1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa

38 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Lê Đình Ái
Người hướng dẫn TS. Đỗ Minh Sinh
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng Nội người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 787,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Đặt vấn đề (7)
  • 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn (9)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (9)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (17)
  • 3. Thực trạng (20)
    • 3.1. Thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa thanh hóa tháng 7 năm 2018 (20)
    • 3.2. Một số ưu điểm và tồn tại về hoạt động dự phòng biến chứng tụt huyết áp cho người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm (27)
  • 4. Đề xuất một số giải pháp (29)
    • 4.1. Đối với bệnh viện và nhân viên y tế (29)
    • 4.2. Đối với người bệnh (30)
  • 5. Kết luận (0)
    • 5.1. Thực trạng tụt huyết áp (31)
    • 5.2. Một số giải pháp hạn chế biến chứng tụt huyết áp ........................................... 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO (31)

Nội dung

Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Cơ sở lý luận

2.1.1 Đại cương về lọc máu chu kỳ bằng kỹ thuật thận nhân tạo 2.1.1.1 Giới thiệu tổng quan về lọc máu chu kỳ [1]

Bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần điều trị thay thế, bao gồm thận nhân tạo, lọc màng bụng và ghép thận, trong đó thận nhân tạo là phương pháp phổ biến nhất Thận nhân tạo tạo ra một vòng tuần hoàn ngoài cơ thể với lưu lượng máu từ

Thời gian kéo dài từ 4 - 8 giờ với lưu lượng 200 - 400 ml/phút đòi hỏi quy trình chuẩn hóa chặt chẽ Do có nhiều khâu kỹ thuật và thời gian theo dõi dài, việc này giúp giảm thiểu nguy cơ và tránh các biến chứng có thể xảy ra trong buổi lọc.

Hình 1.1 Sơ đồ vòng tuần hoàn máu và dịch trong điều trị lọc máu

1.1.1.2 Chỉ định và chống chỉ định [1]

Bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần điều trị thay thế khi mức lọc cầu thận (MLCT) giảm xuống dưới 15 ml/phút/1.73 m² Đối với bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, việc chỉ định điều trị có thể được thực hiện sớm hơn.

Kỹ thuật thận nhân tạo được sử dụng để lọc máu trong các trường hợp khẩn cấp như ngộ độc Lọc máu thường được thực hiện với tần suất ít nhất 3 lần mỗi tuần, mỗi lần kéo dài tối thiểu 4 giờ, tổng thời gian lọc máu trong tuần đạt ít nhất 12 giờ.

Tim mạch bao gồm các vấn đề như trụy tim mạch, rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành Những tình trạng này có thể dẫn đến suy tim toàn bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Rối loạn đông máu và chảy máu: chỉ là chống chỉ định tương đối, có thể cùng phối hợp lọc máu và thay máu

Toàn trạng: người bệnh đang sốt cao, suy kiệt do ung thư

2.1.1.3 Trình tự tiến hành a Chuẩn bị, khởi động máy

Mở hệ thống nước và quan sát hoạt động của toàn bộ hệ thống, sau đó tháo bỏ phần nước ứ đọng Tiến hành kiểm tra lưu lượng và độ dẫn điện của hệ thống nước để đảm bảo hiệu suất hoạt động.

Kiểm tra máy thận bao gồm việc xác định lưu lượng 500 ml/phút, đảm bảo không còn chất sát trùng, kiểm tra độ dẫn điện của dịch lọc và kiểm tra các báo động an toàn của máy thận.

Kiểm tra hệ thống oxy, điện và các thiết bị khác b Bác sĩ kiểm tra tình trạng người bệnh trước khi lọc máu

Tình trạng lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh trong 24 giờ trước đó: điện tim, phim Xquang tim phổi, tình trạng tim mạch hiện tại

Các thuốc và phương pháp điều trị mới nhất bao gồm các chỉ định và điều chỉnh liều lượng thuốc Các chỉ số sinh hóa thông thường và các xét nghiệm gần đây như điện giải đồ, calci, phospho, pH, CO2, acid uric, hemoglobin, hematocrit, protein máu, tình trạng đông máu, men tim, nhóm máu Rh và sự ngưng kết bất thường cũng cần được theo dõi.

Các chỉ định cho buổi lọc bao gồm các xét nghiệm cần thực hiện trước và sau khi lọc, thời gian lọc, lưu lượng máu, siêu lọc để rút cân, thuốc chống đông cùng với liều lượng và cách sử dụng, và quả lọc.

