung thư nội mạc tử cung và 7.780 trường hợp tử vong, khiến đây trở thành bệnh phụ khoa ác tính phổ biến nhất tại nước này, đứng thứ tư sau ung thư vú, phổi và đại trực tràng Tỷ lệ mắc bệnh này thay đổi đáng kể giữa các quốc gia, với tần suất ở Nhật Bản, Ấn Độ và Nam Á thấp hơn từ 4-5 lần so với Hoa Kỳ và các nước phương Tây Đối với phụ nữ Mỹ, nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung trong đời là 2,6% Tại Việt Nam, số trường hợp mới mắc và tử vong lần lượt là 3.054 và 1.400, với tỷ lệ mới mắc và tử vong trên 100.000 dân là 7,2 và 3,3, tăng so với năm 2002 Tỷ lệ ung thư nội mạc tử cung đang gia tăng trên toàn cầu và tại Việt Nam, phù hợp với tuổi thọ phụ nữ ngày càng cao, xu hướng sử dụng hormone thay thế sau mãn kinh, cũng như sự gia tăng các yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường và sự cải thiện trong các phương pháp chẩn đoán bệnh.

Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ mắc ung thư ở phụ nữ Việt Nam theo Globocan 2012

UTNMTC thường gặp ở phụ nữ mãn kinh, với 25% trường hợp xảy ra trước mãn kinh và chỉ 5% ở phụ nữ dưới 40 tuổi, trong đó tuổi trung bình là 60, tập trung chủ yếu ở độ tuổi 55-65 Tỷ lệ ung thư xâm nhập tăng theo độ tuổi, liên quan đến tần suất mắc các típ ung thư có độ mô học cao, thường được phát hiện ở giai đoạn muộn Nghiên cứu của Holfman và CS về 37 trường hợp UTNMTC ở độ tuổi từ 75-92 cho thấy khoảng 57% là típ u dạng nội mạc, trong khi 75%-80% là ở cộng đồng chung Chỉ có 23% u ở giai đoạn I, độ 1 (G1), trong khi phần lớn (77%) ở giai đoạn xâm nhập sâu (IC-IV) với G2, G3 và típ mô học không phải dạng nội mạc.

Tỷ lệ cao nhất về vấn đề này được ghi nhận ở phụ nữ da trắng, gấp đôi so với phụ nữ da đen trong cùng độ tuổi và cộng đồng, trong khi đó, tỷ lệ thấp nhất thuộc về phụ nữ châu Á, bao gồm cả Nhật Bản, một quốc gia công nghiệp phát triển.

Các yếu tố nguy cơ

Tuổi bắt đầu có kinh sớm và tuổi mãn kinh muộn, cùng với thời gian kinh nguyệt dài và chu kỳ không đều, đều liên quan đến tỷ lệ mắc ung thư nội mạc tử cung cao hơn Cụ thể, việc mãn kinh muộn có thể làm tăng nguy cơ ung thư lên đến 2,4 lần.

Những người không sinh đẻ có nguy cơ mắc UTNMTC cao hơn 2-3 lần những người sinh đẻ, nguy cơ tăng cao hơn ở những phụ nữ vô sinh [7]

UTNMTC có liên quan đến các bệnh lý như béo phì (tăng 3 - 10 lần), cao huyết áp và đái tháo đường (tăng 2,8 lần) Béo phì ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa androstenedion thành estrogen trong mô mỡ, và sự kích thích của estrogen không đối kháng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng.

Phụ nữ có biểu hiện cường estrogen nội sinh, chẳng hạn như mắc các bệnh u buồng trứng tiết estrogen như u tế bào hạt, hoặc sử dụng estrogen không đối kháng với liều cao trong thời gian dài, sẽ có nguy cơ cao mắc ung thư nội mạc tử cung.

Tamoxifen là một hợp chất không steroid, hoạt động bằng cách cạnh tranh với estrogen tại các thụ thể, và được sử dụng để điều trị ung thư vú Hợp chất này có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của ung thư nội mạc tử cung (UTNMTC), làm tăng nguy cơ mắc UTNMTC ở bệnh nhân ung thư vú lên 2-3 lần.

