BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN TRANG LINH THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO TẠI KHOA NỘI THẦN KINH BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NAM
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Định nghĩa
Đột quỵ não, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, là tình trạng rối loạn nặng chức năng thần kinh, bao gồm hôn mê, liệt nửa người và nuốt sặc, xảy ra đột ngột và kéo dài quá 24 giờ Bệnh có thể liên quan đến thời tiết, thường xuất hiện quanh năm nhưng tập trung vào các tháng 6, 10, 11, 2 và 3, đặc biệt trong những dịp chuyển mùa Đột quỵ não thường xảy ra nhiều vào ban ngày, chiếm khoảng 73,5%.
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là tình trạng đột ngột xảy ra do mạch máu não bị vỡ hoặc tắc, dẫn đến các triệu chứng thần kinh khu trú Đột quỵ não, hay TBMMN, gây ra rối loạn chức năng não nhanh chóng, thường do sự tắc nghẽn hoặc vỡ của mạch máu nuôi dưỡng một vùng não, làm tổn thương khu vực đó và ảnh hưởng đến hoạt động của các phần cơ thể tương ứng.
Phân loại
Một cơn nhồi máu não có thể xảy ra theo hai cách:
Đột quỵ do nghẽn mạch xảy ra khi cục máu đông hình thành trong cơ thể, thường là ở tim, và di chuyển đến não qua dòng máu Khi cục máu đông đến mạch máu nhỏ hơn trong não, nó sẽ mắc kẹt, ngăn cản dòng máu lưu thông.
Đột quỵ do máu đông tại chỗ xảy ra khi máu chảy qua động mạch, để lại mảng cholesterol bám vào thành động mạch Theo thời gian, những mảng bám này có thể phát triển, làm hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch, ngăn cản dòng máu đến não Đột quỵ này thường ảnh hưởng đến các động mạch lớn ở cổ, dẫn đến tình trạng nguy hiểm cho sức khỏe.
2.2.Xuất huyết não: Là sự vỡ mạch tại thành mạch trong não
Đột quỵ chảy máu xảy ra khi máu rò rỉ vào não, dẫn đến việc không cung cấp đủ ô-xy và chất dinh dưỡng cho các tế bào Nguyên nhân có thể do nhiều rối loạn ảnh hưởng đến mạch máu, trong đó có tình trạng cao huyết áp kéo dài và chứng phình động mạch não.
Phình động mạch là những điểm yếu hoặc mỏng trên thành mạch máu, thường xuất hiện từ khi sinh ra Những điểm yếu này có thể phát triển trong nhiều năm mà không gây ra triệu chứng rõ ràng, cho đến khi chúng vỡ ra.
Dị dạng thông động tĩnh mạch (AVM) là một khối lộn xộn của các mạch máu, bao gồm động mạch và tĩnh mạch, có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong cơ thể, bao gồm cả não AVM thường tồn tại từ khi sinh ra và có thể phát triển theo thời gian khi các mạch máu trở nên to hơn và yếu đi Nếu dị dạng này xảy ra trong não và các thành mạch máu bị vỡ, người bệnh có thể gặp phải tình trạng chảy máu não.
Nguyên nhân
Cơn đột quỵ xảy ra khi việc cung cấp máu đến não bị gián đoạn, do động mạch bị tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc bị vỡ (chảy máu não) Máu mang ô-xy và các chất dinh dưỡng thiết yếu cho tế bào não; khi không nhận đủ, các tế bào này sẽ chết, dẫn đến tổn thương não, được gọi là ổ nhồi máu não.
Hình 1: Các động mạch của não
Sau khi khởi phát đột quỵ, các tế bào não thường chết nhanh chóng, nhưng một số có thể tồn tại thêm vài giờ nếu nguồn cung cấp máu không bị ngắt hoàn toàn Nếu máu được cung cấp trở lại trong vài phút hoặc vài giờ, một số tế bào có thể phục hồi; ngược lại, chúng sẽ chết.
Hình 2: Hai thể đột quỵ não luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Biểu hiện
Hình 3: Các biểu hiện đột quỵ não
4.2 Các triệu chứng thần kinh khu trú
- Các triệu chứng vận động
* Liệt hoặc biểu hiện vụng về nửa người hoặc một phần cơ thể
* Nuốt khó (cần có thêm triệu chứng khác kết hợp)
* Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói Khó khăn khi đọc, viết
* Khó khăn trong tính toán Nói khó (cần có thêm triệu chứng khác kết hợp)
- Các triệu chứng cảm giác, giác quan:
* Cảm giác thân thể (rối loạn cảm giác từng phần hoặc toàn bộ nửa người)
* Thị giác (mất thị lực một hoặc cả hai bên mắt, bán manh nhìn đôi kết hợp với triệu chứng khác)
- Các triệu chứng tiền đình: Cảm giác chóng mặt quay cuồng, nôn hoặc buồn nôn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Các triệu chứng liên quan đến tư thế hoặc nhận thức bao gồm khó khăn trong việc mặc quần áo, chải tóc và đánh răng Ngoài ra, người bệnh còn gặp rối loạn định hướng không gian và khó khăn trong việc mô phỏng lại các hoạt động hàng ngày.
- Các triệu chứng thần kinh khác: Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn tâm thần, hội chứng màng não
4.3 Các dấu hiệu cận lâm sàng Các xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị trong chuẩn đoán như chụp cộng hưởng từ, chụp CT cắt lớp vi tính, chụp động mạch não, các phương pháp chẩn đoán đồng vị phóng xạ, siêu âm Doppler, xét nghiệm dịch não tủy…
Hình 4: Hình ảnh CT của người bệnh đột quỵ não
4.4 Các biểu hiện kết hợp khác
- Bệnh xảy ra ở tuổi trên 50 trở lên
- Người bệnh có biểu hiện xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, có bệnh tim mạch
- Tắm lạnh, căng thẳng tâm lý, hoặc thể xác, sau uống bia-rượu.