Các chỉ định theo dõi điều trị: Trong buổi lọc, kết thúc buổi lọc c Chuẩn bị người bệnh lọc máu chu kỳ

Chuẩn bị điều dưỡng cho người bệnh bao gồm việc cân trọng lượng, cần lưu ý trừ bì (giày dép, quần áo) và nếu có nghi ngờ, nên cân lại nhiều lần để đảm bảo chính xác Ngoài ra, cần đo huyết áp và mạch của người bệnh ở cả tư thế đứng và nằm, ghi chép cẩn thận các thông số này vào sổ theo dõi Cuối cùng, người bệnh cần trải ga và nằm lên giường để chuẩn bị cho quá trình lọc máu.

Tay FAV của người bệnh phải được sát trùng cẩn thận, rộng rãi d Nối vòng tuần hoàn ngoài cơ thể

* Tư thế người bệnh và chuẩn bị chọc tay: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Người bệnh cần được đặt ở tư thế thoải mái, có thể nằm hoặc nửa nằm, trên giường có độ cao phù hợp; máy lọc thận phải được chuẩn bị sẵn sàng và không có bất kỳ báo động nào.

*Các bước chuẩn bị dụng cụ:

Mở hộp vô trùng chứa dụng cụ lọc máu để tránh nhiễm trùng và lắp quả lọc Kiểm tra tên tuổi bệnh nhân để tránh nhầm lẫn Đuổi hơi kỹ, điều chỉnh tốc độ bơm từ 90 - 120 ml/phút và vỗ nhẹ vào quả lọc để loại bỏ khí Khi còn khoảng 300ml dịch, quay vòng dịch trong quả lọc với heparin và xả rửa các râu của đường dây Điều dưỡng và bệnh nhân cần đeo khẩu trang, chuẩn bị găng tay và gạc thấm chất sát trùng Đặt kim lên khay vô trùng và chuẩn bị các ống lấy máu bên cạnh Lấy săng vô trùng, nâng cao tay bệnh nhân, trải săng dưới tay và yêu cầu bệnh nhân đặt tay xuống Chuẩn bị băng dính và sát trùng tay bệnh nhân bằng gạc thấm chất sát trùng, sau đó sử dụng ga rô.

Xác định đường đi mạch máu (FAV) bằng đầu ngón tay; chọc FAV với kim “động mạch” hướng về phía miệng nối và kim “tĩnh mạch” hướng lên cao; cố định kim bằng băng dính vô trùng và thông kim bằng cách mở nút rồi siết chặt lại ngay; đóng khoá kim và thực hiện lấy bệnh phẩm Đặt chương trình lọc máu trước khi nối vòng tuần hoàn vào người bệnh, bao gồm thời gian lọc máu, số cân rút, liều heparin tấn công và duy trì, đồng thời kiểm tra hoạt động bơm heparin Để theo dõi tốt FAV, cần bộc lộ tay để quan sát rõ.

Các chức năng của máy đã sẵn sàng, bao gồm việc kẹp đường dây “động mạch” và nối với kim “động mạch” của người bệnh Sau khi mở kẹp ở kim “động mạch” và dây “động mạch”, cần kiểm tra bơm máu ở vị trí 0 ml/phút trước khi khởi động Khi bơm máu hoạt động, máu của người bệnh sẽ được hút vào, trong khi nước muối sinh lý trong dây và quả lọc được đẩy về túi đựng nước thải Quá trình này giúp máu dâng dần trong vòng tuần hoàn, kết hợp với việc tấn công liều heparin cho đến khi máu đến bầu xanh (bầu tĩnh mạch).

Dừng bơm máu và kẹp đường dây tĩnh mạch để kiểm tra khí trong vòng tuần hoàn Nối đường tĩnh mạch với kim tĩnh mạch của bệnh nhân, nhớ sát trùng các điểm nối Tăng dần tốc độ bơm lên 100ml/phút và kiểm tra áp lực động mạch tĩnh mạch trên màn hình Tăng tốc độ máu từ từ và chỉ định liều heparin duy trì Bấm nút Dialyse và kiểm tra các đèn báo an toàn của máy Đảm bảo đường dây trên ga được cố định, không để dây quét trên đất để tránh vướng phải Theo dõi buổi lọc máu một cách cẩn thận.

Các tiêu chí theo dõi trong buổi lọc máu:

Huyết áp, mạch của người bệnh từng giờ

Kiểm tra áp lực động mạch, tĩnh mạch, áp lực xuyên màng

Theo dõi nồng độ dịch lọc (thành phần Na + và bicarbonat)

Theo dõi đường huyết ở người bệnh tiểu đường

Toàn trạng trạng người bệnh

Tất cả các dấu hiệu phải ghi chép đầy đủ g Trả máu về cho người bệnh - kết thúc buổi lọc

Trả máu lại máu cho người bệnh là đưa toàn bộ máu ở vòng tuần hoàn vào cơ thể người bệnh và kết thúc buổi lọc

Trên màn hình thời gian là 0.00 -> kết thúc buổi lọc máu

Trả máu cho người bệnh:

