1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017

85 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017
Tác giả Nguyễn Thị Lan
Người hướng dẫn TS.BS. Phạm Quang Hòa
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Tổng quan về đột quỵ (14)
    • 1.2. Phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ (21)
    • 1.3. Một số nghiên cứu liên quan (25)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (28)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (29)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (30)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (31)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (32)
    • 2.7. Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá (34)
    • 2.8. Xử lý và phân tích số liệu (35)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (35)
    • 2.10. Sai số và cách khắc phục (36)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1. Thông tin chung về người chăm sóc chính (37)
    • 3.2. Đánh giá kiến thức về PHCN sau đột quỵ trước, sau can thiệp của NCSC: . 28 3.3. Đánh giá kỹ năng thực hành (38)
    • 3.4. Thay đổi kiến thức, thực hành trước và sau can thiệp của NCSC (48)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (51)
    • 4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (51)
    • 4.2. Kiến thức của người chăm sóc chính về phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ trước và sau can thiệp (52)
    • 4.3. Kỹ năng thực hành của NCSC về PHCN cho người bệnh đột quỵ trước và (56)
    • 4.4. Kết quả của can thiệp (58)
    • 4.5. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (60)
  • KẾT LUẬN (3)

Nội dung

NGUYỄN THỊ LAN THAY ĐỔI NHẬN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CHO NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2017 LUẬN VĂN THẠC

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Người chăm sóc chính của người bệnh đột quỵ đang được điều trị và có mặt tại khoa PHCN Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh

Người chăm sóc chính là người đảm nhận vai trò chăm sóc hàng ngày cho bệnh nhân, bao gồm các hoạt động như vệ sinh cá nhân, tắm rửa, cho ăn, di chuyển và vận động Thời gian và công việc chăm sóc của họ thường chiếm phần lớn trong tổng thời gian chăm sóc bệnh nhân.

- Toàn bộ NCSC đã chọn đồng ý, tự nguyện tham gia nghiên cứu, có khả năng nhận thức và giao tiếp để trả lời các câu hỏi

Những người bệnh đã được chẩn đoán liệt nửa người do đột quỵ, khi vào khoa Phục hồi Chức năng (PHCN) lần đầu, sẽ được các bác sĩ chuyên khoa PHCN hướng dẫn và cho phép thực hiện các bài tập phục hồi chức năng.

- NCSC cho người bệnh bị đột quỵ đang điều trị, có mặt tại khoa trong thời điểm tiến hành nghiên cứu

- NCSC không đồng ý tham gia vào nghiên cứu, có rối loạn về tâm lý, có khiếm khuyết về thính lực, thị lực và ngôn ngữ

- Người nhà không trực tiếp tham gia chăm sóc người bệnh thường xuyên

- Những NCSC cho người bệnh có bệnh lý khác kèm theo (không thể thực hiện được các bài tập PHCN)

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Thời gian nghiên cứu từ 1/2017 đến 4/2017

- Địa điểm: Tại khoa PHCN Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Quảng Ninh luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp

Can thiệp bằng giáo dục kiến thức và thực hành chăm sóc, phục hồi chức năng cho người chăm sóc chính có đánh giá trước và sau can thiệp

Hình 2.3.1 Sơ đồ qui trình nghiên cứu

Nội dung can thiệp bao gồm việc cung cấp tài liệu và tờ rơi cho người chăm sóc chính của bệnh nhân đột quỵ, nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đột quỵ và thời điểm thích hợp để thực hiện các bài tập phục hồi Đồng thời, người chăm sóc sẽ được huấn luyện về cách thực hiện các bài tập tư thế đúng cho bệnh nhân, cách lăn trở, tập các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, cũng như cách sử dụng các dụng cụ tập luyện hiệu quả.

Nhóm can thiệp bao gồm học viên và hai cộng tác viên là điều dưỡng viên có kinh nghiệm, làm việc độc lập tại khoa PHCN Trước khi thực hiện can thiệp giáo dục, nhóm nghiên cứu đã thống nhất về phương pháp phỏng vấn, hướng dẫn trình tự bài tập, và đánh giá kỹ năng thực hiện các bài tập của NCSC, đồng thời có sự tư vấn từ bác sĩ chuyên khoa PHCN.

Thời gian trung bình nằm viện của bệnh nhân đột quỵ tại khoa PHCN Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh là 2 tuần Chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu và can thiệp cho các đối tượng tham gia nghiên cứu.

(Kiến thức và thực hành PHCN tại nhà cho người bệnh đột quỵ) Đánh giá Trước can thiệp

(Lần 1) Đánh giá Sau can thiệp

So sánh, bàn luận, kết luận luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si thiệp trên NCSC vào các thời điểm:

Sau 2 ngày tham gia khoa, chúng tôi tiến hành đánh giá lần 1 Đối với kiến thức của NCSC, việc đánh giá được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sử dụng bộ câu hỏi có sẵn (Phụ lục 2).

NCSC áp dụng các kỹ thuật đánh giá thực hành thông qua phương pháp quan sát trực tiếp trên người bệnh, sử dụng bảng kiểm để ghi nhận kết quả (Phụ lục 2).

- Trường hợp trong ngày có từ 2 NCSC trở lên sẽ mời cộng tác viên cùng tham gia đánh giá

Tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả đánh giá kiến thức và thực hành của NCSC nhằm xác định những thiếu sót và hạn chế trong phục hồi chức năng sau đột quỵ, từ đó xây dựng chương trình can thiệp phù hợp.

Tiến hành can thiệp giáo dục cho NCSC với nội dung phù hợp, sử dụng tài liệu Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, bao gồm tài liệu số 1 về phục hồi chức năng sau tai biến mạch não và tài liệu số 5 về phòng ngừa thương tật thứ phát của Bộ.

Sau 2 ngày kể từ lần đánh giá đầu tiên, Nhà xuất bản Y học đã tiến hành đánh giá lại kiến thức và thực hành của NCSC lần 2 trước khi ra viện.

Mười ngày sau can thiệp giáo dục, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi và bảng kiểm tương tự như lần đầu (Phụ lục 2) để so sánh sự thay đổi về kiến thức và thực hành trong phục hồi chức năng sau đột quỵ của NCSC.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2017 tại bệnh viện đa khoa tỉnh QN, có tổng cộng 60 NCSC tham gia Tuy nhiên, 6 trường hợp không đáp ứng yêu cầu do điều kiện gia đình, do đó chỉ còn lại 54 NCSC của bệnh nhân đột quỵ tham gia nghiên cứu.

Mẫu nghiên cứu được chọn từ danh sách bệnh nhân đột quỵ điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Quảng Ninh, đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn lựa chọn Mỗi bệnh nhân sẽ có một người chăm sóc chính được xác định Những đối tượng không có mặt hoặc không thể trả lời phỏng vấn tại thời điểm ban đầu sẽ được phỏng vấn vào thời điểm khác.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu:

Bộ công cụ và bảng kiểm được phát triển theo Quyết định số 1149/QĐ – BYT ngày 01 tháng 4 năm 2008, nhằm phục vụ cho việc phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh sau tai biến mạch máu não và phòng ngừa thương tật thứ phát Đồng thời, bộ công cụ này cũng tham khảo từ một số nghiên cứu trước đây về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não.

