BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH VŨ THỊ THU HÀ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VẬN ĐỘNG CHO NGƯỜI BỆNH LIỆT NỬA NGƯỜI TẠI KHOA NỘI THẦN KINH BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2019 KHÓA
MỤC TIÊU
1 Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh liệt nửa người tại khoa Nội Thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2019
Để nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh liệt nửa người tại khoa Nội Thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, cần đề xuất một số giải pháp cụ thể Những giải pháp này bao gồm cải thiện quy trình chăm sóc, đào tạo nhân viên y tế, và áp dụng công nghệ mới trong điều trị Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn đảm bảo sự hài lòng của bệnh nhân và gia đình họ.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Liệt nửa người là tình trạng giảm hoặc mất khả năng vận động có ý thức ở một bên cơ thể, bao gồm tay và chân, và có thể kèm theo liệt mặt cùng bên Hiện tượng này thường xảy ra do tổn thương ở đường thần kinh vận động trung ương.
Liệt nửa người là triệu chứng của nhiều bệnh nghiêm trọng, chủ yếu do đột quỵ, xuất huyết não và các bệnh liên quan đến mạch máu não, dẫn đến thiếu máu lên não Ngoài ra, các bệnh như chấn thương não, u não và áp xe não cũng có thể gây ra tình trạng này Di chứng liệt nửa người sau đột quỵ não chiếm tỷ lệ cao từ 85-90% Đột quỵ não, hay tai biến mạch máu não, là bệnh lý giảm chức năng não xảy ra đột ngột do mạch máu bị vỡ hoặc tắc, không phải do chấn thương.
Liệt nửa người do đột quỵ não có hai nguyên nhân chính: tai biến do thiếu máu cục bộ, xảy ra khi mạch máu bị nghẽn hoặc bị lấp, và tai biến do xuất huyết não, khi mạch máu bị vỡ, khiến máu thoát ra khỏi mạch và chảy vào nhu mô não hoặc khoang dưới nhện.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não sẽ trở thành tàn tật vĩnh viễn Hakett cho biết 61% người bệnh sống sót để lại di chứng, trong đó 50% phải phụ thuộc vào người khác trong sinh hoạt hàng ngày Tại Pháp, 50% trường hợp tàn phế là do tai biến mạch máu não Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế trên toàn cầu, ảnh hưởng đến 17 triệu người và gây ra 6,7 triệu ca tử vong mỗi năm.
Kết quả nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học quốc tế được đăng tải trên tạp chí Thần Kinh học của Mỹ ngày 9/6/2015: Tại 188 quốc gia (từ năm
Từ năm 1990 đến 2013, trong số 15 triệu người bị đột quỵ mỗi năm, có 6 triệu người tử vong và 5 triệu người bị tàn tật, như liệt nửa người, mất khả năng nói và mất trí nhớ Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mới mắc hàng năm dao động từ 73 đến 195 trên 100.000 dân, trong khi tỷ lệ hiện mắc cho mọi lứa tuổi là 734 trên 100.000 dân Đặc biệt, trong số những người trên 45 tuổi, tỷ lệ tử vong do đột quỵ chiếm 7%.
Khu vực Châu Á vẫn thiếu sự đồng đều trong nghiên cứu về đột quỵ não, mặc dù đã có một số trung tâm nghiên cứu Số liệu hiện có vẫn chưa đầy đủ và tỷ lệ mắc bệnh hàng năm có sự chênh lệch lớn giữa các quốc gia.
Trước năm 1973, Nhật Bản có tỷ lệ tử vong do đột quỵ não là 196,7/100.000 dân, với tỷ lệ mới mắc dao động từ 91-317/100.000 dân Nhờ triển khai hiệu quả các chiến dịch dự phòng, tỷ lệ tử vong hàng năm đã giảm xuống còn 7%.
Tại Trung Quốc, theo số liệu điều tra của Richard kay ở 6 thành phố trong năm 1983 cho thấy tỷ lệ hiện mắc đột quỵ não trung bình là 219/100.000 dân [4]
Tai biến mạch máu não và đột quỵ não có tỷ lệ cao tại các nước Đông Nam Á, với tỷ lệ hiện mắc từ 500-690/100.000 dân, theo nghiên cứu của Venkatassubramarian ở 6 quốc gia, cao hơn so với Hoa Kỳ và Pháp.
Tại Việt Nam, tỉ lệ hiện mắc trung bình hàng năm của tai biến mạch máu não là 416/100.000 dân, với tỉ lệ mắc là 152/100.000 dân theo nghiên cứu của Lê Văn Thành và cộng sự Nguyễn Văn Đăng và cộng sự ghi nhận tỉ lệ hiện mắc là 99,44/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc là 36/100.000 dân và tỉ lệ tử vong là 27/100.000 dân, trong đó tỉ lệ tai biến mạch máu não giữa nam và nữ là 1,48/1 Lê Văn Thành đã nghiên cứu 1.036 bệnh nhân tai biến mạch máu não trong 10 năm (1991-2001).
