TÓM TẮT Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016 Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức về bệnh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định
+ Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Bà mẹ có khả năng nhận thức và giao tiếp để trả lời các câu hỏi
+ Các bà mẹ không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
+ Các bà mẹ không thể tiếp nhận và trả lời được các câu hỏi.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 4/2016 - 10/2016 Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định – 26
Hà Huy Tập – Nam Định.
Thiết kế
Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp giáo dục có so sánh trước sau
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu được áp dụng như sau: Đối tượng tham gia nghiên Đánh giá trước can thiệp (T1)
Can thiệp Giáo dục sức khỏe Đánh giá sau can thiệp ( T2)
So sánh, bàn luận và kết luận luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- n là số bà mẹ tham gia nghiên cứu
- Z(/2) là giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị Với lực mẫu là 90% ( = 0,2), mức ý nghĩa 95% ( = 0,05), tương đương với
Theo nghiên cứu của Trương Thanh Phương năm 2009, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt trước can thiệp chỉ đạt 26,9% Vì vậy, giá trị p0 được xác định là 0,27.
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt sau can thiệp được ước tính là P1 = 0,45 Theo công thức tính toán, kích thước mẫu n cần thiết là 58 Để đảm bảo độ chính xác và tránh mất mát dữ liệu, chúng tôi đã tăng thêm 10%, và cuối cùng đã thu thập được 66 bà mẹ.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện bằng cách lấy tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy và điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7.
2016 đáp ứng tiêu chuẩn chọn.
Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu khảo sát được thiết kế dựa trên nghiên cứu của Trương Thanh Phương năm 2009, theo hướng dẫn của Bộ Y tế về xử trí tiêu chảy ở trẻ em Phiếu khảo sát bao gồm hai phần: Phần 1 cung cấp thông tin chung về đối tượng nghiên cứu từ câu A1 đến A12 Phần 2 tập trung vào ba nội dung chính: kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy từ câu B1 đến B8, kiến thức về chăm sóc trẻ bị tiêu chảy từ câu B9 đến B20, và kiến thức về cách phòng bệnh tiêu chảy ở câu B21.
Người thu thập số liệu đã sử dụng phiếu khảo sát để phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ tại buồng bệnh, thực hiện hai lần đánh giá: lần đầu trước can thiệp khi vào viện và lần sau sau can thiệp trước khi ra viện.
Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu
Hai tuần trước khi bắt đầu thu thập số liệu, một thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu đã được thực hiện Điều tra thử 15 bà mẹ theo tiêu chuẩn lựa chọn, những người này không tham gia vào đối tượng nghiên cứu sau đó, nhằm xác định tính sát thực và khả năng áp dụng của bộ công cụ thu thập số liệu Kết quả phân tích đã giúp hiệu chỉnh bộ công cụ cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu.
Tiến trình thu thập số liệu
- Bước 1: Lựa chọn được 66 bà mẹ đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
Bước 2: 66 bà mẹ được giới thiệu về mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi khi tham gia nghiên cứu Các bà mẹ đã ký vào bản đồng thuận (phụ lục 1) và được hướng dẫn về hình thức tham gia cũng như cách trả lời các thông tin trong phiếu khảo sát.
Bước 3: Tiến hành khảo sát kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em khi nhập viện thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sử dụng phiếu khảo sát (phụ lục 2) trước khi thực hiện giáo dục sức khỏe.
- Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khỏe thông qua cung cấp nội dung kiến thức về bệnh tiêu chảy ở trẻ em và phát tờ rơi (phụ lục 3)
- Bước 5: Đánh giá kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em sau giáo dục sức khỏe bằng phiếu khảo sát (phụ luc 2).
Các biến số nghiên cứu
Loại biến Cách xác định Phương pháp TT Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Họ và tên Biến định danh Phỏng vấn
Tuổi Tính từ năm sinh đến năm 2016 dương lịch ( Biến liên tục)
Tỷ lệ % theo NT: 18-30 tuổi,
31 – 35 tuổi và >35 tuổi Phỏng vấn Địa chỉ Nơi sinh sống của bà mẹ (Biến định danh)
Tỷ lệ %: Thành thị và nông thôn Phỏng vấn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Cấp học cao nhất của bà mẹ (Định lượng thứ bậc)
Tỷ lệ % bà mẹ có TĐVH:
Tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học và trung cấp – Đại học
Công việc đang làm có thu nhập cao nhất (Biến định danh)
Tỷ lệ %: Nông dân, công nhân, viên chức và khác như
Tự do, nội trợ, buôn bán
Kiến thức về bệnh tiêu chảy ở trẻ em rất quan trọng, bao gồm định nghĩa, nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, đường lây truyền, hậu quả và dấu hiệu mất nước Đối với việc chăm sóc trẻ bị tiêu chảy, cần nắm rõ thông tin về dung dịch ORS, tác dụng, cách pha chế, thời gian bảo quản, cách uống, các dung dịch thay thế, chế độ ăn uống, cũng như các dấu hiệu cần đưa trẻ đến cơ sở y tế và thời điểm thích hợp để cho trẻ ăn dặm hoặc cai sữa.
Để phòng bệnh tiêu chảy hiệu quả, cần nắm vững các biện pháp như nuôi con bằng sữa mẹ, ăn uống hợp lý, tiêm chủng đầy đủ, rửa tay thường xuyên, sử dụng nước sạch, tiêu thụ thực phẩm tươi và xử lý phân đúng cách.
Tiêu chuẩn đánh giá
Bà mẹ tham gia phỏng vấn, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm và sai 0 điểm Nếu bà mẹ trả lời đúng từ 80% trở lên (≥ 46 điểm), kiến thức được đánh giá là loại tốt Đối với tỷ lệ 65% đến 79% (37 – 45 điểm), kiến thức đạt loại khá Từ 50% đến 64% (29 – 36 điểm) là loại trung bình, và nếu dưới 50% (≤ 28 điểm), kiến thức được coi là loại kém.