Điều trị
Trong giai đoạn cấp (Hồi sức toàn diện), bệnh nhân cần được điều trị để duy trì các chức năng sống cơ bản như hô hấp và tuần hoàn.
Điều trị đột quỵ cần được thực hiện theo nguyên nhân và loại đột quỵ Đối với đột quỵ do tắc mạch mà không có nguy cơ xuất huyết, thuốc tiêu huyết khối là phương pháp điều trị hiệu quả Trong trường hợp xuất huyết não, phẫu thuật lấy máu tụ có thể được chỉ định.
Giai đoạn ổn định trong điều trị chăm sóc tập trung vào việc phục hồi các chức năng quan trọng như vận động và ngôn ngữ.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới và Việt Nam
1.1 Trên thế giới: Đột quỵ não hay tai biến mạch máu não (TBMMN) là một bệnh thường gặp, theo Tổ chức điều trị dự phòng TBMMN châu âu số người mắc TBMMN lần đầu tiên giao động trong phạm vi từ 141-219/100.000 dân [20]
Theo hiệp hội tim mạch hoa kỳ ước tính mỗi năm có khoảng 500.000 người
Mỹ ghi nhận khoảng 150.000 trường hợp tử vong do tai biến mạch não (TBMMN), chiếm 10% tổng số ca tử vong do mọi nguyên nhân Chi phí phục hồi chức năng sau tai biến tại Hoa Kỳ ước tính lên tới 40 tỷ đô la.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (Murray, 2008), hàng năm có khoảng 2,1 triệu người tử vong vì bệnh tật liên quan đến lao phổi tại châu Á, trong đó Trung Quốc chiếm 1,3 triệu ca và Ấn Độ có 448.000 ca.
Theo báo cáo của Trung tâm Đột quỵ và nghiên cứu lâm sàng Hàn Quốc, hàng năm có khoảng 105.000 người mắc đột quỵ lần đầu hoặc tái diễn, trong đó hơn 26.000 người tử vong Điều này có nghĩa là cứ 5 phút lại có một người bị đột quỵ và cứ 20 phút lại có một người chết do căn bệnh này Trong số 10 người bệnh tử vong, có một người chết vì đột quỵ Hiện nay, ước tính có khoảng 795.000 người trên 30 tuổi mắc đột quỵ não, với chi phí chăm sóc lên tới khoảng 3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm tại Hàn Quốc.
Năm 2009, tại Hàn Quốc, đột quỵ nhồi máu não chiếm 76% tổng số ca đột quỵ Trong vòng 90 ngày theo dõi sau khi đột quỵ, tỷ lệ tử vong do nhồi máu não chỉ từ 3-7%, trong khi tỷ lệ tử vong do xuất huyết não lên tới 17%.
Theo dữ liệu từ Medicare, đối với bệnh nhân đột quỵ não trên 65 tuổi, tỷ lệ tử vong trong năm đầu tiên sau khi ra viện là 26,4%, trong khi tỷ lệ tử vong sau 5 năm đạt 60%.
Tỉ lệ giới tính trong điều tra tỷ lệ hiện mắc đột quỵ não ở Bắc Kinh là 1,28 nam/1 nữ, ở Thượng Hải là 1,1 nam/1 nữ, tại Liễu Châu là 1,39 nam/1 nữ, và ở Hải Nam là 1 nam/1,27 nữ Ở Châu Âu, đột quỵ đứng thứ hai trong số các nguyên nhân gây sa sút trí tuệ, là nguyên nhân hàng đầu gây động kinh ở người cao tuổi, và cũng là nguyên nhân phổ biến gây trầm cảm.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2015), đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại Việt Nam, chiếm 21,7% tổng số ca tử vong, với khoảng 150.000 trường hợp tử vong mỗi năm (Health Grove, 2013).
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc trung bình hàng năm của tai biến mạch máu não là 416/100.000 dân, tỷ lệ mắc là 152/100.000 dân [10]
Tại Bệnh viện Hữu nghị, từ năm 1991 đến 1995, Hoàng Đức Kiệt đã phát hiện 467 trường hợp nhồi máu não và 649 trường hợp chảy máu não thông qua chụp cắt lớp vi tính.
Năm 1991, Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận điều trị
120 người bệnh bị tai biến mạch máu não [11]
Nghiên cứu của Đàm Duy Thiên (1999) về đặc điểm dịch tễ học đột quỵ não tại quận Thanh Xuân, Hà Nội trong giai đoạn 1994 - 1999 cho thấy tỉ lệ hiện mắc là 82,18/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 22,78/100.000 dân, và tỉ lệ tử vong trung bình hàng năm là 9,28/100.000 dân Đột quỵ não có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, với 86,52% trường hợp thuộc nhóm tuổi trên 50, và nam giới mắc nhiều hơn nữ giới với tỷ lệ 1,5 lần Các yếu tố nguy cơ phổ biến bao gồm tăng huyết áp (51,2%) và vữa xơ động mạch (33,81%) Đột quỵ não xảy ra quanh năm, nhưng thường gặp hơn vào những tháng có sự thay đổi thời tiết và lạnh.
Năm 2007 - 2008, Trinh Viết Thắng đã nghiên cứu dịch tễ học đột quỵ não tại tỉnh Khánh Hòa, cho thấy tỉ lệ hiện mắc là 294,7/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc là 96/210.000 dân, và tỉ lệ tử vong là 43,8/100.000 dân, với tỉ lệ tử vong trên mắc là 11,2% Các yếu tố nguy cơ cao bao gồm tăng huyết áp (80,5%), rối loạn lipid máu (32,8%), đái tháo đường (32,8%), hẹp động mạch cảnh (33,3%), nghiện rượu (23,4%), và nghiện thuốc lá (29,9%) Ngoài ra, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua chiếm 14,3%, trong khi một số bệnh tim mạch gây đột quỵ não là 10,7%.