Sử dụng liệu pháp hormon thay thế :

Liệu pháp hormon thay thế và thuốc tránh thai sử dụng estrogen ngoại sinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (UTNMTC) Mức độ ảnh hưởng này giảm khi estrogen được kết hợp với progesterone Nghiên cứu của Creasman cho thấy phụ nữ sử dụng liệu pháp estrogen đơn độc có nguy cơ UTNMTC cao gấp 4-8 lần, tùy thuộc vào thời gian và liều lượng sử dụng Tuy nhiên, những người mắc UTNMTC đã sử dụng liệu pháp hormon thay thế thường có tiên lượng tốt hơn so với những người không sử dụng.

Tiền sử dùng thuốc tránh thai :

Nghiên cứu của Weiderpass trên 709 ca bệnh và 3368 ca chứng cho thấy việc sử dụng thuốc tránh thai kết hợp qua đường uống trong ít nhất 12 tháng có thể giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (UTNMTC) tới 30% Hơn nữa, việc này còn giúp ngăn ngừa UTNMTC trong ít nhất 20 năm sau đó, đặc biệt có hiệu quả phòng bệnh rõ rệt ở phụ nữ vô sinh.

Quá sản không điển hình NMTC :

Quá sản đơn giản không điển hình và quá sản phức tạp không điển hình có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung từ 8 đến 29 lần.

Cơ sở thực tiễn

Để đảm bảo thành công cho cuộc mổ và giúp bệnh nhân UTNMTC hồi phục nhanh chóng, vai trò của điều dưỡng trong việc chuẩn bị trước và sau mổ là rất quan trọng Điều dưỡng cần thu thập thông tin cơ bản về bệnh nhân, bao gồm bệnh tật và các rối loạn kèm theo, để có thể cung cấp sự chăm sóc tốt nhất.

Sau 6-12 giờ sau mổ, bệnh nhân sẽ được chuyển từ phòng hồi sức lên khoa khi thuốc gây mê đã gần như hết tác dụng và tình trạng huyết áp, mạch, nhiệt độ, nhịp thở đã tương đối ổn định Tuy nhiên, do phẫu thuật UTNMTC là một ca phẫu thuật lớn ở ổ bụng, việc theo dõi và chăm sóc bệnh nhân tại khoa sàn chậu là rất quan trọng.

Để chăm sóc và theo dõi bệnh nhân hiệu quả, cần thực hiện đúng y lệnh của bác sĩ và phối hợp chặt chẽ với bác sĩ trong quá trình điều trị Điều dưỡng viên cần đưa ra chẩn đoán chính xác, lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện quy trình điều dưỡng nhằm đánh giá đúng tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Trước khi đón người bệnh từ phòng mổ về, người điều dưỡng phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện máy móc, dụng cụ:

+ Giường bệnh- ga-chăn- gối cho người bệnh

+Máy đo huyết áp- nhiệt kế - máy hút-sonde hút các loại-hệ thống cung cấp oxy , mặt nạ, chai dẫn lưu-túi nước tiểu- bơm tiêm các loại

+ Các loại giấy tờ cần thiết cho việc theo dõi và chăm sóc người bệnh sau mổ

Người điều dưỡng cần đánh giá tình trạng bệnh nhân sau phẫu thuật thông qua kỹ năng giao tiếp, hỏi bệnh và khám lâm sàng, bao gồm các phương pháp như nhìn, sờ, gõ và nghe.

- Tri giác : tỉnh táo? Tiếp xúc?

+ Xuất tiết đờm, dãi ? + Người bệnh tự thở ?

- Tình trạng tuần hoàn: sau mổ lên huyết áp, mạch, có ổn định không?

Đánh giá tình trạng thần kinh của bệnh nhân bao gồm cảm giác và vận động là rất quan trọng Cần xác định mức độ đau của người bệnh bằng cách sử dụng thang điểm từ 1 đến 10, sau đó hỏi bệnh nhân về mức độ đau mà họ đang trải qua.

+ Có rỉ máu, dịch qua âm đạo?

- Dẫn lưu: sonde dẫn lưu có thông không? Số lượng, màu sắc ?

