1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thay đổi lối sống ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng trị năm 2019 sau giáo dục sức khỏe

119 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thay đổi lối sống ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị năm 2019 sau giáo dục sức khỏe
Tác giả Lê Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Thành
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Tổng quan về bệnh tăng huyết áp (15)
    • 1.2. Lối sống kiểm soát tăng huyết áp (21)
    • 1.3. Vai trò của giáo dục sức khỏe trong thay đổi lối sống ở người bệnh tăng huyết áp (0)
    • 1.4. Các nghiên cứu về lối sống kiểm soát tăng huyết áp (0)
    • 1.5. Khung lý thuyết nghiên cứu (0)
    • 1.6. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (32)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (34)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (34)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (34)
    • 2.4. Cỡ mẫu (35)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (35)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (36)
    • 2.7. Can thiệp giáo dục sức khỏe (37)
    • 2.8. Các biến số nghiên cứu (38)
    • 2.9. Bộ công cụ và tiêu chuẩn đánh giá (38)
    • 2.10. Phương pháp phân tích số liệu (41)
    • 2.11. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (41)
    • 2.12. Sai số và biện pháp khắc phục (41)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (43)
    • 3.2. Thực trạng kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (46)
    • 3.3. Sự thay đổi kiến thức và thực hành về lối sống của đối tượng nghiên cứu sau (56)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (66)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (66)
    • 4.2. Thực trạng kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp (69)
    • 4.3. Sự thay đổi kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe (77)
    • 4.4. Hạn chế của nghiên cứu (84)
  • KẾT LUẬN (86)

Nội dung

Sự thay đổi kiến thức và thực hành về lối sống của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp giáo dục sức khỏe .... Sự thay đổi kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đố

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những người bệnh từ 18 tuổi trở lên, được bác sĩ chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp (THA) và đang điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị trong năm 2019.

Người bệnh được chẩn đoán tăng huyết áp và đang điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019, với thời gian điều trị tối thiểu là 1 tháng.

- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu

- Người bệnh có khả năng trả lời phỏng vấn và tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe

- Người bệnh có diễn biến bệnh nặng lên phải vào điều trị nội trú

- Nguời bệnh không tham gia đầy đủ các lần đánh giá

- Người bệnh đang tham gia các lớp giáo dục sức khỏe khác trong thời gian nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2019 đến tháng 8/2019

- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 3/2019 đến tháng 5/2019

- Địa điểm nghiên cứu: Phòng khám Nội tim mạch - Khoa khám bệnh, bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng trị.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe đã thực hiện so sánh trước và sau trên một nhóm đối tượng Tài liệu luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất có thể được tải xuống qua email.

Cỡ mẫu

Tất cả bệnh nhân tăng huyết áp từ 18 tuổi trở lên, đang điều trị ngoại trú và tái khám định kỳ hàng tháng tại phòng khám Nội tim mạch, Khoa khám bệnh sẽ được lựa chọn tham gia nghiên cứu Việc tái khám này nhằm đảm bảo thời gian đánh giá lại sau 1 tháng và 2 tháng kể từ khi can thiệp, đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu.

Vào tháng 3/2019, nghiên cứu đã chọn 110 bệnh nhân tham gia giáo dục sức khỏe và đánh giá tại thời điểm T1 Trong quá trình thu thập dữ liệu cho các thời điểm T2 và T3, có 3 đối tượng nghiên cứu rút lui, bao gồm 2 bệnh nhân không đến tái khám và 1 bệnh nhân phải nhập viện điều trị Do đó, cỡ mẫu cuối cùng của nghiên cứu là 107 người.

Phương pháp chọn mẫu

Nhóm nghiên cứu đã chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, nơi có khoảng 40-50 bệnh nhân tăng huyết áp (THA) đến khám mỗi ngày, chủ yếu vào buổi sáng Để thuận lợi cho việc giáo dục sức khỏe và thu thập dữ liệu, nghiên cứu được thực hiện vào buổi sáng từ thứ 2 đến thứ 6 Tất cả bệnh nhân đến khám tại phòng khám nội tim mạch trong thời gian nghiên cứu đều đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu, và từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được 107 bệnh nhân.

Can thiệp giáo dục sức khỏe về thay đổi lối sống được thực hiện với đối tượng nghiên cứu là người bệnh tăng huyết áp (THA) Đánh giá trước can thiệp (T1) sẽ giúp xác định tình trạng ban đầu của người bệnh Sau một tháng can thiệp, đánh giá lại (T2) sẽ cho thấy hiệu quả của chương trình Cuối cùng, việc đánh giá lại sau can thiệp sẽ giúp theo dõi sự tiến triển và điều chỉnh phương pháp nếu cần thiết.

So sánh, bàn luận, kết luận luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu trong đề tài được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộcâu hỏi có sẵn (phụlục 3)

Việc thu thập sốliệu được thưc hiện qua 3 giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ

Bộ công cụ khảo sát được phát triển dựa trên tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế, đồng thời tham khảo phần STEP để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình thu thập dữ liệu.

Sau khi tham khảo ý kiến từ thầy hướng dẫn và trao đổi với các bác sĩ chuyên khoa cùng đồng nghiệp, bộ phiếu điều tra STEPS Việt Nam 2015 đã được điều chỉnh và bổ sung các câu hỏi để phù hợp hơn với mục tiêu, đối tượng và địa bàn nghiên cứu.

Bộ công cụ xây dựng đã được thử nghiệm và hoàn thiện thông qua việc áp dụng điều tra trên 30 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn chọn mẫu Kết quả kiểm định độ tin cậy của bộ công cụ cho thấy hệ số Cronbach's alpha cho thang đo kiến thức về thay đổi lối sống trong điều trị tăng huyết áp là 0,81, trong khi hệ số cho thang đo thực hành là 0,73 Phản hồi từ đối tượng nghiên cứu đã được thu thập, từ đó các câu hỏi được chỉnh sửa và bổ sung để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, trước khi in ấn phục vụ cho tập huấn và điều tra.

* Giai đoạn 2: Tập huấn cho điều tra viên về bộ công cụ thu thập số liệu

- Đối tượng tập huấn: 3 điều tra viên là giảng viên của trường Cao đẳng Y tế Quảng trị

Nội dung tập huấn bao gồm mục đích của cuộc điều tra, các câu hỏi cần thiết, kỹ năng tiếp xúc với người bệnh, kỹ năng phỏng vấn và kỹ năng khai thác hồ sơ bệnh án.

Nghiên cứu viên tiến hành giáo dục sức khỏe cho đối tượng nghiên cứu nhằm đảm bảo tính nhất quán của kết quả can thiệp Các điều tra viên lựa chọn bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và thực hiện phỏng vấn để thu thập dữ liệu.

* Giai đoạn 3: Tiến hành thu thập số liệu ở 3 thời điểm bằng bộ câu hỏi có sẵn

Trước khi tiến hành phỏng vấn, điều tra viên cần giải thích rõ ràng cho người bệnh về quy trình nghiên cứu Chỉ khi người bệnh đồng ý, thông tin mới được thu thập Đồng thời, điều tra viên sẽ ghi lại số điện thoại của người bệnh để đảm bảo việc nhắc hẹn lịch tái khám, đồng thời cam kết bảo mật thông tin này.

Trong quá trình thu thập số liệu lần 1 (T1), sau khi người bệnh hoàn tất khám và xét nghiệm, điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp người bệnh trong khoảng thời gian 10 phút, trong lúc họ chờ nhận kết quả xét nghiệm và kê đơn thuốc Sau khi hoàn tất việc thu thập số liệu, nghiên cứu viên và điều tra viên sẽ phân tích và đánh giá những vấn đề còn tồn tại cũng như những điểm mà người bệnh còn yếu hoặc thiếu.

Trước khi tái khám, nghiên cứu viên sẽ gọi điện nhắc nhở người bệnh 1 - 2 ngày theo lịch hẹn của bác sĩ Tại lần đánh giá thứ hai sau 4 tuần giáo dục sức khỏe, điều tra viên sẽ tiến hành đánh giá lại kiến thức và thực hành về lối sống của người bệnh bằng bộ công cụ tương tự như lần đầu.

- Thu thập số liệu lần 3 (đánh giá lần 3 sau giáo dục sức khỏe 8 tuần: T3)

Trước thời gian khám lại 1 - 2 ngày theo lịch hẹn của bác sỹ, nghiên cứu viên gọi điện để nhắc nhở người bệnh đến tái khám

Thu thập số liệu bằng bộ công cụ và cách thức tiến hành như lần 1 và lần 2.