Tác giả Lê Văn Thính đã tiến hành nghiên cứu trên 1.036 bệnh nhân tai biến mạch máu não trong khoảng thời gian mười năm (1981 – 1990) và phát hiện rằng tỷ lệ nhồi máu não chiếm 76%.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc bệnh là 98,44 trên 100.000 dân, trong khi tỷ lệ mới mắc là 36 trên 100.000 dân Tỷ lệ tử vong do bệnh này là 27 trên 100.000 dân, và tỷ lệ tai biến mạch máu não ở nam giới so với nữ giới là 1,48/1.
Từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2000, Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận khoảng 1.220 bệnh nhân tai biến mạch máu não, với độ tuổi từ 11 đến 89, trong đó 67% là người từ 45 đến 74 tuổi Ước tính chỉ có khoảng 25-30% bệnh nhân sống sót sau đột quỵ có khả năng tự phục vụ bản thân, trong khi 20-25% gặp khó khăn trong việc di chuyển và cần sự hỗ trợ, và 15-25% hoàn toàn phụ thuộc vào người khác.
Tỷ lệ di chứng nhẹ và vừa sau tai biến mạch máu não là 68,42%, trong khi tỷ lệ di chứng nặng đạt 27,69% Đặc biệt, di chứng về vận động chiếm đến 92,96% trong số bệnh nhân bị liệt nửa người Hơn nữa, có tới 94% người sống sót sau tai biến mạch máu não trong cộng đồng cần phục hồi chức năng.
Quy trình chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não
Bệnh nhân đột quỵ não có thể trải qua diễn biến kéo dài và nặng dần tùy thuộc vào nguyên nhân và mức độ tổn thương Nếu không được điều trị và chăm sóc toàn diện, nhiều biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng Chăm sóc ở giai đoạn sớm rất quan trọng, giúp phòng ngừa và giảm thiểu các biến chứng trong cả thời kỳ cấp tính và lâu dài.
Nhận định người bệnh dựa vào các kỹ năng giao tiếp, hỏi bệnh, khám lâm sàng (nhìn, sờ, gõ, nghe)
- Các thông tin chung: họ và tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, ngày giờ vào viện
- Khai thác tìm nguyên nhân, yếu tố nguy cơ
- Toàn trạng: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Tri giác (điểm Glasgow): bình thường 15 điểm (mắt 4 điểm, lời nói 5 điểm, vận động 6 điểm)
- Dấu hiệu sinh tồn (mạch, nhiệt độ, huyết áp) 30 phút/lần, 1h/lần, 3h/lần, 2 lần/ ngày… tùy thuộc vào tình trạng của người bệnh
- Tình trạng loét ép do nằm lâu
- Các biến chứng, tác dụng phụ của thuốc, các dấu hiệu bất thường có thể xảy ra
- Cải thiện tình trạng tưới máu não, đảm bảo tư thế phù hợp cho người bệnh
Những người đã trải qua đột quỵ não lần đầu có nguy cơ cao gấp đôi bị đột quỵ não lần hai Do đó, việc chăm sóc và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tái đột quỵ là rất cần thiết.
- Thuốc: Thuốc tiêm, thuốc uống, thời gian dùng thuốc, đường dùng,…
- Thực hiện các thủ thuật: Đặt sonde dạ dày, sonde tiểu,…
- Các xét nghiệm: sinh hoá, huyết học, vi sinh, chọc dò tủy sống, điện tim, điện não,…
2.2 Chăm sóc về vận động Vận động phục hồi chức năng cần được tiến hành sớm ngay khi tình trạng người bệnh cho phép: ý thức tỉnh, hô hấp bình thường, huyết áp ổn định Phục hồi về vận động trong chăm sóc người bệnh sau tai biến mạch máu não phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của di chứng sau cấp cứu Trên thực tế, di chứng gặp phải nhiều nhất sau tai biến mạch máu não là tình trạng yếu liệt nửa người
Để hỗ trợ người bệnh liệt nửa người, mỗi ngày nên dành 30 phút cho các bài tập vận động nhằm ngăn ngừa cứng khớp Các động tác cần thực hiện bao gồm thay đổi tư thế nằm, gập khớp gối, nâng khớp đùi, gập khuỷu tay, và xoay cổ chân, cổ tay Quan trọng là thực hiện đúng kỹ thuật; người nhà nên quan sát bác sĩ hoặc y tá trước khi tự thực hiện tại nhà để chăm sóc hiệu quả hơn Việc này giúp tránh teo cơ, cứng khớp, và các biến chứng nghiêm trọng như viêm loét hay hoại tử da.
Trong trường hợp người bệnh vẫn có khả năng di chuyển, nên xem xét việc cho họ tự vận động tại nhà hoặc tham gia vật lý trị liệu hồi sức Nếu quyết định tập luyện tại nhà, người bệnh cần dành 30 phút mỗi ngày cho các bài tập nhẹ như đi lại trong nhà, có người thân hỗ trợ bên cạnh Sau khi đi bộ, việc xoa bóp tay chân là cần thiết để tránh cứng khớp và chuột rút, đồng thời giúp cải thiện lưu thông máu.