- Nước tiểu: số lượng nước tiểu 24h, màu sắc nước tiểu?

- Tiêu hóa: người bệnh có nôn? bụng mềm hay chướng? nhu động ruột có hay chưa?

- Tâm lý : lo lắng, thoải mái?

- Xem người bệnh có phải làm hậu môn nhân tạo không? Nếu có thì phải chú ý xem hậu môn đã được bổ chưa?

- Nhận định những biến chứng có thể xảy ra:

+ Nguy cơ liệt ruột, tắc ruột sau mổ: theo dõi dẫn lưu dịch dạ dày, mức độ chướng bụng, dấu hiệu đau bụng

+ Nguy cơ chảy máu sau mổ: theo dõi số lượng, tính chất dịch dẫn lưu tiểu khung, các dấu hiệu toàn thân (mạch, huyết áp…)

Nguy cơ đọng dịch sau mổ cần được theo dõi cẩn thận, bao gồm việc kiểm tra xem vết mổ có bị sưng nề hay không Ngoài ra, cần chú ý đến tình trạng đau và đỏ ở tầng sinh môn, cũng như các rối loạn đại tiểu tiện như đi ngoài phân lỏng hoặc cảm giác buốt, rắt khi đi tiểu.

Nguy cơ nhiễm trùng sau mổ là một vấn đề cần được theo dõi chặt chẽ, bao gồm việc kiểm tra nhiệt độ và tình trạng sonde dẫn lưu nước tiểu nếu để lâu ngày Đặc biệt, người già có nguy cơ cao bị viêm phổi bội nhiễm do nằm lâu và ứ đọng.

+ Nguy cơ bí tiểu kéo dài sau mổ: theo dõi số ngày lưu sonde tiểu? luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Đau vết mổ liên quan đến hậu quả sau phẫu thuật Kết quả mong đợi: người bệnh được giảm đau trong mức chịu đựng được

- Nguy cơ hạ huyết áp liên quan đến thiếu khối lượng tuần hoàn Kết quả mong đợi: người bệnh không bị hạ huyết áp

Đau mỏi cơ thể thường xảy ra khi nằm lâu trong một tư thế Để giảm thiểu tình trạng này, người bệnh nên thường xuyên thay đổi tư thế để cảm thấy thoải mái hơn.

- Chướng bụng liên quan đến chậm có nhu động ruột Kết quả mong đợi: người bệnh sớm có nhu động ruột

Nguy cơ liệt ruột và tắc ruột sau phẫu thuật có liên quan đến việc không vận động sớm Để đạt được kết quả mong đợi, bệnh nhân cần được khuyến khích vận động sớm nhằm tránh tình trạng tắc ruột và liệt ruột sau mổ.

- Nguy cơ đọng dịch liên quan đến tắc sonde dẫn lưu Kết quả mong đợi: người bệnh không bị đọng dịch sau mổ

- Nguy cơ viêm đường tiết niệu liên quan đến đặt sonde tiểu lâu ngày Kết quả mong đợi: người bệnh không bị viêm đường tiết niệu sau mổ

Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ gần hậu môn nhân tạo là một vấn đề quan trọng cần được chú ý Để đạt được kết quả mong đợi là người bệnh không bị nhiễm khuẩn vết mổ, việc chăm sóc và theo dõi kỹ lưỡng là rất cần thiết.

Nguy cơ tái phát bệnh nhanh chóng thường xảy ra khi người bệnh không tuân thủ phác đồ điều trị Để đạt được kết quả mong đợi, việc tuân thủ phác đồ điều trị là rất quan trọng đối với người bệnh.

- Lo lắng liên quan đến tình hình bệnh tật Kết quả mong đợi: người bệnh đỡ lo lắng và yên tâm điều trị

Lập kế hoạch chăm sóc người bệnh sau mổ

* Giúp người bệnh giảm đau:

+ Cho người bệnh nằm tư thế thoải mái

Theo dõi dấu hiệu sinh tồn 3 giờ một lần trong 48 giờ đầu sau phẫu thuật Nếu bệnh nhân ổn định và không có bất thường về huyết áp, mạch, nhiệt độ, và nhịp thở, sẽ tiến hành đo dấu hiệu sinh tồn 2 lần mỗi ngày cho đến khi bệnh nhân xuất viện.

