Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng liệu pháp nhận thức hành cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu, với mục tiêu nghiên cứu “Đánh giá hiệu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG VIỆT HÀ
SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC - HÀNH VI CHO BỆNH NHÂN TRẦM CẢM TẠI BỆNH VIỆN
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG VIỆT HÀ
SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC - HÀNH VI CHO BỆNH NHÂN TRẦM CẢM TẠI BỆNH VIỆN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội kết hợp với sự nỗ lực cố gắng của bản thân Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
Quý Thầy/Cô giáo Học viện Khoa học xã hội, Khoa Tâm lý – Giáo dục
đã truyền đạt kiến thức, tận tình giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo, TS Vũ Thu Trang - người hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian quý báu giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, trưởng khoa và các đồng nghiệp tại khoa khám bệnh, các bác sĩ, điều dưỡng tại các khoa khám bệnh, cũng như các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin gửi lời chúc sức khỏe, thành công và chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Việt Hà
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC - HÀNH VI CHO BỆNH NHÂN TRẦM CẢM 12
1.1 Trầm cảm 12
1.2 Liệu pháp nhận thức - hành vi 21
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi trong trị liệu tâm lý cho bệnh nhân rối loạn trầm cảm 29
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Tổ chức nghiên cứu 31
2.2 Các giai đoạn nghiên cứu 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
Chương 3: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI CHO BỆNH NHÂN TRẦM CẢM TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HÀ NỘI 39
3.1 Tình trạng trầm cảm của bệnh nhân trước khi tham gia nghiên cứu 39
3.2 Thực trạng sử dụng liệu pháp nhận thức – hành vi cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội 40
3.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội 45
3.4 Xây dựng trường hợp điển hình 46
3.5 Đánh giá chung về thực trạng sử dụng liệu pháp nhận thức – hành vi cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội 69
Tiểu kết chương 3 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 79
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BDI
BN CBT DSM - IV ICD – 10
NTL RLTC SKTT
Diagnostic and Statistical manual of Mental disorder 4
International Classification of Diseases 10 th edition Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
Nhà trị liệu Rối loạn trầm cảm Sức khỏe tâm thần Trầm cảm
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm về giới, học vấn, nghề nghiệp, hôn nhân, địa dư 33
Bảng 3.1 Các triệu chứng trầm cảm của bệnh nhân qua phỏng vấn lâm sàng 39
Bảng 3.2 Triệu chứng trầm cảm của khách thể theo thang HAM-D 40
Bảng 3.3 Tần suất (%) các triệu chứng chủ yếu theo thời gian điều trị 40
Bảng 3.4 Tần suất (%) các triệu chứng phổ biến theo thời gian điều trị 41
Bảng 3.5 Sự thay đổi điểm trầm cảm theo thang HAM-D ở thời điểm T0 42
Bảng 3.6 Sự thay đổi điểm trầm cảm theo thang HAM-D ở thời điểm T1 43
Bảng 3.7 Sự thay đổi điểm trầm cảm theo thang HAM-D ở thời điểm T2 43
Bảng 3.8 Hiệu quả dựa trên mức độ thang đo cảm xúc 44
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa giới tính và điểm trung bình thang đo Hamilton 45
Bảng 3.10 Mối liên hệ giữa trình độ học vấn và sự thay đổi điểm trung bình thang đo Hamilton 45
Bảng 3.11 Kế hoạch can thiệp 52
Bảng 3.12 Xác định mô hình ABCD 60
Bảng 3.13 Cảm nhận thư giãn của thân chủ 62
Bảng 3.14 Hoạt động có lợi cho sức khỏe nhưng chưa thực hiện được 65
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trầm cảm là một rối loạn, bệnh lý thường gặp trong chuyên ngành Tâm thần, đặc trưng bởi sự buồn chán, mất hứng thú hoặc niềm vui, ngủ không yên giấc hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém tập trung, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.Trầm cảm có nhiều nguyên nhân có thể
là bệnh lý nội sinh, có thể là rối loạn sau sang chấn tâm lý, bệnh lý thực tổn…Điều trị trầm cảm có nhiều phương pháp: liệu pháp hóa dược, liệu pháp tâm lý, kích thích từ xuyên sọ, kích thích điện, sốc điện… Tùy theo mức độ trầm cảm và nguyên nhân trầm cảm, có thể kết hợp một số liệu pháp điều trị
Rối loạn trầm cảm cần được can thiệp kịp thời, để lâu sẽ khó điều trị và gây ra những hệ lụy nghiêm trọng Ở Việt Nam hiện nay, điều trị trầm cảm chủ yếu bằng phương pháp hóa dược, cũng có thể kết hợp liệu pháp hóa dược
và liệu pháp tâm lý thường mang lại hiệu quả cao nhất trong điều trị Trị liệu tâm lý nói chung, trị liệu bằng liệu pháp nhận nhận thức - hành vi có thể giúp người bệnh trầm cảm nhanh ổn định, tăng tỷ lệ chấp hành điều trị, giảm tỷ lệ tái phát Ưu điểm của liệu pháp nhận thức - hành vi không tác động trực tiếp
về thể chất của người bệnh, nên không có những tác dụng không mong muốn
về cơ thể
Theo một số nghiên cứu liệu pháp nhận thức - hành vi là liệu pháp có hiệu quả điều trị và hỗ trợ điều trị một số bệnh lý tâm thần, trong đó có trầm
cảm Thase và cộng sự khi nghiên cứu trên 48 bệnh nhân rối loạn trầm cảm
được điều trị bằng CBT trong 16 tuần, sau đó theo dõi dọc trong một thời gian
1 năm nhận thấy tỉ lệ tái phát chỉ là 32% Fava và cộng sự cũng thực hiện nghiên cứu về tỉ lệ tái phát của bệnh nhân trầm cảm sau khi điều trị bằng CBT nhận thấy tỉ lệ tái phát sau bốn năm theo dõi là 35% Trong khi đó, ở nhóm bệnh nhân chăm sóc lâm sàng là 75% Khi tiếp tục theo dõi thêm trong thời gian hai năm nữa, các tác giả nhận thấy tỉ lệ tái phát ở lần lượt mỗi nhóm là
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 1040% và 90% Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả của CBT hơn hẳn hoặc bằng so với việc sử dụng thuốc, và CBT có tác dụng lâu dài hơn thuốc
Liệu pháp nhận thức - hành vi có thể điều trị riêng rẽ hoặc kết hợp với liệu pháp hóa dược Ở Việt Nam, việc áp dụng trong trị liệu rối loạn tâm lý, tâm thần gần đây đang được áp dụng, nhưng chưa nhiều, một số bệnh viện ở
Hà Nội đã áp dụng CBT như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương, bệnh Nhi Trung Ương
Tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, có lượng lớn người bệnh trầm cảm điều trị, nhất là điều trị ngoại trú Tuy nhiên, chưa áp dụng liệu pháp hành vi trong trị liệu rối loạn này Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng liệu pháp nhận thức hành cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà
Nội” làm đề tài nghiên cứu, với mục tiêu nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả liệu pháp nhận thức - hành vi ở bệnh nhân trầm cảm điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2021”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các nghiên cứu về trầm cảm
Ở nước ta, nhiều nghiên cứu về trầm cảm cũng đã được tiến hành ở những vùng dân cư khác nhau, với những độ tuổi và ngành nghề khác nhau Trầm cảm có thể gặp ở mọi vùng dân cư và mọi lứa tuổi, tần suất trầm cảm thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp, giới tính, trình độ, mức sống, văn hóa xã hội và lứa tuổi