2.3 Chăm sóc, đề phòng các biến chứng về hô hấp Ở những người bệnh sau tai biến mạch máu não bị liệt thường có những bệnh lý về đường hô hấp do nằm lâu và ít vận động như viêm phổi, tắc nghẽn đường thở do ứ đọng đờm dãi Nên cho người bệnh ngồi dậy, vỗ rung vùng lưng hằng ngày để người bệnh dễ khạc được đờm dãi Ngoài ra vệ sinh đường hô hấp đều đặn và đúng cách cũng hạn chế các biến chứng về đường hô hấp của người bệnh một cách hiệu quả
Trước mỗi lần hút đờm dãi cần thực hiện vỗ rung lồng ngực cho người bệnh Thực hiện hút đúng theo kỹ thuật
Vỗ rung vùng ngực, lưng sẽ giúp người bệnh long đờm, tăng tuần hoàn ngoại biên
2.4 Chăm sóc về tiết niệu, bài tiết
Trong giai đoạn đầu khi người bệnh gặp rối loạn cơ tròn đái ỉa không tự chủ, việc chăm sóc để phòng ngừa nhiễm trùng tiết niệu là rất quan trọng Nếu người bệnh có đặt sonde tiểu, cần tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn, đảm bảo túi đựng nước tiểu kín và đặt túi nước tiểu thấp hơn giường nằm Cần kiểm tra thường xuyên để đảm bảo sonde không bị tắc hoặc tuột Đối với trường hợp lưu sonde, nên kẹp sonde 4 giờ và tháo kẹp 1 lần để tránh hội chứng bàng quang bé và mất phản xạ đi tiểu tiện sau này.
- Đổ túi đựng nước tiểu và rửa sạch hàng ngày để tránh tình trạng nhiễm khuẩn ngược dòng
- Theo dõi lượng nước tiểu từng giờ hoặc 24h (Theo y lệnh)
- Người bệnh đóng bỉm : Chú ý thay bỉm và vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần người bệnh đại tiểu tiện, ít nhất thay bỉm và vệ sinh 3 lần/ngày
Nếu tiêu chảy, báo bác sỹ, bù đủ nước, ăn đủ dinh dưỡng, vệ sinh sạch sẽ sau tiêu chảy…
Để chăm sóc người bị táo bón, cần thực hiện các biện pháp như xoa bụng và uống nhiều nước Nếu các biện pháp này không hiệu quả, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về việc sử dụng thuốc thụt tháo Khi tình trạng của bệnh nhân cho phép, nên tạo phản xạ đại tiểu tiện bằng cách cho bệnh nhân ngồi bô tiểu tiện 3-4 giờ một lần và ngồi bô đại tiện vào một giờ cụ thể mỗi ngày.
Khuyến khích người bệnh bị táo bón tiêu thụ thực phẩm có tác dụng nhuận tràng và uống đủ nước để tạo cảm giác đầy ở trực tràng và bàng quang.
Hàng ngày, việc xoa dọc khung đại tràng cho bệnh nhân là rất quan trọng, đồng thời hướng dẫn họ thực hiện bài tập co thắt bàng quang và trực tràng nhiều lần trong ngày nếu tình trạng sức khỏe cho phép.
2.5 Chăm sóc về giao tiếp Với người bệnh có rối loạn phát âm như thất ngôn hoặc không phát âm được trước hết cần thay đổi cách thông tin với người bệnh bằng các phương pháp thông tin không lời qua dùng hình ảnh, chữ viết, ra hiệu nếu không liệt
Giai đoạn tiếp theo trong quá trình điều trị là hướng dẫn người bệnh thực hiện các bài tập thở, lấy hơi, nuốt, tập cơ lưỡi, bật hơi và phát âm khi tình trạng sức khỏe cho phép.
2.6 Chăm sóc chế độ dinh dưỡng
- Mỗi người bệnh cần đảm bảo 2500-3500 kcalo/ngày chia thành 6-8 lần/ngày
- Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch nếu người bệnh có chướng bụng, liệt ruột theo y lệnh
Người bệnh ăn qua sonde nên chia thành nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa không quá 300ml và cách nhau từ 3 đến 4 giờ Cần bơm thức ăn từ từ để tránh nôn và sặc, đồng thời lựa chọn thức ăn dễ tiêu hóa và hấp thu nhiều chất dinh dưỡng Trước khi ăn, cần hút dịch dạ dày để kiểm tra tình trạng tiêu hóa của người bệnh Ngoài ra, nên tăng cường vitamin nhóm A, B, C bằng cách bơm nước hoa quả.
- Ăn nhạt nếu tăng huyết áp, suy tim, suy thận…
Để đảm bảo cơ thể được cung cấp đủ nước, lượng nước cần thiết được ước tính bằng tổng lượng nước tiểu của bệnh nhân trong 24 giờ cộng thêm từ 300 đến 500ml Trong trường hợp bệnh nhân bị sốt, ra nhiều mồ hôi hoặc thở máy, cần bổ sung thêm 500ml nước.
Nếu bệnh nhân có triệu chứng nhẹ và không gặp rối loạn chức năng nuốt, hãy khuyến khích họ ăn từ từ, từng ít một và cố gắng ăn hết khẩu phần Trong quá trình ăn, cần theo dõi cẩn thận và ngay lập tức thông báo cho bác sĩ nếu có dấu hiệu sặc.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán là đột quỵ não và đang được chăm sóc tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
- Người bệnh được chẩn đoán là đột quỵ não và đang được chăm sóc tại khoa
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ, rõ ràng 2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
2.5 Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang 2.6 Xác định cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu bao gồm 40 bệnh nhân được chẩn đoán mắc đột quỵ não, hiện đang được điều trị và chăm sóc tại khoa Nội thần kinh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.
2.7 Phương pháp điều tra số liệu
- Sử dụng phiếu khảo sát (Phụ lục 1) để đánh giá thực trạng chăm sóc người bệnh đột quỵ tại khoa
- Phỏng vấn trực tiếp và quan sát 40 đối tượng nghiên cứu tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập số liệu, các phiếu đánh giá và bảng kiểm được kiểm tra lại để đảm bảo tính đầy đủ của thông tin.