Xác định đúng và sai về bệnh tiêu chảy ở trẻ em dựa trên các tài liệu chính thống hiện hành, bao gồm Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em của Bộ Y tế (2009), Tài liệu huấn luyện kỹ năng xử trí lồng ghép trẻ bệnh (2008), Kỹ năng giám sát - Điều trị tiêu chảy, và Chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy của Tổ chức Y tế Thế giới (2008).
Đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo dục so với trước can thiệp dựa trên mức chênh lệch điểm trung bình và sự khác biệt về tỷ lệ trả lời đúng cho từng nội dung đánh giá.
Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu sau khi được làm sạch, nhập và phân tích trên phần mền SPSS 16.0
- Tính các giá trị phần trăm trước và sau can thiệp, sử dụng các test thống kê cho các kiểm định thích hợp.
Chương trình can thiệp
Nội dung can thiệp giáo dục sức khỏe được phát triển dựa trên tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế về cách xử trí tiêu chảy ở trẻ em, được ban hành vào ngày 28 tháng.
Vào năm 2009, giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đã tập trung vào việc cung cấp kiến thức về bệnh tiêu chảy, bao gồm nguyên nhân, triệu chứng, hậu quả, cách chăm sóc và biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Trong nghiên cứu này, 66 bà mẹ đã được can thiệp giáo dục sức khỏe trực tiếp trong thời gian nằm viện Phương pháp can thiệp này tập trung vào việc nâng cao nhận thức và kiến thức về sức khỏe cho các bà mẹ.
Bước 1: Tiến hành khảo sát kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu khảo sát chuẩn bị trước Địa điểm thực hiện khảo sát là tại buồng bệnh, vào lúc 10 giờ ngày đầu nhập viện, sau khi đã thực hiện thuốc Thời gian phỏng vấn được giới hạn trong 15 phút.
Bước 2: Đánh giá kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy và xây dựng nội dung can thiệp giáo dục phù hợp với từng bà mẹ
Bước 3: Can thiệp giáo dục bao gồm việc phát tài liệu tư vấn và tờ rơi về bệnh tiêu chảy cho bà mẹ, đồng thời thực hiện truyền thông trực tiếp các nội dung can thiệp đã xây dựng và giải đáp thắc mắc của bà mẹ Sẽ có 80 tài liệu tư vấn và tờ rơi được phát tại buồng bệnh vào lúc 10 giờ ngày thứ hai sau khi nhập viện, sau khi thực hiện thuốc, với thời gian can thiệp kéo dài 30 phút.
Bước 4: Đánh giá lại kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em lần 2 trước khi ra viện thông qua phiếu khảo sát chuẩn bị trước giống lần 1 Địa điểm thực hiện là tại buồng bệnh, thời gian diễn ra là 10 giờ (sau khi thực hiện thuốc) và thời gian phỏng vấn kéo dài 15 phút.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Đây là nghiên cứu can thiệp bằng giáo dục sức khỏe không ảnh hưởng tính mạng người bệnh
Trong nghiên cứu, các bà mẹ được thông tin chi tiết về mục đích và lợi ích của giáo dục sức khỏe, đồng thời ký vào bản đồng thuận Họ có quyền từ chối tham gia phỏng vấn bất cứ lúc nào.
Quá trình giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ được thực hiện tại buồng bệnh, giúp tất cả các bà mẹ, kể cả những người không tham gia nghiên cứu, đều có cơ hội tiếp cận thông tin giáo dục sức khỏe.
Các thông tin thu thập được giữ bí mật và chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Hạn chế của nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu ngắn và lấy mẫu thuận tiện nên kết quả thu được ít có giá trị ngoại suy
Để đảm bảo chất lượng thông tin thu thập, phiếu khảo sát được thiết kế với logic rõ ràng và ngôn ngữ dễ hiểu Trước khi tiến hành điều tra chính thức, phiếu khảo sát đã được thử nghiệm trên 15 đối tượng và điều chỉnh cho phù hợp Dữ liệu thu thập được nhập hai lần độc lập để kiểm soát sai số.
+ Các khái niệm, thuật ngữ rõ ràng
+ Thiết kế phiếu khảo sát dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời
+ Tiến hành phỏng vấn thử để hoàn thiện phiếu khảo sát
+ Trước khi phỏng vấn; điều tra viên phải giải thích rõ mục đích và ý nghĩa để đối tượng hợp tác đảm bảo được tính trung thực
+ Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra số liệu trước khi phân tích luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố nhóm tuổi và nơi cư trú của bà mẹ
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tại thời điểm nghiên cứu có 66 bà mẹ tham gia, trong đó có 62.1% bà mẹ thuộc nhóm tuổi từ 18 – 30 tuổi, 22.7% bà mẹ 31- 35 tuổi và nhóm tuổi trên 35 tuổi là 15.2%
Về nơi cư trú, đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu ở nông thôn, chiếm tỷ lệ là 66.7% và ở thành thị là 33.3%
Biểu đồ 3.1: Phân bố trình độ học vấn của bà mẹ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trong nghiên cứu, phần lớn các bà mẹ có trình độ học vấn là phổ thông trung học, chiếm 40.9% Trình độ phổ thông cơ sở chiếm 39.4%, trong khi 19.7% còn lại có trình độ từ trung học đến đại học.
Biểu đồ 3.2: Phân bố nghề nghiệp của bà mẹ
Tỷ lệ phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ cho thấy 19.7% là nông dân, 27.3% là công nhân, 16.7% là viên chức, và 39.4% làm các công việc khác như nội trợ, tự do, và buôn bán.