Can thiệp giáo dục sức khỏe

Tài liệu cho buổi tư vấn đã được in theo nội dung đã thảo luận Các vật dụng cần thiết như máy tính, máy chiếu, giấy A4, A0, giấy màu, bút và sổ ghi chép đã được chuẩn bị đầy đủ.

Nội dung can thiệp bao gồm việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh về thay đổi lối sống, dựa trên tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế, cùng với tài liệu truyền thông từ dự án phòng chống tăng huyết áp trong chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.

- Hình thức: Tư vấn trực tiếp từng người hoặc nhóm nhỏ 5-6 người bệnh tại phòng tư vấn của khoa khám bệnh bệnh viện đa khoa Tỉnh Quảng Trị

- Cách thức can thiệp: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Người bệnh tăng huyết áp cần tuân thủ việc chọn mẫu và tái khám định kỳ Sau khi nhận được kết quả đánh giá nhanh trước can thiệp, nghiên cứu viên sẽ tiến hành giáo dục sức khỏe trực tiếp cho người bệnh.

+ Phát tờ rơi, tài liệu phát tay về thay đổi lối sống của người bệnh tăng huyết áp

+ Trao đổi, thảo luận và đưa ra giải pháp về những thuận lợi, khó khăn khi người bệnh thực hiện thay đổi lối sống

+ Giải đáp mọi thắc mắc của người bệnh

+ Thời gian giáo dục sức khỏe kéo dài từ 30 – 45 phút.

Các biến số nghiên cứu

Các nhóm và biến số trong nghiên cứu gồm:

Nhóm biến thông tin chung về đối tượng nghiên cứu bao gồm các yếu tố như tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thu nhập và tôn giáo.

Nhóm biến liên quan đến thông tin trong quá trình điều trị bao gồm thời gian chẩn đoán, số đo huyết áp hiện tại, các biến chứng, tiền sử gia đình mắc bệnh tăng huyết áp (THA) và nguồn thông tin.

Để điều trị tăng huyết áp hiệu quả, cần chú trọng đến nhóm biến số kiến thức về lối sống, bao gồm năm nội dung chính: kiến thức về chế độ ăn uống, như thói quen ăn mặn, khẩu phần ăn giàu chất xơ và hạn chế chất béo; kiến thức không hút thuốc lá; kiến thức về việc hạn chế uống rượu và bia; kiến thức về hoạt động thể lực; và kiến thức về chế độ nghỉ ngơi hợp lý.

Nhóm biến số thực hành về lối sống để điều trị tăng huyết áp bao gồm năm nội dung chính: thực hành chế độ ăn uống hợp lý với việc hạn chế thói quen ăn mặn, tăng cường khẩu phần ăn nhiều chất xơ và giảm chất béo; không hút thuốc lá; hạn chế uống rượu và bia; duy trì hoạt động thể lực thường xuyên; và thực hiện chế độ nghỉ ngơi hợp lý.

Các biến số cụ thể (Phụ lục 1).

Bộ công cụ và tiêu chuẩn đánh giá

Bộcông cụgồm 54 câu hỏi được chia thành 3phần, cụthể(Phụlục 3):

* Phần 1: Thông tin chung của người bệnh luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Phần A của bài viết cung cấp thông tin về nhân khẩu học của người bệnh thông qua 8 câu hỏi từ C1 đến C8 Những câu hỏi này tập trung vào các đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng tham gia nghiên cứu, bao gồm tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, tôn giáo, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, công việc hiện tại, hoàn cảnh gia đình và thu nhập.

Phần B cung cấp thông tin quan trọng về điều trị bệnh tăng huyết áp, bao gồm 6 câu hỏi từ C9 đến C14 Những câu hỏi này tập trung vào quá trình điều trị và việc tiếp nhận thông tin tư vấn liên quan đến lối sống nhằm kiểm soát huyết áp hiệu quả.

* Phần 2: Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về lối sống kiểm soát huyết áp

Gồm 11 câu hỏi từ C11 đến C25 Gồm các câu hỏi có kiến thức liên quan đến chế độ ăn, hút thuốc, hạn chế uống rượu bia, hoạt động thể lực và chế độ nghỉ ngơi Cách đánh giá: Căn cứ cách phân loại kiến thức thường dùng trong giáo dục với ngưỡng điểm từ 5 trở lên trên thang điểm 10 được coi là đạt, tương đương với 50% trên 100% số điểm Cụ thể, trong nghiên cứu này phần kiến thức vềlối sống để kiểm soát huyết áp, mỗi câu hỏi được đánh giá theo từng ý đúng, mỗi ý đúng được 1 điểm Tổng điểm kiến thức là 17 điểm, do vậy kiến thức của người bệnh được coi là đạt khi được ≥ 9 điểm

* Phần 3: Thực hành của đối tượng nghiên cứu về lối sống kiểm soát huyết áp

Cách đánh giá: Đánh giá mức độ đạt thực hành về lối sống kiểm soát huyết áp theo từng nội dung thực hành Cụ thể:

- Chế độ ăn : gồm 3 nội dung: Chế độ ăn giảm muối, ăn tăng rau quả và hạn chế chất béo

Chế độ ăn giảm muối được đánh giá qua ba câu hỏi từ C26 đến C28 Để đạt điểm tối đa, người bệnh cần hiếm khi hoặc không bao giờ thêm mắm muối khi chế biến thức ăn và không thường xuyên tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn Mỗi câu trả lời "hiếm khi" hoặc "không bao giờ" sẽ được tính 1 điểm, với tổng điểm tối đa cho phần này là 2 điểm Người bệnh sẽ được coi là không ăn mặn khi đạt 2 điểm.

Chế độ ăn rau quả được đánh giá qua 5 câu hỏi từ C29 đến C33, trong đó người bệnh cần tiêu thụ ít nhất 5 đơn vị rau hoặc quả mỗi ngày để đạt yêu cầu Mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm, với tổng điểm tối đa cho phần này là 4 điểm Để được xem là có chế độ ăn rau quả đạt tiêu chuẩn, người bệnh cần đạt ít nhất 2 điểm.

Chế độ ăn hạn chế chất béo được đánh giá qua 3 câu hỏi từ C34 đến C36 Người bệnh đạt yêu cầu khi sử dụng dầu thực vật và hạn chế thực phẩm nhiều mỡ Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm tối đa cho phần này là 2 điểm Để được coi là ăn hạn chế chất béo, người bệnh cần đạt 2 điểm.

Chế độ ăn được đánh giá qua 11 câu hỏi từ C26 đến C36, mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm Tổng điểm tối đa là 11, và người bệnh được xem là đạt yêu cầu về chế độ ăn khi có từ 6 điểm trở lên.

Hút thuốc lá và thuốc lào được đánh giá qua 4 câu hỏi từ C37 đến C40 Người bệnh được coi là thực hành tốt khi chưa bao giờ hút hoặc đã từng hút nhưng hiện tại đã bỏ thuốc Đặc biệt, nếu trong tháng vừa qua người bệnh không hút thuốc lá, họ sẽ được đánh giá là đã thành công sau can thiệp.

Người bệnh được đánh giá thực hành hạn chế uống rượu/bia thông qua 4 câu hỏi từ câu C41 đến C44 Đánh giá này cho thấy người bệnh chưa bao giờ uống, đã ngừng uống, hoặc chỉ uống trong mức cho phép.

Hoạt động thể lực được đánh giá qua 6 câu hỏi từ C45 đến C50, tập trung vào ba nội dung chính: hoạt động công việc hàng ngày, hoạt động đi lại và hoạt động luyện tập thể dục thể thao.

Người bệnh được coi là đạt yêu cầu khi thực hiện một trong ba nội dung với mức độ vừa phải từ 30-60 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần Tổng điểm tối đa là 6 điểm, và người bệnh được xem là hoạt động thể lực đạt yêu cầu khi có từ 2 điểm trở lên.

Chế độ nghỉ ngơi bao gồm 4 câu hỏi từ C51 đến C54, tập trung vào giấc ngủ, stress và biện pháp giữ ấm cơ thể Mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, với tổng điểm tối đa là 3 Người bệnh đạt chế độ nghỉ ngơi khi không gặp vấn đề về giấc ngủ, không lo lắng căng thẳng và chú ý đến việc giữ ấm cơ thể để tránh lạnh đột ngột Để đạt yêu cầu, người bệnh cần đạt 3 điểm.

Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, nhập và phân tích trên phần mềm SPSS 20.0

Phương pháp tính tần số, tính tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình được sử dụng cho cấu phần mô tả

Sử dụng các thuật toán thích hợp để kiểm tra các giá trị trước và sau can thiệp Áp dụng kiểm định McNemar để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ trước và sau can thiệp, đồng thời sử dụng T-test để kiểm tra sự khác biệt giữa các giá trị trung bình trong cùng khoảng thời gian.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành sau khi đề cương đã được Hội đồng đề cương và Hội đồng đạo đức nghiên cứu của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định phê duyệt.

Nghiên cứu được tiến hành sau khi đã nhận được sự đồng ý của Ban lãnh đạo Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên sự đồng ý tự nguyện của các đối tượng tham gia Tất cả thông tin thu thập từ họ sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

Mục đích của nghiên cứu nhằm góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người bệnh tăng huyết áp nói riêng và cộng đồng nói chung.

Sai số và biện pháp khắc phục

Sai số trong việc nhớ lại và sự chủ quan của người bệnh khi trả lời phỏng vấn có thể xảy ra ở một số câu hỏi, do họ không nhớ chính xác những sự kiện đã diễn ra.

- Sai số ngẫu nhiên: do điều tra viên giải thích chưa rõ câu hỏi hoặc đối tượng nghiên cứu không hiểu rõ nội dung của câu hỏi

Sai số do dụng cụ đo lường như máy đo huyết áp, thước đo chiều cao và cân nặng có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả Việc hiểu rõ về các loại sai số này là cần thiết để đảm bảo tính chính xác trong các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.

Phiếu điều tra được thiết kế một cách logic với ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu, kèm theo hình ảnh minh họa cho các câu hỏi có đo lường, giúp đối tượng nghiên cứu dễ dàng trả lời.

- Trước khi phỏng vấn người nghiên cứu phải giải thích rõ mục đích, ý nghĩa để đối tượng nghiên cứu hợp tác đảm bảo tính trung thực

Để giảm thiểu sai số từ dụng cụ đo lường, cần kiểm tra độ chính xác của thiết bị trước khi thực hiện đo và sử dụng cùng một loại máy đo cho tất cả các đối tượng nghiên cứu trong quá trình thu thập dữ liệu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n7)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Kết quả bảng 3.1 cho ta thấy trong tổng số 107 người bệnh THA tham gia nghiên cứu có 59 người (55,1%) là nam giới

Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 70,87 ± 11,10 tuổi, với độ tuổi thấp nhất là 42 và cao nhất là 94 Đáng chú ý, hầu hết người bệnh đều trên 60 tuổi và không theo tôn giáo.

Bảng 3.2 Đặc điểm về học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống và kinh tế của đối tượng nghiên cứu (n7)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Khác: Mất sức lao động, Nội trợ… 34 31,8

Theo Bảng 3.2, phần lớn ĐTNC có trình độ học vấn tiểu học, chiếm 32,7%, trong khi tỷ lệ người có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp trở lên chỉ đạt 13,2%.

Hầu hết người bệnh trong nhóm nghiên cứu nghỉ hưu (43%), mất sức lao động hoặc ở nhà làm công việc nội trợ (31,8%)

Phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp (THA) sống cùng với người thân (94,4%) và có điều kiện kinh tế bình thường (87,9%).

3.1.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3 Đặc điểm liên quan đến điều trị của đối tượng nghiên cứu (n7)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Thời gian phát hiện bệnh tăng huyết áp

Chỉ số huyết áp trước can thiệp

Biến chứng tăng huyết áp hoặc bệnh kèm theo

Có 2 biến chứng trở lên 30 28 Người thân trong GĐ mắc bệnh THA

Kết quả bảng 3.3 cho ta thấy người bệnh THA biết bản thân bị THA từ 1

Trong 5 năm nghiên cứu, tỷ lệ mẫu chiếm 51,4% Có 31,8% đối tượng nghiên cứu có chỉ số huyết áp tăng và 32,7% người bệnh bị thừa cân, béo phì Đáng chú ý, 92,5% đối tượng nghiên cứu đã gặp phải biến chứng do bệnh tăng huyết áp Gần một nửa (43%) người bệnh tăng huyết áp có người thân trong gia đình mắc bệnh này.

3.1.3 Đặc điểm được tiếp nhận thông tin về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp

Bảng 3.4 Tiếp nhận thông tin về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n7)

Tiếp nhận thông tin Số lượng Tỷ lệ %

Theo Bảng 3.4, có 31,8% đối tượng nghiên cứu chưa từng nhận được thông tin về lối sống kiểm soát tăng huyết áp trước khi can thiệp.

Bảng 3.5 Nguồn thông tin tiếp nhận về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n= 73)

Nguồn thông tin Số lượng Tỷ lệ % Đài, báo,Ti vi, internet 25 34,2

Nguồn thông tin về lối sống kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu chủ yếu đến từ hai nguồn chính: cán bộ y tế chiếm 76,7% và các phương tiện truyền thông như đài báo, ti vi, internet với tỷ lệ 34,2%.

Thực trạng kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Thực trạng kiến thức về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

3.2.1.1 Thực trạng kiến thức về chế độ ăn và bệnh tăng huyết áp

Bảng 3.6 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chế độ ăn (n7)

Nội dung Trả lời đúng

Chế độ ăn người bệnh THA nên ăn Ăn hạn chế muối Ăn tăng rau củ quả Ăn hạn chế chất béo

Loại thực phẩm người bệnh THA nên ăn

Thực phẩm nhiều chất xơ Thực phẩm ít muối Thực phẩm chế biến sẵn Thực phẩm rau quả Thực phẩm nhiều chất béo

Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy kiến thức của ĐTNC về chế độ ăn hạn chế muối đạt tỷ lệ cao (84,1%), trong khi đó, kiến thức về chế độ ăn tăng cường rau củ quả chỉ đạt 49,5% và việc hạn chế chất béo đạt tỷ lệ trung bình và thấp (31,8%).

Người bệnh tăng huyết áp (THA) cần nắm vững kiến thức về chế độ ăn uống, trong đó thực phẩm chế biến sẵn chiếm tỷ lệ cao (97,2%) và thực phẩm ít muối đạt 84,1% Ngoài ra, thực phẩm nhiều chất béo cũng được chú trọng với tỷ lệ 89,7% Tuy nhiên, kiến thức về thực phẩm giàu chất xơ và rau quả vẫn còn ở mức trung bình, với tỷ lệ lần lượt là 42,1% và 44,9%.

3.2.1.2 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá/thuốc lào và bệnh tăng huyết áp

Bảng 3.7 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá và bệnh tăng huyết áp (n7)

Nội dung Trả lời đúng

Hút thuốc lá có làm tăng huyết áp 57 53,3

Người bệnh THA có cần bỏ thuốc 76 71

Theo Bảng 3.7, có 53,3% đối tượng được khảo sát cho rằng hút thuốc lá không làm tăng huyết áp hoặc không biết về vấn đề này Tuy nhiên, 71% trong số họ nhận thức rằng bệnh nhân tăng huyết áp cần phải từ bỏ thuốc lá và thuốc lào.

3.2.1.3 Thực trạng kiến thức về hạn chế uống rượu, bia và bệnh tăng huyết áp

Bảng 3.8 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hạn chế uống rượu, bia và bệnh tăng huyết áp (n7)

Nội dung Trả lời đúng

Uống rượu, bia có làm tăng huyết áp 86 80,4

Người bệnh THA có cần hạn chế uống rượu, bia 90 84,1

Lượng rượu, bia tối đa mà người bệnh

Theo Bảng 3.8, 80,4% đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về mối liên hệ giữa việc uống rượu bia và bệnh tăng huyết áp (THA), cũng như cần hạn chế khi mắc bệnh này Tuy nhiên, chỉ có 6,5% người bệnh THA nhận thức được ngưỡng rượu bia cần hạn chế theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

3.2.1.4 Thực trạng kiến thức về hoạt động thể lực và bệnh tăng huyết áp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 3.9 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hoạt động thể lực và bệnh tăng huyết áp (n7)

Nội dung Trả lời đúng

Hoạt động thể lực thường xuyên có thể kiểm soát được huyết áp 75 70,1

Người bệnh THA hoạt động thể lực hợp lý

30 – 60 phút/ngày Tập luyện vừa phải Ít nhất 5 lần/tuần

Bảng 3.9 cho ta thấy có 70,1% ĐTNC có kiến thức đúng về hoạt động thể lực thường xuyên có thể kiểm soát được huyết áp

Tỷ lệ người tham gia khảo sát cho rằng hoạt động thể lực hợp lý khi tập luyện vừa phải đạt 83,2% Kiến thức về thời gian hoạt động thể lực hợp lý từ 30 đến 60 phút chỉ đạt 45,8%, trong khi đó, tỷ lệ thực hiện hoạt động thể lực ít nhất 5 lần mỗi tuần chỉ đạt 18,7%.