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS
- Tính tỉ lệ phần trăm (%) đơn thuần
Đề tài nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận từ trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, cùng với Khoa Nội thần kinh và các đối tượng nghiên cứu liên quan.
- Đối tượng nghiên cứu được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các thông tin thu thập được ghi nhận chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu được bảo đảm bí mật.
Thực trạng chăm sóc người bệnh đột quỵ não và đang được chăm sóc tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2019
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 40 bệnh nhân về kết quả chăm sóc người bệnh đột quỵ não tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định và thu được những kết quả đáng chú ý.
3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)
Cán bộ- công nhân viên chức
Trình độ học vấn Không biết chữ 1 2,5
Trung cấp, CĐ, ĐH, SĐH
Tình hình kinh tế gia đình
Tình hình kinh tế cá nhân
Người chăm sóc chính Bố /mẹ 0 0
Tổng 40 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nhận xét:- Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nam, nữ là 57,5% và 42,5%
Trong nghiên cứu với 40 bệnh nhân, độ tuổi cao nhất là 90 và thấp nhất là 54 Đặc biệt, nhóm bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên chiếm tới 75%, trong khi nhóm dưới 65 tuổi chỉ chiếm 25%.
Trong nghiên cứu này, trình độ học vấn của đối tượng được phân loại rõ ràng: chỉ có 2.5% (1 người) không biết chữ, 57.5% có trình độ phổ thông, trong khi 40% còn lại sở hữu trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học đến sau đại học.
Nhóm nghề nghiệp già và hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,5%, tiếp theo là nhóm nông nghiệp với 20% Nhóm cán bộ-công nhân viên chức chỉ chiếm 2,5%, trong khi nghề nghiệp tự do, bao gồm buôn bán và nội trợ, chiếm 5%.
Tình hình kinh tế của người bệnh cho thấy 7,5% thuộc hộ nghèo, trong khi 92,5% có kinh tế bình thường Đáng chú ý, 37,5% người bệnh không có thu nhập ổn định, trong khi 62,5% có thu nhập hàng tháng.
Trong việc chăm sóc người bệnh, 30% được vợ hoặc chồng đảm nhận, 65% do con cái chăm sóc, và chỉ 5% do họ hàng thực hiện.
Bảng 1.2: Một số đặc điểm lâm sàng
Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
Chảy máu não (xuất huyết não) 14 35
Có tiền sử đột quỵ 7 17,5
Tiền sử bệnh tật khác
Tiền sử gia đình đã có người bị đột quỵ não 3 7,5
Người bệnh có yếu liệt 34 85
Vị trí yếu liệt Không yếu liệt 6 15
Liệt yếu bên trái 13 32,5 Điểm Glasgow GCS ≤ 8 9 22,5
GCS ≥ 13 22 55 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nhận xét:- Loại đột quỵ phần lớn là nhồi máu não, chiếm 65% người bệnh, do xuất huyêt não chỉ chiếm 35%
- Có 35% đối tượng mới điều trị (dưới 5 ngày), 65% đối tượng đã điều trị được trên 5 ngày
Khoảng 17,5% bệnh nhân đã từng có tiền sử đột quỵ não, trong khi 7,5% bệnh nhân có người thân trong gia đình từng bị đột quỵ.
Tiền sử bệnh tật cho thấy bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ 100% ở người bệnh, trong khi bệnh hô hấp và tiêu hóa lần lượt chiếm 15% Bệnh tiết niệu có tỷ lệ 10%, bệnh tiểu đường là 22,5%, và bệnh thần kinh chỉ chiếm 2,5% Ngoài ra, 85% người bệnh gặp di chứng yếu liệt sau cơn đột quỵ não.
- Vị trí yếu liệt ở bên phải chiếm tỉ lệ cao nhất 32,5% tổng số đối tượng nghiên cứu, bên trái là 30%, yếu liệt cả 2 bên chiếm 22,5%
Thang điểm Glasgow cho thấy trong đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ đạt từ 13 điểm trở lên là 55%, trong khi tỷ lệ từ 9 đến 12 điểm là 22,5% và tỷ lệ dưới 9 điểm cũng là 22,5%.
3.2 Thực trạng về chăm sóc vận động
Bảng 1.3: Chăm sóc vận động
Tỷ lệ (%) Tình trạng vận động của người bệnh
Tự vận động được 10 25 Vận động được khi có sự giúp đỡ 11 27,5
Không vận động được 19 47,5 Được hướng dẫn các biện pháp vận động 40 40 Được hướng dẫn ông các bài tập vận động 40 100
Các đối tượng hỗ trợ người bệnh tập vận động
Thời gian tập vận động (giờ/ngày)
Từ 1 giờ trở lên 8 20 Được hướng dẫn vận động sớm 40 100
Sau khi được tập vận động người bệnh cảm thấy tình trạng vận động của cơ thể chuyển biến tốt
Trong số 40 bệnh nhân, có 25% có khả năng tự vận động, 27,5% có thể vận động với sự hỗ trợ của người khác, và 47,5% bệnh nhân mất khả năng vận động.
- Tại khoa qua khảo sát 100% người bệnh đã được hướng dẫn các biện pháp vận động
- 100% người bệnh được hướng dẫn các bài tập vận động
- 100% người bệnh đều được hướng dẫn vận động sớm
- Saukhi được tập vận động 100% người bệnh cảm thấy tình trạng vận động của cơ thể chuyển biến tốt
Đối tượng hỗ trợ tập vận động cho người bệnh chủ yếu là người nhà, chiếm 100% Trong khi đó, chỉ có 40% người bệnh tự tập luyện, và 62,5% được sinh viên hỗ trợ Điều dưỡng và kỹ thuật viên tại khoa PHCN chưa tham gia hỗ trợ tập luyện cho người bệnh.