Theo Nguyễn Văn Siêm (2010) nghiên cứu tại xã Quất Động, Thường Tín Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 8,35% dân số từ 15 tuổi trở lên Tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 5/1 Tỷ lệ mắc ở độ tuổi 30-59 là 58,21%,
từ 60 tuổi trở lên là 36,9% Tỷ lệ mới mắc là 0,48% Đại đa số bệnh nhân (94,24%) mắc bệnh trên 1 năm Số mắc bệnh trên 4 năm có tỷ lệ 70,3% Tính chất tiến triển mạn tính rất rõ rệt (93,6% là trầm cảm tái diễn) Các giai đoạn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11trầm cảm đơn độc chiếm 6,3% số ca Trầm cảm tái diễn có loạn thần tỷ lệ 2,3% và rối loạn cảm xúc lưỡng cực 3,46% Các yếu tố tâm lý - xã hội theo thứ tự tăng dần: sống độc thân, ly thân, góa bụa, stress cường độ mạnh, đông con, stress trung bình, bệnh cơ thể
Theo Trần Văn Cường (2001), điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại 8 địa điểm của các vùng sinh thái khác nhau, cho kết quả về tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần là 12,5%, trong đó rối loạn trầm cảm F32: 2,47%; rối loạn lo âu F41: 2,27% dân số Tỷ lệ bệnh nhân khám tại các cơ sở y tế nhà nước là 31,9%, tại các cơ sở y tế tư nhân là 21,9% và số bệnh nhân chưa bao giờ đi khám là 68,5%
Năm 2000, Trần Viết Nghị và cộng sự đã điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại phường Gia Sàng - thành phố Thái nguyên cho thấy các tỷ lệ như sau: bệnh tâm thần phân liệt F20: 0,26%, rối loạn trầm cảm F32: 2,6%, rối loạn lo
âu F41: 2,98%
Theo tác giả Hồ Ngọc Quỳnh (2009) nghiên cứu trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng và y tế công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm ở sinh viên y tế công cộng lên tới 17,6%, ở sinh viên điều dưỡng là 16,5% và liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức về bản thân
Trầm cảm ở đối tượng đặc biệt như phụ nữ sau sinh, theo tác giả Lương Bạch Lan (2009), tỷ lệ mắc trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các yếu
tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con trên
30 ngày, không khỏe khi mang thai, tử vong sơ sinh
Có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài chỉ ra rằng: trầm cảm là một bệnh lý rất phổ biến Theo J Angst (1992), L.Judd (1994) và một số tác giả khác, trầm cảm chiếm tỷ lệ 4 – 6,5% dân số Ở Pháp 10% dân số mắc bệnh này, tỷ lệ mắc bệnh chung tại một thời điểm là 2 – 3% dân số; ở nhiều nước khác là 3 – 5% dân số Theo Golbeng và Huxley (1999) 20 – 30% dân số Úc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12có biểu hiện trầm cảm, trong đó 3 – 4% là trầm cảm vừa và nặng Trầm cảm
là một bệnh lý thường gặp tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ tâm thần, gặp
ở 41% bệnh nhân tâm thần nội trú và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng
Năm 1992, A.L Smith và M.M Weissman đã tiến hành khảo sát trên diện rộng ở một số nơi trên thế giới như Mỹ, Anh, New Zealand, Beirut, Hàn Quốc, Canada, Pháp, Đức, Florence, Đài Loan,… Công cụ đo là chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội Tâm thần Mỹ, tổ chức sức khỏe thế giới và bang kiểm tra Anh Kết quả cho thấy ở Châu Âu số người bị trầm cảm dao động từ 4.6% đến 7,4%, ở Mỹ từ 1,5% đến 4,9%, trong đó, tỉ lệ nữ bị trầm cảm cao gấp đôi
so với nam
Các nghiên cứu cộng đồng so sánh xuyên quốc gia cho thấy tỷ lệ trầm cảm suốt đời ở Đài Loan và Hàn Quốc lần lượt là 1,5% và 2,9%, trái ngược với 5,2% ở Hoa Kỳ Các tỉ lệ khá thấp ở Đài Loan và Hàn Quốc có thể chỉ ra
sự khác nhau trong báo cáo của đau khổ hoặc có thể các yếu tố bảo vệ của gia đình và hỗ trợ xã hội Gần đây, Hiệp hội dịch tễ học tâm thần quốc tế đã kiểm tra dữ liệu từ 10 quốc gia và thấy rằng các nước châu Á báo cáo tỷ lệ thấp nhất (3,0% ở Nhật Bản) trong khi các nước phương Tây báo cáo tỷ lệ mắc cao nhất
Không có nghiên cứu dịch tễ học đại diện trên toàn quốc về các rối loạn tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên được tiến hành tại Hoa Kỳ, tuy nhiên, những phát hiện từ một số nghiên cứu nhỏ hơn cho thấy tỉ lệ trầm cảm tăng từ thời thơ ấu (2%) đến tuổi thiếu niên (4% đến 7%, ví dụ: Costelle và cộng sự,
2002, Hankin và cộng sự 1998) Đến năm 18 tuổi, gần một phần tư thanh thiếu niên sẽ trải qua một giai đoạn trầm cảm trong suốt cuộc đời, làm cho nó trở thành một trong những rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến nhất ở những người trẻ tuổi (Clarke, Hawkins, Murphy & Sheeber 1993, Lewinsohn, Hops, Robert, Seeley, % Andrew, 1993)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 132.2 Các nghiên cứu về áp dụng liệu pháp nhận thức - hành vi trong can thiệp trầm cảm
Một nghiên cứu được thực hiện tại Viện sức khỏe tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ về liệu pháp nhận thức cho bệnh nhân trầm cảm với số mẫu nghiên cứu là 239 khách thể Nghiên cứu so sánh giữa phương pháp điều trị sử dụng thuốc chống trầm cảm, quản lý lâm sàng có cấu trúc, giả dược, trị liệu nhận thức và trị liệu liên cá nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy phù hợp với rối loạn trầm cảm chủ yếu từ nhẹ đến trung bình, đối với trầm cảm nặng chưa đạt được hiệu quả tối ưu Đối với trầm cảm nặng yếu tố kết hợp giữa các liệu pháp khác nhau cho kết quả tích cực hơn Những người có rối loạn trầm cảm
từ nhẹ hoặc trung bình có đáp ứng tốt với trị liệu nhận thức kéo dài 8 hoặc 16 phiên trị liệu, tỷ lệ đáp ứng từ 50 – 53%, đối với trầm cảm nặng đáp ứng 50% với 16 phiên, 35% đối với 8 phiên trị liệu Sau 12 tháng theo dõi tỷ lệ tái phát trầm cảm đối với trị liệu nhận thức là 9%, bằng một phần ba so với quản lý lâm sàng có cấu trúc, thuốc chống trầm cảm 28% Hơn nữa trong số những bệnh nhân đã hồi phục trong giai đoạn điều trị của nghiên cứu, chỉ có 5% đối tượng trị liệu nhận thức tìm cách điều trị thêm, so với trị liệu cá nhân (38%)
và thuốc chống trầm cảm (39%)
Một nghiên cứu khác về tác dụng của liệu pháp nhận thức so với các điều trị thông thường ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm nặng Nghiên cứu đã thống kê trên 719 khách thể trên 17 tuổi Nghiên cứu đã chia ra làm tám thử nghiệm, mỗi thử nghiệm sẽ bao gồm phương pháp nhận thức và một phương pháp khác Trong đó có bốn thử nghiệm sau khi điều trị xong sẽ được sử dụng thang đo kiểm kê trầm cảm Beck (BDI-II), bốn thử nghiệm còn lại sẽ được đối chiếu hiệu quả điều trị với thang đo trầm cảm Hamilton (HDRS) Kết quả cho thấy liệu pháp nhận thức so với chăm sóc cộng đồng đã làm suy giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm Trong đó thử nghiệm làm suy giảm các
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14triệu chứng trầm cảm là sự kết hợp giữa liệu pháp nhận thức và kết hợp dùng
thuốc chống trầm cảm (Janus Christian Jakobsen et al, 2011)
Một nghiên cứu trong nước của tác giả Trần Thị Thu Hằng (2011)chỉ ra một số khó khăn chung khi sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi khi áp dụng cho ca bệnh trầm cảm vị thành niên như sau: “bệnh nhân bỏ trị liệu ngang chừng, không có động cơ cũng như nhìn thấy sự cần thiết phải thực hiện hoạt động, bệnh nhân cũng như gia đình quá kì vọng vào sự thay đổi tình trạng bệnh chỉ sau một hai buổi trị liệu hay chấm dứt hoàn toàn tình trạng trầm cảm bằng trị liệu tâm lí.”