3.2.1.5 Thực trạng kiến thức về chế độ nghỉ ngơi và bệnh tăng huyết áp

Bảng 3.10 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chế độ nghỉ ngơi và bệnh tăng huyết áp (n7)

Nội dung Trả lời đúng

Lo lắng, căng thẳng và mất ngủ có làm THA 96 89,7 Khi cơ thể nhiễm lạnh đột ngột có thể làm

Theo Bảng 3.10, 89,7% đối tượng nghiên cứu nhận thức được rằng lo âu, căng thẳng và mất ngủ có thể dẫn đến tăng huyết áp (THA) Bên cạnh đó, 63,6% bệnh nhân hiểu rằng sự nhiễm lạnh đột ngột cũng có thể gây ra THA.

Lối sống kiểm soát tăng huyết áp là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Trước khi can thiệp, cần đánh giá điểm kiến thức chung về các biện pháp kiểm soát huyết áp Việc nâng cao nhận thức và áp dụng lối sống lành mạnh sẽ góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe và phòng ngừa các biến chứng liên quan đến tăng huyết áp.

Kiến thức chung của ĐTNC về lối sống kiểm soát tăng huyết áp bao gồm 11 câu hỏi, được chia thành 5 mục chính: chế độ ăn uống, hạn chế tiêu thụ rượu và bia, từ bỏ thuốc lá, và tăng cường hoạt động thể lực.

Kết quả biểu đồ 3.1 cho ta thấy tỷ lệ THA của ĐTNC đạt là 67,3%, không đ

Biểu đồ 3.1 thể hiện điểm kiến thức chung về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp Kiến thức chung của đối tượng nghiên cứu được đánh giá qua 11 câu hỏi thuộc 5 mục: chế độ ăn, hạn chế rượu/bia, bỏ hút thuốc lá, hoạt động thể lực và chế độ nghỉ ngơi Kết quả cho thấy tỷ lệ kiến thức chung về lối sống kiểm soát tăng huyết áp đạt 67,3%, trong khi đó 32,7% không đạt yêu cầu.

67,3% người tham gia đạt kiến thức chung về lối sống kiểm soát tăng huyết áp, được đánh giá qua 11 câu hỏi thuộc 5 mục, bao gồm chế độ ăn uống và hạn chế các yếu tố nguy cơ.

Không đạt luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

3.2.2 Thực trạng thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

3.2.2.1 Thực trạng thực hành về chế độ ăn của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.11 Kết quả thực hành về chế độ ăn của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp (n7)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ % Ăn mặn

25,2 74,8 Ăn số lượng rau/quả trong 1 ngày Đủ Thiếu

Hợp lý Không hợp lý

Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy 25,2% đối tượng nghiên cứu có thói quen ăn mặn, trong khi 46,7% ăn đủ lượng rau quả theo khuyến cáo của WHO, tức là ít nhất 5 suất rau/trái cây (400 gam) mỗi ngày Đáng chú ý, 86,9% đối tượng có thói quen sử dụng dầu, mỡ hợp lý.

Kết quả thực hành đánh giá chế độ ăn cho người bệnh được phân loại dựa trên ba nội dung khuyến cáo Những người đạt yêu cầu sẽ có tổng điểm từ 6 trở lên, trong khi những người có điểm dưới 6 sẽ được coi là không đạt.

Theo đó, biểu đồ 3.2 cho ta thấy tỷ lệ ĐTNC đạt chun ăn là 53,3%

3.2.2.2 Thực trạng thực hành không hút thu

Hiện tại có hút thuốc

Thực hành chung về hút thuốc

Về tuân thủ chung không hút thu Theo đó người bệnh cứ người bệnh đạt là không hút thu

Bảng 3.12 cho thấ c hành chế độ ăn của đối tượng nghiên cứu trư

Biểu đồ 3.2 trình bày kết quả thực hành chế độ ăn của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp (n=7) Đánh giá thực hành thay đổi lối sống kiểm soát huyết áp cao (THA) được thực hiện qua 11 câu hỏi, dựa trên 3 nội dung khuyến cáo về chế độ ăn cho người bệnh THA Tổng điểm đánh giá đạt từ 6 điểm trở lên cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu không hút thuốc lá/thuốc lào.

Bảng 3.12 Kết quả không hút thuốc lá/thuốc lào của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp (n7)

14 chung không hút thuốc lá được đánh giá theo khuy hút thuốc, bất kỳ loại thuốc nào cũng được coi là không hút thuốc Tỷ lệ ĐTNC không hút thuốc lá/thuốc lào được ghi nhận.

Trước can thiệp, 46,7% người bệnh đạt yêu cầu trong việc kiểm soát huyết áp (THA) với 11 câu hỏi đánh giá Tổng điểm tối đa là 11, trong đó người bệnh được coi là đạt nếu có tổng điểm từ 6 trở lên Những người có điểm dưới 6 cần cải thiện thực hành về chế độ sống.

86,9 13,1 c đánh giá theo khuyến cáo Bộ y tế c coi là không đạt, c lào đạt 86,9%

Không đạt luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

3.2.2.3 Thực trạng thực hành hạn chế uống rượu/bia

Bảng 3.13 Kết quả thực hành hạn chế uống rượu/bia của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp (n7)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Hiện tại có uống rượu/bia

Mức độ uống rượu bia theo quy định

Uống trong mức cho phép

Thực hành hạn chế uống rượu/bia Đạt Không đạt

Kết quả bảng 3.13 cho ta thấy có 34 NB (31,8%) hiện tại vẫn còn uống rượu, bia và 73 NB (68,2%) không uống hoặc có uống nhưng hiện đã dừng

Về thực hành chung hạn chế uống rượu/bia được đánh giá theo khuyến cáo

Sự thay đổi kiến thức và thực hành về lối sống của đối tượng nghiên cứu sau

3.3.1 Sự thay đổi kiến thức về lối sống của đối tượng nghiên cứu 3.3.1.1 Sự thay đổi kiến thức về chế độ ăn kiểm soát tăng huyết áp

Bảng 3.16 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về chế độ ăn kiểm soát tăng huyết áp trước và sau can thiệp (n7)

Chế độ ăn người bệnh THA nên ăn Ăn hạn chế muối Ăn tăng rau hoa quả Ăn hạn chế chất béo

Loại thực phẩm người bệnh THA nên ăn

Giàu chất xơ Ít muối Chế biến sẵn Rau quả Nhiều chất béo

Kết quả từ bảng 3.16 cho thấy kiến thức về chế độ ăn hạn chế muối đã tăng từ 84,1% trước can thiệp lên 98,1% sau 4 tuần giáo dục và duy trì ở mức 96,3% sau 8 tuần Kiến thức về chế độ ăn hạn chế chất béo cũng có sự cải thiện, từ 31,8% trước can thiệp lên 68,2% sau 4 tuần và duy trì 63,6% sau 8 tuần Ngoài ra, kiến thức về việc không nên ăn thực phẩm nhiều chất béo cũng tăng lên Trước can thiệp, gần 1/2 số người bệnh (49,5%) có kiến thức về việc nên ăn nhiều rau quả, con số này đã tăng lên 71% sau 4 tuần giáo dục sức khỏe và duy trì ở mức 69,2% sau 8 tuần.

3.3.1.2 Sự thay đổi kiến thức về không hút thuốc lá, thuốc lào

Bảng 3.17 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về không hút thuốc lá, thuốc lào trước và sau can thiệp (n7)

Nội dung Câu trả lời đúng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Hút thuốc lá, thuốc lào có làm tăng huyết áp

Người bệnh THA có cần bỏ thuốc lá, thuốc lào

Kết quả từ bảng 3.17 cho thấy sự thay đổi đáng kể trong nhận thức của bệnh nhân về tác hại của thuốc lá đối với bệnh tăng huyết áp (THA), với tỷ lệ nhận thức tăng từ 53,3% trước can thiệp lên 86% sau 4 tuần và 82,2% sau 8 tuần Sau quá trình giáo dục, phần lớn bệnh nhân nhận ra rằng việc bỏ thuốc lá là cần thiết khi mắc bệnh THA, với tỷ lệ này tăng từ 71% trước can thiệp lên 95,3% sau 4 tuần và 93,5% sau 8 tuần.