3.3 Thực trạng về chăm sóc hô hấp
Bảng 1.4: Chăm sóc về hô hấp
Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
Có ứ đọng đờm dãi 31 77,5 Được hướng dẫn cách vệ sinh đường hô hấp 40 100
Có vệ sinh đường hô hấp đều đặn 33 82,5
Người hỗ trợ vệ sinh đường hô hấp
(tínhtrên 33 đối tượng vệ sinh đường hô hấp đều đặn)
Sinh viên thực tập 0 0 Được điều dưỡng viên hướng dẫn tư thế hỗ trợ và phòng tránh các biến chứng về đường hô hấp
40 100 Được vỗ rung lồng ngực trước khi hút đờm dãi
(tính trên đối tượng có chỉ định hút đờm dãi)
Sau mỗi lần vỗ rung lồng ngực và hút đờm dãi, người bệnh cảm thấy dễ thở và thoải mái hơn, đặc biệt là đối với những trường hợp được chỉ định hút đờm dãi.
Nhận xét:-Có 62,5% người bệnh sau đột quỵ não có khó thở 77,5% có ứ đọng đờm dãi
- Có 82,5% người bệnh được vệ sinh đường hô hấp đều đặn
Tất cả người bệnh đều được điều dưỡng viên tại khoa hướng dẫn cách vệ sinh đường hô hấp, tư thế hỗ trợ và biện pháp phòng tránh các biến chứng liên quan đến đường hô hấp.
Tất cả người bệnh có chỉ định hút đờm dãi đều được thực hiện vỗ rung lồng ngực trước thủ thuật, và 100% trong số họ cảm thấy dễ thở và thoải mái hơn sau mỗi lần vỗ rung và hút đờm Tuy nhiên, điều dưỡng viên và sinh viên thực tập tại khoa vẫn chưa hỗ trợ vệ sinh đường hô hấp cho người bệnh.
3.4 Thực trạng về chăm sóc tiết niệu, bài tiết
Bảng 1.5: Chăm sóc về tiết niệu bài tiết
Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%) Được hướng dẫn và thực hiện các biện pháp hỗ trợ để người bệnh đại tiểu tiện được
40 100 Đặt Sonde niệu đạo bàng quang 11 27,5 Được hướng dẫn cách phòng tránh teo bàng quang và nhiễm khuẩn ngược dòng
(tính trên đối tượng có đặt Sonde niệu đạo bàng quang)
Tất cả 100% người bệnh đều nhận được tư vấn và hỗ trợ thực hiện các biện pháp để đảm bảo khả năng đại tiểu tiện Trong số đó, có 11 người bệnh (27,5%) được đặt sonde niệu đạo bàng quang Mọi người bệnh có sonde niệu đạo bàng quang đều được hướng dẫn cách phòng tránh teo bàng quang và nhiễm khuẩn ngược dòng.
3.5 Thực trạng về chăm sóc giao tiếp
Bảng 1.6: Chăm sóc về giao tiếp
Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
Người bệnh có khó khăn về giao tiếp 35 87,5
Người bệnh được hướng dẫn các bài tập luyện phát âm, hỗ trợ giao tiếp
Ưu, nhược điểm
- Cơ sở vật vật chất của bệnh viện khang trang, sạch sẽ, phòng khám bệnh thoáng mát, yên tĩnh nhưng đủ kín đáo cho người bệnh
Lãnh đạo bệnh viện và khoa chú trọng đến việc tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, đặc biệt là đối với các bệnh mạn tính có nguy cơ biến chứng cao.
Bệnh viện sở hữu đội ngũ cán bộ và nhân viên y tế được đào tạo liên tục, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực nội thần kinh và chuyên ngành đột quỵ não.
Khoa Nội thần kinh tại tỉnh Nam Định có số lượng giường bệnh lớn trong đơn nguyên đột quỵ, đáp ứng tốt nhu cầu điều trị cho bệnh nhân đột quỵ não.
Khoa được trang bị đầy đủ và hiện đại các máy móc, phục vụ hiệu quả cho công tác cấp cứu, điều trị và chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não.
- Trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa phân công tiếp nhận người bệnh kịp thời
Điều dưỡng viên trong khoa đã chủ động thực hiện chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân đột quỵ não, nhằm phòng ngừa và giảm thiểu tối đa các di chứng có thể xảy ra sau cơn đột quỵ.
- Điều dưỡng đã thực hiện tốt công tác tư vấn, giáo dục, hướng dẫn người nhà và người bệnh cách chăm sóc sau đột quỵ
- Sự quá tải trong công việc, khoa nội Thần kinh phụ trách 79 giường bệnh và
Phòng khám thần kinh tại khoa khám bệnh chỉ có 07 bác sĩ và 13 điều dưỡng, trong khi đó khoa nội thần kinh luôn có tỷ lệ bệnh nhân chiếm từ 90-120% số giường bệnh.
- Công việc của điều dưỡng quá tải dẫn đến một số hoạt động chăm sóc chưa được thực hiện đầy đủ, trực tiếp
Công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân đột quỵ não đã được chú trọng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Hiện tại, chưa có tranh ảnh hay áp phích nào để hỗ trợ việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
- Khoa phục hồi chức năng chưa có sự kết hợp hoạt động điều trị song song cho người bệnh đang điều trị tại khoa nội thần kinh
- Khoa dinh dưỡng chưa kết hợp trong tư vấn cũng như cung cấp bữa ăn cho người bệnh tại khoa
- Trình độ chuyên môn của nhân viên y tế chưa đồng đều
Công việc quá tải và áp lực lớn, cùng với chế độ đãi ngộ hạn chế, đã khiến nhiều điều dưỡng cảm thấy mệt mỏi và chán nản Sự thiếu chia sẻ từ cộng đồng cũng góp phần làm giảm nhiệt huyết của họ đối với nghề.