Các câu hỏi nghiên cứu đã được điều chỉnh và bổ sung để phù hợp với đối tượng và địa bàn nghiên cứu Bộ công cụ đã được thử nghiệm trước khi thu thập số liệu, với việc test trên những đối tượng NCSC, những người sẽ không tham gia vào quá trình nghiên cứu sau.

Sau giai đoạn thử nghiệm, công cụ sẽ được chỉnh sửa, hoàn thiện in ấn phục vụ cho điều tra và tập huấn

Bộ công cụ được sử dụng với cùng nội dung cho 2 lần đánh giá trước can thiệp (khi vào viện) và sau can thiệp (trước khi ra viện)

2.5.2 Tiến trình thu thập số liệu

Bước đầu tiên là lựa chọn những người chăm sóc chính đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, đồng thời giới thiệu rõ ràng mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi của họ Nếu họ đồng ý, người chăm sóc chính sẽ ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 1) và nhận hướng dẫn về cách trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi cũng như cách thực hiện các kỹ thuật phục hồi.

- Bước 2 : Đánh giá trước can thiệp (lần 1) + Đánh giá kiến thức của NCSC bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi có sẵn (Phụ lục 2)

Đánh giá kỹ năng thực hành của NCSC thông qua phương pháp quan sát các kỹ thuật phục hồi trên bệnh nhân được thực hiện bằng bảng kiểm Phụ lục 2 cung cấp thông tin chi tiết về quy trình này.

Bước 3: Thực hiện can thiệp giáo dục cho người chăm sóc chính bằng cách cung cấp kiến thức và thực hành về phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau đột quỵ (xem Phụ lục 3).

Bước 4: Đánh giá sau can thiệp (lần 2) nhằm đánh giá kiến thức và thực hành của NCSC sau khi thực hiện can thiệp giáo dục, sử dụng bộ câu hỏi và bảng kiểm tương tự như lần 1 (Phụ lục 2).

Các biến số nghiên cứu

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

Phương pháp thu thập Thông tin chung

Là tuổi của đối tượng nghiên cứu tính theo năm sinh dương lịch đến thời điểm hiện tại

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi

2 Giới Giới tính của đối tượng nghiên cứu: nam hoặc nữ

Quan sát/Bộ câu hỏi

Là nghề của đối tượng nghiên cứu ở thời điểm hiện tại và tạo ra thu nhập chính Định danh

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi

4 Trình độ học vấn Là trình độ cao nhất mà đối tượng có được

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi

5 Địa chỉ Là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Định danh

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi

Kiến thức chung về Đột quỵ

6 Thời điểm tiến hành phục hồi

Là giai đoạn bệnh cho phép thực hiện các bài tập phục hồi Định danh

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi

7 Vị trí đặt giường bệnh tốt nhất

Là vị trí đặt giường tạo thuận cho chăm sóc và phục hồi Định danh

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi

8 Tư thế đúng tốt nhất

Là tư thế để người bệnh nằm tạo thuận cho việc phục hồi Định damh

Phỏng vấn/Bộ câu hỏi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

Phương pháp thu thập Thực hành về các bài tập PHCN cho người bệnh Đột quỵ

Cách đặt toàn thân thể và các bộ phận của thân thể ở yên tại một vị trí nhất định Định danh

10 Cách lăn trở người bệnh

Là cách thay đổi tư thế của toàn thân thể sang vị thế mới Định danh

11 Vận động khớp nhỏ bàn tay

Thay đổi tư thế của các khớp ngón tay và liên đốt ngón tay Định danh

12 Vận động khớp cổ tay

Thay đổi tư thế của khớp cổ tay theo chức năng của khớp Định danh

Thay đổi tư thế của khớp khuỷu theo chức năng gập và duỗi của khớp Định danh

Thay đổi tư thế của khớp vai theo chức năng gập và duỗi của khớp Định danh

Thay đổi tư thế của khớp vai theo chức năng dạng và khép của khớp Định danh

Thay đổi tư thế của khớp háng Theo chiều đưa chi dưới về gần cơ thể Định danh

Thay đổi tư thế của khớp háng theo chiều đưa chân dang ra xa cơ thể rồi trở về vị trí ban đầu Định danh

Quan sát/Bảng kiểm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

18 Gập và Duỗi gối Thay đổi tư thế của khớp gối theo chiều đẩy khớp gối và gần cơ thể rồi trở về vị trí cũ Định danh

Gập và Duỗi cổ chân

Thay đổi tư thế của khớp cổ chân theo chiều đẩy bàn chân về phía mu chân và đẩy bàn chân về phía lòng bàn chan Định danh

20 Tập dồn trọng lượng lên chân liệt

Là cách chuyển toàn bộ trọng lượng cơ thể sang chân bị liệt Định danh

21 Tập kỹ thuật bắc cầu

Là cách nâng phần mông và lưng của cơ thể lên khỏi mặt giường tạo với hai chân hơi co Định danh

Tập hoạt động, sinh hoạt hàng ngày

Là các bài tập giúp người bệnh hoàn thành các sinh hoạt hàng ngày Định danh

Là các dụng cụ được thiết kế để giúp người bệnh đạt được hiệu quả luyện tập tốt nhất Định danh

Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá

PHCN: Giúp người bệnh lấy lại kỹ năng bị mất và làm giảm khuyết tật lâu dài [35]

Người chăm sóc chính là người đảm nhận vai trò chăm sóc hàng ngày cho bệnh nhân, bao gồm các hoạt động như vệ sinh cá nhân, tắm rửa, cho ăn, di chuyển và vận động Thời gian và công việc chăm sóc của họ thường chiếm phần lớn trong tổng thời gian chăm sóc bệnh nhân.

NCSC tham gia phỏng vấn, trong đó mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, còn câu trả lời sai hoặc không biết sẽ nhận 0 điểm Để đạt yêu cầu kiến thức, người tham gia cần trả lời ít nhất 2/3 tổng số câu hỏi Ngược lại, nếu không trả lời, trả lời sai hoặc đạt dưới 2/3 tổng số câu hỏi, sẽ được coi là không đạt kiến thức.

NCSC tham gia thực hiện các kỹ thuật phục hồi, trong đó mỗi bước thực hiện đúng sẽ được 1 điểm Nếu thiếu bước, thực hiện sai hoặc không thực hiện, sẽ được 0 điểm theo bảng kiểm Kỹ thuật được coi là đạt khi thực hiện đúng và đủ các bước, hoặc đạt từ 2/3 số bước trở lên Ngược lại, kỹ thuật không đạt nếu không thực hiện, sai hoặc dưới 2/3 số bước.