+ Dừng bơm máu, kẹp kim “động mạch” và dây “động mạch”

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực trạng biến chứng tụt huyết áp của người bệnh lọc máu chu kỳ 2.2.1.1 Thực trạng biến chứng tụt huyết áp của người bệnh lọc máu chu kỳ trên thế giới

Theo nghiên cứu điều tra ở Mỹ và Nhật, số bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu đã tăng đáng kể từ năm 2000 đến 2005, với dự kiến đến cuối năm 2010, số bệnh nhân ở Nhật sẽ là 300.000, ở Mỹ là 500.000, và toàn cầu ước tính là 2.100.000 người Tụt huyết áp là biến chứng phổ biến nhất trong quá trình lọc máu, làm giảm hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, với tần suất xảy ra từ 20-50% Các nghiên cứu cho thấy tần suất hạ huyết áp trong lọc máu thường là 20%, nhưng có thể dao động từ 6% đến 27% Một nghiên cứu lớn cho thấy 10% bệnh nhân gặp hạ huyết áp thường xuyên, trong khi 13% chỉ thỉnh thoảng Đặc biệt, nghiên cứu của Capuano A et al chỉ ra rằng 44% bệnh nhân lọc máu ≥ 65 tuổi gặp hạ huyết áp thường xuyên, so với 32% ở bệnh nhân trẻ hơn.

[20] Một nghiên cứu khác cũng nhận thấy nồng độ albumin ở những bệnh nhân bị hạ huyết áp trong lọc máu cũng thấp hơn nhóm chứng [21]

2.2.1.1 Thực trạng biến chứng tụt huyết áp của người bệnh lọc máu chu kỳ tại Việt Nam

Tại Bệnh viện Đa Khoa Quảng Nam, có 103 bệnh nhân được thực hiện lọc máu chu kỳ 1 lần mỗi tuần, mỗi lần kéo dài 3 giờ Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2015, Bệnh viện Quân y 121 quân khu 9 đã điều trị cho 30 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối bằng phương pháp lọc máu chu kỳ.

Nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Nhựt và Trần Công Lộc đã được thực hiện trên 70 bệnh nhân cần lọc máu tại bệnh viện Quân Y 17, cho thấy có một số lượng bệnh nhân bị tụt huyết áp.

Tỷ lệ tụt huyết áp (HA) trong quá trình lọc máu là 24%, với 84 lần tụt HA, chiếm 5,1% Thời điểm tụt HA cao nhất xảy ra vào giờ thứ 4 của buổi lọc máu, đạt 52,3% (p < 0,05) Nhóm tuổi trên 60 có tỷ lệ tụt HA là 6,8%, cao hơn so với nhóm tuổi dưới 30 là 2,6% (p < 0,05) Những bệnh nhân có mức tăng cân trên 3kg giữa hai kỳ lọc máu có tỷ lệ tụt HA là 5,9%, cao hơn nhóm tăng cân từ 1,0-2,0kg (2,5%) (p < 0,05) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hải cho thấy tỷ lệ tụt HA trong buổi lọc máu lần đầu là 54,5%.

Năm 2010, Đỗ Văn Tùng đã nghiên cứu 92 bệnh nhân với 560 lần lọc máu chu kỳ và phát hiện rằng 12% số buổi lọc xảy ra tụt huyết áp, trong khi 38% bệnh nhân có ít nhất một lần tụt huyết áp trong buổi lọc Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa biến chứng và mức siêu lọc, mức độ thiếu máu, cũng như nồng độ ure, creatinin, protein và albumin trong máu.

Nghiên cứu của Đỗ Lan Phương trên 111 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2015 cho thấy tỷ lệ tụt huyết áp (HA) là 35,1% Đặc biệt, 43,6% trường hợp tụt HA xảy ra vào giờ thứ ba của buổi lọc máu, thường đi kèm với các triệu chứng như da ẩm, lạnh, vã mồ hôi, hoa mắt, chóng mặt, chuột rút, buồn nôn, nôn, đau bụng và đi ngoài Tỷ lệ tụt HA ở nhóm bệnh nhân có chỉ số BMI < 18,5 cao hơn so với nhóm có chỉ số BMI ≥ 18,5 (p < 0,05) Ngoài ra, tỷ lệ tụt HA ở nhóm bệnh nhân có IDWG > 5% trọng lượng khô lớn hơn so với nhóm IDWG ≤ 5% (p < 0,05) Tương tự, tỷ lệ tụt HA trong buổi lọc máu ở nhóm bệnh nhân có nồng độ Hb < 105 g/l cũng cao hơn so với nhóm có nồng độ Hb cao hơn.