- Theo dõi tình trạng chướng bụng, đánh hơi của người bệnh

- Các biến chứng, tác dụng phụ của thuốc, các dấu hiệu bất thường có thể xảy ra

- Theo dõi tình trạng đánh hơi, mức độ chướng bụng

Giúp người bệnh ngồi dậy từ ngày thứ 2 sau mổ là rất quan trọng Nếu người bệnh không thể tự ngồi dậy, cần hỗ trợ họ trở mình 1-2 giờ một lần và thực hiện xoa bóp các chi 2-3 lần mỗi ngày Việc vỗ rung ngực cũng cần được thực hiện để cải thiện lưu thông không khí.

+ Thuốc: truyền dịch, truyền máu, tiêm kháng sinh

+ Thực hiện các thủ thuật khi cần: Như đặt sonde dạ dàỳ, đặt sonde tiểu + Lấy máu cấp khi cần

- Đảm bảo chăm sóc vết mổ, tránh nhiễm trùng

- Chăm sóc các dẫn lưu

- Chăm sóc vệ sinh âm đạo

- Chăm sóc về tiết niệu

- Đảm bảo vệ sinh cá nhân

Lưu ý: Với những người bệnh có hậu môn nhân tạo thì cần phải chăm sóc HMNT và hướng dẫn người nhà cùng chăm sóc

Khi người bệnh nằm viện

Khi người bệnh xuất viện

Chuẩn bị tâm lý cho bệnh nhân và gia đình là rất quan trọng khi bắt đầu điều trị hóa chất Việc này giúp họ hiểu rõ hơn về quá trình điều trị, giảm bớt lo lắng và tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau Hãy tìm hiểu thông tin cần thiết và chia sẻ cảm xúc để tạo ra một môi trường tích cực trong suốt quá trình điều trị.

Thực hiện kế hoạch chăm sóc người bệnh sau mổ

Cần ghi rõ giờ thực hiện các hoạt động chăm sóc Các hoạt động chăm sóc cần thực hiện theo thư tụ ưu tiên trong kế hoạch chăm sóc

* Giảm đau cho người bệnh:

Sau khi mổ, bệnh nhân thường trải qua cơn đau, đặc biệt là sau ca phẫu thuật UTNMTC, một cuộc mổ lớn Do đó, điều dưỡng cần động viên và an ủi bệnh nhân, có mặt kịp thời khi họ cần Bệnh nhân nên được nằm ở tư thế thoải mái và sử dụng thuốc giảm đau theo chỉ định của bác sĩ.

* Các hoạt động theo dõi:

Cần được thực hiện đúng khoảng cách thời gian trong kế hoạch, các thong số cần được ghi chép đầy đủ chính xác và báo cáo kịp thời

Liên hệ thực tiễn

Thực trạng cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức, điều trị của khoa

Vào năm 1971, khoa Phụ ung thư, còn được gọi là khoa Phụ 3, đã được tách riêng và được lãnh đạo bởi Bác sĩ Đinh Thế Mỹ Hiện tại, khoa có tổng cộng 24 nhân viên, bao gồm 06 bác sĩ, 16 điều dưỡng và 02 hộ lý.

Chức năng nhiệm vụ của chúng tôi bao gồm khám, chẩn đoán, sàng lọc và điều trị các bệnh ung thư phụ khoa, như ung thư cổ tử cung, ung thư niêm mạc tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư vú và ung thư âm hộ, bằng các phương pháp hiện đại.

Khám và chẩn đoán các bệnh ung thư phụ khoa bao gồm sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng các phương pháp như Liquid Test, ThinPrep PAP Test và PAP Smear Đối với ung thư vú, các kỹ thuật chọc hút bằng kim nhỏ, sinh thiết lưỡi và Mammography được sử dụng Đối với ung thư niêm mạc tử cung, sinh thiết niêm mạc tử cung là phương pháp chẩn đoán chính.