- Xác định đúng/sai dựa trên những nội dung về phục hồi chức năng sau đột quỵ do Bộ Y tế ban hành

Đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo dục so với trước can thiệp dựa trên sự chênh lệch về tỷ lệ trả lời và thực hành đúng cho từng nội dung đánh giá.

Xử lý và phân tích số liệu

- Chuẩn bị: kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được, loại trừ các phiếu điền không đầy đủ.

- Nhập liệu sau khi được làm sạch, nhập 2 lần độc lập và xử lý trên phần mềm SPSS 16.0

- Tính các giá trị phần trăm, giá trị trung bình trước và sau can thiệp, t-test được dùng để so sánh các giá trị trung bình.

Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu này được triển khai sau khi thông qua Hội đồng đạo đức của trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được sự ủng hộ, cho phép của ban Giám đốc

- NCSC tham gia vào nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

NCSC sẽ tiếp tục nhận được sự hướng dẫn cho đến khi thực hiện thành công các kỹ thuật phục hồi chức năng, ngay cả sau khi đã được can thiệp giáo dục.

- Nghiên cứu không tiến hành bất cứ can thiệp nào gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, uy tín, danh dự của NCSC

Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến NCSC được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và kết quả sẽ được áp dụng nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Sai số và cách khắc phục

Do hoàn cảnh gia đình, đã có 6 trường hợp thay đổi NCSC sau khi được can thiệp giáo dục, và những đối tượng này đã được loại khỏi danh sách mẫu.

- Sai số do công cụ thu thập số liệu

- Sai số do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên

2.10.2 Biện pháp khắc phục sai số

* Đối với đối tượng được phỏng vấn

- Các bài tập thực hành phải đơn giản dễ thực hiện

- Các khái niệm đưa ra phải rõ ràng, dễ hiểu

- Giải thích rõ mục đích và ý nghĩa của cuộc điều tra để đối tượng hợp tác đảm bảo được tính trung thực

* Đối với nghiên cứu viên

- Thiết kế bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời

- Xây dựng bảng kiểm dựa trên bài tập PHCN cộng đồng, có chia mức độ

- Hướng dẫn các bài tập thực hành thật kỹ đến khi NCSC có thể hiểu và làm theo được

- Chọn thời điểm phù hợp về mặt thời gian để phỏng vấn và quan sát

- Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu

- Nhập liệu chính xác và làm sạch số liệu trước khi tiến hành phân tích luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về người chăm sóc chính

Bảng 3.1 Phân bố người chăm sóc chính theo nhóm tuổi và giới

Phần lớn NCSC cho bệnh nhân đột quỵ là nữ, chiếm 59,3%, NCSC là nam chiếm 40,7% Có 85,1% NCSC có độ tuổi ≤ 50 và 14,9 % NCSC có độ tuổi > 50

Biểu đồ 3.1 Phân bố người chăm sóc chính theo nghề nghiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Nghề nghiệp của người chăm sóc chủ yếu là buôn bán và lao động tự do, chiếm 44,4% Trong khi đó, công chức và viên chức chiếm 33,3%, và người hưu trí chiếm 20,4% Phần còn lại là các nghề nghiệp khác.

Biểu đồ 3.2 Phân bố người chăm sóc chính theo trình độ học vấn

Phần lớn NCSC có trình độ trung học phổ thông trở lên chiếm 94,4% Sau đó đến trình độ trung học cơ sở chiếm 3,7% Chỉ có 1,9% ở trình độ tiểu học

Đánh giá kiến thức về PHCN sau đột quỵ trước, sau can thiệp của NCSC: 28 3.3 Đánh giá kỹ năng thực hành

3.2.1 Một số kiến thức cơ bản:

Bảng 3.2 Kiến thức của người chăm sóc chính về bệnh đột quỵ

Biết về bệnh đột quỵ

Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Tổng 54 100 54 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Có 83,3 % ĐTNC biết đến bệnh đột quỵ Sau can thiệp tỷ lệ này tăng nên 100%

Bảng 3.3 Kiến thức người chăm sóc chính về tầm quan trọng của PHCN NB sau đột quỵ

Tầm quan trọng của PHCN sau đột quỵ

Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Không quan trọng, Hoàn toàn không quan trọng

Có 57,4% NCSC có hiểu biết chưa đúng về tầm quan trọng của PHCN Tỷ lệ NCSC có hiểu biết đúng là rất quan trọng chiếm 42,6% Sau can thiệp đạt 100%

Bảng 3.4 Yếu tố tiếp cận truyền thông của người chăm sóc chính về PHCN cho người bệnh đột quỵ:

Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Sách, báo, tạp chí,internet 40 74,1 49 90,7

Người thân 4 7,4 4 7,4 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

NCSC có nhiều nguồn tiếp cận thông tin về phục hồi chức năng (PHCN) cho người đột quỵ, với 74,1% thông tin đến từ sách báo, tạp chí và internet, trong khi nguồn từ người thân và nhân viên y tế là ít nhất Sau can thiệp, tỷ lệ người tiếp cận thông tin về PHCN cho bệnh nhân đột quỵ đã tăng lên, đặc biệt là từ nhân viên y tế, chiếm 96,3%, tiếp theo là sách báo và tạp chí với 90,7%.

Bảng 3.5 Kiến thức của người chăm sóc chính về thời điểm tiến hành PHCN cho người bệnh

Thời điểm PHCN Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Ngay sau khi bị đột quỵ ( Đúng ) 10 18,5 52 96,2

Khi đã điều trị qua giai đoạn cấp (Sai) 34 63,0 1 1,9

NCSC chỉ có 18,5% hiểu biết đúng về thời điểm phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ trước can thiệp, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên rõ rệt, đạt 96,2% với 52 người.

Bảng 3.6 Kiến thức của người chăm sóc chính về số lần tập/01 động tác

Số lần tập/01 động tác Trước can thiệp Sau can thiệp n % n % Đúng (10- 15 lần) 19 35,2 52 96,3

Sai (Dưới 10 lần, Trên 20 lần, Không biết) 35 64,8 2 3,7

Có 35,2% người chăm sóc chính hiểu đúng rằng số lần tập cho mỗi động tác là từ 10 đến 15 lần Sau can thiệp, tỷ lệ trả lời đúng đã tăng lên 96,3%.

Bảng 3.7 Kiến thức của người chăm sóc chính về mức độ quan sát sắc thái của

NB khi tiến hành tập các bài tập

Mức độ quan sát sắc thái người bệnh Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Thỉnh thoảng quan sát , Không quan sát Không nhớ rõ

Có 25,9% NCSC hiểu đúng rằng việc quan sát người bệnh trong quá trình tập vận động là cần thiết Sau can thiệp, tỷ lệ trả lời đúng đã tăng lên 96,3%.