Tỉ lệ nhồi máu não đã được ghi nhận là 76% Trong số những người bị tai biến mạch máu não, tỉ lệ di chứng nhẹ và vừa là 68,42%, trong khi tỉ lệ di chứng nặng đạt 27,69% Đặc biệt, di chứng về vận động chiếm đến 92,96% tổng số bệnh nhân bị liệt nửa người Hơn nữa, có tới 94% bệnh nhân tai biến mạch máu não đang sống tại cộng đồng có nhu cầu phục hồi chức năng.
Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận hơn 200.000 ca đột quỵ não, trong đó hơn 50% bệnh nhân không qua khỏi Đáng chú ý, 90% những người sống sót phải đối mặt với các di chứng về thần kinh và vận động.
Trong ba năm qua, số liệu từ các bệnh viện có khoa thần kinh trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện do đột quỵ đã tăng từ 1.7% đến 2.5% Đặc biệt, độ tuổi mắc tai biến đang có xu hướng trẻ hóa, với nhiều trường hợp xảy ra ở nhóm tuổi 40-45, thay vì 50-60 tuổi như trước đây.
Mặc dù tỷ lệ tử vong do đột quỵ tại Việt Nam đã giảm khoảng 17% từ năm 2013 đến nay, nhưng số lượng người bệnh bị tàn tật do đột quỵ não lại tăng mạnh, chiếm đến 90% Điều này dẫn đến nhiều di chứng nặng nề như liệt nửa người, liệt chi, viêm phổi và co cứng gân cơ.
Hiện tại, Việt Nam có khoảng 486.000 người sống sót sau đột quỵ, nhưng chỉ có 25-30% trong số họ có thể tự đi lại và phục vụ bản thân Khoảng 20-25% gặp khó khăn trong việc di chuyển và cần sự hỗ trợ từ người khác, trong khi 15-25% hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác trong sinh hoạt hàng ngày.
* Khởi phát và tiến triển:
Đột ngột liệt thường xảy ra do đột quỵ não, có thể bắt đầu từ những sự kiện đơn giản như sau khi tắm hoặc nhận thông tin buồn Mức độ liệt khởi phát rất khác nhau; một số người có thể bị liệt hoàn toàn ngay từ đầu, trong khi những người khác chỉ bị liệt nhẹ Mức độ liệt ban đầu có thể ổn định hoặc giảm dần, thường gặp trong trường hợp chảy máu não hoặc tắc mạch Tuy nhiên, cũng có trường hợp liệt tiến triển nặng dần theo thời gian, thường do huyết khối động mạch não.
Cơ sở thực tiễn
3.2.1 Chăm sóc và phục hồi chức năng vận động cho người bệnh liệt nửa người
Phục hồi chức năng (PHCN) là tập hợp các biện pháp y học, kinh tế xã hội, giáo dục và kỹ thuật nhằm giảm thiểu sự suy giảm chức năng và tàn tật, giúp người tàn tật hội nhập hoặc tái hội nhập xã hội PHCN không chỉ tập trung vào việc huấn luyện người tàn tật thích nghi với môi trường sống mà còn tác động đến môi trường và xã hội, tạo ra sự thống nhất trong quá trình tái hội nhập Mục tiêu của PHCN là khôi phục chức năng cho người tàn tật và hỗ trợ họ trong việc xử lý tình trạng tàn tật, từ đó thích nghi với cuộc sống tại nhà và trong cộng đồng.
3.2.2 Mục đích của phục hồi chức năng người bệnh liệt nửa người :
Giúp người bệnh tự di chuyển và di chuyển từ nơi này đến nơi khác, bao gồm việc hướng dẫn sử dụng các dụng cụ hỗ trợ vận động và đi lại.
- Giúp người bệnh tự làm được những công việc trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày
- Giúp người bệnh thích nghi với những di chứng còn lại
- Giúp người bệnh trở lại với về cũ, hoặc có nghề mới thích hợp với hoàn cảnh hiện tại của người bệnh
3.2.3 Nguyên tắc phục hồi chức năng cho người liệt nửa người:
- PHCN nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau đột quỵ não, khi tình trạng toàn thân cho phép
Tập vận động cần đảm bảo sự cân xứng giữa hai bên cơ thể, không nên sử dụng bên lành để bù trừ hoặc thay thế cho bên liệt.
- Điều chỉnh trương lực cơ trở lại bình thường, hoặc gần bình thường bằng kỹ thuật kích thích hay ức chế
- Sử dụng các kỹ thuật tạo thuận lợi trong tập luyện giúp người bệnh cảm nhận vận động bình thường
- Sử dụng các bài tập liên quan, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người bệnh
Người bệnh và người nhà cần chủ động và tích cực trong việc tập luyện, đồng thời được hướng dẫn để thực hiện các bài tập vận động hiệu quả Sau khi ra viện, việc tiếp tục tập luyện tại nhà với sự hỗ trợ của người thân là rất quan trọng để đảm bảo quá trình phục hồi sức khỏe.
Luyện tập từ đơn giản đến phức tạp và từ nhẹ đến nặng giúp người bệnh phục hồi nhanh chóng Việc đưa người bệnh ra khỏi giường càng sớm càng tốt là rất quan trọng trong quá trình điều trị.