Hb ≥ 105 g/l (p < 0,05) Tỷ lệ tụt HA ở nhóm BN có nồng độ albumin máu < 40 g/l lớn hơn ở nhóm có albumin máu ≥ 40 g/l (p < 0,05) [7]

2.2.2 Một số giải pháp dự phòng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu [9]

Đánh giá tình trạng dự trữ nước trong cơ thể cần được thực hiện thường xuyên qua thăm khám lâm sàng Khi các kỹ thuật thăm khám thông thường không đủ để kết luận, cần xem xét áp dụng các phương pháp khách quan khác Để giám sát và phòng ngừa biến chứng tụt huyết áp, việc đo huyết áp và nhịp tim thường xuyên trong quá trình lọc máu là rất quan trọng.

Nên đánh giá tình trạng bệnh lý tim ở những BN thường gặp biến chứng tụt huyết áp

2.2.2.2 Thay đổi lối sống Để kiểm soát tình trạng tăng cân giữa các lần lọc máu và giảm nguy cơ xảy ra biến chứng tụt huyết áp, nên thực hiện chế độ ăn kiêng muối và không quá 6g/ngày trừ khi có chống chỉ định

Nên tránh ăn uống ngay trước và trong quá trình lọc máu đối với những bệnh nhân thường gặp biến chứng tụt huyết áp Đối với bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng kém, cần cân nhắc giữa nhu cầu dinh dưỡng và tác động của bữa ăn lên huyết động trong lúc lọc máu Việc đánh giá ảnh hưởng của các bữa ăn nhẹ hoặc chính trước khi lọc máu đến tình trạng huyết động học là rất quan trọng.

Giáo dục người bệnh về chế độ ăn uống để kiểm soát cân nặng giữa hai kỳ lọc là rất quan trọng, với giới hạn không quá 1 kg/ngày Nhiều tác giả cho rằng việc nhấn mạnh hạn chế muối trong khẩu phần ăn có hiệu quả hơn so với việc hạn chế lượng dịch Đánh giá cẩn thận cân khô của người bệnh là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phòng ngừa biến chứng tụt.

Việc xác định cân khô cho bệnh nhân lọc máu chu kỳ chủ yếu dựa vào các đánh giá lâm sàng như phù, tăng huyết áp, tụt huyết áp và chuột rút Khả năng đáp ứng của bệnh nhân trong mỗi buổi lọc cũng được xem xét cùng với mức siêu lọc được chỉ định.

Thực trạng

Thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa thanh hóa tháng 7 năm 2018

3.1.1 Giới thiệu tổng quan về Trung tâm Thận-Lọc máu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa

Trung tâm Thận-Lọc máu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, được thành lập từ năm 1994 và chính thức đổi tên vào năm 2012, hiện có 04 bác sỹ và 39 điều dưỡng Trung tâm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ điều trị, với số lượng bệnh nhân không ngừng tăng lên Trong những năm đầu, trung tâm chỉ lọc máu cho vài chục ca mỗi tháng, nhưng gần đây đã đạt khoảng 4000 ca mỗi tháng cho bệnh nhân cấp cứu và suy thận mãn Hằng tháng, trung tâm tiếp nhận hơn 400 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần chạy thận nhân tạo chu kỳ, và số lượng này ngày càng gia tăng Năm 2017, trung tâm ghi nhận gần 60.000 lượt chạy thận nhân tạo, tăng 10% so với năm 2016.

Tại thời điểm tháng 7 năm 2018 mỗi ngày Trung tâm Thận lọc máu cho khoảng 220 ca/ngày

Chức năng của lọc máu chu kỳ bao gồm điều trị cho bệnh nhân suy thận mạn và cấp, cũng như xử lý ngộ độc Quy trình này bao gồm siêu lọc thẩm tách để bù dịch cho bệnh nhân suy thận cấp và ngộ độc, cùng với lọc máu hấp phụ cho bệnh nhân ngộ độc cấp và suy thận mạn Ngoài ra, việc đặt catheter tĩnh mạch trung tâm cũng là một phần quan trọng trong quá trình lọc máu.

Hình 3.1 Chuẩn bị giường bệnh trước giờ lọc máu chu kỳ

Hình 3.2 Người bệnh lọc máu chu kỳ hàng tháng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

3.1.2 Thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người lọc máu chu kỳ tại trung tâm Thận Lọc Máu Bệnh viện Đa khoa Thanh Hóa tháng 7 năm 2018

Tụt huyết áp là biến chứng cấp phổ biến nhất trong quá trình lọc máu, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng điều trị và tính mạng của bệnh nhân Người điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, phòng ngừa và điều trị biến chứng này Việc theo dõi chặt chẽ tình trạng huyết động của bệnh nhân trong suốt quá trình lọc là yếu tố quyết định cho sự thành công của điều trị.