3.2.2 Kiến thức của người chăm sóc chính về PHCN cho người đột quỵ Bảng 3.8 Kiến thức của người chăm sóc chính về nội dung PHCN cho NB sau đột quỵ

Nội dung việc PHCN sau đột quỵ bao gồm

Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Giữ tư thế tốt và đúng để tránh cứng khớp và biến dạng khớp

Tập luyện để duy trì và tăng cường sức mạnh cơ 19 35,2 53 98,1

Giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp

Khi được hỏi về nội dung phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ, có 48,1% người tham gia khảo sát trả lời được từ 2 ý trở lên Sau khi can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 98,1%.

Bảng 3.9 Kiến thức của người chăm sóc chính về nội dung chăm sóc tư thế đúng bao gồm

Nội dung Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Nội dung tư thế đúng bao gồm Đặt người bệnh ở tư thế nằm ngửa

36 66,7 47 87,0 Đặt người bệnh ở tư thế nghiêng bên liệt

18 33,3 53 98,1 Đặt người bệnh ở tư thế nằm nghiêng bên lành

Tỷ lệ NCSC trả lời đúng từ 2 ý trở lên về chăm sóc tư thế cho người bệnh là 51,9%, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 85,2%.

Bảng 3.10 Kiến thức của người chăm sóc chính về tư thế đúng cho người bệnh

Nội dung Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Tư thế đúng tốt nhất cho người bệnh Đặt người bệnh ở tư thế nằm ngửa, nghiêng bên lành, không biết

47 87,0 7 13,0 Đặt người bệnh ở tư thế nghiêng bên liệt

Phía thân bên liệt của người bệnh thỏa nãm

Phía thân bị liệt của người bệnh được hướng ra giữa phòng

Phía thân bị liệt của người bệnh sát tường

Tổng 54 100 54 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Chỉ có 13,0% người chăm sóc chính nắm vững kiến thức về tư thế tốt nhất cho bệnh nhân khi tập vận động, đó là đặt bệnh nhân ở tư thế nghiêng về bên liệt Sau can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 87,0% Về kiến thức liên quan đến phía thân bên liệt của bệnh nhân, trước can thiệp chỉ có 18,5% người trả lời đúng rằng phía thân bị liệt nên hướng ra giữa phòng Tuy nhiên, sau can thiệp, tỷ lệ trả lời đúng đã tăng lên 90,7%.

Bảng 3.11 Kiến thức của người chăm sóc chính về mục đích khi đặt tư thế đúng cho người bệnh

Nội dung Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Tư thế đúng của người bệnh nhắm mục đích

Giảm bớt mẫu co cứng 14 25,9 54 100

Thuận tiện trong chăm sóc 24 44,4 52 96,3 Đề phòng loét 27 50,0 39 72,2

Việc giữ đúng tư thế cho người bệnh (NB) trong quá trình tập phục hồi chức năng (PHCN) rất quan trọng Một khảo sát cho thấy 24,1% nhân viên chăm sóc (NCSC) không hiểu rõ mục đích của việc đặt tư thế đúng Trong khi đó, 25,9% cho rằng mục đích là để giảm bớt tình trạng co cứng, 44,4% cho rằng điều này giúp thuận tiện trong chăm sóc, và 50% cho rằng nó có tác dụng phòng ngừa loét Tuy nhiên, chỉ có 46,3% NCSC trả lời đúng từ 3/4 nội dung liên quan Đáng chú ý, tỷ lệ này đã được nâng lên 100% sau can thiệp.

3.3 Đánh giá kỹ năng thực hành

Bảng 3.12 Kỹ năng của người chăm sóc chính về tư thế nằm ngửa của người bệnh

Tư thế nằm ngửa của người bệnh Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Vai và hông bên liệt được kê gối mềm 25 46,3 51 94,4

Cổ chân được kê vuông góc với cẳng chân 19 35,2 46 85,2

Làm đúng và đủ các bước 26 48,1 54 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Khi thực hiện kỹ thuật đặt người bệnh nằm ngửa, chỉ có 35,2% NCSC thực hiện bước kê cổ chân vuông góc với cẳng chân, nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 85,2% sau can thiệp Đối với bước kê gối mềm cho vai hông bên liệt, tỷ lệ thực hiện ban đầu là 46,3%, và sau can thiệp đã tăng cao lên 94,4% Tuy nhiên, chỉ có 48,1% NCSC thực hiện đúng và đủ, nhưng con số này đã tăng lên 100% sau can thiệp.

Bảng 3.13 Kỹ năng của người chăm sóc chính về tư thế nằm nghiêng bên lành của người bệnh

Tư thế nằm nghiêng bên lành của người bệnh

Trước can thiệp Sau can thiệp

Chân lành để duỗi, thân mình vuông góc với mặt giường

Tay liệt có gối đỡ để vuông góc với thân 20 37,0 50 92,6 Chân liệt có gối đỡ ở tư thế gập háng và gối

Làm đúng và đủ các bước 20 37,0 51 94,4

Kỹ thuật đặt người bệnh nghiêng về phía bên lành cho thấy hiệu quả cao, với tỷ lệ thực hiện tốt nhất đạt 75,9% trước can thiệp và tăng lên 96,3% sau can thiệp Chỉ có 37% người chăm sóc thực hiện đúng và đủ các bước ban đầu, nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 94,4% sau khi can thiệp.

Bảng 3.14 Kỹ năng của người chăm sóc chính về tư thế nằm nghiêng bên liệt của người bệnh

Tư thế nằm nghiêng bên liệt của người bệnh

Trước can thiệp Sau can thiệp

Cánh tay duỗi vuông góc với thân mình, thân mình nửa ngửa, chân liệt duỗi 41 75,9 52 96,3

Chân lành gập ở háng và gối 14 25,9 46 85,2

Làm đúng và đủ các bước 18 33,3 52 96,3 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Kỹ thuật đặt người bệnh nghiêng bên liệt bao gồm hai bước: gập vai liệt và gập chân lành ở háng và gối Tỷ lệ thực hiện thành công trước can thiệp là 25,9%, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này tăng lên 77,8% và 85,2% Tỷ lệ thực hiện đúng và đủ các bước ban đầu là 33,3%, và sau can thiệp, con số này đạt 96,3%.

Bảng 3.15 Kỹ năng của người chăm sóc chính về tập cho người bệnh lăn nghiêng sang bên lành, bên liệt (n= 54)

Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Lăn nghiêng sang bên lành

Cài tay lành vào tay liệt 23 42,6 47 87,0

Giúp người bệnh, gập gối và háng bên liệt

Dùng tay lành kéo tay liệt sang phía tay lành

44 81,5 53 98,1 Đẩy hông người bệnh xoay sang bên lành

Làm đúng và đủ các bước 13 24,1 52 96,3

Lăn nghiêng sang bên liệt

Nâng tay và chân lành lên 25 46,3 49 90,7 Đưa chân và tay lành về phía bên liệt

Xoay thân mình sang bên liệt 40 74,1 51 94,4

Làm đúng và đủ các bước 35 64,8 53 98,1

Kỹ thuật lăn nghiêng sang bên lành có tỷ lệ thực hiện đúng và đủ các bước là 24,1%, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này tăng lên 96,3% Đối với kỹ thuật lăn nghiêng sang bên liệt, tỷ lệ thực hiện đúng và đủ các bước ban đầu là 64,8%, và sau can thiệp, tỷ lệ này tăng lên 98,1%.