Phẫu thuật, thủ thuật: ã Phẫu thuật nội soi:

- Cắt tử cung trong u nguyên bào nuôi

- Cắt tử cung sau nạo trứng ở người bệnh lớn tuổi

- Cắt phần phụ trê người bệnh xoắn nang hoàng tuyến

- Cắt tử cung hoàn toàn trên người bệnh CIN III và CIS

- Cắt tử cung hoàn toàn đồng thời vét hạch chậu trên người bệnh K niêm mạc tử cung

- Cắt tử cung hoàn toàn đồng thời treo cao 2 buồng trứng và vét hạch chậu trên người bệnh K cổ tử cung gia đoạn Ia

Chẩn đoán và phẫu thuật ung thư buồng trứng giai đoạn sớm bao gồm các phương pháp như cắt tử cung hoàn toàn qua đường âm đạo cho bệnh nhân lớn tuổi và trong trường hợp u nguyên bào nuôi Đối với bệnh nhân CIN III và CIS, có thể thực hiện cắt tử cung hoàn toàn nhưng vẫn cho phép tiếp tục sinh đẻ Chọc hút dịch ổ bụng được thực hiện trên bệnh nhân ung thư buồng trứng kèm cổ trướng, trong khi soi buồng tử cung giúp chẩn đoán và sinh thiết cho bệnh nhân ra máu sau khi hành kinh Các thủ thuật như hút, nạo buồng tử cung và phẫu thuật thăm dò vùng tiểu khung cũng được áp dụng Điều trị nội khoa bao gồm hóa chất cho u nguyên bào nuôi, ung thư buồng trứng và ung thư vú trước và sau phẫu thuật, cùng với điều trị nội tiết cho ung thư vú.

Thực trạng người bệnh tại khoa

Tại Khoa Phụ ung thư, hàng năm có khoảng 2.100 bệnh nhân đến khám và điều trị, với độ tuổi trung bình từ 59-60 tuổi Đặc biệt, trong tháng 07, có 10 bệnh nhân được phẫu thuật ung thư nội mạc tử cung.

Thực trạng chăm sóc sản phụ tại khoa

* Các hoạt động theo dõi:

Điều dưỡng trong khoa luôn theo dõi sát sao các dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân Nếu phát hiện mạch nhanh hoặc huyết áp hạ, điều dưỡng sẽ ngay lập tức thông báo cho bác sĩ Dấu hiệu sinh tồn được theo dõi định kỳ 5 phút, 30 phút, và 3 giờ một lần, hoặc theo chỉ định của bác sĩ Khi dấu hiệu sinh tồn ổn định, việc theo dõi sẽ giảm xuống còn 2 lần mỗi ngày cho đến khi bệnh nhân xuất viện.

Qua quan sát và đánh giá của điều dưỡng: 94% Điều dưỡng thực hiện đầy đủ các nội dung sau:

Theo dõi mức độ chướng bụng của người bệnh để xác định có kèm theo buồn nôn và nôn hay không Nếu có, cần ghi nhận số lượng, tính chất và màu sắc của chất nôn.

- Theo dõi tình trạng vết mổ, tình trạng dẫn lưu bụng,

- Theo dõi số lượng, màu sắc, tính chất của nước tiểu/ 24 giờ và ghi đầy đủ các thông số vào sổ theo dõi

- Theo dõi tình trạng đánh hơi, xem bụng của người bệnh có chướng không

Theo dõi các tác dụng phụ của thuốc và những biểu hiện bất thường của bệnh nhân là rất quan trọng.

* Giảm đau cho người bệnh:

Sau khi phẫu thuật, 100% bệnh nhân đều cảm thấy đau, đặc biệt là sau mổ UTNMTC, một ca phẫu thuật lớn Do đó, điều dưỡng luôn sẵn sàng hỗ trợ kịp thời khi bệnh nhân cần, đảm bảo họ nằm ở tư thế thoải mái Thuốc giảm đau được sử dụng theo y lệnh, nhưng thường chỉ được cấp khi bệnh nhân kêu đau, thay vì theo phác đồ thời gian đã định.