Trong tháng 7/2018, Trung tâm Thận Lọc Máu Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hóa đã tiếp nhận 400 trường hợp lọc máu chu kỳ Tất cả bệnh nhân đều đến để thực hiện lọc máu định kỳ Để phát hiện tình trạng tụt huyết áp, điều dưỡng tiến hành kiểm tra huyết áp và cân nặng trước khi lọc máu, ghi nhận các dấu hiệu để báo cáo bác sĩ điều trị Sau đó, bệnh nhân được thực hiện các xét nghiệm cần thiết trước khi tiến hành lọc máu, nhằm hạn chế các rủi ro trong quá trình điều trị.

Trong quá trình lọc máu chu kỳ, điều dưỡng viên cần theo dõi sát sao tình trạng người bệnh, đặc biệt là các chỉ số sinh tồn Việc đo huyết áp (HA) được thực hiện vào giờ thứ nhất, thứ hai, thứ ba và tiếp tục kiểm tra sau khi kết thúc quá trình lọc Điều này giúp phát hiện kịp thời các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình điều trị.

Để phát hiện tụt huyết áp, điều dưỡng cần chú ý đến các dấu hiệu như chóng mặt, đau đầu nhẹ hoặc nôn Trong một số trường hợp, có thể quan sát thấy sự co rút của các cơ Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể không có dấu hiệu lâm sàng rõ rệt cho đến khi huyết áp giảm xuống dưới mức 90/60 Cần ghi lại kết quả đo huyết áp vào phiếu theo dõi (Phần phụ lục 1).

Trong trường hợp bệnh nhân bị tụt huyết áp hoặc có dấu hiệu tụt huyết áp, điều dưỡng cần nhanh chóng cho bệnh nhân nằm ở tư thế Trendelenburg, ngừng quá trình lọc và thông báo ngay cho bác sĩ điều trị để có biện pháp can thiệp kịp thời.

3.1.2.2 Thực trạng tụt huyết áp

Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 400 bệnh nhân lọc máu chu kỳ trong tháng 7, tất cả đều đồng ý tham gia, có khả năng giao tiếp và không gặp phải biến chứng nặng.

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới tính (n@0)

Biến số Số lượng Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh lọc máu chu kỳ ở độ tuổi 25-64 chiếm 68,5%, người bệnh là nữ giới nhiều hơn nam giới chiếm 55,6%

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn, dân tộc

Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)

Trung học/cao đẳng, đại học 67 16,7

Tỷ lệ bệnh nhân lọc máu chu kỳ có trình độ học vấn cấp 1 chiếm 33,3%, trong khi đó, những người có trình độ trung học trở lên chỉ chiếm 16,7% Đặc biệt, 77,8% trong số đó là người dân tộc Kinh.

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh (n@0)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)

Có 33,3% người bệnh là nông dân, đối tượng là hưu trí chiếm 8,4% Thời gian lọc máu từ 1-5 năm chiếm 50,6%, đối tượng lọc máu dưới 1 năm chiếm 9,8%

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo mức độ thiếu máu, nồng độ albumin máu (n@0)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)

Thiếu máu nặng (70g/l ≤ Hemoglobin < 80 g/l) 49 12,3 Không thiếu máu (≥110g/l) 72 18,0 Nồng độ Albumin máu

Có 82% người bệnh lọc máu chu kỳ bị thiếu máu, 55,5% người bệnh có nồng độ albumin< 40 g/l

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo BMI, IDWG tăng cân giữa hai kỳ lọc máu (N@0)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)

Khoảng 8,7% bệnh nhân có chỉ số BMI cao hơn 25, trong khi tỷ lệ bệnh nhân tăng cân hơn 5% giữa hai chu kỳ lọc máu đạt 24,8%.

Bảng 3.6 Phân loại huyết áp trước lọc (N@0)

HA trước lọc Số lượng Tỷ lệ (%)

Trước khi lọc máu không có người bệnh nào tụt huyết áp Tỷ lệ người bệnh có huyết áp bình thường chiếm 78,9%

Bảng 3.7 Phân loại huyết áp trong lọc (N@0)

HA trong lọc Số lượng Tỷ lệ (%)

Trong quá trình lọc máu có 100 người bệnh tụt huyết áp chiếm 25%, có 47,2% người bệnh có huyết áp bình thường

Bảng 3.8 Phân loại huyết áp sau lọc (N@0)

HA sau lọc Số lượng Tỷ lệ (%)

Sau lọc máu có 22 người bệnh tụt huyết áp chiếm 5,6%, có 58,3% có huyết áp bình thường

Bảng 3.9 Thời điểm tụt huyết áp (N2)

Thời điểm tụt huyết áp Số lượng Tỷ lệ (%)