Bảng 3.16 Kỹ năng của người chăm sóc chính về tập cho ngươi bệnh ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa (n= 54)

Tập cho người bệnh ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa

Trước can thiệp Sau can thiệp

Người nhà ngồi bên cạnh người bệnh 33 61,1 48 88,9

Người bệnh bám hai tay vào cánh tay của người thân

Một tay người nhà quàng và đỡ vai NB 39 72,2 53 98,1 Đỡ người bệnh ngồi dậy từ từ 44 81,5 54 0

Làm đúng và đủ các bước 39 72,2 53 98,1

Bảng 3.16 cho thấy rằng trong kỹ thuật tập cho bệnh nhân ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa, thao tác NCSC có tỷ lệ người bệnh bám hai tay vào cánh tay của người thân là 59,3% trước can thiệp và tăng lên 96,3% sau can thiệp Tỷ lệ NCSC thực hiện đúng và đủ các bước cũng tăng từ 72,2% lên 98,1% sau can thiệp.

Bảng 3.17 Kỹ năng của người chăm sóc chính về các động tác tập duy trì và tăng cường sức mạnh cơ

Nội dung Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Các động tác tậpduy trì và tăng cường sức mạnh cơ

Vận động khớp nhỏ ở bàn tay 18 33,3 51 94,4

Vận động khớp cổ tay 39 72,2 53 98,1

Gập và duỗi cổ chân 45 83,3 53 98,1

Tập dồn trọng lượng lên chân liệt 4 7,4 43 79,6

Tập kỹ thuật bắc cầu 3 5,6 29 53,7

Để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc duy trì và tăng cường sức mạnh cơ kỹ thuật, cần thực hiện đúng và đủ các bước Các động tác gập và duỗi cổ chân được thực hiện nhiều nhất, với tỷ lệ 83,3%, sau can thiệp tăng lên 98,1% Trong khi đó, kỹ thuật bắc cầu có tỷ lệ thực hiện thấp nhất, chỉ 5,6%, nhưng sau can thiệp đã tăng lên 53,7% Tuy nhiên, việc thực hiện đúng và đủ các bước chỉ đạt 13%, mặc dù tỷ lệ này đã tăng cao lên 98,1% sau can thiệp.

Bảng 3.18 Kỹ năng của người chăm sóc chính về cách hướng dẫn, giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp

Hướng dẫn hoặc giúp cho người bệnh

Trước can thiệp Sau can thiệp n % n %

Giúp người bệnh tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp

Hỗ trợ người bệnh di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại

Cách giúp người bệnh đứng dậy

39 72,2 54 100 Đi trong thanh song song 7 13,0 46 85,2

Hướng dẫn sử dụng ròng rọc (nạng, bao cát…)

Làm đúng và đủ các bước 7 13,0 49 90,7

Thay đổi kiến thức, thực hành trước và sau can thiệp của NCSC

Biểu đồ 3.3 Đánh giá sự thay đổi kiến thức trước và sau can thiệp của người chăm sóc chính

Trước can thiệp, chỉ có 3,7% NCSC có kiến thức đạt, trong khi 96,3% không đạt Tuy nhiên, sau can thiệp, tỷ lệ NCSC có kiến thức đạt đã tăng lên đáng kể, đạt 98,1%, trong khi tỷ lệ không đạt chỉ còn 1,9%.

Bảng 3.19 Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kiến thức trước và sau can thiệp của người chăm sóc chính

Thông số Trước can thiệp Sau can thiệp

Trung bình ± độ lệch chuẩn 5,41 ± 2,07 12,94 ± 1,23

Max 11 14 p < 0,001 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trước can thiệp, điểm kiến thức trung bình của NCSC là 5,41 ± 2,07 Sau can thiệp, điểm kiến thức trung bình tăng lên 12,94 ± 1,23, với điểm thấp nhất là 8 và điểm cao nhất là 14 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Bảng 3.20 Đánh giá sự thay đổi kỹ năng thực hành trước và sau can thiệp của người chăm sóc chính

Trước can thiệp Sau can thiệp

Trước can thiệp, tỷ lệ NCSC có kỹ năng thực hành đạt chỉ 5,6%, trong khi tỷ lệ không đạt lên tới 94,4% Tuy nhiên, sau can thiệp, tỷ lệ NCSC có kỹ năng đạt đã tăng lên 98,1%, và tỷ lệ không đạt giảm xuống chỉ còn 1,9%.

Bảng 3.21 Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kỹ năng thực hành trước và sau can thiệp của người chăm sóc chính

Kỹ năng thực hành Thông số

Trước can thiệp Sau can thiệp

Trung bình ± độ lệch chuẩn 17,37 ± 4,01 31,56 ± 2,38

Trước can thiệp, điểm kỹ năng thực hành trung bình của NCSC là 17,37 ± 4,01, trong khi sau can thiệp, điểm này tăng lên 31,56 ± 2,38 Điểm thấp nhất ghi nhận là 23 và điểm cao nhất là 35 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Bảng 3.22 Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kỹ năng thực hành tư thế đúng cho người bệnh

Kỹ năng về tư thế

Thông số Trước can thiệp Sau can thiệp

Trung bình ± độ lệch chuẩn 10,56 ± 2,82 18,30 ±1,96

Max 17 20 p < 0,001 Đối với kỹ năng thực hành tư thế đúng của NCSC trước can thiệp điểm trung bình là 10,56 ± 2,82 sau can thiệp trung bình điểm kỹ năng tăng lên là 18,30 ±1,96

Sự thay đổi là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.23 trình bày đánh giá sự thay đổi tổng điểm kỹ năng thực hành các động tác duy trì và tăng cường sức mạnh cơ cho người bệnh sau đột quỵ.

Kỹ năng thực hành Thông số

Trước can thiệp Sau can thiệp

Trung bình ± độ lệch chuẩn 6,83 ± 2,21 13,29 ± 1,28

Điểm kỹ năng thực hành các động tác duy trì và tăng cường sức mạnh cơ cho người bệnh sau đột quỵ của NCSC trước can thiệp trung bình là 6,83 ± 2,21, và sau can thiệp, điểm kỹ năng tăng lên trung bình là 13,29 ± 1,28 Điểm số thấp nhất là 10 và cao nhất là 15, cho thấy sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

BÀN LUẬN

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu phỏng vấn và quan sát trực tiếp 54 người chăm sóc chính cho bệnh nhân đột quỵ tại Khoa PHCN, bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh cho thấy phần lớn là nữ giới (59,3%) và nam giới (26%) Tỷ lệ này tương tự như nghiên cứu của Stein J, cho thấy người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ chủ yếu là phụ nữ (72%) Điều này phản ánh vai trò truyền thống của phụ nữ trong gia đình, với tính nhẫn nại và cẩn thận, phù hợp để chăm sóc bệnh nhân Đối tượng chăm sóc chính chủ yếu dưới 50 tuổi (85,1%), cho thấy sức khỏe tốt để thực hiện các bài tập phục hồi, trong khi nhóm trên 50 tuổi (14,9%) thường là vợ/chồng của bệnh nhân, phù hợp với văn hóa truyền thống Việt Nam.