QUÁ TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Chăm sóc và phục hồi chức năng giai đoạn cấp
- Chăm sóc nuôi dưỡng đúng
- Theo dõi và kiểm tra chức năng sống
- Đề phòng thương tật thứ cấp
- Kiểm soát các yếu tố nguy cơ
- Đưa người bệnh ra khỏi trạng thái bất động càng sớm càng tốt
- Khuyến khích người bệnh và gia đình tích cực tham ra luyện tập, chăm sóc và phục hồi chức năng vận động cho người bệnh
* Kiểm tra các yếu tố nguy cơ
Tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch và đái tháo đường cần được theo dõi chặt chẽ về mạch và huyết áp Người bệnh nên ăn nhạt, uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ và thực hiện chế độ nghỉ ngơi, vận động hợp lý theo hướng dẫn.
- Rối loạn về tri giác
Hôn mê lú lẫn, với đặc điểm là đáp ứng chậm hoặc không đáp ứng, đòi hỏi việc theo dõi tri giác cẩn thận Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân hôn mê cần tập trung vào việc cải thiện tri giác và hạn chế các thương tật thứ phát.
* Khiếm khuyết về vận động
Để hỗ trợ người bệnh yếu hoặc liệt nửa người do tổn thương não, cần đặt tư thế đúng với bên liệt hướng ra ngoài Thay đổi tư thế mỗi 2 giờ và sử dụng gối kê để đảm bảo sự thoải mái và giảm nguy cơ biến chứng.
+ Tập thụ động theo tầm vận động của khớp, khuyến khích hỗ trợ người bệnh lăn trở sang hai bên và ngồi dậy
Khuyến khích bệnh nhân thực hiện các hoạt động chăm sóc cá nhân với sự hỗ trợ tối thiểu Hướng dẫn bệnh nhân một số bài tập tự tập như đan hai bàn tay vào nhau, gấp khuỷu tay và xoay vai để cải thiện khả năng vận động.
- Kém thăng bằng (ngồi, đi đứng): Cho người bệnh ngồi ghế tựa, tăng thời gian ngồi, giảm gối kê
- Nói ngọng, nói khó: Giúp người bệnh tập nói, nói chậm, nói rõ ràng
- Thương tật thứ phát: Bội nhiễm phổi (sốt, ho, khó thở): Theo dõi nhiệt độ, ho, khó thở Tư đầu cao, dùng thuốc theo y lệnh
+ Loét do đè ép: (phòng loét) Cho người bệnh nằm đệm chống loét, thay dổi tư thế 2h/lần, vỗ xoa bóp vùng tỳ đè, giữ da khô sạch
+ Theo dõi phát hiện vùng da đỏ do bị tỳ đè, hướng dẫn gia đình vệ sinh da hằng ngày và chế độ dinh dưỡng
- Teo cơ, co cứng và co rút: Xoa bóp, tập thụ động hoặc chủ động theo tầm vận động của khớp.
Phục hồi chức năng giai đoạn hồi phục
- Duy trì tình trạng sức khỏe ổn định, tạo điều kiện cho việc vận động tập luyện
- Tăng cường sức mạnh cơ bên liệt
- Kiểm soát các rối loạn tri giác, ngôn ngữ
- Hạn chế và kiểm soát các thương tật thứ cấp
- Giáo dục và hướng dẫn gia đình cùng tham gia hồi chức năng, vận động với người bệnh
4.2.2 Phục hồi chức năng: Ở giai đoạn này việc phục hồi chức năng mang tính toàn diện, đặc biệt là chức năng vận động, nhằm tác động lên toàn bộ khiếm khuyết, giảm khẳ năng của người bệnh, sớm cho người bệnh độc lập luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+ Theo dõi tư vấn dinh dưỡng về sức khỏe, thuốc theo y lệnh
+ Kiểm soát được mẫu co cứng các khớp bên liệt vẫn duy trì được tầm vận động
- Liệt mềm rồi chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng điển hình
+ Đặt tư thế đúng, chống lại mẫu co cứng,khuyến khích người bệnh đeo nẹp chỉnh hình, nẹp cổ tay
Rối loạn thăng bằng có thể gây khó khăn trong việc ngồi, đứng và đi lại Để cải thiện tình trạng này, người bệnh nên thực hiện các bài tập tự tập chủ động hoặc thụ động, tập trung vào tầm vận động của các khớp, đặc biệt là khớp vai, cẳng tay và cổ chân bên liệt.
- Đau khớp vai và tay bên liệt:
+ Khuyến khích người bệnh tự chăm sóc: Ăn uống, thay quần áo, chải đầu
+ Khuyến khích người bệnh và gia đình tập lăn trở, ngồi dậy, đứng dậy và đi lại
Động viên người bệnh thực hiện các bài tập vận động phù hợp với tầm vận động của khớp là rất quan trọng Kỹ thuật viên vật lý trị liệu sẽ xây dựng các bài tập thăng bằng cho người bệnh, bao gồm ngồi, đứng, đi lại với nạng, và đi lên xuống cầu thang, cũng như sử dụng thanh song song để hỗ trợ.