Tổng 122 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Thời điểm hay xảy ra tụt huyết áp xảy ra ở tất cả các giờ, nhiều nhất là giờ thứ

4 chiếm 45,9%; thấp nhât là giờ đầu tiên chỉ có 8,2%

Bảng 3.10 Triệu chứng lâm sàng đi kèm khi tụt huyết áp (N2)

Triệu chứng đi kèm Số lượng (SL) Tỷ lệ (%)

Da ẩm, lạnh, vã mồ hôi 56 45,5

Triệu chứng lâm sàng đi kèm với tụt huyết áp hay gặp da lạnh, vã mồ hôi chiếm 45,5%, tiếp đến là biểu hiện hoa mắt chóng mặt chiếm 27,3%

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa đặc điểm (tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp) với biến chứng tụt huyết áp

Học vấn Cấp 3 trở lên 64(38,3) 103 (61,7)

Công nhân,công chức, hưu trí 68 (32,1) 144 (67,9)

Kết quả phân tích cho thấy, các đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính và dân tộc không có mối liên quan đến biến chứng tụt huyết áp trong quá trình lọc máu chu kỳ, với giá trị p > 0,05.

Bảng 3.12 trình bày mối liên quan giữa chỉ số BMI, IDWG, Hb và nồng độ Albumin với biến chứng tụt huyết áp Thông tin này có thể được tìm thấy trong luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất.

Kết quả phân tích cho thấy rằng chỉ số BMI, IDWG, mức độ thiếu máu và nồng độ Albumin máu có mối liên hệ đáng kể với biến chứng tụt huyết áp trong quá trình lọc máu chu kỳ, với giá trị p < 0,05.

Một số ưu điểm và tồn tại về hoạt động dự phòng biến chứng tụt huyết áp cho người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm

3.2.1 Một số ưu điểm và nguyên nhân 3.2.1.1 Ưu điểm

Cán bộ trung tâm Thận Lọc Máu làm việc với tinh thần trách nhiệm cao

Tổ chức giao ban hàng ngày và hàng tháng giữa cán bộ trong khoa giúp theo dõi diễn biến của người bệnh, từ đó phát hiện kịp thời những bất thường Đây cũng là cơ hội để cán bộ học hỏi kinh nghiệm trong điều trị và chăm sóc người bệnh Người bệnh được thăm khám trước, trong và sau quá trình lọc máu, giúp phát hiện sớm biến chứng tụt huyết áp Mỗi bệnh nhân đều có một bệnh án riêng, trong đó các thông tin về thăm khám và chăm sóc được ghi nhận đầy đủ.

Người bệnh cần thực hiện các xét nghiệm đầy đủ trước khi đến chu kỳ lọc máu Đặc biệt, có đến 90,2% người bệnh đã trải qua quá trình lọc máu định kỳ từ một năm trở lên.

Có đầy đủ phương tiện cấp cứu và xử trí khi có biến chứng tụt huyết áp

Có sự quan tâm của Ban giám đốc bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Cán bộ y tế đã thực hiện đúng theo hướng dẫn điều trị chăm sóc đối với người bệnh lọc máu chu kỳ

3.2.2 Một số nhược điểm và nguyên nhân 3.2.2.1 Nhược điểm

Số lượng cán bộ y tế trong khoa còn hạn chế và phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau Công tác tư vấn giáo dục sức khỏe nhằm phòng ngừa biến chứng tụt huyết áp chưa được chú trọng đúng mức, và hiện tại chưa có phòng tư vấn giáo dục sức khỏe cũng như chuyên viên giáo dục sức khỏe dành cho bệnh nhân.

Người bệnh lọc máu chu kỳ có trình độ từ cấp 2 trở xuống chiếm 58,3%

Người bệnh tự theo dõi cân nặng trước và sau lọc máu

Người bệnh không được thường xuyên giám sát về chế độ dinh dưỡng

Tại khoa, chưa có nghiên cứu nào về biến chứng tụt huyết áp trong quá trình lọc máu chu kỳ Cần đề xuất giải pháp để hạn chế biến chứng này nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

Bác sĩ khám và điều trị bệnh nhân, trong khi điều dưỡng tiếp đón và thực hiện y lệnh chăm sóc Họ cũng tư vấn về chế độ dinh dưỡng, giáo dục sức khỏe và ghi chép sổ sách, bệnh án.

Số lượng người bệnh thường xuyên đông do vậy cường độ làm việc của điều dưỡng rất căng thẳng

Thủ tục hành chính phức tạp khiến cán bộ y tế không có đủ thời gian để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ tư vấn thay đổi lối sống nhằm hạn chế biến chứng tụt huyết áp Việc tư vấn chế độ ăn hạn chế muối dưới 6g/ngày và hạn chế ăn trước và trong quá trình lọc máu là rất cần thiết Đồng thời, giáo dục bệnh nhân về chế độ ăn để kiểm soát cân nặng giữa hai kỳ lọc cũng vô cùng quan trọng, với quy định không được phép tăng quá 1 kg/ngày.