Phần lớn người làm nghề ĐTCS (Đội ngũ chăm sóc sức khỏe) hiện nay là những người buôn bán tự do (44,4%), tiếp theo là công chức viên chức (33,3%), điều này phản ánh đúng thực tế trong các gia đình Những người làm tự do có khả năng linh hoạt về thời gian, giúp họ chăm sóc người bệnh một cách tốt nhất Ngoài ra, nhóm nội trợ và hưu trí chiếm 20,4%, chủ yếu là vợ/chồng của người bệnh, cho thấy họ cũng là những người phù hợp để chăm sóc cho nửa kia của mình.

Trình độ học vấn của người chăm sóc chính chủ yếu là trung học phổ thông trở lên, chiếm 94,4%, trong khi trung học cơ sở chiếm 3,7% và tiểu học chỉ 1,9% Không có ai trong số họ mù chữ, điều này cho thấy sự khác biệt so với nghiên cứu của Trần Văn Lệ (71%) Sự khác biệt này có thể do địa bàn nghiên cứu tại thành phố Hạ Long, nơi có dân trí cao hơn Mặc dù có sự khác biệt, trình độ học vấn của các đối tượng vẫn đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và phù hợp với can thiệp truyền thông, giáo dục sức khỏe, vì họ đều có khả năng đọc và viết thành thạo.

Kiến thức của người chăm sóc chính về phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ trước và sau can thiệp

Tai biến mạch máu não là tình trạng bệnh lý đột ngột và cấp tính của hệ thần kinh trung ương, xảy ra do giảm cung cấp máu tới não Các triệu chứng bao gồm liệt nửa người và mặt cùng bên, tê bì, rối loạn cảm giác, khó nói, hoặc khó nhìn, có thể kèm theo hôn mê hoặc rối loạn tri giác Bệnh thường xảy ra đột ngột, có thể không có dấu hiệu báo trước như đau đầu hay buồn nôn Trong vài phút hoặc vài giờ, người bệnh có thể bị liệt hoàn toàn nửa người, bao gồm cả mặt, tay và chân cùng bên Liệt nửa người là dấu hiệu phổ biến nhất, bên cạnh đó còn có thể xuất hiện các triệu chứng như nói ngọng, tê bì nửa người, lẫn lộn, và đại tiểu tiện không tự chủ.

Việc phục hồi chức năng cho người bệnh sau đột quỵ là rất quan trọng, giúp cải thiện dần dần các chức năng cơ thể Các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người chăm sóc chính, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình này Họ không chỉ hỗ trợ người bệnh phục hồi về mặt thể chất và tinh thần, mà còn là cầu nối giúp người bệnh hòa nhập với cộng đồng.

1 cách hiệu quả đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống

4.2.1 Kiến thức cơ bản của người chăm sóc chính trong phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ

Theo khảo sát, 83,3% người tham gia NCSC đã nghe về bệnh đột quỵ, cho thấy đây là một mối quan tâm lớn trong cộng đồng Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa nắm rõ thông tin về bệnh, đặc biệt là cách chăm sóc và phục hồi chức năng cho người thân bị đột quỵ Điều này cho thấy cần nâng cao nhận thức và kiến thức về bệnh đột quỵ trong gia đình và xã hội.

Phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh sau đột quỵ là rất quan trọng, không chỉ giúp cải thiện các chức năng và vận động tối thiểu mà còn giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội Hậu quả của đột quỵ không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người bệnh mà còn tạo ra áp lực cho người thân và cộng đồng Các thành viên trong gia đình và người chăm sóc đóng vai trò quyết định trong việc hỗ trợ người bệnh sống sót, phòng chống tái đột quỵ và nâng cao hiệu quả của quá trình phục hồi Theo nghiên cứu, 42,6% người chăm sóc đã nhận thức được tầm quan trọng của PHCN, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về vấn đề này trong cộng đồng.

Với sự phát triển của công nghệ điện thoại thông minh và máy tính bảng, việc NCSC tiếp cận thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, cho phép họ thu nhận thông tin từ nhiều nguồn truyền thông khác nhau Tuy nhiên, sự phổ biến của công nghệ điện tử cũng làm giảm sự trao đổi trực tiếp giữa các thành viên trong gia đình và giữa nhân viên y tế với người nhà bệnh nhân Trong nghiên cứu, 44,4% NCSC nhận thông tin qua nhân viên y tế, và sau can thiệp, tỷ lệ này tăng lên 96,3%, cho thấy vai trò quan trọng của điều dưỡng và kỹ thuật viên phục hồi trong việc tuyên truyền và giáo dục sức khỏe.

Thời điểm tiến hành phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ là rất quan trọng và cần được thực hiện một cách toàn diện và sớm, tùy thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh Trong giai đoạn cấp, chăm sóc và phục hồi chức năng cần được tiến hành ngay lập tức Một nghiên cứu cho thấy chỉ có 18,5% người tham gia biết rằng phục hồi chức năng nên bắt đầu ngay sau khi bị đột quỵ Việc không nắm rõ thời điểm này có thể làm giảm cơ hội và khả năng phục hồi của bệnh nhân Tuy nhiên, sau khi được can thiệp giáo dục bởi các điều dưỡng và kỹ thuật viên phục hồi, tỷ lệ nhận thức về thời điểm bắt đầu phục hồi chức năng đã tăng lên đáng kể, đạt 96,2%, cho thấy sự quan trọng của can thiệp giáo dục trong quá trình phục hồi.

Việc thực hiện các động tác phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ cần được tiến hành đều đặn và thường xuyên với cường độ phù hợp, điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả phục hồi Mỗi động tác nên được tập từ từ, từ 10 – 15 lần, và nhận thức đúng về tần suất tập luyện giúp tăng cường hiệu quả phục hồi Quan sát sắc thái và nét mặt của người bệnh trong quá trình tập là rất quan trọng để điều chỉnh cường độ tập luyện, vì người bệnh có thể cảm thấy đau đớn hoặc quá sức Trước can thiệp, tỷ lệ nhận thức về việc quan sát sắc thái chỉ đạt 25,9%, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 96,3%, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong hiệu quả can thiệp.