- Người bệnh chủ yếu là người già(75%) vì vậy kiến thức về đột quỵ não còn hạn chế
Gia đình của người bệnh đột quỵ não thường thiếu kinh nghiệm và kiến thức trong việc chăm sóc, đặc biệt khi trong gia đình đã có người từng mắc bệnh này (chiếm 7.5%).
GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Dựa trên kết quả thống kê nghiên cứu về thực trạng chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não tại khoa nội thần kinh bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và điều trị cho người bệnh.
- Cơ sở vật chất: Bệnh viện cần sớm xây dựng, thành lập khoa Đột qụy não
Khoa dinh dưỡng của bệnh viện cần nâng cao hiệu quả hoạt động bằng cách triển khai thêm chức năng cung cấp suất ăn cho người bệnh Điều này không chỉ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm mà còn giúp cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn cho bệnh nhân.
- Khoa phục hồi chức năng cần có sự liên kết, hỗ trợ, điều trị song song cho người bệnh với khoa nội thần kinh
Nhân lực điều dưỡng viên hiện tại còn thiếu, với tỷ lệ 13 điều dưỡng viên cho 79 giường bệnh, tương đương 6 bệnh nhân trên 1 điều dưỡng, trong khi quy định chỉ yêu cầu từ 2-3 bệnh nhân trên 1 điều dưỡng Do đó, cần tăng cường đào tạo và bổ sung nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp, đặc biệt là cho khoa nội thần kinh, nơi có số lượng bệnh nhân đông Ưu tiên cho các bác sĩ và điều dưỡng đã học chuyên khoa về thần kinh sẽ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân sau đột quỵ não.
Bệnh viện cần chú trọng hơn đến đời sống và thu nhập của nhân viên y tế, đồng thời tạo ra môi trường làm việc thoải mái và khuyến khích Việc động viên và khen thưởng điều dưỡng viên có tâm huyết với nghề, cũng như những người hoàn thành tốt công việc kịp thời, là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
2: Đối với khoa nội thần kinh
Xây dựng bảng mô tả công việc cho các thành viên điều dưỡng trong khoa là rất quan trọng, kèm theo hệ thống thưởng phạt rõ ràng Điều này sẽ giúp các điều dưỡng viên luôn nỗ lực và cống hiến trong công việc của mình.
- Hàng tháng hàng quý nên tổ chức các chuyên đề thảo luận để điều dưỡng viên có thể cập nhật kiến thức mới một cách kịp thời
Chăm sóc giao tiếp cho người bệnh sau đột quỵ não cần được chú trọng hơn Việc tăng cường hướng dẫn và thực hiện các bài tập phục hồi chuyên biệt là rất quan trọng để giải quyết các vấn đề giao tiếp mà bệnh nhân gặp phải.
Khoa cần thu thập thêm hình ảnh và video minh họa để làm cho quá trình giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và gia đình họ trở nên trực quan hơn, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.
3: Đối với cán bộ y tế
Cần chú trọng giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và người nhà ngay từ khi nhập viện, nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và tập luyện, từ đó giảm thiểu tối đa các di chứng.
Tích cực nâng cao trình độ học tập và nghiên cứu để cập nhật kiến thức mới về bệnh đột quỵ não, bao gồm các biến chứng có thể xảy ra ở người bệnh, các biện pháp dự phòng biến chứng, cũng như các phương pháp hỗ trợ phục hồi cho bệnh nhân.
- Tuân thủ đúng các quy trình điều dưỡng cũng như luôn cập nhật các kiến thức chăm sóc người bệnh mới nhất
- Luôn củng cố sự yêu nghề, tâm huyết với nghề của bản thân
Người bệnh và gia đình cần thể hiện sự tôn trọng, thông cảm và chia sẻ để hỗ trợ nhân viên y tế trong quá trình điều trị Việc sử dụng vũ lực đối với nhân viên y tế là không chấp nhận được trong mọi hoàn cảnh.
Người bệnh đột quỵ não cần tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp chăm sóc để phòng ngừa biến chứng Điều này bao gồm việc thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, luyện tập thể dục đều đặn, sử dụng thuốc đúng cách và theo dõi sức khỏe thường xuyên.
Người bệnh nên nâng cao kiến thức thông qua sách báo và các phương tiện truyền thông, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm của mình với những người bệnh khác để hỗ trợ lẫn nhau.
Nhận biết các dấu hiệu sớm của đột quỵ não là rất quan trọng, giúp người bệnh phát hiện kịp thời và cấp cứu tại nhà Việc này không chỉ giúp hạn chế các biến chứng mà còn nâng cao khả năng hồi phục sau cơn đột quỵ.
+ Thực hiện kế hoạch khám và tầm soát các bệnh huyết áp, tiểu đường theo lịch khám định kỳ được cán bộ y tế cung cấp
Bỏ thuốc lá và thuốc lào ngay lập tức vì chúng ảnh hưởng xấu đến nhịp tim và gây tăng huyết áp.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát 40 bệnh nhân điều trị đột quỵ não tại khoa Nội thần kinh - bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, tôi đã thu thập được những kết quả quan trọng Dựa trên những dữ liệu này, tôi xin đưa ra một số kết luận đáng chú ý.