+ Điều trị vật lý trị liệu: Hồng ngoại, xoa bóp, điện xung
+ Khó diễn đạt được những lời người khác nói: Dùng các hình ảnh, điệu bộ, đồ vật để giúp người bệnh tập tốt hơn
+ Khó diễn đạt suy nghĩ thiếu hoặc quên từ: người bệnh chỉ vào hình vẽ, dùng cử chỉ để diễn đạt ý nghĩ của họ
+ Nói không rõ ràng, líu nhíu, nói lắp: Hướng dẫn người bệnh tập nói, tập đọc tên của đồ vật.
Phục hồi chức năng tại cộng đồng
- Các di chứng sau tai biến:
+ Co cứng và co rút các khớp bên liệt luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+ Rối loạn thăng bằng + Hạn chế về giao tiếp + Trầm cảm
- Duy trì tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần ổn định
- Tăng cường độc lập tối đa các hoạt động chăm sóc bản thân
- Hạn chế để lại di chứng
- Khuyến khích người bệnh tham gia các hoạt động của gia đình và xã hội
- Giáo dục và lôi kéo gia đình tham gia vào quá trình tập luyện và tái hội nhập của người bệnh
- Thực hiện thuốc theo chỉ định
- Hướng dẫn các bài tập tại nhà.
Các tư thế nằm đúng cho người bệnh liệt nửa người
đã xảy ra co cứng rồi thì các tư thế nằm đó là để ức chế và để chống lại mẫu co cứng
Co cứng ở người bệnh liệt nửa người là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả phục hồi; mức độ co cứng càng cao thì khả năng hồi phục càng kém Các tư thế nằm đúng, được gọi là tư thế phục hồi, cần được thực hiện sớm và duy trì trong suốt quá trình hồi phục cho đến khi người bệnh có thể trở lại sinh hoạt và vận động bình thường.
4.4.1 Bố trí giường nằm cho người bệnh liệt nửa người:
Giường nằm của người bệnh cần có chiều cao tương đương với ghế ngồi và xe lăn để thuận tiện cho việc di chuyển Đệm giường nên chắc chắn và phẳng để phòng ngừa loét do đè ép, tốt nhất là sử dụng đệm mút cao su xốp.
Không nên để người bệnh nằm nghiêng về phía bên liệt sát tường, và tất cả đồ dùng của họ cần được đặt ở phía bên liệt Đồng thời, không nên kê đầu giường quá cao.
Hình 1: Vị trí nằm của người bệnh liệt nửa người
4.4.2 Các tư thế nằm đúng của người bệnh theo mẫu phục hồi:
Ngày nay, nhiều chuyên gia phục hồi chức năng nhấn mạnh rằng việc duy trì vị thế nằm đúng cho người bệnh quan trọng hơn cả việc tập thụ động, đặc biệt là đối với bệnh nhân liệt nửa người trong giai đoạn đầu sau đột quỵ.
Có 3 tư thế đặt người bệnh nằm: Nằm nghiêng về phía bên liệt, nằm nghiêng về phía bên lành, tư thế nằm ngửa
Không nên để người bệnh nằm ngửa quá lâu hoặc gối đầu quá cao, cũng như không để họ ở tư thế nửa nằm nửa ngồi Những tư thế này có thể làm tăng co cứng toàn thân và dễ gây loét vùng mông.
- Đầu người bệnh có gối đỡ chắc chắn, mặt quay sang bên liệt hoặc nhìn thẳng lên trần nhà
Tay bên liệt cần có gối mỏng hỗ trợ dưới xương bả vai để đưa xương bả vai ra phía trước Gối đỡ tay liệt nên được đặt ở tư thế duỗi và xoay ngửa, dọc theo thân ngang vai hoặc hướng lên phía đầu.
Chân liệt cần có gối đỡ dưới hông để đưa hông ra phía trước, gối đỡ dưới đùi giúp chân liệt hơi gấp, và gối đỡ phía ngoài cổ chân để chân không bị đổ ra ngoài Tư thế của chân liệt luôn giữ ở trạng thái trung gian, với các ngón chân hướng thẳng lên trần nhà và bàn chân gấp về phía mu.
Hình 2: Tư thế nằm ngửa cho người bệnh liệt nửa người
*Tư thế nằm nghiêng sang bên lành:
- Đầu bênh nhân: có gối đỡ chắc chắn, người bệnh cảm thấy thoải mái và dễ chịu
- Thân mình: Vuông góc với mặt giường, có gối đỡ sau lưng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Tay liệt: có gối đỡ ở phía trước cao bằng thân người, tay duỗi, nâng tạo với thân một góc khoảng 100 độ
- Chân liệt được đỡ ở trên gối cao ngang với khớp háng và khớp gối gấp
- Chân lành: khớp háng duỗi khớp gối hơi gấp
- Tay lành: ở vị trí người bệnh cảm thấy thoải mái dễ chịu
Hình 3: Tư thế nằm nghiêng sang bên lành cho người bệnh liệt nửa người
*Tư thế nằm nghiêng về phía bên liệt:
Là tư thế nằm quan trọng và phải chú ý nhất
- Đầu người bệnh có gối đỡ chắc chắn, hơi gấp về phía trước
- Thân mình: có gối đỡ sau lưng để người bệnh nằm hơi ngửa ra sau luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Khi chăm sóc người bệnh tay liệt, cần tránh để họ nằm đè lên vai bên liệt Vai bên liệt nên được kéo ra phía trước, tay duỗi thẳng và xoay ngửa, tạo thành một góc khoảng 90 độ so với thân mình.
Để hỗ trợ người bệnh, tay lành nên được đặt trên thân hoặc trên gối phía sau lưng Tránh để tay lành ở phía trước, vì điều này có thể khiến người bệnh nằm hơi sấp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến vai và tay bên liệt.
- Chân liệt: Khớp háng duỗi, khớp gối gấp
- Chân lành: Có gối đỡ chân lành ở tư thế khớp háng và khớp gối gấp
Hình 4: Tư thế nằm nghiêng sang bên liệt cho người bệnh liệt nửa người luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trong giai đoạn đầu khi bệnh nhân bị liệt mềm, họ không thể tự vận động nửa người bên liệt Do đó, việc tập vận động thụ động là cần thiết để duy trì tầm vận động của các khớp, đồng thời phòng ngừa các biến chứng và thương tật thứ phát như loét do đè ép, cứng khớp, teo cơ và co rút.
Các bài tập vận động thụ động
Tập gấp và duỗi khớp vai là bài tập quan trọng, trong đó người tập dùng tay phải đỡ khuỷu tay và tay trái đỡ cổ tay, đưa tay người bệnh lên phía đầu Nếu không thể duỗi thẳng tay do đầu giường cản trở, hãy gấp khuỷu tay lại và đặt cẳng tay sát trên đầu, sau đó tiếp tục thực hiện bài tập như trước.
Tập dạng khớp vai là một bài tập quan trọng giúp cải thiện sự linh hoạt cho người bệnh Đầu tiên, hãy đưa vai người bệnh ra vuông góc với thân mình Nếu người bệnh không cảm thấy đau và khớp vai không cứng, bạn có thể tiếp tục gấp khớp vai bằng cách nắm cổ tay người bệnh bằng tay trái và đưa lên phía đầu Sau đó, lặp lại các động tác như trước để đạt hiệu quả tốt nhất.
Tập xoay khớp vai là một bài tập quan trọng giúp cải thiện sự linh hoạt của khớp vai Để thực hiện, người bệnh cần đưa bàn tay lên phía đầu cho đến khi mu bàn tay chạm sát mặt giường Sau đó, đưa tay trở lại vị trí ban đầu và tiếp tục xoay lòng bàn tay xuống sát mặt giường để xoay khớp vai vào trong.
Tập gấp và duỗi khớp khuỷu là một bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa với tay duỗi và lòng bàn tay ngửa Người tập sử dụng tay phải nắm lấy cổ tay của người bệnh, với ngón cái ở phía mu và các ngón khác ở phía lòng để giữ cổ tay thẳng Sau đó, từ từ gấp khuỷu tay của người bệnh lại và duỗi tay trở về vị trí ban đầu, lặp lại quá trình này để cải thiện khả năng vận động.
Tập quay sấp và xoay ngửa cẳng tay là bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa, tay duỗi dọc theo thân, khuỷu tay gấp 45 độ Người tập sử dụng tay phải nắm bàn tay và cổ tay của người bệnh, giống như khi bắt tay, sau đó từ từ thực hiện động tác quay sấp và xoay ngửa cẳng tay sang hai bên.
Tập gấp và duỗi cổ tay là một bài tập quan trọng trong phục hồi chức năng Người tập sử dụng tay trái để nắm cổ tay, trong khi tay phải nắm lấy bàn tay và các ngón tay của người bệnh, với ngón cái ở mu và các ngón khác ở phía lòng Sau đó, giữ ngón tay cái của bệnh nhân giữa ngón tay trỏ và thực hiện động tác gấp cổ tay về phía lòng bàn tay, hơi nghiêng về phía ngón út Cuối cùng, gấp khớp cổ tay về phía mu bàn tay và nghiêng nhẹ về phía ngón cái.
Người bệnh nằm ngửa với khuỷu tay gấp vuông góc Người tập khum bàn tay phải và đặt lên các ngón tay của người bệnh ở phía mu bàn tay Tay trái giữ khớp cổ tay người bệnh thẳng, sau đó dùng tay và các ngón tay phải gấp các ngón tay người bệnh về phía lòng bàn tay để tạo thành nắm đấm Nếu không có cảm giác đau sau khi gấp các ngón tay, tiếp tục gấp khớp cổ tay về phía lòng bàn tay để duy trì độ dài của cơ duỗi ngón tay.
- Tập duỗi các ngón tay: Khi ngón tay đã duỗi hết người tập từ từ duỗi khớp cổ tay người bệnh để làm duỗi các cơ gấp ngón
Để tập dạng và khép các ngón tay, người bệnh đặt bàn tay úp trên mặt giường Người tập sử dụng tay trái để giữ cẳng tay của người bệnh ở tư thế sấp, đồng thời dùng ngón cái và ngón giữa của tay phải để lần lượt dạng và khép các ngón tay của người bệnh.
Tập vận động các ngón tay cái là một bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa với khuỷu tay gấp và cẳng tay xoay ngửa Người tập sử dụng tay phải để nắm bàn và ngón tay của người bệnh, giúp duỗi các ngón tay Đồng thời, dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ của tay trái để giữ ngón cái của người bệnh, thực hiện các động tác dạng và khép ngón cái Cuối cùng, người tập đặt ngón cái tay trái lên đầu ngón tay cái của người bệnh để gấp ngón cái lại, sau đó dùng ngón cái và ngón trỏ để duỗi ngón tay cái của bệnh nhân ra.
Tập gấp và duỗi khớp háng là bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa, tay phải đỡ gót chân, tay trái đỡ dưới kheo chân và gấp nhẹ khớp gối, sau đó từ từ đưa khớp gối về phía bụng Nếu không có cảm giác đau ở khớp háng và thắt lưng, chuyển tay trái lên mặt trước khớp gối và gấp thêm khớp gối cho đến khi vuông góc Cuối cùng, gấp khớp háng bằng cách đưa gối về phía ngực và gót chân về phía mông.
Tập xoay khớp háng là một bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa với chân duỗi thẳng, trong khi người tập đặt tay lên khớp cổ chân và khớp gối Sau đó, người tập thực hiện động tác xoay khớp háng ra ngoài và vào trong Phương pháp luân phiên được áp dụng bằng cách dùng tay phải đỡ gót chân và tay trái đặt lên gối, gấp chân người bệnh cho đến khi khớp háng và khớp gối vuông góc Cuối cùng, xoay khớp háng vào trong và ra ngoài để cải thiện độ linh hoạt.
Tập dạng và khép khớp háng là bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa với hai chân duỗi thẳng, trong khi người điều trị hỗ trợ bằng cách dùng tay phải đỡ dưới gót chân và tay trái đỡ dưới khoeo Sau đó, từ từ đưa chân người bệnh ra ngoài để thực hiện động tác.
Tập duỗi khớp gối là một bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa, trong khi người tập dùng tay phải đỡ gót chân và tay trái đỡ dưới khoeo chân để gấp khớp háng và khớp gối Sau đó, người tập sẽ duỗi thẳng chân của người bệnh ra.
Hình 5: Bài tập vận động khớp gối cho người bệnh liệt nửa người 4.5.6 Khớp cổ chân:
Tập nghiêng khớp cổ chân là bài tập hiệu quả cho người bệnh Để thực hiện, người bệnh nằm ngửa với hai chân duỗi thẳng Người tập dùng tay trái giữ phía trên khớp cổ chân, trong khi tay phải nắm bàn chân của người bệnh, với ngón cái ở phía mu và các ngón khác ở phía lòng Sau đó, nghiêng bàn chân của người bệnh vào trong để tăng cường sự linh hoạt cho khớp cổ chân.
Tập gấp và duỗi khớp cổ chân là bài tập quan trọng cho người bệnh Người bệnh nằm ngửa với hai chân duỗi thẳng, trong khi người tập dùng tay phải đỡ gót chân và bàn chân, tay trái nắm phía trên khớp cổ chân Bài tập bao gồm việc gấp khớp cổ chân về phía lòng bàn chân và sau đó gấp khớp cổ chân về phía mu bàn chân.
THỰC TẾ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA NỘI THẦN KINH BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH
Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019 tại khoa Nội Thần Kinh Trên 30 người bệnh và 40 người nhà của người bệnh cho kết quả như sau:
- Trang thiết bị còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và phục vụ người bệnh
- Thiếu nhân lực nên công việc chăm sóc và phục hồi chức năng chưa được liên hoàn theo đúng liệu trình chăm sóc, điều trị
- Nhân viên y tế chưa giám sát chặt chẽ việc người nhà chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh (sau khi đã được nhân viên y tế hướng dẫn)
Chúng tôi đã cung cấp tư vấn giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và gia đình, tuy nhiên, hiện tại chưa có quy trình chuẩn để hướng dẫn cách chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân bị liệt nửa người.
- Chưa phát huy hết vai trò của mình trong quá trình chăm sóc người bệnh, chủ yếu để người nhà tự chăm sóc
- Chưa có kế hoạch tập huấn về công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người
5.2 Kết quả khảo sát trên người bệnh và người nhà chúng tôi thấy
5.2.1: Phân bố người bệnh theo giới tính
Biểu đồ 1: Tỷ lệ người bệnh bị liệt nửa người theo giới tính
Người bệnh liệt nửa người chủ yếu là những người từ 50 tuổi trở lên, trong đó độ tuổi mắc nhiều nhất là trên 70-75 tuổi, chiếm 73,3% với 22 trường hợp.
5.2.2:Phân bố người bệnh theo tiền sử bệnh
Biểu đồ 2: Tỷ lệ tiền sử mắc bệnh của người bệnh
Liệt nửa người do đột quỵ chiếm khoảng 90% trong số các trường hợp Trong đó, 83,33% người bệnh có tiền sử mắc bệnh tim mạch, và 13,33% có tiền sử mắc các bệnh liên quan đến não.
5.2.3: Tình trạng biến chứng của người bệnh
Biểu đồ 3: Tỷ lệ biến chứng của người bệnh liệt nửa người
Nhận xét: Biến chứng sau khi liệt nửa người có loét ép là 1/30 người chiếm 3,33%, teo cơ, cứng khớp có tới 6/30 người chiếm 20%
5.2.4:Tình trạng vận động và PHCN của người bệnh
Biểu đồ 4: Tỷ lệ về tình trạng vận động, PHCN của người bệnh
Trong việc tự chăm sóc bản thân và phục hồi chức năng (PHCN), tỷ lệ người bệnh tự chăm sóc chỉ chiếm 3,33% Đáng chú ý, 56,67% người bệnh cần sự hỗ trợ một phần từ người nhà và điều dưỡng, trong khi 40% người bệnh hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của người nhà và điều dưỡng.
5.2.5 Một số kiến thức về chăm sóc
Khoảng 60% bệnh nhân nhập viện lần đầu do tai biến mạch máu não, trong khi 40% bệnh nhân đã từng nhập viện vì tai biến này từ hai lần trở lên.
- Số người nhà không biết hoặc không hiểu biết rõ về liệt nửa người và mức độ nguy hiểm liệt nửa người chiếm 66,67%
Đa số người nhà chưa nắm vững cách chăm sóc đúng cho người bệnh, với 70% không biết cách xoay trở, vệ sinh phòng loét và vận động cơ khớp một cách hiệu quả.
- Có 83,33% người nhà có thực hiện xoay trở người bệnh, tập các bài tập PHCN đúng kỹ thuật sau khi được nhân viên y tế hướng dẫn
- 100% người nhà chăm sóc đã được nhân viên y tế hướng dẫn về cách chăm sóc và PHCN cho người bệnh liệt nửa người
Chỉ có 10% người bệnh, tương đương 3 trong số 30 người, được tiếp cận phục hồi chức năng sớm ngay sau khi tình trạng bệnh ổn định Việc này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quy trình phục hồi chức năng để hỗ trợ người bệnh kịp thời hơn.
Phần lớn người chăm sóc bệnh nhân liệt nửa người thiếu kiến thức cần thiết, với 100% họ chỉ dựa vào điều dưỡng để có thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng Chỉ có 20% người nhà tìm hiểu thêm qua sách báo và trang thông tin điện tử, trong khi 6,67% dựa vào kinh nghiệm của người thân và bạn bè Họ vẫn gặp khó khăn trong việc vệ sinh, luyện tập và đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân.
Người bệnh nên thực hiện các bài tập phục hồi chức năng (PHCN) vào buổi sáng và buổi chiều, dành ít nhất 2 tiếng mỗi ngày cho việc tập luyện cùng với sự hỗ trợ của người nhà.
Khi có người bệnh liệt nửa người nằm viện, gia đình thường chỉ tập trung vào việc bảo vệ tính mạng của họ mà chưa chú trọng đến các biện pháp chăm sóc phục hồi chức năng Điều này rất quan trọng để giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục sức khỏe.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH LIỆT NỬA NGƯỜI
Người bệnh liệt nửa người thường phải nằm lâu, đặc biệt là những người hôn mê, dễ gặp biến chứng loét Loét thường xuất hiện ở những vùng bị tỳ đè như cùng cụt, gót chân, bả vai, lưng và mông Để phòng ngừa loét, cần cho người bệnh nằm trên đệm hơi hoặc đệm nước và thay đổi tư thế mỗi 2 giờ Hằng ngày, nên xoa bóp nhẹ nhàng các vùng tỳ đè, tránh xoa bóp mạnh để không gây tổn thương da Ngoài ra, thực hiện vận động thụ động cho bên liệt để ngăn ngừa co cứng cơ và cải thiện tuần hoàn.
Để giữ gìn vệ sinh cho các vùng da tỳ đè, cần lau sạch 1-2 lần mỗi ngày bằng khăn mềm, ấm và sau đó lau khô bằng khăn sạch, đặc biệt là sau khi đi đại tiện hoặc tiểu tiện Cần tránh làm xây xát da và không nên sử dụng mỡ hay bột kháng sinh vì có thể gây hạn chế hô hấp của da và làm tăng nguy cơ loét Hàng ngày, cần kiểm tra để phát hiện sớm các dấu hiệu chớm loét như ngứa, đau, hoặc thay đổi màu da (đỏ, tím) để kịp thời điều trị Khi phát hiện dấu hiệu chớm loét, nên kê gối hoặc đệm mềm tại các vị trí đó để tránh bị tỳ đè thêm.
6.2 Cách phòng ngừa liệt nửa người do đột quỵ não:
- Cần đo huyết áp đều đặn hàng ngày
- Tránh ăn quá nhiều mỡ, nhất là chất béo bão hòa và cholesterol, tránh ăn muối nhiều quá, đồ hộp, bột ngọt chứa nhiều muối
- Tập thể dục: đi bộ 20-30 phút mỗi ngày hay bơi lội 3-4 lần mỗi tuần
- Điều trị tốt các bệnh tim mạch và tình trạng căng thẳng thần kinh Tránh mất ngủ, bỏ thuốc lá
- Phụ nữ uống thuốc ngừa thai, nhất là người trên 30 tuổi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Cần chú ý bảo vệ sức khỏe khi thời tiết chuyển lạnh vào mùa đông và khi áp suất không khí cao vào mùa hè Tránh tắm khuya và ở những nơi có gió lùa, đặc biệt là đối với những người bị tăng huyết áp.
- Điều trị các nguyên nhân gây tai biến mạch máu não như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tiểu đường, rối loạn nhịp tim
- Tránh vận động thể lực quá mức như mang vác nặng, chạy nhanh, tránh táo bón, kiêng rượu bia, các chất kích thích
6.3 Phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người:
Mục tiêu của phục hồi chức năng là ngăn ngừa teo cơ và cứng khớp, điều này rất quan trọng đối với bệnh nhân liệt nửa người, giúp kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.
Can thiệp phục hồi chức năng sớm ngay sau cấp cứu là rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi tình trạng bệnh nhân cho phép Đây được xem là "thời gian vàng" cho phục hồi chức năng ở người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ não hoặc chấn thương não, giúp rút ngắn thời gian điều trị và nâng cao hiệu quả phục hồi.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, các bệnh lý đang chuyển từ bệnh nhiễm khuẩn sang bệnh không nhiễm khuẩn như đột quỵ não, bệnh tim mạch và đái tháo đường Đặc biệt, tỷ lệ người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ não ngày càng gia tăng Do đó, việc nâng cao ý thức phòng bệnh cho bản thân, gia đình và xã hội là rất cần thiết, trong đó vai trò tư vấn của cán bộ y tế, đặc biệt là bác sĩ và điều dưỡng, đóng vai trò then chốt.
GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
Để nâng cao chất lượng chăm sóc phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, cần triển khai một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại hiện tại.
7.1 Về phía các Khoa, Bệnh viện:
- Khoa cần tăng cường thêm trang thiết bị như giường cấp cứu, xe lăn, máy tập luyện phục hồi chức năng
Bệnh viện cần tăng cường đào tạo nhân lực có chuyên môn về phục hồi chức năng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và phục hồi cho bệnh nhân.
Khoa cần sắp xếp các phòng điều trị một cách hợp lý để phục vụ bệnh nhân nặng, đảm bảo có kỹ thuật viên điều trị tại giường nhằm tránh khó khăn trong việc di chuyển.
Khuyến khích việc giám sát sự tham gia của bệnh nhân và người thân trong quá trình chăm sóc và phục hồi chức năng, đặc biệt là trong giai đoạn hồi phục và tái hòa nhập cộng đồng.
Khoa nên thiết lập một phòng tư vấn riêng và quy định tổ chức ít nhất một buổi tư vấn sức khỏe chung hàng tuần cho tất cả bệnh nhân và người nhà trước khi bệnh nhân ra viện.
Khoa cần phát huy vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và phổ biến kiến thức về phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người Để nâng cao hiệu quả chăm sóc, nên xây dựng các quy trình chăm sóc chuẩn cho toàn bộ cán bộ nhân viên, giúp họ thực hiện công việc một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.
- Phối hợp giữa các khoa trong bệnh viện, các tuyến y tế để thuận lợi cho công tác chăm sóc và phục hồi chức năng tốt hơn
Trung tâm y tế cơ sở cần thực hiện giám sát và duy trì phục hồi chức năng cho bệnh nhân trong cộng đồng, sử dụng nguồn nhân lực từ chính cộng đồng đó.
7.2 Về phía nhân viên y tế
- Điều dưỡng trưởng khoa cần giám sát chặt chẽ công việc của các điều dưỡng trong khoa về công tác chăm sóc cho người bệnh liệt nửa người
- Thường xuyên giao ban trao đổi kiến thức về chăm sóc người bệnh, công tác phòng chống loét và rút kinh nghiệm cho các điều dưỡng viên
- Điều dưỡng viên cần có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, không ỉ lại hoặc đối phó để hoàn thành nhiệm vụ
- Giáo dục cho người nhà hiểu rõ về bệnh, các cách chăm sóc người bệnh theo từng giai đoạn
Hướng dẫn các bài tập phục hồi chức năng cho người bệnh với hình ảnh minh họa rõ ràng, giúp người bệnh và người nhà dễ dàng theo dõi và thực hiện.
Hiểu rõ tâm tư và nguyện vọng của bệnh nhân cùng gia đình là rất quan trọng Cần động viên và khích lệ họ thường xuyên, đồng thời giải thích rằng việc hồi phục sau liệt nửa người đòi hỏi sự kiên trì và thời gian.
Sau khi ra viện, bệnh nhân và người nhà cần được kiểm tra lại kiến thức về bệnh liệt nửa người, cũng như cách chăm sóc và phục hồi chức năng tại gia đình.
- Nên trao đổi với những người nhà có người bệnh liệt nửa người để có thêm kinh nghiệm trong chăm sóc người bệnh có hiệu quả hơn
Chủ động nâng cao kiến thức về chăm sóc người bệnh liệt nửa người bằng cách tìm hiểu thông tin từ báo chí, truyền hình, sách vở và internet.
Tham gia tích cực vào các buổi tư vấn giáo dục sức khỏe do nhân viên y tế tổ chức giúp bạn nâng cao hiểu biết về bệnh tật và cải thiện kỹ năng chăm sóc người bệnh.