* Vận động sớm sau mổ:

Tất cả bệnh nhân đều được hướng dẫn và hỗ trợ vận động sớm sau phẫu thuật Ngày thứ hai sau mổ, bệnh nhân cần ngồi dậy; nếu không thể, cần thay đổi tư thế thường xuyên mỗi 1-2 giờ Trong những ngày tiếp theo, bệnh nhân nên tập đi lại trong phòng và ra ngoài hành lang Việc vận động sớm không chỉ giúp cải thiện khả năng tiêu hóa mà còn phòng tránh tắc ruột và dính ruột sau mổ.

- 100% Điều dưỡng thực hiện thuốc theo y lệnh

Khi nhận y lệnh, người điều dưỡng thực hiện nhanh chóng, chính xác và đúng thời gian Họ tiến hành tiêm, truyền dịch và cho thuốc uống, đồng thời theo dõi tác dụng phụ của thuốc để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

- Thực hiện các thủ thuật: thay băng vết mổ, thay- rút dẫn lưu theo chỉ định của bác sỹ

- Lấy máu làm xét nghiệm cấp sau mổ: công thức máu, sinh hóa…

-100% Người bệnh được Chăm sóc vết mổ:

Người bệnh được thay băng vết mổ hàng ngày, đảm bảo quy trình vô khuẩn và kỹ thuật chính xác Trong tháng 07, không có trường hợp nhiễm trùng vết mổ nào được ghi nhận.

Tất cả người bệnh đều được chăm sóc dẫn lưu và ghi chép đầy đủ các thông số vào sổ theo dõi Việc theo dõi dẫn lưu bao gồm thay đổi dịch dẫn lưu hàng ngày, đánh giá số lượng, tính chất và màu sắc của dịch Chăm sóc da xung quanh chân dẫn lưu được thực hiện hàng ngày và khi có dịch thấm băng Cần tránh để người bệnh nằm đè lên dẫn lưu, và quả bóng dẫn lưu nên được đặt thấp hơn chân dẫn lưu khoảng 60cm Thời gian rút dẫn lưu thường là sau khoảng 3-4 ngày kể từ khi phẫu thuật.

Sau khi phẫu thuật, 100% người bệnh được chăm sóc vệ sinh âm đạo và âm hộ Điều dưỡng thực hiện rửa âm đạo hàng ngày một cách nhẹ nhàng, sử dụng mỏ vịt để tránh gây đau và tổn thương cho bệnh nhân Quy trình rửa được thực hiện đúng theo kỹ thuật để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

- 100% người bệnh được chăm sóc về tiết niệu:

Người bệnh có sonde tiểu cần được chăm sóc theo nguyên tắc vô khuẩn, đảm bảo túi đựng nước tiểu kín và đặt thấp hơn giường nằm Cần kiểm tra thường xuyên để tránh tình trạng sonde bị tắc hoặc tụt Thông thường, sonde tiểu sẽ được rút sau 2-3 ngày sau phẫu thuật.

- 100% người bệnh được hướng dẫn và đảm bảo dinh dưỡng:

Bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư nội mạc tử cung thường được cho ăn sớm để kích thích nhu động ruột phục hồi Chế độ ăn cần đảm bảo đủ calo và phù hợp với từng bệnh nhân, bao gồm những người gầy, béo, hoặc có các bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch và bệnh lý thận.

Để đảm bảo vệ sinh cá nhân, cần chú trọng chăm sóc da bằng cách thay đổi trang phục, lau chùi cơ thể và bộ phận sinh dục, cũng như thay ga trải giường hàng ngày hoặc khi cần thiết Vệ sinh răng miệng cũng rất quan trọng, nên đánh răng 2-3 lần mỗi ngày hoặc lau miệng bằng gạc hoặc vải ướt sạch đối với những người không tự vệ sinh được.

- 100% Người bệnh khi nằm viện được hướng dẫn cách ngồi dậy đi lại, cách vận động sau phẫu thuật

Người bệnh khi xuất viện sẽ được hướng dẫn chi tiết về chế độ ăn uống, theo dõi biến chứng của bệnh, và cách chăm sóc hậu môn nhân tạo Lịch tái khám được quy định là 2-4 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng/lần trong 3 năm tiếp theo, và 1 năm/lần sau đó.