3.3.1.3 Sự thay đổi kiến thức về hạn chế uống rượu, bia

Bảng 3.18 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về hạn chế uống rượu, bia trước và sau can thiệp (n7)

Uống rượu, bia có làm tăng huyết áp 86 (80,4) 103 (96,3) 100 (93,5) Người bệnh THA có cần hạn chế uống rượu, bia

Lượng rượu, bia tối đa mà người bệnh THA được phép uống

Bảng 3.18 cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức về tác hại của rượu bia đối với tăng huyết áp (THA) trước can thiệp là 80,4% Sau 4 tuần giáo dục sức khỏe, tỷ lệ này tăng lên 96,3% và duy trì ở mức cao 93,5% sau 8 tuần Đặc biệt, phần lớn người bệnh nhận thức được rằng cần hạn chế uống rượu/bia khi bị THA, với tỷ lệ đúng trước can thiệp là 84,1%, tăng lên 97,2% sau 4 tuần và duy trì 97,2% sau 8 tuần.

Kiến thức về lượng rượu/bia mà người bệnh tăng huyết áp được phép uống đã có sự cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục Cụ thể, chỉ có 6,5% bệnh nhân có kiến thức đúng trước khi can thiệp, nhưng sau 4 tuần, tỷ lệ này đã tăng lên 49,5%, và sau 8 tuần, đạt 47,7%.

3.3.1.4 Sự thay đổi kiến thức về hoạt động thể lực

Bảng 3.19 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về hoạt động thể lực trước và sau can thiệp (n7)

Hoạt động thể lực thường xuyên có thể kiểm soát được huyết áp 75 (70,1) 100 (93,5) 97 (90,7) Người bệnh THA hoạt động thể lực hợp lý

30 – 60 phút/ngày Tập luyện vừa phải Ít nhất 5 lần/tuần

Bảng 3.19 cho thấy rằng kiến thức về hoạt động thể lực có khả năng kiểm soát huyết áp đã tăng từ 70,1% lên 93,5% sau 4 tuần giáo dục, và đạt 90,7% sau 8 tuần Kiến thức của ĐTNC về hoạt động thể lực hợp lý cũng có sự cải thiện, với tỷ lệ thực hiện 30 – 60 phút/ngày trước can thiệp là 45,8%, tăng lên 76,6% sau 4 tuần và 75,7% sau 8 tuần Tỷ lệ tập luyện mức vừa phải trước can thiệp là 83,2%, và sau 4 tuần cùng 8 tuần đều duy trì ở mức 96,3% Tỷ lệ tập ít nhất 5 lần/tuần cũng tăng từ 18,7% trước can thiệp lên 43,9% sau 4 tuần và 41,1% sau 8 tuần.

3.3.1.5 Sự thay đổi kiến th

Lo lắng, căng thẳng và m THA

Khi cơ thể nhiễm lạnh đột ngột có thể làm THA

Kết quả bảng 3.20 cho ta thấy đa số ng biết rằng khi bị lo lắng, căng thẳng hoặc c THA

* Kết quả sự thay đổi kiến thức chung của đối t can thiệp giáo dục sức khỏe

Biểu đồ 3.4 cho ta th của ĐTNC tăng 26,2% so v chung có giảm so với đánh giá sau 4 tu thiệp

Trước can thiệp n thức về chế độ nghỉ ngơi

Bảng 3.20 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về chế độ nghỉ ngơi trước và sau can thiệp (n7)

96 (89,7) 106 (99,1) ể nhiễm lạnh đột ngột có thể

Kết quả từ bảng 3.20 cho thấy đa số người bệnh sau khi được giáo dục sức khỏe nhận thức rằng lo lắng, căng thẳng hoặc sự thay đổi nhiệt độ cơ thể đột ngột có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ Điều này phản ánh sự thay đổi trong kiến thức chung của đối tượng nghiên cứu sau chương trình giáo dục sức khỏe.

Biểu đồ 3.4 Sự thay đổi kiến thức chung trước và sau can thiệp (n7)

3.4 cho ta thấy sau khi được giáo dục sức khỏe 4 tuần ki a ĐTNC tăng 26,2% so với trước can thiệp, sau 8 tuần đánh giá lại đi i đánh giá sau 4 tuần nhưng vẫn tăng 20,6% so v

Bảng 3.21 Sự thay đổi điểm kiến thức trước và sau can thiệp (n = 107)

Trước can thiệp Sau can thiệp 4 tuần Sau can thiệp 8 tuần

94% (87,9%) người bệnh sau giáo dục sức khỏe đều có khả năng bị nhiễm lạnh đột ngột Kiến thức chung của họ đã tăng 20,6% so với trước khi can thiệp Điểm đánh giá từ 0 đến 10 cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nhận thức về sức khỏe.

Sau can thiệp 4 tuần (T2) 6 17 14,01 ± 2,64 p(2-1) < 0,01 Sau can thiệp 8 tuần (T3) 6 17 13,64 ± 2,91 p(3-1) < 0,01

Bảng 3.21 cho thấy sự chênh lệch điểm qua các lần phỏng vấn Điểm trung bình trước can thiệp là 10,03 ± 2,94 Sau 4 tuần can thiệp, điểm trung bình về kiến thức tăng lên 14,01 ± 2,64, và sau 8 tuần, điểm trung bình đạt 13,64 ± 2,91.

Có sự khác biệt rõ rệt giữa tình trạng trước can thiệp và sau can thiệp 4 tuần, cũng như giữa trước can thiệp và sau can thiệp 8 tuần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.3.2 Sự thay đổi thực hành về lối sống của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp

3.3.2.1 Sự thay đổi thực hành về chế độ ăn trước và sau can thiệp

Bảng 3.22 Kết quả thực hành chế độ ăn của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp (n7)

94 (87,9) Ăn số lượng rau/quả trong 1 ngày Đủ Thiếu

Hợp lý Không hợp lý

Kết quả thực hành chung về chế độ ăn Đạt 57 (53,3) 89 (83,2) 72 (67,3)

Không đạt 50 (46,7) 18 (16,8) 35 (32,7) p (Chi square test) p(2-1)< 0,01 p(3-1) =0,001 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Kết quả từ bảng 3.22 cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong thực hành chế độ ăn giảm muối Cụ thể, tỷ lệ người ăn mặn trước can thiệp là 25,2%, sau 4 tuần can thiệp giảm xuống còn 8,4%, và sau 8 tuần tỷ lệ này tăng nhẹ lên 12,1%.

Trước can thiệp chỉ gần một nửa ĐTNC (46,7%) ăn đủ số lượng rau quả trong ngày, sau can thiệp 4 tuần tăng lên 65,4% và sau 8 tuần 56,1%

Chế độ ăn hạn chế chất béo đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt Trước can thiệp, 13,1% người tham gia sử dụng dầu mỡ không hợp lý, nhưng sau 4 tuần giáo dục, tỷ lệ này giảm xuống còn 1,9% và sau 8 tuần là 6,5% Kết quả thực hành chế độ ăn trước can thiệp đạt 53,3%, tăng lên 83,2% sau 4 tuần và giảm nhẹ xuống 67,3% sau 8 tuần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.3.2.2 Sự thay đổi thực hành không hút thuốc lá/thuốc lào

Bảng 3.23 Kết quả không hút thuốc lá/thuốc lào trước và sau can thiệp (n7)

Hiện tại có hút thuốc

Thực hành không hút thuốc Đạt Không đạt

Sau khi thực hiện giáo dục sức khỏe, Bảng 3.23 cho thấy có sự thay đổi tích cực trong số lượng người bệnh (NB) bỏ thuốc lá/thuốc lào Cụ thể, sau 4 tuần, có 3 NB đã từ bỏ thuốc, và sau 8 tuần, thêm 1 NB nữa đã quyết định bỏ thuốc lá.

Kết quả thực hành chung về hút thuốc lá cho thấy tỷ lệ đạt 86,9% trước can thiệp, tăng lên 89,7% sau 4 tuần và đạt 90,7% sau 8 tuần Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

3.3.2.3 Sự thay đổi thực hành hạn chế uống rượu/bia

Bảng 3.24 Kết quả thực hành hạn chế uống rượu/bia trước và sau can thiệp

Hiện tại có uống rượu/bia

Uống rượu bia theo quy định

Uống trong mức cho phép

Thực hành hạn chế uống rượu/bia Đạt Không đạt

Kết quả bảng 3.24 cho thấy trước can thiệp có 31,8% NB vẫn còn uống rượu/bia, sau giáo dục sức khỏe 4 tuần giảm còn 24,3%, sau 8 tuần giảm còn 22,4%

Kết quả cho thấy tỷ lệ hạn chế uống rượu bia trước can thiệp đạt 85%, tăng lên 97,2% sau 4 tuần giáo dục sức khỏe và 96,3% sau 8 tuần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.3.2.4 Sự thay đổi thực hành hoạt động thể lực luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 3.25 Kết quả thực hành hoạt động thể lực trước và sau can thiệp (n7)

Hoạt động thể lực liên quan đến công việc hàng ngày Đạt

Hoạt động thể lực liên quan đến đi bộ/đi xe đạp mỗi ngày Đạt

Hoạt động thể lực liên quan đến tập thể dục thể thao Đạt

Thực hành hoạt động thể lực chung Đạt Không đạt

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị cho thấy, trong số bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú, tỷ lệ nam giới chiếm 55,1%, cao hơn nữ giới với 44,9% Các nghiên cứu trước đây cũng ghi nhận tỷ lệ nam/nữ tương tự, như nghiên cứu của Ngô Quang Trung (2015) với tỷ lệ nam 57,5% và nữ 42,5%, cũng như nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Mai (2014) với tỷ lệ nam 51,4% và nữ 48,6%.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ giới bị tăng huyết áp cao hơn nam giới, với Trần Thị Kim Xuân (2017) ghi nhận tỷ lệ nam giới là 40,2% và nữ giới là 59,8%.

(2014) tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới, tương ứng lượt là 52,7% và 47,3% [29]

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của đối tượng là 70,87±11,102 tuổi, với độ tuổi thấp nhất là 42 và cao nhất là 94 Độ tuổi trung bình này tương đồng với nghiên cứu của Hà Thị Nhung và cộng sự (2017) là 71,9 tuổi So với các nghiên cứu quốc tế, tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Myung Hwa Yang và CS tại Hàn Quốc (2017), nơi tuổi trung bình của bệnh nhân THA là 64,89 ± 10,22.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 82,2% ĐTNC không theo tôn giáo nào, trong khi chỉ có 16,9% theo đạo Phật và 0,9% theo Công giáo Điều này khác biệt so với nghiên cứu của Đoàn Duy Tân và cộng sự (2017) tại Huyện Karong, Tỉnh Gia Lai, nơi tỷ lệ ĐTNC theo tôn giáo là 37,3%, chủ yếu là Thiên Chúa giáo (7,0%) và Tin Lành (30,3%), trong khi không tôn giáo chiếm 62,7% Tương tự, nghiên cứu của Lê Ngọc Chiêu Ngân và Trương Phi Hùng (2018) tại huyện Bình Đại, Tỉnh Bến Tre cho thấy tỷ lệ ĐTNC không theo tôn giáo là 48%, trong khi theo Phật giáo là 49%.

Sự khác biệt này do đặc điểm tự do tín ngưỡng của từng cá nhân và theo vùng miền

Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của ĐTNC chủ yếu ở mức trung bình, với 32,7% có trình độ tiểu học, 25,2% ở trình độ trung học cơ sở và trung học phổ thông, 13,2% từ trung cấp trở lên, và 3,7% không biết chữ Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Hoàng Cao Sạ và cộng sự, cho thấy 57,2% người bệnh THA có trình độ tiểu học và trung học cơ sở Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi khác với Bùi Thị Thanh Mai (2014), khi phần lớn người bệnh có trình độ văn hóa cơ sở và phổ thông trung học.

[16] và kết quả nghiên cứu của Đoàn Duy Tân và cộng sự (2017) có 45,9% không biết chữ, THPT chỉ 3,3%, trên THPT 5,9% [24]

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là người cao tuổi, với 43% đã nghỉ hưu và 31,8% mất sức lao động hoặc làm nội trợ Một số ít vẫn còn đi làm, trong đó có 21,5% là nông dân, 2,8% là công nhân và 0,9% là cán bộ, viên chức.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu trước đây, bao gồm nghiên cứu của Trần Thị Kim Xuân (2017) và Ngô Quang Trung (2015).

Bùi Thị Thanh Mai (2014) tỷ lệ đã nghỉ hưu hoặc không đi làm với tỷ lệ lần lượt là 79%; 72% và 75,7% [16],[27],[33]

Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy 94,4% người bệnh hiện đang sống cùng người thân, phù hợp với phong tục của người Việt Nam về việc sống chung nhiều thế hệ trong gia đình Tỷ lệ này ảnh hưởng lớn đến lối sống của đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu cũng cho thấy sự tương đồng với tỷ lệ người bệnh sống cùng gia đình trong nghiên cứu của Hà Thị Nhung (2017) là 95,8% và Đào Trọng Quân (2013) là 81,4%.

Tình trạng kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, bao gồm thu nhập, chi phí sinh hoạt và khả năng chi trả cho các dịch vụ khám chữa bệnh Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tiêu chí chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo giai đoạn 2016 đã được xác định để hỗ trợ những đối tượng có thu nhập thấp trong việc tiếp cận dịch vụ y tế.

Năm 2020, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 87,9% đối tượng nghiên cứu có thu nhập bình quân hàng tháng ở mức bình thường, trong khi 12,1% thuộc diện nghèo và cận nghèo Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lê Ngọc Chiêu Ngân và Trương Phi Hùng (2018), trong đó tỷ lệ người bệnh có kinh tế bình thường là 86%, còn hộ nghèo và cận nghèo chiếm 14%.

4.1.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian phát hiện bệnh tăng huyết áp (THA) của đối tượng nghiên cứu chủ yếu nằm trong khoảng từ 1-5 năm, chiếm 51,4%, trong khi nhóm có thời gian phát hiện trên 5 năm chiếm 48,6% Đặc biệt, không có đối tượng nào phát hiện bệnh THA dưới 1 năm Nghiên cứu này tương đồng với các nghiên cứu trước đó của Bùi Thị Thanh Mai (2014) và Ngô Quang Trung (2015), với tỷ lệ người bệnh mắc bệnh từ 1-5 năm lần lượt là 48,6% và 40%.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số BMI cho thấy 51,4% có chỉ số bình thường, 19,6% thừa cân và 13,1% béo phì Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu của Ngô Quang Trung (2015), trong đó tỷ lệ BMI bình thường là 89,5% và thừa cân là 10,5% Ngoài ra, nghiên cứu của Đoàn Duy Tân và cộng sự (2017) cho thấy 70,3% có chỉ số BMI bình thường, 17,8% thừa cân và chỉ 0,5% béo phì.

Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy 43% đối tượng nghiên cứu có người thân mắc bệnh tăng huyết áp (THA) Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Ngô Quang Trung (2015) với 38,5% và cao hơn so với nghiên cứu của Đoàn Duy Tân và cộng sự (2017) với tỷ lệ 30,8%.

4.1.3 Đặc điểm tiếp cận thông tin về lối sống kiểm soát tăng huyết áp

Kết quả cho thấy 68,2% ĐTNC đã tiếp cận thông tin về lối sống kiểm soát THA, với 52,3% thông tin đến từ nhân viên y tế và 23,4% từ các phương tiện truyền thông Nghiên cứu của Lê Đức Hạnh và cộng sự (2013) cũng chỉ ra rằng 60,3% bệnh nhân được tư vấn về THA, trong đó 39,7% từ thầy thuốc Do đó, các kênh thông tin chủ yếu vẫn là nhân viên y tế và phương tiện truyền thông Việc nâng cao công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân THA, đặc biệt là vai trò của thầy thuốc và điều dưỡng viên, là rất cần thiết.

Thực trạng kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp

4.2.1 Thực trạng kiến thức về lối sống kiểm soát tăng huyết áp 4.2.1.1 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chế độ ăn và bệnh tăng huyết áp

Kết quả nghiên cứu trong Bảng 3.6 cho thấy phần lớn người bệnh có kiến thức về chế độ ăn hạn chế muối đạt 84,1%, trong khi đó tỷ lệ người ăn tăng rau củ quả là 49,5% và ăn hạn chế chất béo chỉ đạt 31,8% Những kết quả này có sự khác biệt so với một số nghiên cứu khác trong và ngoài nước.

Nghiên cứu của Trần Văn Long (2012) cho thấy kiến thức về chế độ ăn không mặn, ăn nhiều hoa quả và ăn ít mỡ động vật lần lượt đạt 67%, 16,8% và 7% Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (2011) ghi nhận tỷ lệ kiến thức về ăn nhạt là 54,8% và ăn ít chất béo là 66,8%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kiến thức của ĐTNC về chế độ ăn mặn liên quan đến tăng huyết áp (THA) thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy và cộng sự (2017), trong đó kiến thức về việc giảm muối đạt 91,9%, hạn chế thức ăn chế biến từ mỡ động vật là 92,5%, và ăn nhiều rau xanh cùng hoa quả đạt 66,3%.

Theo tác giả Vanitha Durai và cộng sự (2015) có 85% NB nam giới đã không nhận thức về sự cần thiết để tăng lượng trái cây trong chế độ ăn [65]

Lý do của sự khác biệt đó có thể do đặc điểm giới tính, trình độ học vấn, văn hóa và thông tin mà các ĐTNC được tiếp cận

4.2.1.2 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hút thuốc lá/thuốc lào và bệnh tăng huyết áp

Về kiến thức liên quan đến hút thuốc lá/thuốc lào và bệnh THA, bảng 3.7 cho thấy có 53,3% đối tượng trả lời hút thuốc lá/thuốc lào làm THA

Kết quả này tương đương với kết quả của Nguyễn Minh Phương (2011) và Đào Thị Lan (2014) với các tỷ lệ tương ứng là 53,2% và 46,3% [13],[20]

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt so với một số tác giả trong và ngoài nước Cụ thể, tác giả Trần Văn Long (2012) chỉ ra rằng 36,8% người bệnh tăng huyết áp (THA) có kiến thức đúng về tác hại của thuốc lá và thuốc lào, trong khi nhóm tác giả Nguyễn Thị Thủy và Lê Khắc Đức (2017) ghi nhận tỷ lệ này là 40,6%.

Theo nghiên cứu của Vanitha Durai và cộng sự (2015), 84% nam giới bị tăng huyết áp nhận thức rằng hút thuốc lá làm tăng huyết áp Sự khác biệt này có thể liên quan đến đặc điểm lựa chọn đối tượng nghiên cứu.

4.2.1.3 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hạn chế uống rượu/bia và bệnh tăng huyết áp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.8 cho thấy 84,1% đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về việc hạn chế uống rượu bia khi bị bệnh tăng huyết áp (THA), cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương, trong đó tỷ lệ này chỉ đạt 66%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 80,4% đối tượng nghiên cứu nhận định rằng việc uống rượu/bia dẫn đến tăng huyết áp (THA) Tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Đào Thị Lan (2014) với 53,1% và nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thủy, Lê Khắc Đức (2017) với 63,7%.

Tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp (THA) nhận thức được việc cần hạn chế uống rượu/bia là 84,1% Tuy nhiên, chỉ có 6,5% trong số họ biết đến ngưỡng rượu/bia cần hạn chế theo khuyến cáo của Bộ Y tế Do đó, việc tư vấn cho người bệnh về vấn đề này là rất cần thiết để họ có thể điều chỉnh thói quen uống rượu/bia trong quá trình điều trị.

4.2.1.4 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về hoạt động thể lực và bệnh tăng huyết áp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 70,1% đối tượng tham gia nhận định rằng hoạt động thể lực có khả năng kiểm soát huyết áp.

Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Đào Thị Lan (2014) ít hoạt động thể lực làm THA 81,8% [13]

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Văn Long năm 2012 có 62,9% NB biết rằng hoạt động thể lực có thể phòng bệnh THA [15]

Vanitha Durai và cộng sự (2015) 70% nam giới đã nhận thức được rằng hơn

30 phút hoạt động thể lực/ ngày là cần thiết để kiểm soát THA [65]

4.2.1.5 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chế độ nghỉ ngơi và bệnh tăng huyết áp

Kết quả nghiên cứu cho thấy 89,7% đối tượng nghiên cứu nhận thức được rằng lo âu, căng thẳng và mất ngủ có thể dẫn đến tăng huyết áp (THA) Điều này tương đồng với nghiên cứu của Đào Thị Lan (2014), trong đó 84,3% cho rằng căng thẳng cũng gây ra THA.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ người bệnh THA có kiến thức về ảnh hưởng của căng thẳng và thay đổi thời tiết đến bệnh cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy và Lê Khắc Đức (2017), với 67,5% và 28,7% Trong khi đó, Trần Văn Long (2012) chỉ ghi nhận 9,3% người bệnh nhận thức được rằng tránh căng thẳng có thể phòng ngừa bệnh THA Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những người bệnh THA đang điều trị ngoại trú, phần lớn đã có biến chứng, dẫn đến việc họ tiếp nhận thông tin này với tỷ lệ cao hơn.

Theo mô hình niềm tin sức khỏe, cá nhân đánh giá giá trị của việc tham gia vào hành vi tăng cường sức khỏe để giảm nguy cơ mắc bệnh Nếu họ tin rằng hành động cụ thể sẽ giảm nguy cơ sức khỏe, họ có khả năng tham gia bất chấp sự thật khách quan Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có nhận thức đúng về chế độ ăn hạn chế muối và chất béo, nhưng nhiều kiến thức khác như chế độ ăn tăng rau củ, tác động của thuốc lá đến huyết áp, và thời gian hoạt động thể lực vẫn ở mức trung bình và thấp.

Vì vậy, nó có thể là những rào cản làm cho việc thực hiện hành vi có lợi cho sức khỏe của người bệnh không đầy đủ

4.2.2 Thực trạng thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp 4.2.2.1 Thực trạng thực hành về chế độ ăn

Chế độ ăn uống là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp, bao gồm việc hạn chế muối natri, giảm thực phẩm nhiều dầu mỡ và tăng cường rau xanh, trái cây Tuy nhiên, thói quen ẩm thực lâu đời của người Việt, như việc ưa chuộng mắm muối và các món ăn có thêm muối, gây khó khăn trong việc thực hiện chế độ ăn lành mạnh Đặc biệt, 94,4% đối tượng nghiên cứu sống chung với gia đình, khiến hành vi ăn uống của họ phụ thuộc vào thói quen và sở thích của gia đình Do đó, việc xây dựng một chế độ ăn phù hợp cho bệnh nhân tăng huyết áp đòi hỏi sự quyết tâm cao và sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình.

Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.7 cho thấy có 74,8% ĐTNC ăn nhạt, 46,7% ăn đủ số lượng rau/quả trong một ngày, 86,9% ăn dầu mỡ hợp lý

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước khác:

Sự thay đổi kiến thức và thực hành về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe

4.3.1 Sự thay đổi kiến thức về lối sống kiểm soát tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

Kiến thức về lối sống đúng theo khuyến cáo rất quan trọng đối với người bệnh tăng huyết áp, giúp họ thay đổi thái độ và hành vi để kiểm soát huyết áp và ngăn ngừa biến chứng Sau chương trình can thiệp, chúng tôi nhận thấy kiến thức của người bệnh đã được cải thiện, tuy nhiên, mức độ thay đổi không đồng đều ở các nội dung khác nhau.

4.3.1.1 Sự thay đổi kiến thức về chế độ ăn kiểm soát tăng huyết áp

Kết quả nghiên cứu cho thấy trước can thiệp, kiến thức về chế độ ăn hạn chế muối đạt 84,1%, chế độ ăn hạn chế chất béo 31,8%, và chế độ ăn tăng rau quả 49,5% Điều này cho thấy kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chế độ ăn kiểm soát tăng huyết áp còn hạn chế và chưa đầy đủ Sau khi đánh giá thực trạng kiến thức, chúng tôi đã tập trung giáo dục những nội dung mà người bệnh chưa nắm rõ, tư vấn chi tiết về cách ăn đúng chuẩn, lựa chọn thực phẩm, và đo lường lượng thực phẩm cần thiết cho từng nhóm và từng trường hợp cụ thể.

Sau 4 tuần can thiệp, kiến thức của người bệnh đã tăng đáng kể, với 98,1% người bệnh biết về chế độ ăn giảm muối, 71% về chế độ ăn tăng rau quả, và 68,2% về chế độ ăn hạn chế chất béo Sau 8 tuần, kiến thức này vẫn duy trì ở mức cao, với 96,3% người bệnh nắm vững chế độ ăn giảm muối, 69,2% về chế độ ăn hạn chế chất béo, và 63,6% về chế độ ăn tăng rau quả.

Tác giả Trần Văn Long (2012) đã chỉ ra sự thay đổi đáng kể trong kiến thức của người bệnh (NB) sau khi được giáo dục sức khỏe Cụ thể, tỷ lệ kiến thức về việc không ăn mặn tăng từ 66% lên 73,4%, kiến thức về việc ăn ít mỡ động vật từ 6,3% lên 35,8%, và kiến thức về việc ăn nhiều rau và hoa quả từ 16,4% lên 53,2% Những con số này cho thấy hiệu quả can thiệp là rất lớn.

4.3.1.2 Sự thay đổi kiến thức về không hút thuốc lá/thuốc lào

Kết quả từ bảng 3.17 cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong kiến thức của người bệnh (NB) về tác hại của thuốc lá/thuốc lào đối với bệnh tăng huyết áp (THA) Trước can thiệp, chỉ có 53,3% NB nhận thức được mối liên hệ giữa hút thuốc và THA, nhưng sau 4 tuần can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 86%, tương ứng với mức tăng 32,7% Mặc dù sau 8 tuần, tỷ lệ này giảm nhẹ xuống còn 82,2%, nhưng vẫn cao hơn so với trước can thiệp (tăng 28,9%) Điều này chứng tỏ rằng chương trình can thiệp của chúng tôi đã đạt hiệu quả, và cần tiếp tục tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe để tất cả người bệnh THA đều nhận thức được tác hại của thuốc lá.

4.3.1.3 Sự thay đổi kiến thức về hạn chế uống rượu/bia luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong kiến thức của nhóm bệnh nhân về tác hại của việc uống rượu bia đối với bệnh tăng huyết áp (THA) và lượng uống an toàn Cụ thể, kiến thức về mối liên hệ giữa rượu/bia và THA của đối tượng nghiên cứu đạt 80,4% Sau can thiệp, tỷ lệ nhận thức về vấn đề này tăng lên 96,3% sau 4 tuần và 93,5% sau 8 tuần.

Mặc dù hầu hết người bệnh nhận thức được tác động của rượu/bia đối với bệnh tăng huyết áp (THA), nhưng chỉ có 6,5% người bệnh biết rõ về ngưỡng rượu/bia an toàn trước khi can thiệp Sau khi được giáo dục sức khỏe, tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể, đạt 49,5% sau 4 tuần và 47,7% sau 8 tuần Kiến thức đúng về lượng rượu/bia hợp lý có thể giúp một số người bệnh điều chỉnh hành vi, từ đó bảo vệ sức khỏe của họ.

4.3.1.4 Sự thay đổi kiến thức về hoạt động thể lực

Kết quả nghiên cứu cho thấy trước can thiệp, 70,1% người bệnh (NB) nhận thức được vai trò của hoạt động thể lực trong việc kiểm soát huyết áp Sau 4 và 8 tuần can thiệp, tỷ lệ này tăng lên 93,5% và 90,7% Tuy nhiên, nhiều NB vẫn chưa biết cách tập luyện đúng và đủ Sau can thiệp, tỷ lệ NB thực hiện các nội dung hoạt động thể lực đã cải thiện đáng kể: thời gian tập 30-60 phút/ngày tăng từ 45,8% lên 75,7%; hoạt động thể lực mức độ vừa phải từ 83,2% lên 96,3%; và hoạt động thể lực ít nhất 5 lần/tuần từ 18,7% lên 41,1% Do đó, khi tư vấn, cần chú ý đến thời gian và mức độ thường xuyên của hoạt động thể lực để NB thực hiện đúng.

4.3.1.5 Sự thay đổi kiến thức về chế độ nghỉ ngơi

Kết quả từ bảng 3.20 cho thấy tỷ lệ người bệnh tham gia nghiên cứu có kiến thức về chế độ nghỉ ngơi hợp lý đã tăng rõ rệt trước và sau can thiệp.

Trước khi can thiệp, 89,7% bệnh nhân nhận thức được rằng lo âu, căng thẳng và mất ngủ có thể dẫn đến tăng huyết áp, trong khi 63,6% có kiến thức về việc nhiễm lạnh đột ngột cũng gây ra tình trạng này.

Sau 4 tuần can thiệp, tỷ lệ thành công của chúng tôi đạt 99,1% và 89,7%, duy trì ở mức 98,1% và 87,9% sau 8 tuần so với trước can thiệp Kết quả này có được nhờ vào việc áp dụng tư vấn trực tiếp cho nhóm nhỏ, lắng nghe và giải thích cho từng cá nhân.

Chế độ nghỉ ngơi có ảnh hưởng đáng kể đến bệnh tăng huyết áp (THA), đặc biệt là do lo lắng, căng thẳng, mất ngủ và sự thay đổi nhiệt độ đột ngột Đối với những bệnh nhân thường xuyên gặp vấn đề về giấc ngủ và lo âu, việc thảo luận và tìm hiểu nguyên nhân là rất quan trọng Nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm giúp bệnh nhân cải thiện tình trạng của mình.

* Sự thay đổi kiến thức về lối sống chung của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp

Kết quả đánh giá kiến thức về lối sống cho thấy tỷ lệ người bệnh (NB) có kiến thức đạt chỉ 67,3% trước can thiệp, nhưng đã tăng lên 93,5% sau 4 tuần và duy trì ở mức 87,9% sau 8 tuần Điểm trung bình kiến thức trước can thiệp là 10,03±2,935, tăng lên 14,0093±2,63681 sau 4 tuần và vẫn cao ở mức 13,6355±2,90540 sau 8 tuần Mặc dù có sự giảm nhẹ 5,6% điểm kiến thức sau 8 tuần so với 4 tuần, sự khác biệt này vẫn có ý nghĩa thống kê với p

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2010). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp. Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày 31 tháng 8 năm 2010, Cục quản lý Khám, Chữa bệnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Cục quản lý Khám, Chữa bệnh
Năm: 2010
2. Bộ Y Tế (2011). Thông tư số 07/2011/TT-BYT về hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, ban hành ngày 26/01/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2011/TT-BYT về hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2011
3. Bộ Y Tế (2016). Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm Việt Nam năm 2015, tr. 99-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm Việt Nam năm 2015
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2016
4. Lê Đức Hạnh, Phạm Đình Thọ, Đỗ Thúy Ngọc và cộng sự (2012). Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ, sự hiểu biết về bệnh và về chế độ ăn ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát. Tạp chí y học thực hành, 859(2), tr. 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ, sự hiểu biết về bệnh và về chế độ ăn ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát
Tác giả: Lê Đức Hạnh, Phạm Đình Thọ, Đỗ Thúy Ngọc, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí y học thực hành
Năm: 2012
5. Đỗ Thị Lệ Hằng, Phạm Thị Ánh, Hoàng Thị Hồng Phương và cộng sự (2013). Thực trạng và các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp. Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ VI, Hội Điều dưỡng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp
Tác giả: Đỗ Thị Lệ Hằng, Phạm Thị Ánh, Hoàng Thị Hồng Phương
Nhà XB: Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thứ VI
Năm: 2013
6. Nguyễn Thái Hoàng, Trần Thái Thanh Tâm và Nguyễn Thị Lệ (2012). Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi thành phố Cần Thơ năm 2012. Tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), tr.154-160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi thành phố Cần Thơ năm 2012
Tác giả: Nguyễn Thái Hoàng, Trần Thái Thanh Tâm, Nguyễn Thị Lệ
Nhà XB: Tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
7. Hội tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2018). Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp năm 2018, tr.7-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp năm 2018
Tác giả: Hội tim mạch học Quốc gia Việt Nam
Năm: 2018
8. Vũ Thị Thanh Huyền và Nguyễn Hồng Trang (2013). Thực trạng hoạt động thể lực của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã trường yên, huyện chương mỹ, Hà Nội năm 2013. Tạp chí nghiên cứu y học, 93(1), tr. 78-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động thể lực của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã trường yên, huyện chương mỹ, Hà Nội năm 2013
Tác giả: Vũ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Hồng Trang
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu y học
Năm: 2013
9. Nguyễn Kim Kế, Hoàng Khải Lập và Đỗ Doãn Lợi (2013). Nghiên cứu mô hình kiểm soát tăng huyết áp ở người cao tuổi tại thị xã Hưng Yên. Tạp chí y học thực hành, 857(1), tr. 128-131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình kiểm soát tăng huyết áp ở người cao tuổi tại thị xã Hưng Yên
Tác giả: Nguyễn Kim Kế, Hoàng Khải Lập, Đỗ Doãn Lợi
Nhà XB: Tạp chí y học thực hành
Năm: 2013
10. Phạm Gia Khải, Đỗ Doãn Lợi và Nguyễn Ngọc Quang (2010). Tăng huyết áp - "kẻ giết người thầm lặng". Tạp chí tim mạch học Việt Nam, 52, tr. 77- 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp - "kẻ giết người thầm lặng
Tác giả: Phạm Gia Khải, Đỗ Doãn Lợi, Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Tạp chí tim mạch học Việt Nam
Năm: 2010
11. Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Minh Đức và Tạ Văn Trầm (2012). Kiến thức, thực hành về phòng ngừa, điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi tại thành phố mỹ tho năm 2011. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(4), tr. 47-53.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành về phòng ngừa, điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi tại thành phố mỹ tho năm 2011
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Minh Đức, Tạ Văn Trầm
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w