Cán bộ y tế chú trọng tới công tác điều trị chăm sóc hơn là công tác phòng bệnh

Người bệnh lọc máu chu kỳ chủ yếu được điều trị ngoại trú, do vậy khó khăn trong việc giám sát về dinh dưỡng tại nhà

Chưa khuyến khích xứng đáng đối với cán bộ làm đề tài luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Đề xuất một số giải pháp

Đối với bệnh viện và nhân viên y tế

Tiếp tục thực hiện khám sàng lọc để phát hiện người bệnh có nguy cơ tụt huyết áp, bao gồm những người có chỉ số BMI < 18,5, tăng cân > 5% giữa hai chu kỳ lọc, thiếu máu, và nồng độ albumin máu < 40g/l Cần giám sát chính xác cân nặng trước và sau khi lọc máu, cũng như trọng lượng khô của người bệnh Điều dưỡng phải theo dõi tình trạng toàn thân và dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là huyết áp, 30 phút/lần đối với những bệnh nhân có nguy cơ Trong suốt quá trình lọc máu, điều dưỡng cần chủ động theo dõi tình trạng lâm sàng và huyết áp, đặc biệt là trong giờ thứ ba để phát hiện sớm tụt huyết áp và xử trí kịp thời Hợp tác với bác sĩ để điều trị hiệu quả tình trạng thiếu máu và suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lọc máu là rất quan trọng.

Nghiên cứu giảm bớt thủ tục hành chính để điều dưỡng có thời gian tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh

Điều dưỡng có kinh nghiệm cung cấp tư vấn giáo dục dinh dưỡng, đặc biệt về khẩu phần ăn nhằm hạn chế tăng cân giữa hai chu kỳ lọc máu, với chế độ ăn kiêng muối không vượt quá 6g/ngày Đồng thời, cần thành lập phòng tư vấn giáo dục sức khỏe để hoạt động hiệu quả.

Mỗi tuần, tổ chức thảo luận và họp hội đồng cho những bệnh nhân lọc máu chu kỳ có nguy cơ tụt huyết áp Đối với những bệnh nhân có nguy cơ thấp hơn, các cuộc họp sẽ diễn ra 2 tuần một lần.

Phối hợp với gia đình trong việc giám sát tuân thủ điều trị và chăm sóc tại nhà là rất quan trọng Điều này giúp đảm bảo bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ cần thiết và duy trì sức khỏe tốt.

Khoa dinh dưỡng đã phát tài liệu hướng dẫn chế độ ăn uống cho người bệnh suy dinh dưỡng, người bệnh thiếu máu và người có nồng độ albumin máu thấp Tài liệu này cung cấp thông tin chi tiết về các loại thực phẩm cần thiết để cải thiện tình trạng sức khỏe của những bệnh nhân này, nhằm đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng và hỗ trợ quá trình hồi phục.

Trung tâm cần trang bị cân đo trọng lượng loại tốt phục vụ cho người bệnh theo dõi cân nặng được chính xác.

Đối với người bệnh

Hợp tác với điều dưỡng là rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe Người bệnh cần tuân thủ điều trị và chăm sóc từ cán bộ y tế để đạt hiệu quả tốt nhất Thay đổi lối sống và thói quen có thể ảnh hưởng tích cực đến tình trạng bệnh, như hạn chế ăn nhiều muối và nước, cũng như kiểm soát cân nặng bằng cách tuân thủ chế độ ăn dành cho người lọc máu chu kỳ Ngoài ra, việc tuân thủ thời gian hẹn tái khám định kỳ và lọc máu chu kỳ cũng rất cần thiết để duy trì sức khỏe.