4.2.2 Kiến thức về PHCN cho người đột quỵ Ở người bệnh đột quỵ hậu quả để lại nặng nề nhất phải kể đến đó là hệ vận động 92,96% [2] Người bệnh bị yếu hoặc liệt ẵ người dẫn đến khú khăn trong, đi lại, di chuyển và sinh hoạt hàng ngày Việc PHCN cho người bệnh cần được tiến hành toàn diện và đồng thời nhất là trên hệ vận động cùng lúc 3 nội dung Phần lớn đối tượng trước can thiệp cho rằng PHCN cho người đột quỵ chủ yếu là tập cho người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp (66,7%) Như vậy có thể thấy rằng mong muốn chung của tất cả những người thân trong gia đình người bệnh đều là tự họ có thể độc lập trong sinh hoạt, phục vụ bản thân Tuy vậy có 48,1% trả lời đúng trên 2 ý, tỷ lệ này tăng cao sau can thiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Chăm sóc tư thế cho người bệnh đột quỵ là yếu tố quan trọng trong cả giai đoạn cấp và giai đoạn sau Nghiên cứu cho thấy 51,9% người chăm sóc (NCSC) hiểu đúng về chăm sóc tư thế, tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ (18,2%) Đặc biệt, 66,7% NCSC cho rằng tư thế đúng chỉ là nằm ngửa, cho thấy thói quen sai lệch trong việc chăm sóc Do đó, việc nâng cao kiến thức cho NCSC về chăm sóc tư thế là cần thiết, nhất là khi người bệnh trở về nhà Nhân viên y tế cần cung cấp thông tin và hướng dẫn để hỗ trợ người bệnh và gia đình trong quá trình phục hồi sức khỏe và phòng ngừa biến chứng.

Mẫu co cứng thường gặp ở bệnh nhân đột quỵ là gập ở chi trên và co cứng duỗi ở chi dưới Sau vài tháng, bệnh nhân liệt nửa người thường bị co cứng cơ, gây khó khăn trong cử động bên liệt Để phòng ngừa co cứng, việc vận động tay và chân liệt cần được thực hiện sớm trong giai đoạn cấp, với sự hỗ trợ từ người chăm sóc hoặc gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 18,5% người nhà biết cần đặt phía thân liệt ra giữa phòng, nhưng sau can thiệp, con số này đã tăng lên 90,7% Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Đông cho thấy 92% bệnh nhân được chăm sóc đúng cách.

Nghiên cứu cho thấy có đến 42,3% bệnh nhân (NB) tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắc Lắk có nhu cầu được hướng dẫn về vị thế nằm đúng trên giường, nhưng chỉ 10% trong số đó nhận được sự chăm sóc từ điều dưỡng viên Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Mai chỉ ra rằng 56,1% NB cần được chăm sóc về tư thế nằm đúng, trong khi 19,5% có nhu cầu thay đổi tư thế thường xuyên Việc duy trì tư thế đúng không chỉ mang lại cảm giác dễ chịu mà còn rất cần thiết ngay từ giai đoạn sớm của bệnh, và cần được thực hiện liên tục cho đến khi NB hồi phục Do đó, việc nâng cao kiến thức của nhân viên chăm sóc sức khỏe về tư thế đúng cho NB là vô cùng quan trọng, giúp tăng cường cơ hội phục hồi cho bệnh nhân.

Việc giữ tư thế đúng cho người bệnh (NB) có tác dụng quan trọng trong việc giảm co cứng và biến dạng khớp, với 25,9% nhân viên chăm sóc biết rằng mục đích của tư thế đúng là giảm bớt mẫu co cứng Hơn nữa, 44,4% hiểu rằng việc này giúp cho quá trình chăm sóc trở nên dễ dàng hơn, trong khi 50% nhận thức được rằng nó có tác dụng phòng ngừa loét Tuy nhiên, vẫn có 24,1% không hiểu rõ mục đích của việc giữ tư thế đúng Phục hồi chức năng ở giai đoạn sớm không chỉ giúp giảm co cứng mà còn ngăn ngừa các vấn đề như loét, một tình trạng phổ biến ở người bệnh đột quỵ nếu không được chăm sóc đúng cách.

Kỹ năng thực hành của NCSC về PHCN cho người bệnh đột quỵ trước và

Đột quỵ có thể gây ra yếu hoặc liệt một nửa cơ thể, khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc lăn trở, thay đổi tư thế và giữ thăng bằng Điều này làm cho việc ngồi dậy, đứng lên và di chuyển trở nên khó khăn hơn Ngoài ra, người bệnh còn gặp trở ngại trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, rửa mặt, đánh răng và thay quần áo Việc tập vận động là cần thiết để cải thiện khả năng vận động và hỗ trợ người bệnh trong cuộc sống hàng ngày.

Việc phục hồi vận động giúp người bệnh dần trở nên độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, tự chăm sóc bản thân và phục vụ nhu cầu cá nhân, từ đó giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ về chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2014 cho thấy 75% bệnh nhân có nhu cầu luyện tập tay chân, nhưng 33,3% nhu cầu chưa được đáp ứng Đặc biệt, 96,6% bệnh nhân cần vận động tay chân liệt, trong khi 32% chưa nhận được hướng dẫn từ nhân viên chăm sóc Hơn nữa, 50% bệnh nhân cần hỗ trợ tập ngồi, 92,3% cần tập đứng và 51,9% cần tập đi, nhưng tỷ lệ không được đáp ứng lần lượt là 65,4%, 59,3% và 50% Về kỹ thuật đặt bệnh nhân nằm ngửa, chỉ có 48,1% nhân viên thực hiện đúng, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này tăng lên 100% Tuy nhiên, chỉ 35,2% thực hiện đúng bước kê cổ chân vuông góc với cẳng chân Việc đặt đúng tư thế cho các khớp, đặc biệt là bên liệt, là rất quan trọng để hỗ trợ phục hồi Đối với kỹ thuật đặt bệnh nhân nằm nghiêng, chỉ có 37% và 33,3% nhân viên thực hiện đúng, cho thấy kỹ năng còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ tuần hoàn kém và loét do đè ép.

Kỹ năng tập cho NB lăn nghiêng sang bên lành, bên liệt là 24,1% và 64,8%

Tỷ lệ lăn nghiêng sang bên liệt cao gấp gần 3 lần so với bên lành, cho thấy sự thuận lợi khi người bệnh lăn sang bên liệt Bên lành hoàn toàn chủ động trong các thao tác sinh hoạt như cầm nắm các vật đơn giản mà không cần phụ thuộc vào người thân Chính vì lý do này, NCSC thường khuyến khích người bệnh lăn nghiêng sang bên liệt nhiều hơn để giảm thiểu sự phụ thuộc vào người khác.

Kỹ thuật tập cho người bệnh ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa đạt tỷ lệ thực hiện đúng và đủ các bước lên đến 72,2%, gấp đôi so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ Đặc biệt, các bước trong kỹ thuật này đều được NCSC thực hiện trên 50% Điều này cho thấy kỹ thuật này được NCSC thực hiện nhiều lần trong ngày, trở thành quen thuộc mỗi khi họ hỗ trợ người bệnh đi lại hoặc vệ sinh cá nhân.