Bảng 3.2: Phân bố số con trong gia đình
Số con Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Với kết quả nghiên cứu thu được, đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu có 1 -
2 con, chiếm tỷ lệ 81.8%, và bà mẹ có trên 2 con chiếm tỷ lệ 18.2% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 3.3: Nguồn thông tin mong muốn nhận được
Nguồn thông tin Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nguồn thông tin tư vấn giáo dục sức khỏe từ cán bộ y tế được các bà mẹ tin tưởng nhất, chiếm tỷ lệ 71.2% Tiếp theo, thông tin từ người thân và gia đình chiếm 12.1%, trong khi sách báo, tờ rơi và thông tin đại chúng chỉ chiếm 9.1% và 7.6%.
Bảng 3.4: Đặc điểm của trẻ bị tiêu chảy
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Số lần mắc tiêu chảy
Tại thời điểm nghiên cứu, tỷ lệ trẻ mắc bệnh tiêu chảy lần đầu chiếm tỷ lệ cao hơn 62.1%, mắc từ 2 lần trở lên là 37.9%
Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ đạt 77.3%, tuy nhiên vẫn còn 22.7% trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ.
Thực trạng kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ trước can thiệp
3.2.1 Kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trẻ em Bảng 3.5: Kiến thức về định nghĩa bệnh tiêu chảy Định nghĩa Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đi ngoài phân lỏng 29 43.9 Đi ngoài phân lỏng ≥ 3 lần 37 56.1
Qua bảng 3.5 cho thấy: bà mẹ có kiến thức đúng về định nghĩa tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao hơn là 56.1%, bà mẹ có kiến thức chưa đúng là 43.9%
Bảng 3.6: Kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy trẻ em
Nguyên nhân Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân gây bệnh do virus và vi khuẩn là bà mẹ biết nhiều, chiếm tỷ lệ lần lượt là 42.4% và 43.9%
Bảng 3.7: Kiến thức đúng về các dấu hiệu mất nước
Dấu hiệu mất nước Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nếp véo da mất chậm 8 12.1
Vật vã, kích thích hoặc lì bì 18 27.3
Khóc không có nước mắt 21 31.8
Uống nước háo hức hoặc không uống được 36 54.5
Theo bảng 3.7, kiến thức của các bà mẹ về dấu hiệu mất nước chính còn hạn chế, với 12.1% nhận biết nếp véo da mất chậm, 27.3% nhận thấy tình trạng vật vã, kích thích hoặc li bì, và 54.5% không biết cách uống nước hoặc uống nước háo hức.
3.2.2 Kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc trẻ tiêu chảy Bảng 3.8: Kiến thức về thời điểm ăn sam và cai sữa cho trẻ
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kết quả bảng 3.8 cho thấy: tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm cho trẻ ăn sam là 48.5% , kiến thức chưa đúng 51.5%
Về thời điểm cai sữa: 47% bà mẹ có kiến thức đúng và chưa đúng 53%
Bảng 3.9: Kiến thức về loại nước uống và tác dụng của ORS
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thuốc điều trị tiêu chảy 9 13.6
Bù nước và điện giải 46 69.8
Tổng 66 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tỷ lệ bà mẹ lựa chọn dung dịch ORS cho trẻ tiêu chảy chiếm 39.4%, nước gạo rang là 25.7%, nước hoa quả là 16.7% và nước đun sôi nguội là 18.2%
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về tác dụng của dung dịch ORS là bù nước và điện giải chiếm 69.8%, kiến thức chưa đúng là 30.2%
Bảng 3.10: Kiến thức về loại nước pha, cách pha và cách uống ORS
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Pha cả gói với 1 lít nước sôi nguội 40 60.6
Cách cho trẻ uống ORS
Uống từ từ, ít một bằng thìa 40 60.6
Qua kết quả thu được ở bảng 3.10: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về loại nước pha ORS là 59.1%, chưa đúng là 40.9%
Về cách pha ORS đúng chiếm tỷ lệ 60.6% và chưa đúng là 39.4%
Để cho trẻ uống ORS hiệu quả, các bà mẹ nên cho trẻ uống từ từ, từng ít một bằng thìa Theo khảo sát, 60.6% bà mẹ có kiến thức đúng về cách cho trẻ uống ORS, trong khi 39.4% còn lại chưa nắm rõ kiến thức này.
Bảng 3.11: Kiến thức về chế độ nuôi dưỡng trẻ tiêu chảy
Chế độ nuôi dưỡng Tần số (n) Tỷ lệ (%) Ăn nhiều hơn thường ngày 21 31.8 Ăn ít hơn thường ngày 26 39.4 Ăn như thường ngày 19 28.8
Tổng 66 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Chế độ ăn uống hợp lý rất quan trọng cho trẻ bị tiêu chảy, giúp trẻ nhanh chóng hồi phục và ngăn ngừa suy dinh dưỡng Tuy nhiên, chỉ có 28.8% bà mẹ hiểu đúng về chế độ ăn cho trẻ trong tình trạng này, cho thấy cần nâng cao nhận thức về dinh dưỡng cho trẻ em.
3.2.3 Kiến thức của bà mẹ về các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy Bảng 3.12: Kiến thức đúng về cách phòng bệnh tiêu chảy
Phòng bệnh Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 21 31.8 Ăn chín, uống sôi 55 83.3
Rửa tay trước ăn, trước khi chế biến thức ăn và sau khi đi vệ sinh
Xử lý phân đúng cách 12 18.2
Một cuộc phỏng vấn với 66 bà mẹ về các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ cho thấy rằng "ăn chín uống sôi" và "rửa tay" là hai biện pháp được biết đến nhiều nhất, với tỷ lệ lần lượt là 83.3% và 71.2% Ngược lại, chỉ có 31.8% và 18.2% bà mẹ biết đến biện pháp "tiêm chủng" và "xử lý phân đúng cách".
Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ sau can thiệp
3.3.1 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em Bảng 3.13: Kiến thức về định nghĩa tiêu chảy sau can thiệp
Nội dung Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đi ngoài phân lỏng 29 43.9 6 9.1 Đi ngoài phân lỏng ≥ 3 lần 37 56.1 60 90.9
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau khi can thiệp bằng giáo dục sức khỏe, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chưa đúng đã giảm đáng kể xuống còn 9.1% Đồng thời, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng đã tăng từ 56.1% trước can thiệp lên 90.9% sau can thiệp.
Biểu đồ 3.3: Kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy sau can thiệp
Kết quả từ biểu đồ 3.3 cho thấy kiến thức của các bà mẹ về nguyên nhân gây bệnh đã được cải thiện rõ rệt sau can thiệp, với tỷ lệ nhận thức đúng về virus đạt 75.8%, vi khuẩn 84.4%, ký sinh trùng 63.3% và nấm 56.1%.
Bảng 3.14: Kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ bệnh tiêu chảy sau can thiệp
Yếu tố nguy cơ Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ %
Trẻ bị suy giảm miễn dịch 22 33.3 45 68.2
Trẻ đẻ non, đẻ thấp cân 27 40.9 46 69.7
Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ 17 25.8 36 54.5
Thức ăn không nấu chín, để nguội, ôi thiu, không hợp vệ sinh
Sử dụng nguồn nước ô nhiễm 48 72.7 50 75.8
Vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh kém
Sử dụng kháng sinh không đúng 26 39.4 42 63.3
Trước can thiệp, 72.7% bà mẹ nhận thức rõ về việc sử dụng nguồn nước ô nhiễm, trong khi chỉ 22.7% biết về yếu tố trẻ dưới 2 tuổi Sau can thiệp, kiến thức đúng của các bà mẹ đã tăng lên đáng kể, với 62.1% hiểu biết về trẻ dưới 2 tuổi và 63.3% về việc sử dụng kháng sinh bừa bãi.
Biểu đồ 3.4: Kiến thức đúng về hậu quả bệnh tiêu chảy sau can thiệp
Hậu quả của bệnh tiêu chảy ở trẻ em trước can thiệp bao gồm mất nước và điện giải chiếm 47%, suy dinh dưỡng 10% và tỷ lệ tử vong 16.7% Sau khi can thiệp, tỷ lệ mất nước và điện giải tăng lên 83.3%, suy dinh dưỡng đạt 51.5% và tỷ lệ tử vong tăng lên 50%.
Bảng 3.15: Kiến thức đúng về các dấu hiệu mất nước sau can thiệp
Dấu hiệu mất nước Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ %
Nếp véo da mất chậm 8 12.1 43 65.2
Vật vã, kích thích hoặc lì bì 18 27.3 43 65.2
Khóc không có nước mắt 21 31.8 25 37.9
Uống nước háo hức hoặc không uống được
Theo nghiên cứu, trước can thiệp, kiến thức của bà mẹ về dấu hiệu mất nước chính còn thấp, với 12.1% nhận biết nếp véo da mất chậm, 27.3% nhận thấy vật vã, kích thích hoặc li bì, và 54.5% không biết uống nước hoặc uống háo hức Sau can thiệp giáo dục, kiến thức của bà mẹ đã cải thiện rõ rệt.
37 véo da mất chậm 65.2%, vật vã, kích thích hoặc li bì 65.2% và uống nước háo hức hoặc không uống được 72.7%
Bảng 3.16: Điểm trung bình kiến thức về bệnh tiêu chảy trước và sau can thiệp Điểm đánh giá Thấp nhất Cao nhất Điểm TB
Kết quả từ bảng cho thấy điểm trung bình kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ trước can thiệp là 10.5 ± 2.9, với giá trị dao động từ
5 điểm đến 16 điểm) và sau can thiệp, điểm trung bình cao hơn là 19.09 ± 3.55 (dao động từ 12 điểm đến 27 điểm), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.001
3.3.2 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ tiêu chảy
Biểu đồ 3.5: Kiến thức về thời điểm cho trẻ ăn sam sau can thiệp
Kết quả từ biểu đồ 3.5 cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong kiến thức về thời điểm cho trẻ ăn sam trước và sau can thiệp Trước can thiệp, chỉ có 48.5% bà mẹ cho trẻ ăn sam đúng thời điểm, nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 90.9% sau can thiệp.
Biểu đồ 3.6: Kiến thức về thời điểm cai sữa cho trẻ sau can thiệp
Trước can thiệp, bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm cho trẻ cai sữa là từ
12 – 18 tháng chiếm tỷ lệ 47% Sau can thiệp giáo dục, kiến thức của bà mẹ về vấn đề này tăng lên 86.4% bà mẹ có kiết thức đúng
Bảng 3.17: Kiến thức về loại nước uống khi trẻ tiêu chảy sau can thiệp
Loại nước uống khi trẻ tiêu chảy Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ %
Trước khi can thiệp, chỉ có 39.4% bà mẹ sử dụng dung dịch ORS cho trẻ, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 84.8%.
Bảng 3.18: Kiến thức về tác dụng của dung dịch ORS sau can thiệp
Tác dụng của ORS Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ %
Thuốc điều trị tiêu chảy 9 13.6 0 0
Bù nước và điện giải 46 69.8 65 98.5
Trong một nghiên cứu phỏng vấn 66 bà mẹ, tỷ lệ kiến thức đúng về tác dụng của dung dịch ORS trước can thiệp đạt 69.8% Sau khi can thiệp, tỷ lệ này tăng lên gần như tuyệt đối, đạt 98.5%.
Bảng 3.19: Kiến thức về loại nước pha và cách pha ORS sau can thiệp
Nội dung Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ % Loại nước pha ORS
Cách pha ORS Pha cả gói với 1 lít nước sôi nguội 40 60.6 59 89.4
Sau can thiệp, kiến thức của bà mẹ đã cải thiện rõ rệt, với 92.4% có kiến thức đúng về loại nước pha, tăng từ 59.1% trước can thiệp.
Cách pha dung dịch ORS có tỷ lệ kiến thức đúng là 60.6%, trong khi tỷ lệ chưa đúng là 39.4% Sau khi can thiệp giáo dục, tỷ lệ kiến thức đúng đã tăng lên 89.4%, và tỷ lệ chưa đúng giảm xuống còn 10.6%.
Bảng 3.20: Kiến thức về cách uống và xử trí trẻ nôn sau can thiệp
Nôi dung Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ % Cách cho trẻ uống
Uống từ từ, ít một bằng thìa 40 60.6 59 89.4
Cách xử trí trẻ nôn
Ngừng 5 – 10 phút và uống chậm hơn 35 53.0 64 97.0
Trước can thiệp, 39.4% bà mẹ có kiến thức chưa đúng về cách cho trẻ uống ORS Tuy nhiên, sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng đã tăng lên 89.4%.
Trước can thiệp, cách xử trí đúng khi trẻ nôn là ngừng 5 – 10 phút và cho trẻ uống với tốc độ chậm hơn, chiếm tỷ lệ 53%, trong khi xử trí chưa đúng là 47% Sau can thiệp, 97% bà mẹ đã nắm vững kiến thức đúng về vấn đề này.
Biểu đồ 3.7: Kiến thức về bảo quản dung dịch ORS sau can thiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Thời gian bảo quản dung dịch ORS đúng cách là 24 giờ Trước can thiệp, chỉ 31.8% bà mẹ có kiến thức sai về vấn đề này, trong khi sau can thiệp, 97% bà mẹ đã nắm vững cách bảo quản dung dịch ORS đã pha.
Bảng 3.21: Kiến thức về các dung dịch thay thế dung dịch ORS sau can thiệp
Dung dich thay thế Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ %
Nước đun sôi để nguội 34 51.5 13 19.7
Trước can thiệp, chỉ có một số ít bà mẹ biết về các loại dung dịch thay thế đúng, với nước gạo rang là lựa chọn phổ biến nhất, chiếm 57.6% Sau can thiệp, kiến thức của các bà mẹ đã cải thiện rõ rệt, với 77.3% chọn nước cháo muối, 72.7% chọn nước muối đường và 80.3% chọn nước dừa non.
Biểu đồ 3.8: Kiến thức về chế độ ăn sau can thiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chế độ ăn tăng lên một cách rõ rệt từ 28.8% trước can thiệp lên 80.3% sau can thiệp
Bảng 3.22: Kiến thức về chế độ ăn kiêng khi trẻ bị tiêu chảy sau can thiệp
Kiêng ăn Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ % Ăn kiêng 41 62.1 12 18.2
Phân loại kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy
Bảng 3.27: Xếp loại chung về kiến thức bệnh tiêu chảy của bà mẹ trước và sau can thiệp
Xếp loại Trước can thiệp Sau can thiệp
Tần số (n) Tỷ lệ % Tần số (n) Tỷ lệ %
Kiến thức trung bình (từ 50 – 64%) 22 33.3 5 7.6
Kết quả nghiên cứu cho thấy trước can thiệp, chỉ có 1.5% bà mẹ có kiến thức tốt về bệnh tiêu chảy, 33.3% đạt loại trung bình và 65.2% thuộc loại kém Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt tăng lên 47%, loại khá đạt 45.5%, trong khi chỉ còn 7.6% ở loại trung bình và không còn bà mẹ nào thuộc loại kém.
Bảng 3.28: Điểm trung bình chung của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trước và sau can thiệp Điểm đánh giá Thấp nhất Cao nhất Điểm TB (X ± SD) p
Sau can thiệp 32 56 44.63 ± 5.63 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trước can thiệp, điểm trung bình chung về bệnh tiêu chảy là 24.74 ± 6.46 (dao động từ 12 đến 40 điểm), trong khi sau can thiệp, điểm này tăng lên 44.63 ± 5.63 (dao động từ 32 đến 56 điểm) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0.001.
BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tuổi của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ảnh hưởng đến thái độ của họ trong việc chăm sóc, phòng bệnh và xử trí khi trẻ bị tiêu chảy Kết quả từ bảng 3.1 cho thấy phần lớn các bà mẹ trong nghiên cứu thuộc độ tuổi sinh đẻ.
Đối tượng từ 18 đến 30 tuổi chiếm 62.1%, trong khi nhóm 31-35 tuổi chiếm 22.7% Đây là độ tuổi trưởng thành, thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức về bệnh tật, chăm sóc và phòng ngừa bệnh Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trương Thanh Phương (2009), cho thấy nhóm tuổi 18-35 có tỷ lệ kiến thức về bệnh tiêu chảy cao nhất, đạt 86.49%.
Theo nghiên cứu của Trần Phan Quốc Bảo (2011), 70.3% bà mẹ có độ tuổi dưới 35, trong khi đó, số liệu năm 2007 cho thấy tỷ lệ này là 75.1% [21] Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại một bệnh viện trong thành phố, nơi mà phần lớn các bà mẹ cư trú tại thành phố và các vùng lân cận Kết quả từ bảng 3.1 chỉ ra rằng tỷ lệ bà mẹ sống ở nông thôn cao hơn ở thành thị, với 66.7% so với 33.3% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hoàng Thị Vân Lan (2010), cho thấy tỷ lệ bà mẹ sống ở nông thôn là 62.5% và thành thị là 37.5% [18].
Trình độ học vấn của bà mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận thông tin tư vấn sức khỏe về chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em Theo biểu đồ 3.1, tỷ lệ bà mẹ có trình độ học vấn phổ thông trung học cao nhất đạt 40.9%, tiếp theo là phổ thông cơ sở 39.4%, trung học – đại học 19.7%, và không có bà mẹ nào có trình độ tiểu học Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Jamiu M.O (2012), cho thấy 58% bà mẹ có trình độ phổ thông trung học Điều này có thể là yếu tố thuận lợi giúp tăng khả năng tiếp thu thông tin của các bà mẹ.
Theo biểu đồ 3.2, tỷ lệ bà mẹ có nghề nghiệp là công nhân đạt 27.3%, cho thấy đây là nhóm chiếm ưu thế Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Tập thể điều dưỡng viên khoa nhi.
Tại Châu Đốc (2015), tỷ lệ bà mẹ làm công nhân đạt 8.98% [11] Nguyên nhân có thể là do Nam Định là một thành phố đang phát triển với nhiều khu công nghiệp, và nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện tuyến tỉnh, nơi mà phần lớn bà mẹ sinh sống ở các vùng ngoại thành và thành phố.
Theo bảng 3.2, 81.8% bà mẹ trong nghiên cứu có từ 1 đến 2 con, tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Trần Phan Quốc Bảo (2011), trong đó 76.27% bà mẹ cũng có từ 1 đến 2 con, và nghiên cứu của Desalegne Amare.
Tỷ lệ các bà mẹ có từ 1 đến 2 con tại Nam Định đạt 46.7% vào năm 2015, cho thấy thành công trong công tác kế hoạch hóa gia đình, giúp nâng cao chất lượng nuôi dạy con cái.
Trong nghiên cứu, 71.2% các bà mẹ tin tưởng và mong muốn nhận thông tin tư vấn giáo dục sức khỏe từ cán bộ y tế, cho thấy đây là nguồn thông tin được ưa chuộng nhất Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh (2005), khi 51% bà mẹ cũng chọn cán bộ y tế là nguồn thông tin chính Điều này cho thấy cán bộ y tế là những người truyền đạt kiến thức về bệnh tiêu chảy một cách sâu rộng và dễ hiểu nhất.
Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ trẻ mắc tiêu chảy lần đầu là 62.1%, trong khi tỷ lệ trẻ mắc từ 2 lần trở lên là 37.9% Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh hiệu quả, giúp tăng cường sức đề kháng cho trẻ, nhưng vẫn có 22.7% trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ, thấp hơn so với tỷ lệ trên 90% của báo cáo năm 2014 tại Nam Định Nguyên nhân có thể do trẻ ốm, khiến mẹ không đưa trẻ đi tiêm đúng lịch Chúng tôi khuyến nghị nhân viên y tế cần cung cấp thông tin về lợi ích và lịch tiêm chủng để mẹ có thể đưa trẻ đi tiêm sớm sau khi khỏi bệnh.
Thực trạng và sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trẻ em sau
Tiêu chảy là một bệnh phổ biến ở trẻ em, với tỷ lệ mắc và tử vong cao Để giảm tỷ lệ tử vong, các bà mẹ cần biết cách phát hiện bệnh Theo Tổ chức Y tế thế giới, tiêu chảy được định nghĩa là đi ngoài 3 lần hoặc hơn trong 24 giờ với phân lỏng hoặc nhiều nước Kiến thức về định nghĩa này giúp các bà mẹ phát hiện bệnh sớm Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước can thiệp, 56.1% bà mẹ có kiến thức đúng về tiêu chảy, trong khi 43.9% còn lại có kiến thức chưa đúng Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu trước đó tại Châu Đốc (2015) với 38.77% Sự khác biệt có thể do trình độ văn hóa của các bà mẹ tham gia nghiên cứu này cao hơn Sau can thiệp giáo dục, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng đã tăng lên 90.9%, trong khi tỷ lệ chưa đúng giảm xuống còn 9.1%.
Vào năm 1978, Tổ chức Y tế Thế giới đã khởi xướng chương trình toàn cầu nhằm phòng chống bệnh tiêu chảy với mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong và mắc bệnh ở trẻ em Để đạt được mục tiêu này, các bà mẹ cần nắm vững kiến thức về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh Nghiên cứu cho thấy trước can thiệp, chỉ có 42.4% và 43.9% bà mẹ biết về nguyên nhân do virus và vi khuẩn Sau can thiệp, kiến thức của họ đã được cải thiện đáng kể, với tỷ lệ nhận thức về virus đạt 75.8%, vi khuẩn 84.4%, ký sinh trùng 63.3% và nấm 56.1% Chúng tôi hy vọng rằng với những kiến thức này, các bà mẹ sẽ chủ động hơn trong việc phòng bệnh cho trẻ.
Yếu tố nguy cơ bao gồm tất cả các yếu tố nội sinh và ngoại sinh liên quan đến việc tải xuống luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất.
Trước can thiệp, các bà mẹ nhận thức về yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tật trong quần thể cho thấy 63.6% biết rằng thực phẩm không nấu chín, để nguội, ôi thiu và không hợp vệ sinh, cùng với 72.7% sử dụng nguồn nước ô nhiễm Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh (2005) với tỷ lệ 70.7% Ngược lại, chỉ có 22.7% bà mẹ nhận thức về nguy cơ đối với trẻ dưới 2 tuổi Sau can thiệp, kiến thức của các bà mẹ đã được cải thiện đáng kể, với 62.1% nhận thức về nguy cơ cho trẻ dưới 2 tuổi, 77.3% về suy dinh dưỡng và 77.3% về vệ sinh cá nhân và môi trường kém.
Một nghiên cứu phỏng vấn 66 bà mẹ về hậu quả của bệnh tiêu chảy ở trẻ em trước can thiệp cho thấy 47% bà mẹ nhận thức rằng bệnh tiêu chảy gây ra tình trạng mất nước và các chất điện giải Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Loan (2011), trong đó có đến 76.1% bà mẹ biết về hậu quả của tiêu chảy.
Sau can thiệp, kiến thức của các bà mẹ đã có sự cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ mất nước điện giải giảm 83.3%, suy dinh dưỡng giảm 51.5% và tử vong giảm 50% Điều này cho thấy các bà mẹ đã nhận thức được mức độ nghiêm trọng của bệnh tiêu chảy, và chúng tôi hy vọng rằng họ sẽ chủ động hơn trong việc chăm sóc và phòng ngừa bệnh cho trẻ.
Khi trẻ bị tiêu chảy, việc nhận biết các dấu hiệu mất nước là rất quan trọng để các bà mẹ có thể đánh giá tình trạng của trẻ và đưa ra biện pháp chăm sóc kịp thời Trước can thiệp, tỷ lệ bà mẹ biết đến các dấu hiệu mất nước còn thấp, cụ thể chỉ có 12.1% biết về dấu hiệu nếp véo da, 27.3% về dấu hiệu vật vã, kích thích, và 54.5% về dấu hiệu uống nước Sau khi được can thiệp giáo dục sức khỏe, tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể, với 65.2% bà mẹ biết về dấu hiệu nếp véo da, 65.2% về vật vã, kích thích, và 72.7% về uống nước Điểm trung bình kiến thức về bệnh tiêu chảy ở trẻ em của các bà mẹ cũng tăng từ 10.5 ± 2.9 trước can thiệp lên 19.09 ± 3.55 sau can thiệp, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05.
Kết quả cho thấy chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe đã có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy.
Thực trạng và sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ tiêu chảy sau
Khi trẻ bị tiêu chảy, sự chăm sóc của các bà mẹ là rất quan trọng để giúp trẻ nhanh khỏi bệnh và hạn chế hậu quả nghiêm trọng Kiến thức đúng về chăm sóc trẻ tiêu chảy là cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn ăn dặm từ 4-6 tháng Thời điểm tốt nhất để bắt đầu cho trẻ ăn sam là tháng thứ 6, vì nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong giai đoạn này không chỉ được cung cấp từ sữa mẹ Việc cho trẻ ăn sam quá sớm hoặc quá muộn đều có thể gây hại; ăn sớm có thể dẫn đến tiêu chảy do hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, trong khi ăn muộn có thể gây thiếu hụt dinh dưỡng Kết quả khảo sát cho thấy hơn một nửa số bà mẹ có kiến thức sai về thời điểm cho trẻ ăn sam, với 36.4% cho rằng nên cho ăn trước 4 tháng và 15.1% cho rằng nên cho ăn sau 6 tháng Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức sai giảm xuống còn 9.1%, trong khi kiến thức đúng tăng lên 90.9%.
Bộ Y tế khuyến cáo rằng bà mẹ nên cho trẻ bú từ 12-18 tháng tuổi, vì việc cai sữa quá sớm hoặc quá muộn đều không có lợi cho sức khỏe của trẻ Trước can thiệp, chỉ có 47% bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm cai sữa, thấp hơn so với 52.5% theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh (2005) Sự khác biệt này có thể do địa bàn nghiên cứu, nơi Nguyễn Quang Vinh thực hiện là huyện miền núi tỉnh Kon Tum, nơi có nhiều dân tộc ít người và gặp khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chúng tôi là một thành phố phát triển với thị trường sữa đa dạng và nhiều chương trình quảng bá lợi ích vượt trội của sữa Nhiều bà mẹ đã có xu hướng sử dụng sữa cho trẻ em Sau khi được tư vấn, kiến thức của các bà mẹ về việc cai sữa đã thay đổi đáng kể, với tỷ lệ lựa chọn đúng thời điểm cai sữa cho trẻ tăng lên 86.4%.
Khi trẻ bị tiêu chảy, việc bù nước và điện giải là rất quan trọng, và dung dịch ORS được WHO khuyến nghị sử dụng Bù nước qua đường uống là biện pháp chính trong chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em Kiến thức đúng về vấn đề này giúp bà mẹ phòng tránh tình trạng mất nước cho trẻ Theo bảng 3.17, tỷ lệ bà mẹ sử dụng dung dịch ORS đúng cho trẻ mắc tiêu chảy chỉ đạt 39.4% trước can thiệp, phù hợp với nghiên cứu của Olaniyi A.A.O (2016) là 38.8%, nhưng cao hơn nghiên cứu của Bakak A (2014) là 19.35%.
(2009) là 84.3%, Trần Đỗ Hùng (2010) là 75.8% và Bùi Dũng (2009) là 52.68%
Kết quả cho thấy nhiều bà mẹ vẫn chưa tin tưởng vào hiệu quả của việc bù nước và điện giải qua đường uống, đồng thời một số trẻ không thích uống dung dịch ORS Tuy nhiên, sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ sử dụng ORS đã tăng lên 84.8%.
Dung dịch ORS có tác dụng bù nước và điện giải cho trẻ bị tiêu chảy Trước can thiệp, 69.7% bà mẹ đã hiểu đúng về tác dụng của ORS, tương đương với nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng (2010) là 65% và Phan Thị Cẩm Hằng (2007) là 58.8% Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về ORS đã tăng lên 98.5% Kết quả này hy vọng sẽ nâng cao niềm tin của các bà mẹ trong việc sử dụng ORS cho trẻ.
Cách pha dung dịch ORS đúng là pha cả gói với 1 lít nước sôi nguội Mặc dù hơn một nửa các bà mẹ có kiến thức đúng về cách pha dung dịch này, vẫn còn 40.9% và 39.4% bà mẹ chưa nắm rõ thông tin Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phan Thị Cẩm Hằng (2007) và Jamiu M.O (2012), cho thấy tỷ lệ bà mẹ pha ORS sai lần lượt là 41.4% và 39.7% Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng đã tăng lên 92.4% và 89.4% Điều này cho thấy cần tăng cường tư vấn để nâng cao kiến thức của các bà mẹ, nhằm tránh tình trạng pha ORS không đúng liều lượng, gây rối loạn nước và điện giải, đặc biệt là ngộ độc muối, rất nguy hiểm và khó điều trị.
Khi trẻ bị tiêu chảy, việc bù nước và điện giải là rất quan trọng, và cho trẻ uống dung dịch ORS đúng cách là cần thiết để cải thiện tình trạng mất nước Một cuộc khảo sát cho thấy 60.6% bà mẹ có kiến thức đúng về cách cho trẻ uống ORS từ từ, ít một bằng thìa, nhưng vẫn còn 39.4% bà mẹ chưa biết cách này trước can thiệp Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Aniza Mohsin (2012), khi chỉ có 37.7% bà mẹ cho trẻ uống đúng Sau can thiệp, chỉ còn 10.6% bà mẹ không biết cách cho trẻ uống ORS đúng.
Nôn là triệu chứng phổ biến khi trẻ bị tiêu chảy, và nhiều bà mẹ không biết cách cho trẻ uống ORS, dẫn đến việc trẻ nôn nhiều hơn Trong nghiên cứu của chúng tôi, 31 bà mẹ, chiếm 47%, đã ngừng cho trẻ uống tiếp, điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ, làm tình trạng mất nước trở nên nặng nề hơn và có thể dẫn đến tử vong do mất nước và điện giải Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Shireen Q.B.
Năm 2015, chỉ có 36% bà mẹ có kiến thức về cách xử trí khi trẻ nôn Tuy nhiên, sau khi được hướng dẫn và tư vấn, tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể, với 97% bà mẹ biết cách xử lý tình huống này.
Thời gian bảo quản dung dịch ORS tối ưu là 24 giờ, vì sau thời gian này, nguy cơ nhiễm bẩn từ môi trường bên ngoài sẽ tăng cao Ngược lại, việc bảo quản chỉ trong 6 giờ sẽ dẫn đến lãng phí Nghiên cứu trước can thiệp đã được thực hiện trên 66 bà mẹ.
Trong một nghiên cứu, 45 bà mẹ, chiếm 68.2%, đã biết đúng thời gian bảo quản dung dịch ORS, kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng (2010) với tỷ lệ 72.4% Sau khi can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về thời gian bảo quản dung dịch ORS đã tăng lên rõ rệt, đạt 97%.
Dung dịch thay thế ORS có tỷ lệ thành phần tương tự như dung dịch ORS, bao gồm nước cháo muối, nước muối đường và nước dừa non, theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2009 Trước can thiệp, nước gạo rang được 57,6% bà mẹ chọn, có thể do ảnh hưởng từ quan điểm của thế hệ trước, trong khi chỉ 60,7% bà mẹ có kiến thức đúng về các dung dịch thay thế Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ biết về ba dung dịch thay thế đúng tăng lên lần lượt là 77,3%, 72,7% và 80,3% Kết quả cho thấy cần tiếp tục tuyên truyền giáo dục và hướng dẫn các bà mẹ về cách pha chế dung dịch thay thế ORS tại nhà để nâng cao hiệu quả chương trình phòng chống tiêu chảy và điều trị mất nước.
Một nguyên tắc quan trọng trong chăm sóc và điều trị tiêu chảy là duy trì chế độ ăn uống bình thường, không kiêng khem, và sử dụng thực phẩm giàu dinh dưỡng để giúp trẻ hồi phục nhanh chóng và ngăn ngừa suy dinh dưỡng Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trước can thiệp, chỉ có 28.8% bà mẹ có kiến thức đúng về chế độ ăn cho trẻ tiêu chảy Phần lớn các bà mẹ cho rằng nên giảm lượng thức ăn để đường ruột trẻ được nghỉ ngơi (39.4%) hoặc tăng cường ăn uống để trẻ mau khỏi bệnh (31.8%), trong khi 62.1% cho rằng cần cho trẻ ăn kiêng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phan Thị Cẩm Hằng (2007), khi chỉ có 34.1% bà mẹ có kiến thức đúng, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Gái & cộng sự (2011) với 68.87%.
Sau khi được tư vấn, 54 chế độ ăn đã có sự thay đổi rõ rệt, với tỷ lệ 80.3% và 81.8% bà mẹ không cho trẻ ăn kiêng Điều này cho thấy cần tăng cường tuyên truyền giáo dục cho các bà mẹ về cách cho trẻ ăn đúng cách khi bị tiêu chảy Thói quen không cho trẻ ăn đủ chất hoặc ăn ít hơn bình thường, thậm chí không cho ăn vì lo sợ trẻ đi ngoài nhiều hơn, đã làm giảm hiệu quả điều trị tiêu chảy.
Thực trạng và sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy sau
Điều trị tiêu chảy đúng cách có thể giảm nguy cơ tử vong, nhưng không làm giảm tỷ lệ mắc bệnh Cơ sở y tế là nơi lý tưởng để điều trị và hướng dẫn gia đình trẻ thực hiện các biện pháp phòng ngừa tiêu chảy Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, nuôi con bằng sữa mẹ giúp tăng cường sức đề kháng cho trẻ, trong khi việc ăn dặm đúng cách sẽ giúp trẻ thích ứng với thực phẩm tự nhiên và phát triển khỏe mạnh Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch cũng là một biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh tiêu chảy cho trẻ.
Biện pháp phòng bệnh quan trọng cho trẻ là tiêm chủng, giúp tạo kháng thể Để ngăn chặn bệnh tiêu chảy, cần đảm bảo vệ sinh an toàn như sử dụng nước sạch, ăn chín uống sôi, rửa tay, và xử lý phân đúng cách Kiến thức của các bà mẹ về phòng bệnh trước can thiệp còn hạn chế, với tỷ lệ biết về ăn chín uống sôi là 83.3%, rửa tay 71.2%, nhưng chỉ 18.2% biết xử lý phân đúng cách Sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe, kiến thức của các bà mẹ đã cải thiện đáng kể, với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ đạt 89.4%, ăn chín uống sôi 95.5%, rửa tay 90.9%, tiêm chủng 83.3%, và sử dụng nước sạch 84.8% Do đó, cần tăng cường các buổi truyền thông giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ với nội dung đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào các vấn đề cơ bản để nâng cao sự tự tin và kiến thức trong việc chăm sóc và phòng ngừa tiêu chảy cho trẻ.