1 Thực trạng chăm sóc người bệnh đột quỵ não đang điều trị nội trú tại khoa Nội thần kinh - bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
- Người bệnh được sắp xếp giường bệnh đầy đủ, thoáng mát, sạch sẽ
- Đột quỵ não xảy ra chủ yếu ở người cao tuổi 75% người mắc bệnh trên
- Các y bác sĩ trong khoa thường xuyên động viên, lên lại tinh thần lạc quan cho người bệnh đặc biệt là người cao tuổi
- Người bệnh được theo dõi các dấu hiệu sinh tồn đều đặn 100%
- 100% người bệnh và người nhà được hướng dẫn các phương pháp chăm sóc trên các vấn đề cần chăm sóc của người bệnh
- Thực hiện y lệnh thuốc điều trị đạt 100%, điều dưỡng viên thực hiện đầy đủ đúng giờ theo y lệnh
- 100% người bệnh được làm các xét nghiệm theo chỉ định
- 100% người bệnh được khuyên tập vận động sớm và được hướng dẫn, tập mẫu các bài tập
- Các can thiệp thủ thuật của điều dưỡng viên rất kịp thời đặc biệt trong vấn đề xử lí vết thương loét ép
Điều dưỡng hiện chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn và khuyến khích bệnh nhân, mà chưa thực hiện các thủ thuật tập vận động Sinh viên thực tập tại khoa có hỗ trợ trong việc tập vận động cho bệnh nhân, nhưng tỷ lệ thực hiện chỉ đạt 62,5%.
Chăm sóc giao tiếp cho người bệnh sau đột quỵ não vẫn chưa được chú trọng đúng mức, với 87,5% người bệnh gặp khó khăn trong giao tiếp Tuy nhiên, hiện tại, cán bộ y tế chưa có các giải pháp can thiệp hiệu quả để hỗ trợ họ.
Khoa PHCN hiện chưa có sự liên kết điều trị chặt chẽ với khoa nội thần kinh, dẫn đến việc bệnh nhân chưa nhận được sự phục hồi chức năng một cách bài bản và hiệu quả nhất.
Mặc dù dinh dưỡng cho người bệnh đã được đảm bảo, nhưng việc cung cấp thức ăn vẫn chưa được chú trọng Khoa dinh dưỡng của bệnh viện cần tăng cường liên kết với người bệnh và các khoa lâm sàng để cải thiện tình hình này.
Cán bộ y tế đã chú trọng đến việc tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân trong thời gian nằm viện và trước khi xuất viện Tất cả bệnh nhân đều được giáo dục đầy đủ về cách phòng ngừa và phát hiện đột quỵ, cũng như chăm sóc phục hồi sau đột quỵ một cách bài bản.
- Tuy nhiên việc tư vấn còn chưa có các hình ảnh, băng hình, tài liệu kèm theo kèm theo Dẫn đến hiệu quả tư vấn bị hạn chế
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh đột quỵ não đang điều trị nội trú tại khoa Nội thần kinh - bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
Giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và người nhà là rất quan trọng, giúp họ nắm vững cách chăm sóc và phối hợp hiệu quả với điều dưỡng, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và đạt được kết quả tối ưu.
- Tăng cường đầu tư về các mặt hình ảnh, dụng cụ trực quan trong tư vấn sức khỏe cho người bệnh
- Tăng cường sự hỗ trợ liên kết điều trị giữa các khoa lâm sàng đặc biệt là khoa PHCN với khoa nội thần kinh
Tăng cường hoạt động của khoa dinh dưỡng là cần thiết để đảm bảo người bệnh nhận được nguồn thực phẩm an toàn, hợp vệ sinh và đầy đủ dinh dưỡng, phù hợp với tình trạng sức khỏe của họ.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cần tăng cường nhân lực cho khoa Nội thần kinh, đặc biệt là đội ngũ điều dưỡng viên Việc này sẽ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc bệnh nhân và đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị.
[1] Nguyễn Quốc Anh, Ngô Quý Châu (2012) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội khoa NXB Y học, Hà Nội, tr 329-333
[2] Bệnh viện Lão khoa trung ương (2010), Báo cáo năm 2010
[3] Bệnh viện Lão khoa trung ương (2011), Báo cáo năm 2011
Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên, và Cao Minh Châu (1995) đã nghiên cứu về kết quả ban đầu trong việc phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người tại nhà Nghiên cứu này nằm trong chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, được trình bày trong Kỷ yếu công trình phục hồi chức năng.
[5] Trần văn Chương (2010),Phục hồi chức năng người bệnh liệt nửa người do tai biến mạch máu não, Nhà xuất bản y học,207
[6] Cao Minh Châu (2009) Phục hồi chức năng, Nhà xuất bản giáo dục
Nhu cầu và thực trạng phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại nhà ở xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2010 đã được Võ Ngọc Dũng nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ y tế cộng đồng Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình và nhu cầu phục hồi chức năng cho người khuyết tật trong khu vực, góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện dịch vụ y tế cộng đồng.
[8] Nguyễn Văn Đăng (1996), Góp phần nghiên cứu dịch tễ học tai biến mạch máu não 1991 – 1995, Bộ Y tế, Hà Nội
[9] Nguyễn Văn Đăng (2000), Tai biến mạch máu não, Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Lê Đức Hinh (2001) đã trình bày về tình hình tai biến mạch máu não tại các nước châu Á trong hội thảo chuyên đề liên khoa về chẩn đoán và xử trí tai biến mạch máu não, tổ chức tại khoa Thần Kinh, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về tình trạng và các biện pháp can thiệp liên quan đến bệnh lý này trong khu vực.
Lê Đức Hinh (2001) đã trình bày về chẩn đoán và xử trí tai biến mạch máu não trong hội thảo chuyên đề liên khoa Bài viết tập trung vào các phương pháp chẩn đoán và cách xử lý hiệu quả đối với tình trạng này trong khoa Thần kinh.
Kinh – Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, tr 19– 35
[12].PGS TS Nguyễn Minh Hiện (2013), Đột quỵ nội khoa, Nhà xuất bản y học luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Hoàng Đức Kiệt (1992) đã trình bày trong bài viết của mình về một số trường hợp tai biến mạch máu não với hình ảnh chụp X-quang cắt lớp vi tính không đặc hiệu Bài báo được tóm tắt trong báo cáo của Hội nghị khoa học chuyên đề tai biến mạch máu não, tổ chức tại Đại học Y Hà Nội, trang 29 – 30.