Chỉ có 13% NCSC thực hiện các động tác tập duy trì và tăng cường sức mạnh cơ, trong đó hai động tác dồn trọng lượng lên chân liệt và kỹ thuật bắc cầu có tỷ lệ dưới 10% Điều này cho thấy NCSC chưa có kỹ năng tốt hoặc chưa được hướng dẫn đầy đủ để thực hiện các động tác này Thực tế, hai kỹ thuật này khó hơn so với các kỹ thuật khác, và nếu không được hướng dẫn tỉ mỉ, NCSC sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện Ngược lại, tỷ lệ NCSC thực hiện các động tác như gập duỗi khủy tay hoặc gập duỗi gối cao trên 80%, cho thấy đây là những thao tác dễ thực hiện và đơn giản nhất.

Chỉ có 13% NCSC thực hiện đúng và đủ các bước hướng dẫn giúp người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày Trong đó, hai bước hỗ trợ người bệnh di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại, cũng như giúp người bệnh đứng dậy, đạt tỷ lệ thực hiện cao hơn nhiều, với 72,2% Điều này cho thấy hai bước đầu tiên diễn ra thường xuyên trong ngày, do đó NCSC thực hiện tốt hơn Ngược lại, hai bước còn lại cần có sự hướng dẫn và hỗ trợ từ nhân viên y tế để NCSC có thể thực hiện hiệu quả.

Kết quả của can thiệp

Đánh giá kiến thức của NCSC về phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỵ cho thấy sự cải thiện rõ rệt sau can thiệp Trước can thiệp, chỉ có 7,4% NCSC có kiến thức đạt, trong khi 92,6% không đạt Sau khi thực hiện can thiệp truyền thông giáo dục sức khoẻ, tỷ lệ NCSC có kiến thức đạt đã tăng lên 96,3%, cho thấy hiệu quả tích cực của chương trình Điểm trung bình kiến thức của NCSC cũng tăng từ 5,57 lên 11,98, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Về khả năng thực hành, trước can thiệp chỉ có 5,6% NCSC thực hiện được các kỹ thuật PHCN, nhưng sau khi được hướng dẫn, tỷ lệ này đã tăng lên 98,1%.

Việc thay đổi tư thế cho người bệnh là rất quan trọng trong quá trình phục hồi, giúp hạn chế biến chứng trên da và hệ hô hấp Điểm trung bình của NCSC về việc thay đổi tư thế trước can thiệp là 10,56 ± 2,82, sau can thiệp tăng lên 18,30 ± 1,96 Để giảm thiểu biến chứng co cơ cứng khớp và cải thiện chức năng sinh hoạt, NCSC cần phát triển kỹ năng thực hành các bài tập duy trì và tăng cường sức mạnh cơ Điểm kỹ năng thực hành cho người bệnh sau đột quỵ trước can thiệp là 6,83 ± 2,21, và sau can thiệp tăng lên 13,96 ± 3,41, với điểm thấp nhất là 10 và cao nhất là 30 Sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Sự can thiệp giáo dục đã mang lại những thay đổi tích cực cho NCSC, chứng minh vai trò quan trọng của nhân viên y tế, đặc biệt là những người làm công tác phục hồi chức năng, trong việc tư vấn và giáo dục sức khỏe Việc hướng dẫn thực hành thông qua phương pháp cầm tay chỉ việc và tài liệu minh họa rõ nét đã nâng cao hiệu quả điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đồng thời giảm bớt hậu quả của bệnh tật và gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên áp dụng bộ công cụ đánh giá theo Quyết định số 1149/QĐ – BYT ngày 01 tháng 4 năm 2008 về phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não Chúng tôi không tìm thấy các nghiên cứu khác có tiêu chí đánh giá tương tự, do đó, việc thảo luận của chúng tôi còn gặp nhiều hạn chế.

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô phỏng 2 thể đột quỵ xuất huyết não và thiếu máu cục bộ não. Nguồn: - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Hình 1.1. Mô phỏng 2 thể đột quỵ xuất huyết não và thiếu máu cục bộ não. Nguồn: (Trang 14)
Bảng 1.1. Loại đột quỵ và đặc điểm. Nguồn: Wolfe &amp; Rudd, 2008 - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 1.1. Loại đột quỵ và đặc điểm. Nguồn: Wolfe &amp; Rudd, 2008 (Trang 15)
Hình 2.3.1. Sơ đồ qui trình nghiên cứu - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Hình 2.3.1. Sơ đồ qui trình nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 3.2. Kiến thức của người chăm sóc chính về bệnh đột quỵ - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.2. Kiến thức của người chăm sóc chính về bệnh đột quỵ (Trang 38)
Bảng 3.4. Yếu tố tiếp cận truyền thông của người chăm sóc chính về PHCN cho - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.4. Yếu tố tiếp cận truyền thông của người chăm sóc chính về PHCN cho (Trang 39)
Bảng 3.3. Kiến thức người chăm sóc chính về tầm quan trọng của PHCN NB sau - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.3. Kiến thức người chăm sóc chính về tầm quan trọng của PHCN NB sau (Trang 39)
Bảng 3.6. Kiến thức của người chăm sóc chính về số lần tập/01 động tác - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.6. Kiến thức của người chăm sóc chính về số lần tập/01 động tác (Trang 40)
Bảng 3.9. Kiến thức của người chăm sóc chính về nội dung chăm sóc tư thế đúng - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.9. Kiến thức của người chăm sóc chính về nội dung chăm sóc tư thế đúng (Trang 42)
Bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ NCSC trả lời được trên 2 ý trở lên về nội dung chăm  sóc tư thế đúng cho người bệnh là 51,9% - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ NCSC trả lời được trên 2 ý trở lên về nội dung chăm sóc tư thế đúng cho người bệnh là 51,9% (Trang 42)
Bảng 3.15. Kỹ năng của người chăm sóc chính về tập cho người bệnh lăn - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.15. Kỹ năng của người chăm sóc chính về tập cho người bệnh lăn (Trang 45)
Bảng 3.18. Kỹ năng của người chăm sóc chính về cách hướng dẫn, giúp người  bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.18. Kỹ năng của người chăm sóc chính về cách hướng dẫn, giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp (Trang 47)
Bảng 3.19. Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kiến thức trước và sau can thiệp - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.19. Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kiến thức trước và sau can thiệp (Trang 48)
Bảng 3.20. Đánh giá sự thay đổi kỹ năng thực hành trước và sau can thiệp của - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.20. Đánh giá sự thay đổi kỹ năng thực hành trước và sau can thiệp của (Trang 49)
Bảng 3.21. Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kỹ năng thực hành trước và sau - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.21. Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kỹ năng thực hành trước và sau (Trang 49)
Bảng 3.23. Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kỹ năng thực hành các động tác duy  trì, tăng cường sức mạnh cơ sinh hoạt hàng ngày cho người bệnh sau đột quỵ - (Luận văn) thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017
Bảng 3.23. Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kỹ năng thực hành các động tác duy trì, tăng cường sức mạnh cơ sinh hoạt hàng ngày cho người bệnh sau đột quỵ (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w