- Chuẩn bị tâm lý cho người bệnh chuyền hóa chất

Sau khi xuất viện, bệnh nhân sẽ nhận được sự tư vấn từ điều dưỡng và bác sĩ về các chế độ chăm sóc và theo dõi cơ bản Họ cũng cung cấp thông tin cần thiết để bệnh nhân hiểu rõ về tình hình sức khỏe hiện tại của mình.

Ưu nhược điểm trong chăm sóc

- 100% điều dưỡng đều được tập huấn về công tác chăm sóc nên đã thực hiện tốt các khâu trong chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật UTNMTC

- điều dưỡng đều có thái độ tích cực, tôn trọng người bệnh và thực hiện giao tiếp trong chăm sóc một cách chuyên nghiệp

Lãnh đạo Khoa và Bệnh viện đã chú trọng đến việc chăm sóc bệnh nhân, xây dựng quy trình chăm sóc hiệu quả, đồng thời tổ chức đào tạo và tập huấn cho nhân viên y tế, cung cấp trang thiết bị thiết yếu phục vụ cho công tác chăm sóc người bệnh.

Nhược điểm và nguyên nhân:

Tình trạng quá tải trong chăm sóc y tế thường xuyên xảy ra, dẫn đến thời gian chăm sóc cho mỗi bệnh nhân không đủ Điều này khiến cho các kỹ thuật chăm sóc thông thường bị thực hiện vội vàng, và đôi khi điều dưỡng không quan sát kỹ lưỡng tình trạng của bệnh nhân cũng như đánh giá dịch và dẫn lưu một cách chi tiết.

Đôi khi, bệnh nhân thiếu hợp tác trong quá trình chăm sóc, vì hầu hết đều mong muốn điều trị và chăm sóc nhanh chóng Điều này dẫn đến việc không thực hiện đúng quy trình trong điều trị và chăm sóc.

Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc 30 KẾT LUẬN

Mở rộng cơ sở vật chất nhằm giảm thiểu tình trạng quá tải trong công tác chăm sóc, từ đó giúp điều dưỡng có nhiều thời gian hơn để chăm sóc từng bệnh nhân.

Cần chủ động trong quản lý đau, đặc biệt sau phẫu thuật, bằng cách xây dựng quy trình quản lý đau hiệu quả và áp dụng các biện pháp giảm đau phù hợp cho bệnh nhân sau mổ UTNMTC.

Tập huấn định kỳ cho điều dưỡng nhằm cập nhật những kiến thức mới trong chăm sóc, giúp họ thực hiện tốt công việc và cung cấp thông tin chính xác, hiệu quả cho người bệnh.

Qua nghiên cứu để viết chuyên đề “Chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật

UTNMTC” tôi đưa ra một số kết luận sau:

UTNMTC là loại ung thư đứng thứ 6 trong tổng số các loại ung thư ở người, chỉ sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung, và cao hơn ung thư buồng trứng Phẫu thuật là một trong những phương pháp điều trị quan trọng và không thể thiếu trong việc điều trị UTNMTC, bên cạnh hóa trị và xạ trị.

- Về chăm sóc và theo dõi người bệnh sau phẫu thuật UTNMTC tại khoa Phụ ung thư bệnh viện Phụ sản Trung ương:

+ Về chăm sóc cơ bản : Điều dưỡng đều thực hiện đầy đủ các chăm sóc cơ bản cho người bệnh theo đúng quy định

Chế độ theo dõi sau phẫu thuật bao gồm việc kiểm tra dấu hiệu sinh tồn, tình trạng vết mổ, ống dẫn lưu, tác dụng phụ của thuốc và các dấu hiệu bất thường Điều này giúp điều dưỡng phát hiện sớm các biến chứng như liệt ruột, tắc ruột, chảy máu sau mổ, đọng dịch, nhiễm trùng vết mổ và bí tiểu kéo dài.