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ y tế (2015), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thận – tiết niệu, tr. 160-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thận – tiết niệu
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2015
2. Bộ y tế (2018), Tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật thạn nhân tạo, tr. 98 - 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật thạn nhân tạo
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2018
3. Nguyễn Thị Thu Hải (2007), Biến chứng tụt huyết áp trong buổi lọc máu – các biện pháp dự phòng và điều trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chứng tụt huyết áp trong buổi lọc máu – các biện pháp dự phòng và điều trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hải
Năm: 2007
4. Nguyễn Ngọc Văn Khoa (2015), Nghiên cứu kháng insulin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ, Đề tài cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kháng insulin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Văn Khoa
Nhà XB: Đề tài cơ sở
Năm: 2015
5. Lương Trác Nhàn, Lê Văn Luân, Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Đánh giá hiệu quả lọc máu chu kỳ tại khoa thận nhân tạo bệnh viện QY 121, Đề tài cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả lọc máu chu kỳ tại khoa thận nhân tạo bệnh viện QY 121
Tác giả: Lương Trác Nhàn, Lê Văn Luân, Nguyễn Thị Thu Trang
Năm: 2015
6. Trần Hữu Nhựt và Trần Công Lộc (2014), Đánh giá biến chứng tụt huyết áp trong lọc máu chu kỳ ở người bệnh suy thận mạn, Tài liệu hội nghị khoa học quốc tế điều dưỡng, tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá biến chứng tụt huyết áp trong lọc máu chu kỳ ở người bệnh suy thận mạn
Tác giả: Trần Hữu Nhựt, Trần Công Lộc
Nhà XB: Tài liệu hội nghị khoa học quốc tế điều dưỡng
Năm: 2014
7. Đỗ Lan Phương (2015), Biến chứng tụt huyết áp trong buổi lọc máu chu kỳ ở bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối tại khoa thận nhân tạo- bệnh viện Bạch Mai, Đề tài tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chứng tụt huyết áp trong buổi lọc máu chu kỳ ở bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối tại khoa thận nhân tạo- bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Đỗ Lan Phương
Năm: 2015
8. Võ Tam (2003), “Nghiên cứu đặc điểm về phát hiện và theo dõi suy thận mạn ở một số xã đầm phá ven biển Thừa thiên Huế”, Y học thực hành, Bộ Y tế, 466, tr. 63-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm về phát hiện và theo dõi suy thận mạn ở một số xã đầm phá ven biển Thừa thiên Huế
Tác giả: Võ Tam
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2003
9. Nguyễn Minh Tuấn và Dương Toàn Trung (2014), Cập nhật dự phòng và điều trị tình trạng huyết động không ổn định ở bệnh nhân lọc máu, Hội nghị thường niên lần thứ X hội tiết niệu – Thận học TP HCM, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật dự phòng và điều trị tình trạng huyết động không ổn định ở bệnh nhân lọc máu
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn, Dương Toàn Trung
Nhà XB: Hội nghị thường niên lần thứ X hội tiết niệu – Thận học TP HCM
Năm: 2014
10. Đỗ Văn Tùng (2010), “Nghiên cứu biến chứng tụt huyết áp trong lọc máu chu kỳ ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên”, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Thái Nguyên.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến chứng tụt huyết áp trong lọc máu chu kỳ ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Đỗ Văn Tùng
Nhà XB: Trường Đại học Thái Nguyên
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Sơ đồ sinh lý bệnh và các yếu tố liên quan đến biến chứng tụt HA - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Hình 1.2. Sơ đồ sinh lý bệnh và các yếu tố liên quan đến biến chứng tụt HA (Trang 16)
Hình 3.1. Chuẩn bị giường bệnh trước giờ lọc máu chu kỳ - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Hình 3.1. Chuẩn bị giường bệnh trước giờ lọc máu chu kỳ (Trang 21)
Hình 3.3. Theo dõi người bệnh lọc máu chu kỳ - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Hình 3.3. Theo dõi người bệnh lọc máu chu kỳ (Trang 22)
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn, dân tộc - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn, dân tộc (Trang 23)
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới tính (n=400) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới tính (n=400) (Trang 23)
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo mức độ thiếu máu, nồng độ - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo mức độ thiếu máu, nồng độ (Trang 24)
Bảng 3.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo BMI, IDWG tăng cân giữa hai - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo BMI, IDWG tăng cân giữa hai (Trang 24)
Bảng 3.3. Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh (n=400) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.3. Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh (n=400) (Trang 24)
Bảng 3.6. Phân loại huyết áp trước lọc (N=400) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.6. Phân loại huyết áp trước lọc (N=400) (Trang 25)
Bảng 3.8. Phân loại huyết áp sau lọc (N=400) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.8. Phân loại huyết áp sau lọc (N=400) (Trang 25)
Bảng 3.9. Thời điểm tụt huyết áp (N=122) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.9. Thời điểm tụt huyết áp (N=122) (Trang 25)
Bảng 3.7. Phân loại huyết áp trong lọc (N=400) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.7. Phân loại huyết áp trong lọc (N=400) (Trang 25)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa chỉ số BMI, IDWG, Hb, nồng độ Albumin với - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa chỉ số BMI, IDWG, Hb, nồng độ Albumin với (Trang 26)
Bảng 3.10. Triệu chứng lâm sàng đi kèm khi tụt huyết áp (N=122) - (Luận văn) thực trạng biến chứng tụt huyết áp ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại trung tâm thận lọc máu bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa
Bảng 3.10. Triệu chứng lâm sàng đi kèm khi tụt huyết áp (N=122) (Trang 26)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w