Trần Như Minh Hằng ( 2012), Nghiên cứu hiệu quả của nhận thức - hành vi và các yếu tố liên qua đến trầm cảm, luận án tiến sĩ Y học Kết quả
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm có sử dụng liệu pháp nhận thức
- hành vi kết hợp với thuốc cho hiệu quả cao hơn bệnh nhân chỉ dùng mỗi thuốc Đồng thời, những bệnh nhân có sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi
tỷ giảm nhanh các triệu chứng mất ngủ, cảm xúc buồn chán, giảm nhanh các suy nghĩ tiêu cực hơn so với bệnh nhân dùng thuốc
Trong cuốn chuyên khảo “Phụ nữ sau sinh rối nhiễu tâm lý và các biện pháp hỗ trợ”của nhóm tác giả Trần Thị Minh Đức năm 2016 có viết: liệu
pháp CBT đối với người có rối nhiễu tâm lý là một dạng đặc biệt của trị liệu tâm lý, trong đó cá nhân sẽ nhận biết và thay đổi lối suy nghĩ tiêu cực và hành
vi không phù hợp dẫn đến cảm xúc phiền muộn, Joseph Goldberg (2005) tiến hành thử nghiệm quy mô lớn liên quan đến hơn 400 thân chủ bị trầm cảm kháng trị thấy rằng việc sử dụng liệu pháp CBT đối với trầm cảm làm giảm đáng kể triệu chứng trầm cảm
Các tác giả theo quan điểm nhận thức - hành vi cho rằng, trầm cảm có nguyên nhân từ sự thích nghi không tốt về nhận thức, nhận thức sai lệch, hoặc
có những suy nghĩ không hợp lý, phán xét lệch lạc, nhận thức không phù hợp dẫn đến trầm cảm có thể được học hỏi từ quan sát xã hội, như trường hợp trẻ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15em trong một gia đình có rối loạn chức năng, trẻ chứng kiến cha mẹ của họ đã đối phó không thành công với căng thẳng hoặc sự kiện gây chấn thương trong cuộc sống Hoặc, nhận thức có thể dẫn đến trầm cảm do thiếu kinh nghiệm thích ứng, hoặc thiếu các kỹ năng ứng phó Theo lý thuyết nhận thức - hành
vi, người bị trầm cảm suy nghĩ khác hơn những người không bị trầm cảm, và
sự khác biệt trong suy nghĩ này làm cho họ trở nên chán nản, thu mình Như người bị trầm cảm có xu hướng nhìn bản thân, môi trường sống và tương lai của họ từ trong bóng tối, bi quan và tư duy tiêu cực Người trầm cảm thường đánh giá tình huống tồi tệ hơn nhiều so với cơ chế phát triển các triệu chứng trầm cảm khi họ phản ứng với các tình huống căng thẳng
Tác giả Trương Văn Lợi (2013), Ứng dụng liệu pháp hoạt hóa hành vi can thiệp cho bệnh nhân trầm cảm đang điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, luận văn thạc sĩ Tâm lý học cũng cho thấy có hiệu quả rõ rệt
với mức độ bằng hoặc hơn so với các thuốc chống trầm cảm đối với những trường hợp trầm cảm nhẹ và vừa Riêng đối với những trường hợp trầm cảm nặng thường ít khi liệu pháp được sử dụng đơn độc mà thường được sử dụng với các thuốc chống trầm cảm Nhiều nghiên cứu so sánh liệu pháp nhận thức
- hành vi (CBT) với thuốc chống trầm cảm ba vòng cho thấy không có sự khác biệt trong điều trị giai đoạn cấp của trầm cảm
Theo Ellen Greenlaw, liệu pháp tâm lý (liệu pháp trò chuyện) có thể cung cấp cho thân chủ những kỹ năng để xử lý trầm cảm Các liệu pháp can thiệp tâm
lý có thể được sử dụng trong trầm cảm đó là: liệu pháp nhận thức, liệu pháp nhận thức hành vi và liệu pháp liên cá nhân Ngoài ra, can thiệp qua trị liệu tâm lí còn bao gồm giáo dục tâm lí, tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình, tham vấn nhóm, trao đổi giải tỏa…
Kroll và các đồng nghiệp đã điều tra liệu pháp CBT duy trì hàng tuần trong 6 tháng ở 17 thanh thiếu niên Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nguy
cơ tái phát thấp hơn ở thanh thiếu niên đã tiếp tục điều trị CBT (6%) so với
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16những người không (50%) Các nghiên cứu cộng đồng của thanh thiếu niên đã chỉ ra rằng nhóm CBT kết hợp với liệu pháp thư giãn và giải quyết vấn đề nhóm có thể ngăn ngừa tái phát trầm cảm trong 9 đến 24 tháng sau điều trị Trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn trầm cảm nghiêm trọng dường như không đáp ứng với CBT, so với những người bị trầm cảm nhẹ và trung bình
Theo N.Garnefski và cộng sự, ở cả thanh thiếu niên và người lớn có một tỷ lệ phần trăm đáng kể trong các triệu chứng trầm cảm và lo âu có thể được giải thích bằng cách sử dụng các chiến lược đối phó nhận thức Các chiến lược đối phó nhận thức không thích hợp tạo thành một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với trầm cảm và lo âu ở thanh thiếu niên và người lớn Do đó, mục tiêu quan trọng để can thiệp phòng ngừa trầm cảm là ngăn chặn các chiến lược đối phó nhận thức không hiệu quả và giúp có được các chiến lược thích ứng hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, từ đó đề xuất một số kiến nghị trong việc sử dụng trị liệu tâm lý cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho
bệnh nhân trầm cảm
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho
bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội
- Đề xuất một số kiến nghị về sử dụng trị liệu tâm lý cho bệnh nhân
trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Liệu pháp nhận thức - hành vi và việc áp dụng liệu pháp trong trị liệu bệnh nhân trầm cảm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: có nhiều liệu pháp nhận thức - hành vi
với những kỹ thuật trị liệu đa dạng, ở đây chúng tôi sử dụng liệu pháp CBT, tập trung vào các kỹ thuật như tái cấu trúc nhận thức, kỹ thuật hoạt hóa hành vi, kỹ thuật thư giãn vì trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy liệu pháp CBT được sử dụng phổ biến và được nghiên cứu rộng rãi, các nghiên cứu đều chỉ ra tính hiệu quả của CBT cao hơn so với các liệu pháp tâm lý khác
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Chúng tôi nhận thấy rối loạn trầm
cảm là rối loạn phổ biến, tỷ lệ bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện cao, hơn thế nữa nhu cầu trị liệu tâm lý của bệnh nhân tại bệnh viện cao hơn
so với cả thể bệnh khác Vì vậy chúng tôi chọn rối loạn trầm cảm để nghiên cứu, bệnh nhân trầm cảm được lựa chọn tham gia nghiên cứu là các bệnh nhân thuộc F32, F33 và không nằm trong tiêu chí loại trừ như đã đề cập ở chương 2
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài sử dụng các tiếp cận sau làm định hướng cho nghiên cứu:
- Tiếp cận tâm lý học lâm sàng: Tâm lý học lâm sàng cho phép nhìn
nhận bệnh trầm cảm dưới dạng rối loạn tâm lý thay vì rối loạn thực thể đơn thuần như tiếp cận y học Do đó, theo tiếp cận tâm lý học lâm sàng, bệnh nhân trầm cảm cần được trị liệu tâm lý nhằm tìm ra căn nguyên tâm lý của bệnh, tiến tới thay đổi các thói quen nhận thức, cảm xúc và hành vi của người bệnh, giúp họ có những suy nghĩ và hành vi thích ứng tốt hơn với cuộc sống Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên tiếp cận tâm lý học lâm sàng để nhìn nhận
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18bệnh trầm cảm như một rối loạn tâm lý, làm cơ sở để áp dụng trị liệu tâm lý trong điều trị bệnh nhân trầm cảm tại bệnh viện tâm thần
- Tiếp cận tâm lý học nhận thức: Tâm lý học nhận thức cho rằng rối
loạn trầm cảm là do lệch lạc về tư duy, nhận thức gây ra Đó là những suy nghĩ tiêu cực về bản thân, về mọi người, về thế giới làm cho con người có cảm xúc buồn, chán dẫn đến trầm cảm Chúng tôi dựa trên tiếp cận tâm lý học nhận thức là tiền đề để xây dựng kỹ thuật tái cấu trúc nhận thức điều chỉnh những nhận thức lệch lạc, suy nghĩ tiêu cực ở bệnh nhân trầm cảm để áp dụng trị liệu cho bệnh nhân trầm cảm
- Tiếp cận tâm lý học hành vi: Tâm lý học hành vi cho thấy được môi
trường của họ sống, hành vi con người được hình thành thông qua quá trình học hỏi và phát triển vì vậy có thể thay đổi các hành vi lệch chuẩn thông qua học tập, thay đổi môi trường của đối tượng Chúng tôi tiếp cận tâm lý học hành vi như là một phương pháp trị liệu cho trầm cảm có mục đích làm cho bệnh nhân cải thiện được các chức năng cần có trong sinh hoạt hàng ngày, làm tăng các hành vi mong muốn, đồng thời giảm thiểu các hành vi không cần thiết
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
- Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hoá và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan đến nội dung nghiên cứu như liệu pháp nhận thức - hành vi, rối loạn cảm xúc, rối loạn trầm cảm, sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi trong trị liệu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19tâm lý cho bệnh nhân rối loạn trầm cảm Luận văn đã chỉ rõ đặc điểm và các
kỹ thuật sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi trong trị liệu tâm lý cho bệnh nhân rối loạn trầm cảm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3 Kết quả nghiên cứu trạng sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20Theo tác giả Nguyễn Viết Thiêm đã định nghĩa về căn bệnh trầm cảm như sau: “Trầm cảm là trạng thái giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động, trong các cơn điển hình, có biểu hiện ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần Bệnh nhân có khí sắc buồn rầu, ủ rũ, giảm hứng thú và quan tâm, cảm thấy tương lai ảm đạm, tư duy chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự cho mình
là hèn kém, giảm sút lòng tự tin, thường hoang tưởng bị tội, dẫn đến tự tử, giảm vận động, ít nói, thường nằm hoặc ngồi lâu ở một tư thế, kèm theo sự rối loạn các chức năng sinh học (mất ngủ, chán ăn, mệt mỏi…)
Theo bảng phân loại bệnh quốc tế ICD -10 khẳng định rằng: “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần
Thông qua các phân tích, tiếp cận từ các nguồn tài liệu khác nhau, trong
đề tài này, chúng tôi định nghĩa trầm cảm như sau:
Trầm cảm là một dạng rối loạn tâm lý đặc trưng bởi trạng thái cảm xúc trầm buồn, mất hứng thú, mất năng lượng, khí sắc trầm uất, có nhận thức tiêu cực về bản thân, con người và tương lai
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 211.1.2 Nguyên nhân gây trầm cảm
1.1.2.1 Nguyên nhân sinh học
Các giả thuyết sinh học căn cứ vào gien di truyền, thay đổi monoamin trong não, rối loạn nội tiết, tổn thương giải phẫu thần kinh và sinh lý thần kinh
Các nghiên cứu gia đình cho thấy 50% số bệnh nhân rối loạn cảm xúc
có ít nhất một người cha hoặc mẹ mắc rối loạn cảm xúc thường là trầm Vai trò quan trọng của gien di truyền trong bệnh rối loạn cảm xúc là 5,7 lần
Vai trò của các chất trung gian hóa học như Serotonin, dopamine, neropinephrin trong bệnh sinh của trầm cảm đã được đề cập đến ngay từ thập niên 60 của thế kỷ XX Nghiên cứu của Srijan Sen và các cộng sự tại Đại học Michigan của Mỹ đã đúc kết 54 nghiên cứu từ năm 2001 đến nay, liên quan đến tổng cộng 41.000 người và cho rằng gien dẫn truyền serotonin có thể góp phần gây bệnh trầm cảm, Serotonin là chất dẫn truyền thần kinh giữ vai trò điều chỉnh tính khí con người Những nghiên cứu ở bệnh nhân trầm cảm sau tử vong cho thấy có mối liên quan của hệ thống norepinephrine và trầm cảm, một nghiên cứu cho thấy hiện tượng tăng thụ thể β adrenergic ở vùng võ não thùy trán của những bệnh nhân trầm cảm tự sát, giảm mức độ của các tế bào thần kinh norephrin ở vùng nhân lực cũng thường gặp ở những bệnh nhân trầm cảm
1.1.2.2 Nguyên nhân tâm lý
Sang chấn tâm lý cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy
cơ trầm cảm Khi quan sát lâm sàng, Sadock nhận thấy các sự kiện bất lợi trong cuộc sống thường có vai trò làm khởi phát giai đoạn trầm cảm đầu tiên hơn là các giai đoạn tiếp theo Tác giả giải thích cho hiện tượng này là những
sự kiện sang chấn xuất hiện trong giai đoạn trầm cảm đầu tiên thường gây nên những biến đổi kéo dài yếu tố sinh học ở não Những biến đổi kéo dài có thể tạo ra những thay đổi nhiều chất dẫn truyền thần kinh và hệ thống tín hiệu bên trong tế bào thần kinh như mất tế bào thần kinh và giảm đáng kể sự tiếp xúc của khớp thần kinh
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 221.1.3 Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm
1.1.3.1 Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10
Theo Bảng phân loại bệnh tật ICD-10, trầm cảm gồm có 3 triệu chứng đặc trưng, 7 triệu chứng phổ biến, cùng các triệu chứng cơ thể và triệu chứng loạn thần khác
* Ba triệu chứng đặc trưng của trầm cảm
+ Giảm khí sắc: bệnh nhân cảm thấy buồn vô cớ, chán nản, ảm đạm, thất vọng, bơ vơ và bất hạnh, cảm thấy không có lối thoát Đôi khi nét mặt bất động, thờ ơ, vô cảm
+ Mất mọi quan tâm và thích thú: là triệu chứng hầu như luôn xuất hiện Bệnh nhân thường phàn nàn về cảm giác ít thích thú, ít vui vẻ trong các hoạt động sở thích cũ hay trầm trọng hơn là sự mất nhiệt tình, không hài lòng với mọi thứ Thường xa lánh, tách rời xã hội, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh
+ Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động
* Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm
+ Giảm sút sự tập trung và chú ý
+ Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
+ Những ý tưởng bị tội, không xứng đáng
+ Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm, bi quan
+ Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát
+ Rối loạn giấc ngủ: ngủ nhiều hoặc ngủ ít, thức giấc lúc nửa đêm hoặc dậy sớm
+ Ăn ít ngon miệng
* Các triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm
+ Mất quan tâm ham thích những hoạt động thường ngày
+ Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh mà khi bình thường vẫn có những phản ứng cảm xúc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23+ Thức giấc sớm hơn ít nhất 2 giờ so với bình thường
+ Trầm cảm nặng lên về buổi sáng
+ Chậm chạp tâm lý vận động hoặc kích động, có thể sững sờ
+ Giảm cảm giác ngon miệng
+ Sút cân (thường ≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước)
+ Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ
* Các triệu chứng loạn thần
Trầm cảm nặng thường có hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ Hoang tưởng, ảo giác có thể phù hợp với khí sắc bệnh nhân hoặc không phù hợp với khí sắc
Ngoài ra, bệnh nhân có thể có lo âu, lạm dụng rượu, ma tuý và có triệu chứng cơ thể như đau đầu, đau bụng, táo bón… sẽ làm phức tạp quá trình điều trị bệnh
Trong chẩn đoán cần chú ý
+ Thời gian tồn tại ít nhất 2 tuần
+ Giảm khí sắc không tương ứng với hoàn cảnh
+ Hay lạm dụng rượu, ám ảnh sợ, lo âu và nghi bệnh
+ Khó ngủ về buổi sáng và thức giấc sớm
+ Ăn không ngon miệng, sút cân trên 5%/ 1 tháng
1.1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo DSM-IV (1994)
- Tiêu chuẩn chẩn đoán
+ Có ít nhất 5 triệu chứng cùng tồn tại trong thời gian tối thiểu là 2 tuần và có thay đổi chức năng so với trước đây trong đó phải có ít nhất 2 triệu chứng là khí sắc trầm cảm và mất quan tâm hứng thú bao gồm:
- Khí sắc trầm buồn biểu hiện cả ngày và kéo dài
- Giảm hoặc mất quan tâm hứng thú với mọi hoạt động trước đây vốn có
- Giảm trọng lượng cơ thể trên 5%/1 tháng
- Mất ngủ vào cuối giấc (ngủ dậy sớm ít nhất là 2 giờ so với bình thường)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24- Ức chế tâm thần vận động hoạt kích động trong phạm vị hẹp (kích động trong phạm vi xung quanh giường ngủ của mình)
- Mệt mỏi hoặc cảm giác mất năng lượng kéo dài
- Có cảm giác vô dụng hoặc có cảm giác bị tội quá mức
- Giảm năng lượng suy nghĩ, giảm tập trung chú ý, giảm khả năng đưa ra các quyết định
- Có hành vi tự sát
+ Các triệu chứng không đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn hỗn hợp + Các triệu chứng gây ra đau khổ, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp, và các chức năng khác
+ Các triệu chứng không do hậu quả của một chất hoặc một bệnh cơ thể khác
+ Các triệu chứng không thể giải thích do stress, các triệu chứng tồn tại dai dẳng trên 2 tuần kèm theo giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp
- Triệu chứng lâm sàng
Rối loạn trầm cảm chủ yếu, là đặc trưng của một hay nhiều giai đoạn trầm cảm điển hình Hội chứng trầm cảm là một hội chứng phức tạp ảnh hưởng lên khí sắc, tư duy, vận động và cơ thể
Rối loạn trầm cảm như một hội chứng hoặc một bệnh, nhưng hay gặp nhất là một bệnh Trầm cảm được biểu hiện bằng các triệu chứng chủ yếu của khí sắc, mất hứng thú và sở thích
+ Các triệu chứng của khí sắc trầm khó phân biệt với buồn rầu bình thường, nhiều bệnh nhân cho rằng bị rối loạn trầm cảm là vì trong tiền sử có các stress tâm lí So với triệu chứng buồn rầu thì triệu chứng trầm cảm bền vững hơn, khí sắc bị ức chế không thay đổi do các yếu tố ngoại sinh và bệnh nhân không thể kiểm soát được các triệu chứng trầm cảm của mình
Biểu hiện triệu chứng khí sắc trầm của mỗi người khác nhau như: buồn, đau khổ, cáu gắt, mất hy vọng, giảm khí sắc Bệnh nhân không tự xác
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25định được bệnh và có nhiều rối loạn cơ thể như đau, bỏng rát ở các vùng khác nhau trong cơ thể Các dấu hiệu đó tạo thành hội chứng trầm cảm
+ Mất hứng thú và sở thích trong rối loạn trầm cảm là triệu chứng quan trọng thứ hai trong hội chứng trầm cảm Mất hứng thú với mọi hoạt động vô cảm với mọi sở thích trước khi bị bệnh Mất hứng thú với mọi khía cạnh của cuộc sống như trong nghề nghiệp, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đối với đời sống tình dục và hiệu quả tự chăm sóc bản thân Bi quan, mất hy vọng, mất ham muốn được sống, xuất hiện khuynh hướng xa lánh xã hội và giảm khả năng tiếp nhận thông tin
+ Ngoài hai triệu chứng cơ bản nói trên khám tâm thần của bệnh nhân còn nhiều triệu chứng khác nữa Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm liên quan chặt chẽ với nhân cách trước khi bị bệnh Một số đặc điểm của nhân cách có thể che lấp hoặc khuếch đại bởi các triệu chứng rối loạn trầm cảm và cũng có thể nhầm với các rối loạn tâm căn
Biểu hiện bên ngoài của rối loạn trầm cảm có thể là bình thường trong rối loạn trầm cảm nhẹ Trong rối loạn trầm cảm vừa và nặng xuất hiện nét mặt buồn rầu, thái độ chán nản, tư thế ủ rủ, vai rũ xuống, trán có nhiều nếp nhăn Một số bệnh nhân có thể không yên tĩnh và thậm chí có kích động gọi
là kích động trầm cảm
Các triệu chứng rối loạn nhận thức:
Chức năng nhận thức trong rối loạn trầm cảm bị ức chế, vận động không hiệu quả và chậm chạp gọi là ức chế tâm thần
+ Rối loạn chú ý: Có sự giảm sút chú ý rõ rệt, khả năng tập trung chú ý kém, là triệu chứng người bệnh than phiền nhiều nhất
Họ khẳng định rằng không thể đọc, không thể theo dõi chương trình tivi, không thể kết thúc công việc đơn giản hằng ngày vì không có sự tập trung chú ý, rối loạn tập trung chú ý có thể rõ rệt trong thời gian khám, khi đó bệnh nhân khó tập trung cho khám bệnh
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26+ Rối loạn trí nhớ: rối loạn trí nhớ thường là giảm khả năng nhớ chính xác các thông tin, hiện tượng này liên quan chặt chẽ với rối loạn chú ý, bệnh nhân thường than phiền giảm khả năng nhớ Bệnh nhân đặc biệt nhớ các sự kiện không được thích thú cho lắm và các thất bại trong đời sống trong đời sống hằng ngày, trong khi đó các sự kiện khác lại được ghi nhớ rất kém
+ Rối loạn tri giác: xuất hiện rối loạn tri giác như đau đầu, rối loạn dạng cơ thể, ảo giác xuất hiện trong rối loạn trầm cảm nặng, thường phù hợp với giảm khí sắc
+ Rối loạn tư duy: xuất hiện rối loạn hình thức tư duy và cả nội dung tư duy rất đa dạng:
Nhịp tư duy chậm, bệnh nhân thường khó suy nghĩ, có cảm giác ý nghĩ
bị tắc nghẽn, không rõ ràng, khó hệ thống và khó biểu hiện Lời nói chậm, thiếu tính tự động, chậm trả lời các câu hỏi, nội dung đơn điệu, nghèo nàn tập trung vào các sự kiện hiện tại hoặc các sự kiện gây khó chịu
Bệnh nhân không quyết định được, khó quyết định và không tin ở bản thân mình Bệnh nhân nhìn tương lai một cách đầy bi quan, không hy vọng, nội dung mang màu sắc của rối loạn trầm cảm, xuất hiện sự sụp đổ, tự ti
Ý nghĩ không tự tin vào bản thân mình, bệnh nhân cảm thấy mất khả năng sống thoải mái, mất các hoạt động bình thường, bệnh nhân cho rằng cuộc sống là một chuỗi dài những thất bại của bản thân và chất lượng cuộc sống giảm rõ rệt
Cảm thấy cuộc sống đầy những khó khăn, khó vượt qua được và cho rằng mình “không là ai và không là cái gì” Có ý nghĩ tội lỗi thường là hoang tưởng tự buộc tội mình, bệnh nhân cho rằng mình là gánh nặng của gia đình, trong trầm cảm nặng, ý nghĩ tội lỗi sẽ trở thành hoang tưởng, cho rằng mình
có tội, rằng những tội lỗi, những thảm họa cho gia đình và cho cả thế giới sắp sụp đổ đến nơi và người bệnh rất hoảng sợ, than thở, khóc lóc
Có ý tưởng và hành vi tự sát, hầu hết các trường hợp rối loạn trầm cảm có ý nghĩ về cái chết, đi đến tự sát và tự sát nhiều lần mà không thành
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27công Trong rối loạn trầm cảm có 10-15% tự sát thành công, 25-30% tự sát nhiều lần nhưng không thành công và 55-65% có ý tưởng tự sát
+ Rối loạn tâm thần vận động:
Vận động tâm thần chậm: triệu chứng hay gặp nhất là vận động tâm thần chậm chạp Các hệ thống phân loại cổ điển xếp triệu chứng vận động như một tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán Vận động chậm chạp như trả lời chậm, nói chậm, nhịp tư duy chậm, nhớ chậm quá mức được biểu hiện bằng trạng thái sững sờ, trầm cảm, vận động tâm thần
Không yên tĩnh, kích động tâm thần, (kích động trầm cảm), thường phối hợp với rối loạn lo âu, thiếu năng lượng hoặc mệt mỏi là một trong những triệu chứng không đặc trưng và cần phân biệt với rối loạn trầm cảm + Rối loạn về ăn uống: bệnh nhân thường ăn uống kém nhưng một số lại ăn nhiều
+ Mất ngủ hoặc ngủ nhiều: thường gặp là ít ngủ hoặc không ngủ, mất ngủ hỗn hợp, mất ngủ ở cuối giấc Trong giai đoạn rối loạn trầm cảm chủ yếu,
có một số thay đổi đặc trưng điện não đồ ghi trong thời gian ngủ là:
- Giảm biên độ REM (giai đoạn vận động nhãn cầu xanh): thời gian từ khi bắt đầu ngủ đến giai đoạn đầu của REM
- Tăng độ dài của giai đoạn đầu có REM
- Giảm tính thường xuyên của giai đoạn REM
- Giảm giai đoạn 4 của giấc ngủ Delta
1.1.4 Phân loại trầm cảm theo mức độ các triệu chứng lâm sàng
* Giai đoạn trầm cảm nhẹ
Khí sắc trầm, mất quan tâm, giảm thích thú, mệt mỏi nhiều khó tiếp tục công việc hằng ngày và hoạt động xã hội Ít nhất phải có 2 trong số những triệu chứng chủ yếu cộng thêm 2 trong số những triệu chứng phổ biến khác ở trên để chẩn đoán xác định Thời gian tối thiểu phải có khoảng 2 tuần và không có hoặc có những triệu chứng cơ thể nhưng nhẹ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28* Giai đoạn trầm cảm vừa
Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu đặc trưng cho giai đoạn trầm cảm nhẹ, cộng thêm 3 hoặc 4 triệu chứng phổ biến khác
Thời gian tối thiểu là khoảng 2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình, không có hoặc có 2-3 triệu chứng cơ thể ở mức độ trầm trọng vừa phải
* Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng rối loạn tâm thần
Buồn chán, chậm chạp nặng hoặc kích động, mất tự tin hoặc cảm thấy
vô dụng hoặc thấy có tội lỗi, nếu trầm trọng có hành vi tự sát
Triệu chứng cơ thể hầu như có mặt thường xuyên, có 3 triệu chứng điển hình của giai đoạn trầm cảm, cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng phổ biến khác
Thời gian kéo dài ít nhất là 2 tuần, nếu có triệu chứng đặc biệt không cần đến
2 tuần, ít có khả năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc gia đình
* Giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng rối loạn tâm thần
Thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn rối loạn trầm cảm và có hoang tưởng,
ảo giác phù hợp với khí sắc bệnh nhân hoặc sững sờ trầm cảm
Hoang tưởng gồm tự buộc tội, hèn kém hoặc có những tai họa sắp xảy
ra, ảo giác gồm ảo thanh, ảo khứu, những lời phỉ báng bệnh nhân, mùi khó chịu và giảm hoặc mất vận động
Trang 29chuyên môn Bệnh nhân trầm cảm có thể điều trị nội trú hoặc ngoại trú
Theo WHO, có khoảng 298 triệu người mắc trầm cảm trong năm 2010 (chiếm 4,3% dân số toàn cầu) Theo một nghiên cứu khác ở Mỹ năm 2014, có khoảng 17.6 nghìn người bị trầm cảm mỗi năm, nhưng có tới hơn 2/3 người
bị trầm cảm không nhận ra mình có bệnh và không được điều trị Điều đáng báo động là có tới 48% những người trầm cảm có ý tưởng tự sát và 24% những người có toan tự sát được báo cáo là không nhận được sự hỗ trợ điều trị trước đó
Viện Sức khỏe Tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai), trong năm 2020 viện khám và điều trị ngoại trú 18.402 lượt bệnh nhân trầm cảm (chiếm 30%), điều trị nội trú 446 lượt bệnh nhân (chiếm 13,0%).Trung bình mỗi ngày có 200 bệnh nhân đến khám và điều trị về trầm cảm Trong đó, có từ 10-20 người phải nhập viện điều trị vì trầm cảm nặng, trong thực tế điều trị, hơn 50% bệnh nhân có nguy cơ cơn tái diễn sau cơn thứ nhất, tỉ lệ này tăng dần lên đến 70% sau cơn tái diễn thứ hai và sau cơn tái diễn thứ ba là 90%
1.2 Liệu pháp nhận thức - hành vi
1.2.1 Khái niệm liệu pháp nhận thức - hành vi
Liệu pháp nhận thức - hành vi là một trong những liệu pháp tâm lý trị liệu Người trị liệu sẽ trò chuyện về tình trạng bệnh và những vấn đề liên quan của mình với nhà trị liệu Liệu pháp này giúp người trị liệu nhận thức được suy nghĩ không chính xác hoặc tiêu cực khi đứng trước các tình huống thách thức Từ đó phản hồi chúng theo những cách tích cực và hiệu quả hơn Liệu pháp nhận thức - hành vi là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản từ tâm
lý học nhận thức và tâm lý học hành vi, được các nhà nghiên cứu phát triển phù hợp với xu hướng trị liệu tâm lý trong xã hội hiện đại Liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT) là một hình thức tâm lý trị liệu giúp bệnh nhân hiểu rõ
sự ảnh hưởng của suy nghĩ và cảm xúc lên hành vi CBT thường được sử dụng để điều trị các rối liên quan đến sợ hãi, nghiện, trầm cảm và lo âu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30Liệu pháp nhận thức - hành vi là sự kết hợp giữa liệu pháp nhận thức và liệu pháp hành vi Vì vậy, trước khi định nghĩa liệu pháp nhận thức - hành vi, chúng tôi phân tích sơ lược các đặc điểm của liệu pháp nhận thức và liệu pháp hành vi
Liệu pháp nhận thức có những đặc trưng là:
Tâm lý nhận thức quan tâm đến quá trình tư duy Theo mô hình nhận thức, kích thích tác động lên nhận thức từ đó mới dẫn đến sự đáp ứng Liệu pháp nhận thức nhằm thay đổi những cảm xúc và hành động có ảnh hưởng lên
tư duy của người bệnh Tác giả Nguyễn Văn Thọ đã định nghĩa liệu pháp
nhận thức như sau: liệu pháp nhận thức là một tiếp cận tâm lý trị liệu hướng
tới việc thay đổi những cảm nhận và những hành vi bằng cách thay đổi sự tiếp nhận hoặc suy nghĩ của bệnh nhân về những trải nghiệm quan trọng
Liệu pháp hành vi có những đặc trưng là:
Liệu pháp hành vi là một thuật ngữ rộng đề cập đến tâm lý trị liệu lâm sàng sử dụng các kỹ thuật bắt nguồn từ hành vi Những người thực hành liệu pháp hành vi có xu hướng nhìn vào các hành vi cụ thể, đã học và cách môi trường ảnh hưởng đến những hành vi đó Những người thực hành liệu pháp hành vi được gọi là nhà hành vi, hoặc nhà phân tích hành vi Họ có xu hướng tìm kiếm kết quả điều trị có thể đo lường khách quan Trị liệu hành vi không liên quan đến một phương pháp cụ thể nhưng nó có một loạt các kỹ thuật có thể được sử dụng để điều trị các vấn đề tâm lý của một người
Liệu pháp hành vi tập trung chú ý tới việc thay đổi hành vi hiện tại và tạo lập chương trình hành động Liệu pháp này nhấn mạnh đến những hành vi hiện tại mà khách hàng đang trải nghiệm (trái ngược với cách tiếp cận của tâm lý học phân tâm khi mà quan tâm nhiều hơn tới những dấu hiệu của tiềm
Trang 31Liệu pháp nhận thức – hành vi là phương pháp trị liệu tâm lý tập trung vào việc tiếp cận, thách thức nhận thức kém thích ứng và thay đổi hành vi tiêu cực của thân chủ, giúp thân chủ điều hòa cảm xúc và phát triển chiến lược ứng phó với các vấn đề nan giải trong cuộc sống cá nhân
1.2.2 Nội dung của liệu pháp nhận thức - hành vi
Liệu pháp nhận thức - hành vi được xây dựng dựa trên những cơ sở khoa học về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm, CBT thường được áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn và tập trung giúp bệnh nhân đương đầu với một vấn đề cụ thể Trong suốt quá trình trị liệu, bệnh nhân sẽ học cách xác định và thay đổi các suy nghĩ tiêu cực gây ảnh hưởng xấu lên hành vi và cảm xúc Nội dung cốt lõi của CBT chính là suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đóng một vai trò căn bản trong việc quyết định các hành vi mà ta thể hiện Nhà trị liệu dùng các kỹ thuật khác nhau để làm bộc lộ và kiểm tra các ý nghĩ
và làm thay đổi hành vi của bệnh nhân, trong đó chủ yếu dựa vào các kỹ thuật nhận thức và kỹ thuật hành vi
1.2.2.1 Các kỹ thuật nhận thức
Với mục đích là làm bộc lộ và kiểm tra ý nghĩ, thay đổi hành vi của thân chủ, các kỹ thuật nhận thức bao gồm 4 quá trình:
Đầu tiên là nhận diện các tư duy tự động bao gồm các niềm tin không hợp
lý, nhà trị liệu phải cho họ thấy rằng cảm xúc của họ, không phải do người khác gây ra hoặc các nguồn lực bên ngoài (sự kiện kích hoạt), giúp thân chủ hiểu rằng chính cách mà họ làm, họ cảm nhận và thể hiện, cư xử ra bên ngoài, thông qua cách mà thân chủ nghĩ và niềm tin không hợp lý - nhận thức sai lệch
Thứ hai là kiểm chứng các tư duy tự động, nhà trị liệu hướng dẫn và giúp đỡ thân chủ kiểm chứng giá trị của các tư duy tự động, thân chủ được hướng dẫn để sẵn sàng chất vấn lại với những ý nghĩ của họ trước một sự kiện đau buồn hoặc gây ra những cảm xúc khác, cách thay đổi suy luận của họ Mục đích là khuyến khích thân chủ đưa ra các giải thích thay thế cho các sự
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32kiện cũng là một cách làm xói mòn các tư duy tự động
Thứ ba, nhận diện các giả định kém thích ứng, một khi niềm tin đã nhận diện thì khuôn mẫu biểu hiện các nguyên tắc hay các giả định kém thích ứng đã dẫn dắt cuộc sống của thân chủ đến với thất vọng, thất bại và cuối cùng là trầm cảm
Thứ tư là kiểm chứng và thay thế giá trị của giả định kém thích ứng khi
đã nhận diện được các giả định kém thích ứng Nhà trị liệu đương đầu với từng loại để giúp thân chủ nhìn ra các sai lầm vốn có của niềm tin không hợp
lý thông qua cuộc tranh luận ý thức bằng cách hỏi–yêu cầu đưa ra - giải thích bằng chứng về niềm tin bởi những câu hỏi trực tiếp, và hình thức thứ hai được lựa chọn để đương đầu với niềm tin là dùng tranh luận tưởng tượng, đây
là kỹ thuật cho phép trí tưởng tượng của thân chủ đi ngược lại niềm tin không hợp lý, tưởng tượng với tình huống không thoải mái và từng mức thang bậc dễ chịu hơn, ít căng thẳng hơn, ít giận hơn…hoặc giảm hơn bất cứ điều gì liên quan đến cảm xúc tiêu cực
Khi thân chủ có thể nói ra rằng mình có thể tưởng tượng việc giảm dần cường độ mạnh mẽ của cảm xúc, và nhà trị liệu sẽ hỏi để giúp thân chủ tìm ra suy nghĩ gì đã sử dụng để tạo ra sự cải thiện Và dần những suy nghĩ này sẽ được sử dụng trong những tình huống thật trong tương lai để thay thế các suy nghĩ đã sinh ra cảm xúc tiêu cực, (Parrott, 1997) Kỹ thuật thứ ba là tranh luận hành vi với mục đích là thay đổi hành vi khi các niềm tin không hợp lý, các giả định kém thích ứng được chứng minh là sai hoàn toàn, và một niềm tin mới đã được xuất hiện
1.2.2.2.Các kỹ thuật hành vi
Các kỹ thuật hành vi và nhận thức đi đôi với nhau, kỹ thuật hành vi nhằm kiểm tra và thay đổi các nhận thức kém thích ứng, không chính xác nhằm hướng tới mục đích chung đó là giúp thân chủ nhận ra những niềm tin giả định và nhận thức không chính xác của bản thân, học các chiến lược và
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33cách thức mới để giải quyết vấn đề Các kỹ thuật hành vi bao gồm lên các kế hoạch hoạt động, thư giãn, làm bài tập về nhà như viết nhật ký ý nghĩ và tư duy hành vi và cảm xúc kèm theo, diễn tập nhận thức, đóng vai Để đơn giản
và thành công thì nhà trị liệu chia các công việc thành các bài tập khác nhau, với mục đích chứng tỏ với thân chủ rằng họ có khả năng thành công
Giải mẫn cảm hệ thống cũng là một kỹ thuật hành vi thường được áp dụng kèm với kỹ thuật nhận thức, khi thân chủ tưởng tượng một tình huống hay một sự việc mà bản thân đã trải nghiệm gây lo sợ, cùng với kỹ thuật thư giãn sẽ giúp thân chủ đối phó với phản ứng sợ và cuối cùng loại bỏ được lo
âu, mức độ sẽ tăng dần cho đến khi tiếp xúc với thực tế, với mục đích thân chủ sẽ dần trở nên giải nhạy cảm với các đáp ứng sợ hãi đã trải nghiệm và học cách cải thiện phản ứng, đối phó với tình huống Nhà trị liệu hướng dẫn cho thân chủ các bài tập thư giãn như kỹ thuật thư giãn bằng các bài tập thở…Ngoài ra, còn có các kỹ năng khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự khẳng định bản thân, kỹ năng xã hội…các kỹ thuật sẽ được thay đổi theo từng
Sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm là quá trình áp dụng các kỹ liệu nhận thức và kỹ thuật hành vi trong trị liệu tâm lý cho thân chủ được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm theo ICD-10 hoặc DSM-4, giúp thân chủ điều hòa cảm xúc và phát triển chiến lược ứng phó với các vấn
đề nan giải trong cuộc sống cá nhân
1.2.3.2 Quy trình trị liệu nhận thức - hành vi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34Nhìn chung, quy trình trị liệu nhận thức – hành vi gồm 5 bước:
Giáo dục tâm lý (2 buổi)
- Xây dựng mối quan hệ tin tưởng, an toàn, chia sẻ, thấu cảm với bệnh nhân, gia đình bệnh nhân
- Giúp bệnh nhân hiểu về bệnh trầm cảm, thống nhất những vấn đề hiện tại của bệnh nhân
- Chỉ ra được những điểm mạnh và khó khăn của bệnh nhân
- Lên kế hoạch trị liệu cho bệnh nhân: nội dung, thời gian, địa điểm…
Hướng dẫn kỹ thuật nhận thức (6 buổi)
- Giải thích cho bệnh nhân về tam giác nhận thức, cảm xúc, hành vi và mối liên quan giữa chúng
- Giới thiệu và luyện tập đo nhiệt kế cảm xúc, mối quan hệ giữa suy nghĩ với cảm xúc
- Hướng dẫn bệnh nhân kỹ năng giải quyết vấn đề
- Thay đổi suy nghĩ và sửa lỗi tư duy
- Tranh cãi với suy nghĩ tiêu cực thông qua mẫu cân đối tư duy
Hoạt hóa hành vi (4 buổi)
- Lựa chọn hoạt động: hoạt động với người mình thích, hoạt động với thứ mình thích, giúp đỡ người khác, luôn bận rộn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35- Thực hành lên kế hoạch thời gian vui vẻ
Thư giãn (3 buổi)
- Cân bằng cảm xúc thông qua thư giãn giúp suy nghĩ tích cực và hướng tới những hành vi thân thiện hơn
- Thở sâu
- Thư giãn cơ lũy tiến
- Thở nhanh
Kế hoạch tương lai (1 buổi)
- Dự đoán sự kiện có thể làm xuất hiện triệu chứng
- Xây dựng kế hoạch đương đầu với thách thức
1.2.3.3 Cấu trúc và nội dung buổi trị liệu
Thời gian trị liệu cá nhân thường kéo dài 60-90 phút/ buổi Tùy theo tình trạng của thân chủ, số buổi trị liệu có thể thay đổi từ 6-10 buổi
* Cấu trúc một buổi trị liệu
- Xem lại bài về nhà hôm trước: điểm lại những khó khăn khi làm bài
về nhà, hoặc những lý do thất bại, không làm được
- Giới thiệu khái niệm mới và phương pháp mới
- Thực hành
- Lắng nghe ý kiến phản hồi về phương pháp mới
- Lên kế hoạch để làm bài tập về nhà thành công
- Định hướng buổi trị liệu tiếp theo
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36* Nội dung của từng buổi trị liệu
- Xem lại bài tập về nhà
- Lý giải cơ chế gây trầm cảm
- Tìm hiểu mô hình nhận thức - hành vi -Kỹ thuật thư giãn
- Bài tập về nhà
Buổi 3:
- Xem lại bài tập về nhà -Rèn luyện kỹ năng thư giãn thực tế và kỹ năng thư giãn trong suy nghĩ -Hướng dẫn các kỹ thuật thay đổi nhận thức - hành vi
- Bài tập về nhà
Buổi 4 +5
- Xem lại bài tập về nhà
- Rèn luyện kỹ thuật thư giãn thực tế và kỹ năng thư giãn trong suy nghĩ
- Hướng các kỹ thuật thay đổi nhận thức - hành vi
Trang 371.3 Yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi trong trị liệu tâm lý cho bệnh nhân rối loạn trầm cảm
1.3.1 Giới tính của bệnh nhân
Theo một số nghiên cứu về hiệu quả của liệu pháp nhận thức hành vi, thì đặc điểm giới tính có mối liên quan đến hiệu quả của liệu pháp Nghiên cứu cho thấy phần lớn bệnh nhân nữ có sự thích ứng với liệu pháp nhận thức hành
vi tốt hơn so với bệnh nhân nam Trong khi đó, những triệu chứng trầm cảm trên bệnh nhân nữ cao hơn so với bệnh nhân nam Theo Curwen B.,Pallmer
S.,Ruddell P (2004), báo cáo rằng các triệu chứng trầm cảm của nam liên
quan đáng kể đến nguy cơ thất nghiệp và thiếu sự tương tác, chia sẻ cảm xúc với người khác, có nghĩa là họ không có khả năng tham gia các hoạt động trong gia đình và với bạn bè bởi vì họ không muốn chia sẻ, và không thỏa mái
về tinh thần Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện các bài tập trong liệu pháp nhận thức hành vi Một trong những nguyên lý của liệu pháp là “ đừng chỉ nói mà phải làm”, có nghĩa là muốn có kết quả tốt bệnh nhân phải tham gia vào các hoạt động Nhưng với suy nghĩ mình không bị bệnh, mình có thể
tự vượt qua được, do đó việc điều trị cho các bệnh nhân trầm cảm nam sẽ khó khăn với nhóm nữ Tuy nhiên, với một số bệnh nhân nam có sự nhận thức tốt
về trầm cảm và có nhu cầu trị liệu tâm lý thì khả năng thích ứng tốt với liệu pháp nhận thức hành vi
1.3.2 Trình độ học vấn của bệnh nhân
Trình độ học vấn có sự liên quan đến trị liệu tâm lý của bệnh nhân trầm cảm Những bệnh nhân có học vấn từ trung học phổ thông trở lên có khả năng đáp ứng tốt trị liệu, cho thấy những triệu chứng về mất ngủ, buồn chán, suy nghĩ tiêu cực giảm nhanh hơn so với những bệnh nhân có trình độ học vấn thấp Điều này phù hợp với nghiên cứu Derek R Hopko đối với 25 bệnh nhân trầm cảm, trong đó có 10 bệnh nhân có trình độ học vấn đại học, sau đại học và 15 bệnh nhân có trình độ trung học phổ thông trở xuống Trong
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38nghiên cứu này, nhóm bệnh có trình độ học đại học và sau đại học có điểm trung bình Beck trầm cảm giảm nhiều sau điều trị (35,1-19,1) sự thay đổi này lớn hơn so với nhóm bệnh nhân có trình độ trung học phổ thông trở xuống (37,1-30,2)
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã xây dựng được khung lý luận về sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm Trong đó, bệnh nhân trầm cảm được định nghĩa là người đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo bảng phân loại ICD-10 hoặc DSM-4 sau khi được thăm khám bởi người có chuyên môn Bệnh nhân trầm cảm có thể điều trị nội trú hoặc ngoại trú Liệu pháp nhận thức - hành vi được định nghĩa là phương pháp trị liệu tâm lý tập trung vào việc tiếp cận, thách thức nhận thức kém thích ứng và thay đổi hành vi tiêu cực của thân chủ, giúp thân chủ điều hòa cảm xúc và phát triển chiến lược ứng phó với các vấn đề nan giải trong cuộc sống cá nhân
Sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm là quá trình áp dụng các kỹ liệu nhận thức và kỹ thuật hành vi trong trị liệu tâm lý cho thân chủ được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm theo ICD-10 hoặc DSM-4, giúp thân chủ điều hòa cảm xúc và phát triển chiến lược ứng phó với các vấn
đề nan giải trong cuộc sống cá nhân Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng liệu pháp nhận thức - hành vi cho bệnh nhân trầm cảm bao gồm: giới tính và trình
độ học vấn của bệnh nhân
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu
2.1.1.Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Tâm thần Hà Nội là bệnh viện hạng I, đầu ngành tâm thần của Thành phố Hà Nội, có nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe tâm thần cho nhân dân Thủ đô với quy mô 450 giường bệnh nội trú và quản lý, điều trị cho trên 10.000 bệnh nhân tại cộng đồng Nhiều thày thuốc có trình
độ sau đại học, luôn cập nhật kiến thức, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị Chất lượng công tác chuyên môn ngày một nâng cao và đã trở thành một địa chỉ tin cậy trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận Tính đến hết tháng 11 năm 2020 tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội đã có 3.110 lượt bệnh nhân đến khám và có chẩn đoán trầm cảm
Bệnh viện Tâm thần Hà Nội có khả năng đáp ứng tốt các nhu cầu về khám, tư vấn, điều trị cho tất cả các trường hợp bất ổn về tâm lý- tâm thần: đau đầu, rối loạn giấc ngủ, lo âu, trầm cảm, rối loạn tâm thần, động kinh, rối loạn cảm xúc và hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn liên quan đến stress, nghiện chất – đặc biệt là nghiện rượu và loạn thần do rượu, nghiện game, các bất thường về tâm lý – tâm thần ở người cao tuổi…Ngoài điều trị bằng thuốc, bệnh viện còn áp dụng nhiều phương pháp có tính thời đại như: liệu pháp tâm
lý, thư giãn luyện tập, hoạt động liệu pháp, giải trí…Bệnh viện đã thực hiện tốt mô hình:” Hệ thống cửa mở có quản lý”, đây là mô hình hiện đại, khoa học và nhân đạo, tạo môi trường tốt cho công tác điều trị và phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho người bệnh
Bệnh viện Tâm thần Hà Nội đã và đang áp dụng nhiều tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào công tác chẩn đoán và điều trị như: áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán của tổ chức y tế thế giới trong chẩn đoán các bệnh tâm lý-tâm thần, ứng dụng các phương pháp điều trị mới và các thuốc thế hệ mới trong điều trị
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40Bệnh viện đang triển khai nhiều loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong khám chữa bệnh
Bệnh viện cũng đã thực hiện tốt công tác chỉ đạo tuyến và thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng, hàng năm bệnh viện tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ nhân viên trong bệnh viện và mạng lưới chuyên khoa tại các Quận, Huyện
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2.1 Chọn mẫu nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán một giai đoạn trầm cảm điều trị ngoại trú, tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội
Về tiêu chuẩn loại trừ, bệnh nhân trầm cảm được lựa chọn tham gia nghiên cứu không nằm trong các nhóm sau đây:
- Bệnh nhân có bệnh hay rối loạn tâm thần khác trước khi có rối loạn trầm cảm
- Bệnh nhân có bệnh thực tổn não
- Bệnh nhân sử dụng ma túy và chất tác động tâm thần
- Bệnh nhân có bệnh nội khoa nặng, bệnh nội khoa mạn tính
- Bệnh nhân và gia đình bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân không đủ thời gian, điều kiện theo dõi
Các tiêu chuẩn loại trừ này giúp mẫu nghiên cứu trở nên thống nhất hơn, cũng như đảm bảo sự so sánh ngang bằng giữa nhóm hóa dược và nhóm kết hợp trị liệu nhận thức – hành vi và hóa dược
2.1.2.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Tổng số khách thể tham gia nghiên cứu là 30 bệnh nhân trầm cảm, có
15 bệnh nhân chứng(chỉ dùng hóa dược), 15 bệnh nhân thực(dùng hóa dược
và trị liệu nhận thức hành vi) Đặc điểm của mẫu nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.1
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si