+ Can thiệp y lệnh : thuốc tiêm, thuốc uống, truyền dịch chính xác theo y lệnh liên tục hàng ngày đến khi người bệnh ra viện, phụ bác sỹ làm thủ thuật

Chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật UTNMTC là rất quan trọng, đặc biệt trong việc theo dõi và phát hiện sớm các biến chứng, giúp giảm lo lắng cho người bệnh Khoa Phụ ung thư đã thực hiện công tác chăm sóc chu đáo, đảm bảo không có biến chứng xảy ra trong quá trình quan sát Tuy nhiên, một số khâu như giảm đau và giáo dục sức khỏe vẫn cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc.

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn phụ sản - Trường đại học Y Hà Nội (2004), Phụ khoa dành cho thầy thuốc thực hành, Nhà xuất bản Y học, Nhà xuất bản Y học, tr150 - 164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ khoa dành cho thầy thuốc thực hành
Tác giả: Bộ môn phụ sản - Trường đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
3. Trần Thị Phương Mai (2005), Bệnh học ung thư phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, tr63-74.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học ung thư phụ khoa
Tác giả: Trần Thị Phương Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
4. Bertini A. F., Devouassoux-Shisheboran M., Genestie C. (2012), Pathology of endometrioid carcinoma. Bull Cancer, 99(1), pp.7-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathology of endometrioid carcinoma
Tác giả: Bertini A. F., Devouassoux-Shisheboran M., Genestie C
Nhà XB: Bull Cancer
Năm: 2012
5. Colombo N., Preti E., Landoni F. et al (2013) Endometrial cancer: ESMO Clinical Practice Guidelines for diagnosis, treatment and follow-up. Ann Oncol, 24 Suppl 6, pp.33-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endometrial cancer: ESMO Clinical Practice Guidelines for diagnosis, treatment and follow-up
Tác giả: Colombo N., Preti E., Landoni F
Nhà XB: Ann Oncol
Năm: 2013
6. Elliott J., Connor M.E., Lashen H (2003). “The value of outpatient hysteroscopy in diagnosing endometrial pathology in postmenopausal women with and without hormone replacement therapy”. Acta Obstet Gynecol Scand Suppl, 82(12), pp. 1112-1119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The value of outpatient hysteroscopy in diagnosing endometrial pathology in postmenopausal women with and without hormone replacement therapy
Tác giả: Elliott J., Connor M.E., Lashen H
Nhà XB: Acta Obstet Gynecol Scand Suppl
Năm: 2003
7. Esther O. Marisa R.N. (2009). Gynecologic Pathology, 1, Churchill Livingstone Elservier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gynecologic Pathology
Tác giả: Esther O. Marisa R.N
Nhà XB: Churchill Livingstone Elservier
Năm: 2009
8. Ferlay J., Soerjomataram I., Dikshit R. et al (2015), “Cancer incidence and mortality worldwide: sources, methods and major patterns in GLOBOCAN 2012”, Int J Cancer, 136(5), pp.359-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cancer incidence and mortality worldwide: sources, methods and major patterns in GLOBOCAN 2012
Tác giả: Ferlay J., Soerjomataram I., Dikshit R
Nhà XB: Int J Cancer
Năm: 2015
9. Gupta J. K., Chien P. F., Voit D. et al (2002), “Ultrasonographic endometrial thickness for diagnosing endometrial pathology in women with postmenopausal bleeding: a meta-analysis”, Acta Obstet Gynecol Scand, 81(9), pp. 799-816 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ultrasonographic endometrial thickness for diagnosing endometrial pathology in women with postmenopausal bleeding: a meta-analysis
Tác giả: Gupta J. K., Chien P. F., Voit D
Nhà XB: Acta Obstet Gynecol Scand
Năm: 2002
10. Hoffman K., Nekhlyudov L., Deligdisch L. (1995), “Endometrial carcinoma in elderly women”, Gynecol Oncol, 58(2), pp. 198-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endometrial carcinoma in elderly women
Tác giả: Hoffman K., Nekhlyudov L., Deligdisch L
Nhà XB: Gynecol Oncol
Năm: 1995
11. Jemal A., Siegel R., Ward E. et al (2009) “Cancer statistics, 2009”. CA Cancer J Clin, 59(4), pp. 225-49.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cancer statistics, 2009
Tác giả: Jemal A., Siegel R., Ward E
Nhà XB: CA Cancer J Clin
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm