Gia đình là một thiết chế xã hội, có mối quan hệ tương tác với các thiết chế xã hội khác và có tác động to lớn đến sự phát triển xã hội. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong xây dựng, triển khai, thụ hưởng các chính sách chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; là thiết chế quan trọng đảm bảo quy mô và chất lượng dân số thông qua chức năng sinh đẻ, giáo dục, và đầu tư phát triển nguồn lực con người. Gia đình là nơi giữ gìn và trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xã hội phát triển tạo điều kiện cho gia đình phát triển đồng thời, sự ổn định và phát triển của gia đình c ng có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của xã hội. Chính vì vậy, trong thực tế, việc xây dựng, củng cố và phát triển gia đình tạo điều kiện để gia đình thực hiện tốt các chức năng của mình có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đồng hành trong tiến trình thực hiện khát vọng đó, nhất là trước mỗi bước chuyển của dân tộc, một đòi hỏi tất yếu đặt ra là phải xây dựng được hệ thống các giá trị cốt lõi nhằm định hướng, đánh giá và điều chỉnh hành vi xã hội. Muốn vậy, phải xây dựng những chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, phù hợp với việc giữ gìn, phát huy giá trị gia đình, giá trị văn hoá, giá trị quốc gia dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị thời đại, từ đó góp phần đạt mục tiêu “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN”
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là một thiết chế xã hội, có mối quan hệ tương tác vớicác thiết chế
xã hội khác và có tác động to lớn đến sự phát triển xã hội Gia đình đóng vai trò
quan trọng trong xây dựng, triển khai, thụ hưởng các chính sách chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa; là thiết chế quan trọng đảm bảo quy mô và chất lượng dân số
thông qua chức năng sinh đẻ, giáo dục, và đầu tư phát triển nguồnlực con người
Gia đình là nơi giữ gìn và trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc
từ thế hệ nàysang thế hệ khác Xã hội phát triển tạo điều kiện cho gia đình phát triển đồng thời,
sự ổn định và phát triển của gia đình c ng có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối
với sự ổn định và phát triển của xã hội Chính vì vậy, trong thực tế, việc xây dựng,
củng cố và phát triển gia đình tạo điều kiện để gia đình thực hiện tốt các chức
năng của mình có ý nghĩa hết sức quan trọng
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung,
phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân
dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” Đồng hành trong tiến trình thực hiện
khát vọng đó, nhất là trước mỗi bước chuyển của dân tộc, một đòi hỏitất yếu đặt ra là
phải xây dựng được hệ thống các giá trị cốt lõi nhằm định hướng, đánh giá và điều
chỉnh hành vi xã hội Muốn vậy, phải xây dựng những chuẩn mực con người Việt
Nam thời kỳ mới, phù hợp với việc giữ gìn, phát huy giá trị gia đình, giá trị văn hoá,
giá trị quốc gia - dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị
thời đại, từ đó góp phần đạt mục tiêu “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở
thành nước phát triển, theo định hướng XHCN” Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần
thứ 5 (khóa VIII) đã đặt vấn đề gia đình ở một tầm quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng văn hóa và phát triển về mọi mặt của đất nước Vấn đề đặt ra
là phải sống lànhmạnh ở các đơn vị cơ sở, đầu tiên là gia đình, giữ gìn và phát huy những đạo đức tốt
đẹp của gia đình Việt Nam, coi trọng xây dựng
Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt
vi phạmhành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình tại Mục
4, Điều 52-67,trong đó có điều 63: Hành vi sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh,
âm thanh nhằmkích động hành vi bạo lực gia đình Cụ thể là: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ
1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng, truyền bá thông tin,
hình ảnh, âm thanh nhằm kích động hành vi bạo lực gia đình Quyết định số 45/QĐ-
TTg ngày 13/1/2021 phê duyệt về phòng, chống bạo lực gia đình trong tình hình
Trang 2chuẩn mực của con người hiện đại và hệ giá trị của gia đình Việt Nam Gia đình
Việt Nam được coi là thiết chế xã hội cơ bản thông qua các chức năng của gia đình,
đặc biệt là chức năng xã hội hoá, các giá trị, chuẩn mực văn hoá được đặc biệt coi
trọng vì thiết chế này giữ vai trò cơ bản trong sự trao truyền sinh học và trao truyền
xã hội hướng tới các mục tiêu phát triển Chính vì lẽ đó, chủ đề vềhôn nhân, gia
đình trong những năm gần đây được đăng tải rất nhiều trên các phương tiện truyền
thông đại chúng, ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc xâydựng gia đình
Việt Nam bền vững, để thiết chế xã hội này giữ vai trò là hạt nhân
cơ bản của sựphát triển Đặc biệt là vai trò trung tâm của báo chí khi đưa thông tin về chủ đề này
Ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí
Minh được đặc trưng bởi dấu hiệu giới, công chúng đích là phụ
nữ Báo Phụ nữViệt Nam là tờ báo trực thuộc Cơ quan Trung ương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
nam, có đối tượng công chúng trong cả nước Báo Phụ nữ Thủ đô là
cơ quan ngônluận của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, đối tượng công chúng ở thành
phố Hà Nội và những vùng lân cận Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan
ngôn luận của Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng công
chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh và những vùng lân cận Các yếu tố đặc trưng nhân
khẩu xã hội của công chúng ở những khu vực này đã tạo nên nhữngtương đồng và
Trang 3đẹp của người công dân Việt Nam trong sự biến đổi xã hội hiện nay.
Từ những luận giải trên, cho thấy việc nghiên cứu thông điệp
về gia đình hiệnnay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.2 Mục đích, nhiệm vụ
tờ báo được quan sát ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án triển khai một số nhiệm vụ:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu thông điệp về gia đình trên
báo in, cụ thể là ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành
phố Hồ Chí Minh
Trang 4đình trên báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố
Hồ Chí Minh.3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thông điệp về gia đình trên báo in, cụ thể là trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam,
Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh.3.2 Phạm vi nghiên cứuKhông gian nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát các bài viết có nội dung thông
điệp về gia đình trên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành
phố Hồ Chí Minh.Thời gian nghiên cứu: Khảo sát từ tháng 01/2015- 01/2017Giới thuyết về phương pháp phân tích nội dung chỉ ra rằng, việcphân tích nội
dung thông điệp vào một giai đoạn nào đó dựa trên hệ thống dữ liệu được thiết kế
bởi bảng mã cho phép nhận thức tình trạng xã hội về một giai đoạn nào đó trong
quá trình biến đổi xã hội Những nghiên cứu được thực hiện bằngphương pháp
phân tích nội dung như là sự ưu tiên được lựa chọn của các học giả quốc tế về chủ
đề mà họ quan tâm c ng xuất phát từ ưu thế này Thực tế học thuật
ở Việt Nam như
đã viết ở phần tổng quan cho thấy rõ điều đó
Sự biến đổi xã hội về gia đình diễn ra như một quá trình, trong
đó thiết chế giađình tuân thủ xu hướng cơ bản là biến đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình
hiện đại Thời gian khảo sát từ tháng 01/2015 - 01/2017 ở đối tượngnghiên cứu đã
được nói ở trên có thể coi là một mắt khâu trong quá trình chuyểnbiến đó Năm
2015 được lấy làm năm Gia đình Việt Nam, cho nên việc phân tích thông điệp vào
năm này và các năm được lựa chọn tiếp theo có thuận lợi cho đề tài ở chỗ, chủ đề
gia đình được quan tâm ở các thiết chế báo chí, đặc biệt là ở các
tờ báo dành chophụ nữ, trong đó có 03 tờ báo tác giả lựa chọn quan sát
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được coi là kỳ vọng để nhận thấy sự
biến đổi gia đình phản ánh trên ba tờ báo trong thời gian được quansát có thể là dữ
liệu cho những nghiên cứu cùng chủ đề trong khoảng thời gian trước và sau đó
Logic của quá trình nghiên cứu này được thực hiện cho thấy chiều hướng và nguyên
nhân của sự biến đổi gia đình trong sự tác động xã hội ở bối cảnh của công cuộc đổi
mới ở Việt Nam hiện nay Mặt khác, thời gian khảo sát được xác định như trên một
phần phụ thuộc vào thời gian làm luận án của NCS, nghĩa là luận ánchọn 02 năm ở
Trang 5giao tiếp đại chúng trong những phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ
là kênh truyềnthống báo in Ở góc độ nghiên cứu, chúng tôi khu biệt rõ các kênh này ở các toà
soạn được lựa chọn để xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình
4 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
4.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Thông điệp về gia đình trên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ
nữ Thủ đô vàPhụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện như thế nào?Các giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình
trên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố
Hồ Chí Minhnhư thế nào?Thông điệp về gia đình được đặt ra thế nào trong thời gian tới?
Giả thuyết nghiên cứu
Nội dung thông điệp về gia đình đề cập đến giá trị hôn nhân, chức năng gia
đình; cấu trúc gia đình và các quan hệ xã hội trong thiết chế gia đình Đây là những vấn
đề cơ bản của gia đình Việt Nam hiện đại Những vấn đề này được phản ánh trên mặt
báo có thể với những mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất và địa điểm phát hành
các tờ báo, nhưng có một điểm chung là đều phản ánh giá trị và trách nhiệm xã hội của
các thiết chế báo chí được quan sát đối với công chúng
Các thể loại cơ bản của báo chí được những người làm báo ở các tờ báo được
quan sát sử dụng để tạo nên thông điệp hàm chứa những nội dung
về gia đình Do đó,thông điệp về gia đình trên các tờ báo được quan sát trở nên phong phú và hấp dẫn đối
với công chúng Hình thức được dùng để chuyển tải nội dung đã thể hiện rõ trong sự
kết hợp với các chuyên trang, chuyên mục ở các tờ báo Vấn đề này tạo nên sự “cố
định” đối với công chúng trong sự tiếp nhận thông điệp về gia đìnhnhư là phương
hướng chủ yếu có vai trò quan trọng đối với công chúng nữ và có khảnăng lan toả tới
những nhóm công chúng khác
Trang 7Khung phân tích
Hình 1 Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu
Trang 85.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo chiến lược nghiên cứu đồng đại thực hiện trong
giai đoạn 1/2015 - 1/2017 với thiết kế kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên
cứu định tính, trong đó nghiên cứu định lượng là phương pháp nghiên cứu chính.5.3 Phương pháp thu thập thông tin
5.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Thu thập, phân tích và rút trích từ các tài liệu, sách, bài báo tạp chí chuyên
ngành, kết quả nghiên cứu đi trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án
nhằm tổng quan đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu này, c ng như gópphần xây dựng
bộ mã hóa định lượng và định tính
5.3.2 Phương pháp phân tích nội dung
Phương pháp phân tích nội dung có ưu thế ở chỗ, nhận thức được động cơ và
khuynh hướng truyền thông điệp của thiết chế truyền thông được thể hiện ở thông
điệp được truyền tải, nghĩa là cho thấy mối liên hệ chủ quan của chủ thể truyền
thông tác động đến khách thể truyền thông thông qua nội dung
và sự thể hiệnthông điệp
Hướng phân tích thông điệp ở báo in có lợi thế ở chỗ, người nghiên cứu quan
sát được các văn bản chữ dưới dạng in, được lưu trữ nên tính ổn định về kết quả
nghiên cứu không phụ thuộc vào tâm trạng của khách thể nghiên cứu như trong việc
phỏng vấn bằng anket Hướng nghiên cứu phân tích nội dung có thể được sử dụng
độc lập, hoặc kết hợp với các phương pháp khác như phỏng vấn sâu, phỏng vấn
bằng bảng hỏi tuỳ thuộc vào mục đích của chủ đề nghiên cứu đề ra
Quy trình phân tích nội dung thông điệp nhằm mục đích chuyểncác đặc điểm
được lựa chọn của thông điệp thành số liệu có thể xử lý bằng các phương pháp
thống kê về mặt định lượng và định tính Những đơn vị phân tích cần phải được xác
định bằng sự tham chiếu của hệ thống đặc điểm ngữ nghĩa và cú pháp của thông
điệp Những đơn vị điển hình của phân tích nội dung thông điệp là câu chuyện được
Trang 9xác định trong giả thuyết nghiên cứu.
Sử dụng thiết kế nghiên cứu lịch đại thông qua việc mã hóa thông tin các báo
Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh trong năm
2015, 2016 và 2017 Kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích chỉ lấy những bàibáo chủ đề
Hôn nhân-gia đình Trong mỗi bài báo, thông tin được mã hóa theo 6 lĩnh vực như
đã nói trên, và cùng với đó là mã hóa các thông tin liên quan đến đặc trưng nhân
khẩu học các cá nhân/tổ chức được nhắc đến trong bài viết, hình ảnh được sử dụng
trong bài viết Tổng cộng có 1.497 bài báo được mã hóa: 527 bài báo Phụ nữ Việt
Nam, 500 bài của Phụ nữ Thủ đô, 470 bài Phụ nữ Thành phố Hồ ChíMinh Độ sai
biến của tổng số những bài báo này nằm trong điều kiện cho phép, trong khi tính
định kỳ của các tờ báo đến với công chúng là khác nhau Dữ liệu thuthập được làm
sạch, lưu trữ bằng phần mềm và phân tích sử dụng bằng phần mềm SPSS 19.0
Phương pháp phân tích nội dung báo chí định tính: Trên cơ sở những tin bài
được lựa chọn phân tích định lượng, một số tin bài được lựa chọn đểphân tích định
tính với thủ thuật code từ phần mềm xử lý dữ liệu định tính Nvivo 12.0 Phương
pháp này là phương pháp bổ trợ cho phương pháp phân tích nội dung định lượng
c ng như trả lời một số câu hỏi nghiên cứu trong luận án
6 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về nghiên cứu thông điệp gia đình trên
báo in, cụ thể là thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ
Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí MinhXác định vai trò và những yêu cầu đối với ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ
nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh trong việc truyền tải thông điệp
nhằm tăng cường hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của độc giả
Trang 10thời điểm được người nghiên cứu lựa chọn, đồng thời hệ thống tri thứcnày c ng chỉ ra
những diễn tiến xã hội về đối tượng trong hoạt động của logic nhận thức
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
.1 Ý nghĩa khoa học
7
Luận án là công trình nghiên cứu liên ngành giữa báo chí học
và xã hội họctruyền thông đại chúng Đây là một trong những hướng tiếp cận
cơ bản trongnghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại Luận án hệ thốnghóa những vấn
đề lý luận về mặt phương pháp trong nghiên cứu truyền thông từ góc độ phân tích
nội dung thông điệp truyền thông
Nghiên cứu góp phần làm phong phú hệ thống tri thức khoa họctrong lĩnh vực
nghiên cứu truyền thông đại chúng, đặc biệt nghiên cứu thông điệp báo chí, góp
phần làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này.Phân tích thông điệp là hướng nghiên cứu cơ bản được báo chí học, xã hộihọc truyền thông đại chúng đặc biệt quan tâm, cho thấy các kết quả định lượng
hoặc định tính, có thể kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác Vì vậy, nó
cho thấy những yếu tố có thực và xu hướng phát triển đối với hoạt động nhận thức
tình trạng gia đình hiện nay Điều này có nghĩa là phương pháp để nhận thức hiệu
quả hoạt động báo chí
Trang 11thống lý thuyết báo chí học, xã hội học truyền thông đại chúng và
xã hội học giađình, cho thấy ý nghĩa của nghiên cứu liên ngành giữa Báo chí học
Ngoài chương Tổng quan, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và
Phụ lục, luận án có kết cấu 04 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu thông điệp về gia đình
trên báo chíChương 2 Nội dung thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ
nữ Việt Nam,Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí MinhChương 3: Cách thức tổ chức thông điệp về gia đình trên 3 tờbáo: Phụ nữ
Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí MinhChương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp
về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành
phố Hồ Chí Minh
Trang 12TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Hướng nghiên cứu về truyền thông đại chúng
1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói đầu
của Hiến chương Liên Hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục(UNESCO),
năm 1946 Từ đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống
thường nhật và trong khoa học Ngày nay, truyền thông đại chúng
đã trở thành đốitượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: báo chí học, xã hội học,
tâm lý học, lịch sử học… Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được
nghiên cứu như một quá trình xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng được
khảo sát và phân tích như một thiết chế xã hội [34, tr.429]
Lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trải qua bốn giai đoạn:
Ở giai đoạn đầu, các nhà xã hội học ở thời kỳ này cho rằng những thông điệp
của các phương tiện truyền thông đại chúng được "chích" vào công chúng như
chích một m i thuốc, đây được gọi là mô hình “m i kim tiêm”
trong truyền thôngđại chúng Điều này dẫn tới hậu quả là hình thành nên một thứ “xãhội đại chúng”
trong đó các cá nhân sống rời rạc nhau, không còn mối quan hệ thân thích, đáng tin
cậy của cộng đồng c nữa Và vì thế, chỗ dựa mới nhất của họ là các phương tiện
truyền thông đại chúng Và chính xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân
không còn khả năng đề kháng trước sức thuyết phục của truyền thông đại chúng
Giai đoạn phát triển thứ hai của quá trình nghiên cứu về truyền thông đại
chúng là từ năm 1940 tới đầu những năm 60 của thế kỷ 20 Nếu như giai đoạn
trước, người ta nói đến truyền thông đại chúng như một m i
“chích” vào côngchúng hay có tác động trực tiếp, thì giai đoạn này nhà nghiên cứu
đã bắt đầu nói tớinhững tác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian Ngoài
ra, những quanđiểm đánh giá bi quan về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng ở giai
đoạn này c ng đã hạn chế nhiều
Khi đi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội học
như: Lazarsfeld, Bernard Berelson và Hazel Gaude, Robert Merton…
đã chú ý nhấnmạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (bạn bè, gia đình, hàng xóm, …) hay được
gọi là “Opinion leaders” với ý nghĩa rằng: các thông điệp của các phương tiện
truyền thông đại chúng thường được lọc qua những kênh đó rồi mới
đi tới cá nhân
Ở giai đoạn ba, từ đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ 20, ngoài việc nghiên
cứu công chúng và tác động của truyền thông đại chúng, các nhà chuyên môn còn
Trang 13đại chúng trước đây Và chính giai đoạn này c ng chứng minh tính
đa chiều trongtương tác giữa truyền thông đại chúng và công chúng
Trong công trình “Viết phỏng theo quyển Science de la communication của
Judith Lajan, Que sais, je, Paris 1992”, tác giả đã chỉ rõ trong khoảng những năm
1930-1950 nổi lên bốn nhà nghiên cứu người Mỹ ngày nay được xem là những vị
sáng lập ra truyền thông giao tiếp: Kaz-arsfeld, Lewin, Hovland, Lasswell Điều đó
cho thấy khoa học truyền thông giao tiếp gắn liền với những biến đổi quan trọng về
kinh tế xã hội và nhu cầu thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuật
mà nước Mỹ đã cóảnh hưởng lớn trong hai cuộc đại chiến thế giới
Vào giai đoạn sau đó, năm 1962, trong công trình "Tinh thần thời đại", Edgar
Morin đã coi văn hóa đại chúng như một phạm trù xã hội học và nhận định rằng nền
văn hóa này tạo nên một hệ thống đặc biệt ở chỗ, nó được sản sinh ra theo những
chuẩn mực của quy trình sản xuất công nghiệp và được các media phổ biến đến
những đám dân cư khổng lồ Edgar Morin c ng đã có công ở việc xác định các thời
kỳ trong lịch sử hiện đại của văn hóa đại chúng
Trong khoảng thập niên 70 - 80 “Nghiên cứu tác động của truyền thông đối
với xã hội không chỉ bó hẹp trong những nghiên cứu thực nghiệm
mà còn xuất hiệnnghiên cứu phê phán, nghiên cứu diễn giải” Các học giả quan tâmnhiều hơn đến
mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng đối với tri thức… c ng như ảnh hưởng
của bạo lực và tình dục trên truyền thông tới công chúng, đặc biệt
là giới trẻ Cácnghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng rõ nét của truyền thông dẫn đến bệnh nghiền ti vi
Điều đó có thể dẫn đến sự “tha hóa” về niềm tin hoặc thói quen văn hóa từ các
thông điệp xuất hiện trên truyền hình [22, tr.39-52]
Trang 14Những nghiên cứu ở giai đoạn này không chỉ dừng lại ở việc nhận thức nền
tảng Internet trong mối quan hệ với các phương tiện truyền thông mới mà còn đi sâu
vào việc phân tích tác động của truyền thông đối với con người Tác giả Ien Ang
(2016) cho rằng, những mục tiêu và công thức đơn tuyến cần phải dựa trên các gắn
kết lâu dài đối với thực thể cộng với nỗ lực không ngừng của khái quát tri thức về
hoàn cảnh thực tại Luận điểm trên cho thấy rằng tác động của truyền thông đại
chúng đối với con người hay nói hẹp hơn là với công chúng truyền thông cần góp
phần vào phê phán “nạn tha hoá” của cá nhân và quan trọng hơn là
áp dụng tri thứccủa khoa học thông qua các kênh truyền thông để thực hiện việc hoạch định chính
bản của các thông điệp truyền thông trong bối cảnh bất an của biến đổi khí hậu và
sự yếu kém của các yếu tố kỹ thuật trong phát triển [9, tr.122]
Một tác giả khác Brian Massumi (2015) nhấn mạnh đến vai trò của truyền
thông như là phương tiện của cơ chế quản trị trực tiếp thông qua các năng lực thao
túng cảm giác của con người Nhà nghiên cứu này chỉ ra rằng, trongkhi truyền hình
Trang 15kiện trong quá trình truyền thông điệp và tác động xã hội đối với công chúng Nó
làm thay đổi các đặc điểm của công chúng Từ những nhóm xã hội lớn tiếp nhận thụ
động các thông điệp truyền thông như mối lo ngại của các nhà nghiên cứu thuộc
trường phái Frankfurt (Đức) là truyền thông đại chúng có thể biến công chúng thành
những khối đại chúng tiếp nhận một cách thụ động trong mối liên hệ với dòng
truyền thông Với sự xuất hiện của Internet, công chúng của mạng
xã hội đã tăngcường tính tương tác với thông điệp truyền thông, kênh truyền và thiết chế truyền
thông Các phương tiện thông minh đã tạo nên sự liên kết xã hội một cách rộng rãi
để cuốn hút công chúng vào dòng truyền thông mà giai đoạn tiền Internet không có
thể Quá trình này làm lan tỏa sự phát triển của truyền thông đại chúng, đồng thời
c ng làm phân hoá truyền thông đại chúng trên Internet Điều này làm phức tạp
thêm tác động của truyền thông đại chúng đối với công chúng Điềunày dẫn đến sự
nhận thức rằng, các phương tiện truyền thông đại chúng với tư cách
hội được phản ánh trong báo chí để trình bày với công luận [39]
Vào thập niên đầu của thế kỷ 20, các nghiên cứu về xã hội thông tin, các
phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội đã tạo nên mối quan tâm của giới
nghiên cứu Bài báo Social Networks and Political Participation (Mạng xã hội và Sự
tham gia của chính trị) Annual Review of Political Science, No.16 năm 2013 của
Campbell khẳng định, với sự kết nối thuận tiện của Internet, các mạng xã hội như
Facebook, Twitter, LinkedIn… đã tạo điều kiện cho các cá nhân thamgia nhiều hơn
vào chính trị, cả trên không gian mạng và đời thực
Trang 16trò của truyền thông quốc gia Các tác giả này vẫn coi trọng vai trò của truyền hình,
coi đó là “nơi mọi con mắt đều hướng vào” Phương tiện này vẫn là nguồn chính để
công chúng tìm kiếm thông tin Các tác giả c ng chỉ ra sự tương hỗ giữa Internet và
truyền hình, đồng thời cho thấy những tương đồng và khác biệt trong sự tương tác
đối với công chúng của các kênh truyền thông này
Vì vậy, cùng với những hướng nghiên cứu báo chí học chú trọng tới quan hệ
giữa nguồn tin thông điệp và công chúng, trong đó vai trò của tòasoạn được thể
hiện rõ trong việc tổ chức thông điệp c ng như các hoạt động chuyên môn của báo
chí thì hướng nghiên cứu Xã hội học truyền thông đại chúng hướng tới: các nhà
truyền thông, công chúng truyền thông, ảnh hưởng xã hội của truyền thông đại
chúng thì hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông có vị trí quan trọng, nhưng
chưa có nhiều công trình theo hướng này
1.2 Nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu truyền thông đại chúng ở nước ta trước hết diễn ra ở các viện
nghiên cứu báo chí - truyền thông và một số cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội và
nhân văn
Nhiều nghiên cứu về lịch sử báo chí – truyền thông trong nước
đã được tiếnhành, tiêu biểu như những công trình của các tác giả Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo
chí Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1945; Trần Ngọc Tăng, Vai tròcủa Truyền
thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, 2001; Đỗ
Xuân Hà, Báo chí với thông tin quốc tế, Nxb ĐHQG Hà Nội, 1997; Hội Nhà Báo
Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí Cách mạng, Nxb CTQG, 2004; Lê
Thanh Bình, Quản lý và Phát triển Báo chí-Xuất bản, Nxb CTQG, 2004…
Một số giáo trình cung cấp các tri thức về lý luận báo chí như
“Cơ sở lý luậnbáo chí - Đặc tính và phong cách” của Hà Minh Đức, “Cơ sở lý luận báo chí truyền
thông” của Đinh Hường - Dương Xuân Sơn - Trần Quang, “Truyền thông đại
chúng” của Tạ Ngọc Tấn; nhóm sách về thể loại báo chí như “Thể loại báo chí
thông tấn” của Đinh Hường”, “Thể loại báo chí chính luận nghệ thuật của Dương
Xuân Sơn, “Thể loại báo chí chính luận của Trần Quang”, “Báo chí, những vấn đề
lý luận và thực tiễn” của Khoa Báo chí – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn…
Trang 17vụ công tác đào tạo- hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập và chia sẻ, trao đổi
với những người học báo, làm báo và quan tâm đến báo chí truyền thông Trong
cuốn sách này, khái niệm truyền thông đại chúng được tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau Từ đó, người đọc có thể hiểu một cách cặn kẽ và sâu sắc về vai trò và
tác động của truyền thông đại chúng tới đời sống xã hội
Cùng với đó, khái niệm “báo chí” được tác giả phân tích một cách sâu sắc,
toàn diện và cụ thể, rõ ràng Từ những phân tích về đối tượng tác động, cơ chế tác
động, tác giả rút ra vai trò và tác động của báo chí, nhất là năng lực giám sát xã
hội của báo chí Báo chí dù là truyền thống hay hiện đại c ng tự thân nó mang
trong mình những đặc điểm đặc thù Khía cạnh này được tác giả lập luận chặt chẽ
và khoa học, từ đó đưa ra những giải pháp để tăng cường hiệu lực quản lý nhà
nước về báo chí và những vấn đề cơ bản của tự do báo chí Các vấn đề như phẩm
chất nghề nghiệp của nhà báo; vai trò xã hội của báo chí và vấn đề đào tạo cử nhân
trong thời kỳ mới; báo chí với vấn đề trẻ em;… được trình bày cụ thể, đầy đủ và
hấp dẫn tại chương IV, V Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu những quy luật cơ
bản của hoạt động báo chí, tác giả nêu ra mô hình phẩm chất cần yếu của nhà báo
vừa có ý nghĩa cho công tác đào tạo nhà báo trẻ, vừa có thể giúp các nhà báo trẻ
đang hành nghề tự suy ngẫm, kiểm nghiệm nhằm từng bước tự hoàn thiện và nâng
cao năng lực hoạt động chuyên môn nghề nghiệp
Giáo trình “Các thể loại báo chí thông tấn”, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011 của
tác giả Đinh Hường cung cấp cho người học báo, làm báo những kiến thức cơ bản
về vai trò, chức năng của thể loại và nhóm thể loại; về khái niệm, đặc trưng, đặc
điểm của thể loại; chỉ ra mối liên hệ giữa các thể loại trong hệ thống báo chí nói
chung và các thể loại báo chí thông tấn nói riêng, để từ đó làm cơ
sở cho việc xâydựng quy trình sáng tạo tác phẩm, giúp người học báo, làm báo nắm vững lý thuyết
và vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn Giáo trình trang
bị cho sinh viênphương pháp, kỹ năng trong việc nhận biết từng thể loại qua các yếu tố về nội dung
Trang 18truyền thông Việt Nam.
Công trình nghiên cứu “Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến
nay)” của tác giả Dương Xuân Sơn khẳng định những đóng góp củabáo chí Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời tập trung nghiên cứu về vai trò của báo chí
được thể hiện trên các vấn đề: Vai trò của đội ng nhà báo; Báo chí với lĩnh vực
đổi mới kinh tế; Báo chí với công cuộc phòng, chống tham nh ng; Báo chí với vấn
đề Nông nghiệp nông thôn; Kinh tế báo chí; Xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình; Tìm ra những hạn chế, khiếm khuyết để báo chí pháttriển hơn nữa
trong những năm tiếp theo
Những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ
thông tin, đặc biệt là sự phát triển như v bão của Internet đã tạo ra
sự bùng nổthông tin trên phạm vi toàn cầu Cùng với đó, trật tự của các loại hình báo chí và
truyền thông c ng đã có nhiều thay đổi Sự ra đời của loại hình báo chí đa phương
tiện đã tạo ra bước ngoặt, làm thay đổi cách truyền và tiếp nhận thông tin Và do đó,
báo chí đa phương tiện nhanh chóng chiếm giữ vị trí quan trọng không thể thiếu
trong làng truyền thông Với báo chí đa phương tiện, việc truyền tải thôngtin đến
công chúng không chỉ qua con chữ, hay những tấm ảnh tĩnh đơn thuần mà còn là
video, audio, hình ảnh động, đồ họa và các cách thức thể hiện mới mẻ, hiện đại từ
Trang 19và đa phương tiện đã đặt ra một dấu mốc quan trọng trong sự vận động và phát triển
của báo chí và truyền thông hiện đại
Trong bối cảnh đó, cuốn sách Báo chí và Truyền thông đa phương tiện do tác
giả Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên) đã trở thành một tài liệu tham khảo hữu
ích Nội dung của cuốn sách đã trình bày và lý giải những vấn đề căn bản về lý
thuyết và thực tiễn của báo chí và truyền thông đa phương tiện như: Đặc trưng của
báo chí đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện và ảnh hưởng
xã hội củachúng; xu hướng phát triển của báo chí thế giới trong kỷ nguyên kỹ thuật số; đặc
điểm của hội tụ truyền thông hay mô hình tòa soạn hội tụ; yêu cầu đối với một nhà
báo đa phương tiện; ảnh hưởng của xu hướng báo chí và truyền thông đaphương
tiện đối với các tờ báo, các tòa soạn báo Việt Nam; truyền thông xã hội ảnh hưởng
như thế nào đối với sự phát triển của báo chí và truyền thông hiện đại Nhiều vấn
đề về phương pháp, cách thức làm việc liên quan trực tiếp đến những công việc
“bếp núc” của người làm báo, làm truyền thông trong lĩnh vực đa phương tiện c ng
được các tác giả trình bày khá tỉ mỉ Đây là những vấn đề nóng đang được nhiều
nhà quản lý, nhà báo, nhà truyền thông và công chúng rộng rãi quan tâm
Các ấn phẩm về Báo chí học của các tác giả kể trên cho thấy những vấn đề cơ
bản về lý luận báo chí, kiến thức nghiệp vụ của hoạt động báo chí, vai trò của báo
chí trong đời sống xã hội và báo chí trong đời sống quốc tế, khu vực
Tiếp cận xã hội học truyền thông đại chúng, bài viết “Một số vấn đề về nghiên
cứu truyền thông đại chúng” của V Trà My, đăng trong cuốn Báo chí những vấn
đề lý luận và thực tiễn, tập 6, đưa ra một nhận định xác đáng về tình hình nghiên
cứu truyền thông đại chúng ở Việt Nam: “Ở Việt Nam, nghiên cứu truyền thông đại
chúng đã và đang phát triển Tuy nhiên tầm quan trọng của lĩnh vực này còn chưa
được nhìn nhận một cách thấu đáo và hệ thống Cho đến nay, những đóng góp đáng
ghi nhận nhất trong hoạt động này ở Việt Nam lại chủ yếu là thành quả của các nhà
xã hội học, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện Xã hội học” [34]
Ở Việt Nam, nghiên cứu dưới góc độ xã hội học truyền thông đại chúng là
hướng nghiên cứu đã được sự quan tâm của giới chuyên môn
Thời gian đầu, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúngchủ yếu tập
trung vào nghiên cứu truyền thông đại chúng trong hoạt động truyền thông nói
Trang 20chung về một chủ đề nào đó, chẳng hạn nghiên cứu truyền thông
về dân số, 1993,nghiên cứu truyền thông phòng chống AIDS, 1996… Giai đoạn sau này, nghiên cứu
xã hội học truyền thông đại chúng ở Việt Nam mới tập trung đi vàohướng nghiên
cứu về lý luận và thực nghiệm, trong nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu nghiên cứu
về công chúng, về nội dung thông điệp, hiệu quả của truyền thông
Những đóng góp về cơ sở lý luận cho những nghiên cứu xã hội học truyền
thông đại chúng ở Việt Nam, có thể kể đến những bài viết của tác giả Mai Quỳnh
Nam như: “Truyền thông đại chúng và Dư luận xã hội”, Tạp chí Xã hội học số 1,
1996; “Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình”, Tạp chí Xã hội học số 4, 2000;
Đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng”, Tạp chí Xã hội học số 2, năm
000… Những bài viết trên tập trung vào các vấn đề cơ bản của truyền thông đại
“2chúng, những quan điểm, lý thuyết của các nhà xã hội học trên thế giới về truyền
thông đại chúng, đồng thời chỉ ra các hướng nghiên cứu cơ bản của Xã hội học
truyền thông đại chúng ở Việt Nam.Cùng với những nghiên cứu của các tác giả Mai Quỳnh Nam, Trần HữuQuang đã có đóng góp quan trọng về xã hội học truyền thông đại chúng bằng công
trình “Xã hội học báo chí”, năm 2006 Trong tác phẩm này, tác giả tập trung làm rõ
những khái niệm cơ bản của truyền thông đại chúng và đưa ra những đặc điểm về
hoạt động của tòa soạn, của nghề làm báo, những đặc trưng nghề nghiệp riêng của
nhóm phóng viên, nhà báo ở nước ngoài và Việt Nam Bên cạnh đó, cuốn sách còn
đi sâu vào những hướng nghiên cứu cơ bản của xã hội học truyền thông đại chúng:
xã hội học về công chúng, xã hội học về nội dung truyền thông Hơn hết, ấn phẩm
đã phác họa được một số lý thuyết tiếp cận trong xã hội học truyền thông đại chúng
làm cơ sở cho những nghiên cứu truyền thông đại chúng sau này
Sự xuất hiện các công trình nghiên cứu về báo chí học và xã hội học truyền
thông đại chúng được đặt ra trong mối quan hệ nghiên cứu liên ngành cho thấy sự
trưởng thành của các khoa học báo chí học và xã hội học Trong hoạt động nghiên
cứu báo chí, các phương pháp của xã hội học, đặc biệt là các phương pháp nghiên
cứu cụ thể rất được coi trọng ở lĩnh vực xã hội học truyền thông đại chúng Hệ
thống lý thuyết về truyền thông và truyền thông đại chúng c ng được sử dụng nhiều
trong nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng Các khái niệmtrong hệ thống
tri thức này được những người nghiên cứu thao tác hoá thành các chỉ báo để nhận
thức thực trạng truyền thông đại chúng về thông điệp, kênh truyền
Trang 21của truyền thông đại chúng.
Max Weber đã chỉ rõ vai trò của thông điệp và nội dung của truyền thông đại
chúng Theo đó, thông điệp truyền thông truyền tải những nội dung gì và những
nội dung đó được thể hiện bằng cách nào Đây là hai vấn đề cơ bản của báo chí
học liên quan đến động cơ truyền thông và cách thức sử dụng các thể loại và
phương tiện truyền thông đối với công chúng Phân tích thông điệp cho thấy ý
nghĩa chủ quan của các nhà truyền thông được thể hiện trên thông điệp mà họ
truyền tải như là mối liên hệ của động cơ và sự thể hiện Hai vấn
đề này liên quanchặt chẽ đến nhau nhưng ko phải lúc nào sự thể hiện c ng phù hợp với động cơ
của nhà truyền thông Vì vậy xét về phương diện quản lý báo chí thì hướng nghiên
cứu nội dung thông điệp sẽ mang đến lợi ích cơ bản trong sự đánhgiá thông điệp
và đối tượng tiếp nhận nó là công chúng
Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm của xã hội học truyền thông đại
chúng ở nước ta đã hướng đến sự gắn kết với các lĩnh vực của đời sống xã hội ở
Việt Nam được thể hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, đa
phần những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng về vấn đề
xã hội qua thông điệp được đưa trên các phương tiện truyền thôngđại chúng, mà
chưa chỉ ra được tính tiêu cực của truyền thông đại chúng đối với nhận thức của
cần được xem xét cẩn trọng nhằm định hướng hành vi, định hướng
dư luận xã hội,góp phần hạn chế những hành vi lệch chuẩn trong xã hội Để làm được điều này,
một trong những khâu rất quan trọng là phải nghiên cứu thông điệp truyền thông
Trang 222 Hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông
2.1 Nghiên cứu nội dung thông điệp truyền thông
Có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung thông điệp truyền thông, đáng
chú ý là những nghiên của của Dietram A Scheufele [62, tr.105] Các tác giả đã đưa
ra phương pháp tiếp cận nhóm chủ đề trong nghiên cứu nội dung thông điệp như:
Nội dung phản ánh thực tế xã hội có sự biến dạng ít, nhiều hay phản ánh trung thực
(Content reflects social reality with little or no distortion.) Nội dung
bị ảnh hưởngbởi xã hội hóa và thái độ chuyên nghiệp của những người làm truyền thông
(Content is influenced by media workers' socialization and attitudes) Nội dung bị
ảnh hưởng bởi các thói quen truyền thông (Content is influenced by media workers'
socialization and attitudes) Nội dung bị ảnh hưởng bởi các thể chế
và lực lượng xãhội khác (Content is influenced by other social institutions and forces) Nội dung là
một chức năng của các vị trí hệ tư tưởng và duy trì hiện trạng (Content is a function
of ideological positions and maintains the status quo)
Nghiên cứu về nội dung truyền thông, tác giả Harold Lasswell (1948) đề
xuất khung nội dung thông điệp bao gồm một quy trình: Ai nói cái
gì (Who SaysWhat), Thông qua kênh nào đối với ai cùng với những tác động gì với họ (Through
Which Channel to Whom with What Effect) [63]
Tác giả David H Weaver cho rằng, để có thông điệp truyền thông chuẩn, các
nhà báo xây dựng nội dung thông điệp không nên theo quy trình mang tính hệ thống
kỹ thuật nhiều hơn những gì diễn ra trong thực tế Tác giả còn bổ sung vấn đề nội
dung thông điệp phải mang tình dự báo một cách mơ hồ Ông đã đưa ra một ví dụ:
“Ngay cả trong vật lý, các câu hỏi tiếp theo được đặt ra mang tính quy luật bởi các
nhà vật lý lý thuyết Nếu giáo sư vật lý cố gắng dự đoán hướng của hạt nguyên tử sẽ
di chuyển sau khi đã đo đạc để xác định, nhiệm vụ sẽ rất khó khăn; Các lý thuyết
hiện tại về vật lý lượng tử chỉ ra rằng chuyển động của hạt không
có khả năng đoántrước được, điều này còn khó hơn một quả bóng lăn trên sân cỏ” [64, tr.143]
Những nghiên cứu về thông điệp truyền thông nói chung xuấthiện tần suất
đột phá vào những năm 70 của thế kỷ XX Lý do chính là sự phát triển của truyền
hình Những quan điểm trước đó về thông điệp truyền thông đượcHerbert Gans
(1983) xem xét lại Gans lập luận rằng: “Các nhà khoa học xã hội vàcác nhà báo đã
bắt đầu không đồng ý với quan điểm thế giới của họ sau những biến động xã hội
những năm 1960 và đầu những năm 1970, một giai đoạn được đánh dấu bởi bùng
nổ về phong trào quyền công dân và phản kháng chiến tranh, cuộc xung đột sắc tộc,
và vụ bê bối Watergate Các hệ thống thu thập thông tin và các
mô hình truyền
Trang 23tại các cuộc họp hội đồng thành phố ở thị trấn của bạn, bạn có thểlấy thông tin từ
thị trưởng hoặc từ một quan chức thành phố khác, từ một công dân tham dự các
cuộc họp, từ báo chí, từ đài phát thanh hoặc truyền hình, từ pháp luật Thông báo, từ
một người bạn có thông tin từ một trong những nguồn này; Hoặc bạn có thể tự tham
dự cuộc họp Nhiều nguồn thông tin không rõ ràng, nhiều nguồn khác lại rõ ràng”
báo và các loại hình truyền thông khác nhau” [67, tr.156-158]
Thông điệp giữ vai trò quan trọng trong lý thuyết truyền thông Nó phản ánh
định hướng xã hội của thiết chế truyền thông, phù hợp với kênh truyền và nhu cầu
nhận thực của công chúng Phần tổng quan trên cho thấy, nhữngnghiên cứu về
thông điệp truyền thông được quan sát đã phản ánh thực trạng
về vấn đề truyềnthông được truyền tải trong thông điệp Hệ thống thông điệp này c
ng phù hợp vớiđịnh hướng mục đích của nhà truyền thông Nó trả lời câu hỏi căn bản: Thông điệp
nói với công chúng những điều gì? Những điều đó thể hiện mối quan tâm từ hai
Trang 24điệp truyền thông Đó là nội dung được chúng tôi trình bày dưới đây.
2.2 Nghiên cứu hình thức thông điệp truyền thông
Các tác giả Nancy L Buerkle-Rothfuss, Bradley S Greenberg, Charles K
Atkin và Kimberly Neuendorf đã chỉ ra một thực tế là trên một sự kiện, quan điểm
khác nhau sẽ dẫn đến hình thức thông điệp khác nhau Các tác giả viết: “Tầm quan
trọng của sự khác biệt giữa nội dung truyền thông và các nguồn thông tin khác về
thế giới nằm ở chỗ quan điểm của chúng ta về thế giới, kết quả là thông điệp được
được tạo ra bởi nguồn thông tin chủ đạo của chúng ta: các phương tiện thông tin đại
chúng Nếu chưa bao giờ tới Nga hoặc nói chuyện với ai đó, hầu hết những gì biết
về đất nước Nga - thực tế "xã hội" ở đất nước đó mà chúng ta biết - đến từ các
phương tiện thông tin đại chúng ở đất nước chúng ta” [68, tr.192]
Họ cho rằng thông điệp truyền thông không chỉ là một thông tin cụ thể nào
đó và c ng không chỉ dừng lại ở mục đích thông tin Các tác giả đã
đề xuất yếu tốlợi nhuận vào thông điệp Họ viết: “Lượng khách hàng xem những thông điệp trong
chương trình opera buổi tối với cái tên là Dallas hay Dynasty đã chỉ
ra cho nhữngngười kinh doanh truyền hình về làm thế nào để kiếm tiền và giànhquyền lực, làm
thế nào để trở thành một diễn viên chính trị hiệu quả, và làm thế nào để có được
hơi nào đó được quảng cáo là tốt hơn cả hay một chính sách nào đó của chính quyền
về thu thuế liên quan đến học và cấp giấy phép lái xe [69, tr.44-55]
Về vấn đề quan hệ giữa hình thức của những thông điệp truyền thông Liệu
hình thức có làm lệch đi nội dung của nó hay không, nếu có thì mức độ như thế
nào? Các tác giả Scanlon, Liuiko và Morton (1978) cho rằng hình thức có thể phản
ánh sai lệch phần nào những gì bên trong nội dung Ông viết: “Ấn tượng chung mà
các phương tiện truyền thông (hình thức) phản ánh các sự kiện là chính xác, nhưng
có sai sót trong việc báo cáo các chi tiết thực tế, chẳng hạn như tên, độ tuổi và số
Trang 25các phát minh khoa học những năm 70 của thế kỳ XX cho rằng: “Có một số sự kiện
xuất bản về các chủ đề khoa học thực sự là không chính xác, nhưng có rất nhiều
thiếu sót của thông tin có liên quan [71, tr.22-40] C ng với chủ đề này, các tác giả
Mark S Meisner & Bruno Takahashi sau khi đã nghiên cứu các bài báo viết về
những nghiên cứu côn trùng, họ đã chỉ ra rằng cách diễn ngôn trong thông điệp
truyền thông làm lệch đi nội dung thực của thông tin kết quả nghiên cứu Các tác
giả viết: “Ngay cả nội dung về côn trùng c ng đã không thoát khỏi những diễn ngôn
sai lệch về thông tin thực tế Mặc dù 99,9% loài côn trùng không gây hại hoặc mang
lại lợi ích nhưng hầu hết các bài báo trong một nghiên cứu đều nhấn mạnh đến khía
cạnh tiêu cực của côn trùng” [72]
2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng người làm truyền thông tới thông điệp truyền thông
Các tác giả Becker, Fruit và Caudill đã đưa ra nhận định là quan điểm của
những người làm báo ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung thông điệp Để đưa ra kết
luận này, các tác giả tiến hành khảo sát các bài báo viết về cùng nội dung nhưng lại
đăng trên các tờ báo khác nhau của các tác giả khác nhau Các tác giả kết luận:
“Những người làm việc trong các công việc liên quan đến tin tức ở các tờ báo hàng
ngày và hàng tuần, tạp chí, dịch vụ tin tức và đài phát thanh và truyền hình đưa ra
những thông điệp truyền thông khác nhau về sự kiện như nhau dựatrên quan điểm
là những ngườighi chép hay ghi chép những gì người khác đang nói và làm” [75, tr.290] Tác giả
còn nhận định rằng: “Chắc chắn, thực tế là các nhà báo được đào tạo tốt ảnh hưởng
đến nội dung truyền thông, nhưng ít nhất nói một cách hoa mỹ rằng công chúng sẽ
Trang 26chọn để báo cáo và về cách thức báo cáo” [75, tr.174].
C ng nghiên cứu chủ đề này, các tác giả Holli A Semetko, Jay
G Blumler,Michael Gurevitch, David H Weaver, Steve Barkin, G Cleveland Wilhoit chorằng: Làm thế nào các yếu tố nội tại với người giao tiếp có thể tương tác để ảnh
hưởng đến nội dung phương tiện truyền thông Chúng tôi tin rằngkhông có ảnh
hưởng trực tiếp đến đặc điểm, nguồn gốc và kinh nghiệm của người giao tiếp đối
với nội dung truyền thông nhưng nội dung đó có thể bị ảnh hưởng đến mức các yếu
tố đó ảnh hưởng đến thái độ và vai trò cá nhân và nghề nghiệp Cáctác giả này phát
hiện ra đạo đức nghề nghiệp của người làm báo ảnh hưởng lớn đến thông điệp
truyền thông Các tác giả viết: “Chúng tôi tin rằng vai trò và đạo đức nghề nghiệp
của người làm truyền thông có ảnh hưởng nhiều hơn đến nội dung hơn là thái độ,
giá trị và niềm tin cá nhân của họ Không chỉ là sự đàn áp thái độ, giá trị và niềm tin
cá nhân của vai trò người giao tiếp chuyên nghiệp; Nỗ lực của cá nhân bên trong
một tổ chức truyền thông đại chúng có nhiều quyền lực hơn hầu hết các nhà truyền
giới hạn bởi ban giám đốc, khán giả và nhà quảng cáo Tuy nhiên, ngay cả những
người đưa tin không có quyền sở hữu hoặc vị trí quản lý đôi khi có thể ảnh hưởng
đến hướng nội dung Ví dụ, một phóng viên của một tờ báo ở bờ biển phía Tây Hoa
Kỳ có trụ sở tại Washington, D.C đã kiểm soát nhiều hơn về việc lựa chọn và chỉ
đạo các câu chuyện hơn là phóng viên làm việc trong các văn phòng chính của tờ
báo dưới sự giám sát trực tiếp của ban quản lý” [76]
Yếu tố văn hóa c ng tác động đến thông điệp truyền thông Tính văn hóa thể
hiện ở chỗ nội dung tin được những người đưa tin nhào nặn thành các biểu tượng
Nội dung truyền thông được phóng to, thu nhỏ nhằm phù hợp với khán giả Các tác
giả Stephen Shoemaker, Pamela & Reese cho rằng: “Truyền thông áp đặt logic
riêng của nó trong việc tạo ra một môi trường tượng trưng Nếu chúng ta giả định
rằng văn hoá phải thay đổi, thích ứng và cải thiện, thì nội dung truyền thông có thể
là chất xúc tác hoặc làm phanh sự thay đổi này Bằng cách miêu
tả phụ nữ như
Trang 27những người nội trợ, nội dung có thể phóng to, nhưng sức mạnh và
sự lan rộng củanhững biểu tượng này có thể làm cho phụ nữ khó chấp nhận vì tính không chuẩn
Nội dung truyền thông có thể chứa đựng đặc điểm tồi tệ nhất của một xã hội và thổi
chúng lên đến mức chúng được củng cố và làm cho khó thay đổi Mặc dù các bài
diễn văn được phương tiện truyền thông phản ánh có thể phản ánh quan hệ quyền
lực như chúng tồn tại, nhưng chúng c ng có thể đảm bảo rằng không có các mối
quan hệ nào khác có thể hình dung được” [77, tr.210]
Các tác giả Pamela J Shoemaker, Martin Eichholz, Eunyi Kim, Brenda
Wrigley khi nghiên cứu vấn đề này đã đưa ra nhận định chính sự tự
do của nhữngngười làm báo chí quyết định cơ bản đến thông điệp Các tác giả viết: “Nhìn chung,
ảnh hưởng từ các hoạt động truyền thông (ví dụ như sử dụng thông cáo báo chí, tính
khả dụng của công nghệ, loại hình dịch vụ) có thể có tác động tươngđối nhỏ đối với
toàn xã hội, vì chúng có thể không phải là các yếu tố nhấn mạnh một cách có hệ
thống hoặc loại trừ một số nội dung nhất định để phục vụ các yêu cầu về thể chế
Ảnh hưởng từ các chuyên gia truyền thông cá nhân có thể hơi rộng hơn, nhưng
những tác động tiềm tàng của hành động của các nhà báo còn hạnchế bởi vì họ là
những phán đoán giá trị của cá nhân chứ không phải là các tổ chức lớn” [78, tr.223]
Các tác giả đã đề cập đến cái gọi là quyền bá chủ truyền thông, hệ tư tưởng
Người nào nắm và quản trị được thông tin thì họ có thể thay đổi được thông điệp
Các tác giả viết: “Khi nội dung truyền thông bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ở mức độ
cao hơn, tức là bên ngoài tổ chức truyền thông, thì cơ hội là rất tốt cho việc thao
túng nội dung truyền thông bằng các lực lượng muốn phục vụ mục đích của họ
Những ảnh hưởng quan trọng đến nội dung truyền thông từ hệ hệ tưtưởng mạnh mẽ
(thường được gọi là quyền bá chủ) sẽ chỉ ra những ảnh hưởng rộng khắp và lan rộng
trách nhiệm phản ánh khách quan các biểu hiện của đời sống thực
tế, diễn tiến củaquá trình này lại không phụ thuộc vào chủ quan của người làm báo Vì thế, thông
điệp gắn với thực tế đời sống, tri thức đời sống được thể hiện trongngôn ngữ báo
Trang 28cung cấp trong các loại phương tiện truyền thông.
Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tiếp xúc lớn của các gia
đình hiện đại với các phương tiện truyền thông đại chúng, như khủng hoảng gia
đình Cuộc khủng hoảng của các gia đình hiện đại có thể nói là đang có phần trong
căng thẳng nhịp sống, xa lánh, thiếu giao tiếp và trách nhiệm, và làm suy yếu các
mối quan hệ gia đình và xã hội Với tiềm năng di truyền của một đứa trẻ và tác
động của môi trường phát triển và hình thành tính cách của con, nuôi dạy con cái
vô cùng quan trọng Tuy nhiên, sự vắng mặt của việc nuôi dạy concái chất lượng
đã mở đường cho nhiều tác động tiêu cực, bao gồm cả những tiêu cực đi qua
phương tiện truyền thông đại chúng (TV, báo, đài, Internet, phim ảnh, v.v.) Là
phương tiện truyền thông ảnh hưởng đến khủng hoảng của gia đình và những
người đào sâu nó, chúng ta xem xét ở khía cạnh nó có phải là một trong những
nhân tố chính tác động đến việc giáo dục con cái chúng ta và "nói chuyện" với bọn
trẻ thông qua các kênh quảng cáo, Internet, báo lá cải hoặc phương tiện truyền
thông đang khuyến khích một cuộc đối thoại gia đình
Trang 29người trả lời c ng được thu thập Kết quả nghiên cứu cho thấy, đài phát thanh được tìm
thấy là nguồn thông tin phổ biến nhất 55% báo cáo rằng họ nhận được tin nhắn kế
hoạch hóa gia đình qua radio so với 10,1% qua truyền hình mặc dù 68,5% số người
được hỏi có truyền hình và 89,1% có radio 77% số người được hỏi chưa bao giờ đến
phòng khám kế hoạch hóa gia đình Chương trình yêu thích nhất trên
TV là kịch trongkhi chương trình radio là tin tức Kết luận nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải tăng
cường và tích hợp thông điệp kế hoạch hóa gia đình vào phim truyền hình và tin tức
trên đài phát thanh đã được xác định vì điều này có thể đóng một vai trò quan trọng
trong kế hoạch hóa gia đình tại địa điểm này
Nghiên cứu của Khoa Thống kê, Đại học Jahangirnagar, Savar, Dhaka,
Bangladesh về “Tác động của các chương trình kế hoạch hóa gia đình truyền thông
đại chúng đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện nay
ở thành thịBangladesh” có sự tham gia của 871 phụ nữ Bangladesh thành thị hiện đang kết hôn
để đánh giá tác động của các chương trình kế hoạch hóa gia đình trên phương tiện
truyền thông đại chúng đối với việc sử dụng biện pháp tránh thaihiện nay Các
phân tích cho thấy, đài phát thanh đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền
bá thông điệp kế hoạch hóa gia đình giữa các khách hàng đủ điều kiện; 38% phụ nữ
có quyền truy cập vào một đài phát thanh đã nghe về tin nhắn kế hoạch hóa gia đình
trong khi con số cho TV và báo lần lượt là 18,5% và 8,5% Giáo dục, trẻ em và sử
dụng biện pháp tránh thai hiện tại là những yếu tố dự báo quan trọng về việc tiếp
xúc với bất kỳ thông điệp kế hoạch hóa gia đình truyền thông đại chúng nào Có
một mối quan hệ tiêu cực giữa việc cho con bú và việc sử dụng biệnpháp tránh thai
hiện nay cho thấy nhu cầu tránh thai thấp ở những phụ nữ đang cho con bú
Trang 30nghiên cứu là tập hợp các thông tin hiện có, đưa ra một số quan sátban đầu và xúc
tác cho nghiên cứu, phản ánh, thảo luận, đồng thuận và hành động
Trong dự án hai năm này, Trung tâm Truyền thông Sức khỏe Harvard đã thu
thập và phân tích dữ liệu về vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng trong
giáo dục nuôi dạy con cái từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nghiên cứu, báo cáo,
và mô tả dự án truyền thông Ngoài ra, hơn 200 cuộc phỏng vấn được thực hiện với
các chuyên gia chủ chốt trong các lĩnh vực như chính sách truyền thông, nghiên cứu
lịch sử, nghiên cứu truyền thông, chăm sóc sức khỏe, quản lý tài trợ, giáo dục sức
khỏe, giáo dục phụ huynh, báo chí, xuất bản, phát thanh, kinh tế truyền thông, nhân
chủng học, xã hội học, quảng cáo và quan hệ công chúng Một nhóm gồm tám nhà
lãnh đạo phục vụ như các cố vấn chuyên gia, và một số người được phỏng vấn khác
cung cấp thông tin và lời khuyên đáng kể
Phạm vi của dự án được xác định bao gồm các hoạt động truyền thông mà cha
mẹ và những người khác trong vai trò làm cha mẹ được chỉ định cụ thể là đối tượng
mục tiêu Các dự án không được bao gồm trong đó đối tượng chính
Trang 31giải quyết các điểm yếu và khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đáng
kể của thông điệpnuôi dạy trẻ em để hỗ trợ các nỗ lực hiện tại và tương lai thay mặt cho trẻ em, cha
dạy con cái của vợ /chồng hoặc bạn đời hơn phụ nữ (57% các ông
bố so với 41%
các bà mẹ rất hài lòng) và mức độ giao tiếp giữa họ và bạn đời (47
% nam giới chobiết họ rất hài lòng so với 40% nữ giới) Tỷ lệ các ông bố nói rằng họdành thời gian
thích hợp cho con cái ngày càng tăng Có lẽ sự thay đổi đáng chú ýnhất trong thái
Trang 32độ về sự năng động của gia đình là trong đánh giá của các ông bố
về lượng thời gian
họ dành cho con cái.Tính đến tháng 10 năm 2020, 46% các ông bố cho biết họ dànhthời gian thích
hợp cho con cái - tăng 10 điểm phần trăm so với năm 2017 Một tỷ
lệ tương tự cácông bố (48%) nói rằng họ dành quá ít thời gian cho con cái, giảm đáng kể so với
63% vào năm 2017 Chỉ 5% các ông bố nói rằng họ dành quá nhiều thời gian cho
con cái Quan điểm của phụ nữ về vấn đề này không thay đổi đáng
kể Trong cuộckhảo sát mới nhất, 58% bà mẹ nói rằng họ dành thời gian thích hợp cho con cái,
28% nói rằng họ dành quá ít thời gian và 13% nói rằng họ dành quá nhiều thời gian
cho con cái Đàn ông và phụ nữ có quan niệm khác nhau về việc ailàm nhiều việc
hơn ở nhà Sự chênh lệch giới tính lâu đời trong phân công lao động hộ gia đình -
đã được ghi nhận đầy đủ - vẫn tồn tại trong suốt thời gian đại dịch.Cuộc khảo sát cho thấy, trong một loạt các hoạt động, nam vànữ đã kết hônhoặc chung sống trong các mối quan hệ khác giới có quan điểm khác nhau về việc
ai là người gánh nhiều hơn gánh nặng Đa số phụ nữ (59%) nói rằng họ làm nhiều
việc nhà hơn vợ/chồng hoặc bạn đời của mình, trong khi 6% nói rằng vợ / chồng
hoặc bạn đời của họ làm nhiều việc hơn Trong số nam giới, đa số (46%) nói rằng
những trách nhiệm này được chia đều như nhau, trong khi 20% nói rằng họ làm
nhiều hơn và 34% nói rằng vợ/chồng hoặc bạn đời của họ làm nhiều hơn Quản lý
tài chính hộ gia đình là một lĩnh vực khác mà các quan điểm có sự khác biệt đáng
kể theo giới tính Khoảng 47% phụ nữ nói rằng họ làm nhiều việc này hơn vợ /
chồng hoặc bạn đời của mình, trong khi 25% nói rằng chồng hoặc bạn đời của họ
làm nhiều hơn thế Đàn ông nhìn nhận mọi thứ khá khác biệt: 50% nói rằng họ làm
nhiều hơn vợ hoặc bạn tình của mình trong lĩnh vực này, trong khi 23% nói rằng vợ
/ chồng hoặc bạn đời của họ làm nhiều hơn họ Sự khác biệt về giới trong nhận thức
về cách phân chia công việc gia đình và tài chính là tương tự vào năm 2019, cho
thấy những động lực này đã thay đổi rất ít trong thời kỳ đại dịch.Khi nói đến việc
nuôi dạy con cái, phụ nữ thấy mình phải gánh nặng hơn nhiều so vớivợ/chồng hoặc
bạn đời của họ, trong khi nam giới thường nói có trách nhiệm hơn phụ nữ
3.2 Nghiên cứu trong nước
C ng giống với sự phát triển của hướng nghiên cứu Báo chí học
và Xã hội họctruyền thông đại chúng trên thế giới, các nghiên cứu về truyền thông đại chúng ở
Việt Nam được khởi động vào giai đoạn đầu tiên vào những năm cuối của thế kỷ 20
rất quan tâm tới hướng nghiên cứu thực nghiệm Cơ sở của hướng nghiên cứu này
được sự chỉ dẫn của hệ thống lý thuyết mà những người tham gia nghiên cứu học
Trang 33các kênh truyền thông hiện có.
Bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam trong cuốn sách Báo chí: Những vấn đề
lý luận và thực tiễn, tập 5, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, “Thông điệp về trẻ em
trên báo hình, báo in”, là một phần kết quả nghiên cứu phân tích quốc tế về “Hình
ảnh trẻ em trên báo chí” do Trung tâm truyền thông ASIAN (AMIC) phối hợp với
Viện Xã hội học thực hiện năm 1999 Nghiên cứu này tiến hành quan sát các thông
điệp về trẻ em được thông báo trong tháng 10 năm 1999 về 10 tờ báo in và trên 2
đài truyền hình Tác giả bài viết chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu: nội dung thông điệp
về cả: số lượng tờ báo có bài liên quan đến trẻ em, về vị trí, về thể loại, về trang
mục; cách đưa tin về các vấn đề liên quan đến trẻ em trên truyền hình và báo in; vấn
đề trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên báo hình, báo in
Nhóm tác giả Rukmalie Jayakody, Vu Tuan Huy, John Knodel trong nghiên
cứu “The Impact of Social Change on Vietnamese Families” đã phân tích tác động
của biến đổi xã hội đối với gia đình Việt Nam Đây là một phần kết quả từ Điều tra
Thay đổi Gia đình ở Việt Nam nhằm phân tích và giải thích mức độkhác biệt về
lịch sử và khu vực về ứng xử trong gia đình Nhóm tác giả đã sử dụng một mẫu đại
diện gồm ba nhóm thuần tập trong hôn nhân từ Đồng bằng sông Hồng (phía Bắc) và
Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (phía Nam) Các phát hiện cho thấy
mức giảm đáng kể trong số lượng những cuộc hôn nhân sắp đặt và
tỷ lệ các cặp gặpnhau thông qua việc được làm mối Tỷ lệ sinh hoạt tình dục trước hôn nhân gia tăng
rõ rệt trong ba nhóm, tỷ lệ các cặp vợ chồng trẻ sống với bố mẹ c
ng tăng lên saukhi kết hôn Sự phân công lao động trong hộ gia đình c ng được xem xét và thoả
Trang 34phủ và những lời tuyên bố về bình đẳng giới, phụ nữ vẫn tiếp tục thực hiện phần lớn
các công việc gia đình và có rất ít bằng chứng cho thấy nam giới Việt Nam đang
làm nhiều việc hơn trong gia đình
Cùng với thực tế nói trên, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu ở trong nước ngày
càng có mối quan tâm đối với truyền thông đại chúng.Nghiên cứu của Khoa học xã hội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền về “Định
kiến giới trong các sản phẩm truyền thông trên các phương tiện truyền thông đại
chúng hiện nay”, 2011, do tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh và cộng
sự tiến hànhnghiên cứu đã tìm kiếm và phân tích các vấn đề giới, định kiến giới, khuôn mẫu
giới trong thông điệp truyền thông trên các phương tiện thông tinđại chúng qua
hình ảnh minh họa và ngôn từ được sử dụng
Nghiên cứu “Bình đẳng/Bất bình đẳng giới trong thông điệp truyền thông đại
chúng ở Việt Nam hiện nay” do Khoa Xã hội học - Học viện Báo chí và Tuyên
truyền phối hợp với Viện Fes (Friedrich-Ebert- Stiftung của Đức) thựchiện nhằm
phân tích thông điệp truyền thông về hôn nhân và gia đình, nghiên cứu đã tập trung
xem xét chủ đề nào trong các chủ đề sau: kết hôn, ly hôn, tảo hôn, hạnh phúc gia
đình, mối quan hệ trong gia đình được đề cập nhiều Nghiên cứu c
ng đưa ra cácbiến số liên quan tới chủ đề: Hạnh phúc gia đình, bạo lực gia đình, phân công lao
động theo giới trong gia đình nhằm thấy được bức tranh về hình ảnh của nam giới
và nữ giới được phản ánh trong thông điệp truyền thông Nghiên cứunày chỉ ra một
số phát hiện cơ bản như sự phản ánh về hạnh phúc gia đình: Khi bàn
về vai trò quantrọng trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình được gán cho ai? Phân tích các số liệu
điều tra, có 56% tổng số các bài viết đề cập đến vấn đề này cho rằng đây là trách
nhiệm thuộc về cả vợ và chồng Bên cạnh những bài viết mang tính tích cực như
vậy thì có 34,1% số bài viết cho rằng đây thuộc về trách nhiệm của một mình người
vợ, trong khi đó chỉ có 9,1% số bài viết gán trách nhiệm này cho người chồng Sự
phản ánh bạo lực gia đình trên báo chí truyền thông khi xem xét nạnnhân bị bạo lực
gia đình, thì cả bốn loại hình báo chí truyền thông đề cập đến phụ
nữ với tư cách lànạn nhân của bạo lực Số liệu tổng hợp từ nghiên cứu cho thấy 79,5% tổng số
tin/bài đăng tải đề cập đến vấn đề hôn nhân và gia đình, phản ánh
nữ giới như là nạnnhân của bạo lực đã được nhắc tới trên báo mạng
Trang 35Trong khi đó, nam giới chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ 7,7%, và 12,8%
là quy cho cảhai giới là nguồn gốc cùng gây ra bạo lực Khi xem xét về thủ phạmgây ra bạo lực
gia đình thì nam giới thường xuyên được đề cập với tư cách là nhân vật chính gây
lên bạo lực Nam giới chiếm 64,1% là thủ phạm gây ra bạo lực được nhắc tới trên
báo mạng trong khi đó chỉ có 17,9% là nữ giới được nhắc tới như làthủ phạm gây
ra tình trạng bạo lực này Sự phản ánh phân công lao động trong giađình qua thống
kê về phân công lao động theo giới trong các tin/bài của các loại hình báo chí truyền
thông, phản ánh có sự chênh lệch rất lớn giữa nam và nữ về “Vai trò dạy dỗ con
cái” và “Công việc nội trợ, chăm sóc gia đình” Với hai vai trò trên
những công việc này
Ngoài ra, với vai trò lo những việc lớn trong gia đình thì trách nhiệm gánh vác
lại thuộc về cả nam (chồng), nữ (vợ) với tỷ lệ gần như tương đương nhau 47,1%
nam giới và 50% đối với nữ giới Điều đó cho thấy rằng, người phụ nữ là người
phải gánh vác hầu hết các công việc trong gia đình từ việc nhỏ nhất đến việc được
coi như là của nam giới Điều này vô hình chung sẽ tạo thêm gánh nặng cho người
phụ nữ vì cùng một lúc họ phải đảm nhiệm cả công việc trong gia đình và ngoài xã
hội và hai công việc này đều được thừa nhận như những công việc chính của người
phụ nữ
Nghiên cứu này đã đưa ra các lý luận, khái niệm, thực trạng
và những giảipháp thúc đẩy bình đẳng giới tại Việt Nam Thông qua thực trạng bình đẳng giới
trong gia đình ở Việt Nam có thể thấy được những vấn đề như công cuộc đổi mới
đã tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống xã hội, đã đem lại nhữngtiến bộ đáng kể
trong quan hệ về giới trong gia đình ở Việt Nam Trong gia đình, nam và nữ đều là
các chủ thể kinh tế tương đối độc lập, các đóng góp cho kinh tế gia đình giữa họ
được xem là tương đương Phân công lao động giữa nam và nữ không còn quá cứng
nhắc, nhiều nam giới đã chia sẻ công việc nhà với vợ Sự bình đẳng tương đối trong
gia đình còn thể hiện qua quá trình cùng tham gia bàn bạc, quyết định của vợ và
chồng trên mọi lĩnh vực của cuộc 78 sống gia đình Tuy quyết định cuối cùng còn
nghiêng về phía người chồng, nhưng nhiều người chồng luôn mong muốn vợ có
trình độ tương đương để cùng bàn bạc, quyết định, đây sẽ là một trong các yếu tố
thúc đẩy nhanh chóng quá trình dân chủ, bình đẳng trong gia đình Tuy đã đạt được
những tiến bộ đáng kể nhưng bất bình đẳng về giới vẫn tồn tại phổ biến trong gia
Trang 36hiện nam - nữ bình đẳng thông qua hệ thống chính sách, pháp luật
vì sự tiến bộ phụ
nữ Song, việc biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước thành
hiện thực cuộc sống còn nhiều bất cập
Bên cạnh những đề tài nghiên cứu, còn có những bài viết trên các tạp chí khoa
học, liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu về nội dung thông điệp trên các phương tiện
truyền thông đại chúng:Tác giả Nguyễn Hữu Minh với bài viết "Các mối quan hệ trong gia đình ở ViệtNam: Một số vấn đề cần quan tâm" đăng trên Tạp chí Xã hội học
số 4, năm 2012,phân tích các khía cạnh rất sâu về mối quan hệ trong gia đình Mối quan hệ trong
gia đình được tác giả xem xét gồm có quan hệ theo chiều ngang
và quan hệ theochiều dọc Quan hệ theo chiều ngang, chủ yếu là quan hệ vợ chồng Quan hệ theo
chiều dọc, chủ yếu là quan hệ cha mẹ - con cái và quan hệ con cháu với ông bà
(người cao tuổi) Những kết quả nghiên cứu đã gợi ra một số hàm
ý về mặt chínhsách và nghiên cứu vì sự phát triển của gia đình Việt Nam Đây là một bài viết khá
sâu sắc và toàn diện về mối quan hệ trong gia đình, các chỉ báo mà tác giả đưa ra rất
đáng suy ngẫm và nghiên cứu
Bài viết của Nguyễn Hồng Thái về “Một số vấn đề về quan hệ gia đình qua
báo chí” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4, năm 2000, trình bày những vấn đề về
phụ nữ - hôn nhân và gia đình ở Việt Nam mà báo chí đề cập đến trong thời gian
gần đây, qua đó thấy được phần nào thực trạng, xu hướng biến đổi,các chiều cạnh
tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội tới các quan hệ hôn nhân gia đình
Luận án tiến sĩ Xã hội học của Phạm Hương Trà, năm 2011:
“Hiệu quả củacác bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử Việt Nam hiện nay” sử dụng
phương pháp phân tích tài liệu là các bài báo viết về bạo lực gia đình trên một số
trang báo mạng qua đó tìm hiểu việc phản ánh về bạo lực gia đình trên báo điện tử
Đồng thời luận án còn tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi để tìm hiểunhận thức, thái
độ, hành vi của công chúng về bạo lực gia đình, nhờ đó mà nghiên cứu đã cho thấy
tác động của những nội dung thông điệp này đến với công chúng
Trang 37nghiên cứu vềgia đình chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành xã hội học Đối với
các nghiên cứu về gia đình trên góc độ báo chí truyền thông còn quá ít, chủ yếu
được nghiên cứu ở khía cạnh vai trò và hiệu quả của truyền thông đối với các hiện
tượng xã hội, chưa có đề tài nghiên cứu thông điệp về gia đình trên truyền thông
báo chí Việt Nam Đồng thời, qua đó cho thấy những nét cơ bản của nghiên cứu
truyền thông đại chúng, nghiên cứu gia đình trên thế giới và trong nước trong tiến
trình phát triển theo hướng nghiên cứu liên ngành giữa báo chí học và xã hội học
truyền thông đại chúng
Các hướng nghiên cứu cơ bản của truyền thông đại chúng gồm: Nghiên cứu
công chúng, tác động xã hội của truyền thông đại chúng, thông điệp, kênh truyền
đều đã được đề cập với mức độ khác nhau trong sự xuất hiện củacác công trình
nghiên cứu Tỷ lệ giữa các hướng nghiên cứu này có thể có sự khácbiệt nhất định
trong mối quan tâm của những nhà nghiên cứu hay sự tài trợ kinh phí nhưng bước
đầu đã cho thấy sự hiện diện với những mức độ đậm nhạt khác nhau trong nghiên
cứu truyền thông đại chúng
Điều đáng lưu ý là, các nghiên cứu này đã quan tâm đến vấn đề
cơ bản: Khôngchỉ mô tả thực trạng trong các diễn tiến của truyền thông đại chúng
mà đã có ý thứcvận dụng các tri thức lý thuyết để giải thích quá trình này Đây là
sự tiến triển vềhọc thuật một cách cơ bản
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu truyền thông đại chúng, có thể nhận thấy, sự hình
thành của tri thức lý thuyết diễn tiến từ mô hình truyền thông theo kiểu “truyền
máu” đã phát triển trong mối liên hệ ngược gắn liền với quá trình trưởng thành của
khoa học thông tin Sự chuyển biến cơ bản này về phương diện nhận thức lý thuyết
đã mở ra những dư địa rộng lớn cho các nghiên cứu ứng dụng trên
cả hai lĩnh vực:
khoa học cơ bản là báo chí học và xã hội học truyền thông đại chúng
Trang 38thêm hệ thống đề tài nghiên cứu về truyền thông đại chúng và xãhội học truyền
thông đại chúng ở không gian mạng
Lịch sự phát triển của truyền thông đại chúng là một quá trìnhđược mở đầu
bằng các kênh truyền thống như báo viết, báo nói, báo hình…và ngàynay vẫn song
hành tồn tại cùng với nền tảng kỹ thuật số Do đó, những nghiên cứu hiện thời về
các kênh này, đặc biệt là kênh báo viết trong bối cảnh toàn cầu hoá thông tin hiện
nay vẫn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là ở hướng phân tích nội dung thông
điệp truyền thông, vì hướng nghiên cứu này cho thấy những diễn tiến xã hội trong
thực tế được lưu lại trong nội dung và cách thể hiện thông điệp như
là con đường cơbản diễn ra trong bối cảnh xã hội cụ thể về các sự kiện xã hội cụ thể, trong đó có đối
tượng chúng tôi lựa chọn là phân tích thông điệp về gia đình
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, chúng tôi nhận thấy vẫn còn
những vấn đề học thuật cần được tiếp tục giải quyết như sau:Về cách tiếp cận: Nghiên cứu liên ngành đang là xu hướng cơ bản của khoa
học hiện đại trong đó có khoa học xã hội và nhân văn, mà một phần của hệ thống
tri thức này là báo chí học và xã hội học Hướng tiếp cận liên ngành của báo chí
học và xã hội học trong nghiên cứu truyền thông đại chúng sẽ tạo điều kiện để
nhận thức đối tượng học thuật cụ thể ở đây là nội dung thông điệp
về gia đình trênbáo chí một cách toàn diện khi xem xét thông điệp trong mối quan hệ với kênh
truyền như là mối quan tâm cơ bản của báo chí học Hướng nghiên cứu này lại
được sự hỗ trợ trên cả hai bình diện: xã hội học truyền thông đại chúng và phương
pháp nghiên cứu truyền thông đại chúng Điều cần nhấn mạnh rằng, phương pháp
phân tích nội dung thông điệp để nhìn thấy những kết quả định lượng và định tính
trong một dung lượng mẫu đáng tin cậy ở những kênh và thời gian xác định như
nói ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu dưới đây, có khả năng mang lại
những kết quả được thuyết phục bằng ý nghĩa thực chứng
Như đã nói ở trên, hướng nghiên cứu liên ngành được vận dụngtrong nghiên
cứu này còn dựa trên hệ thống tri thức về xã hội học gia đình, khi xem gia đình là
một thiết chế xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản của xã hội: táitạo nguồn nhân
lực và thực hiện quá trình xã hội hoá đối với các thành viên trong gia đình Sự hấp
dẫn từ hướng tiếp cận này gắn với những biến đổi về cơ cấu và chức năng của gia
đình trong quá trình vận động từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia
Trang 39Ở phần tổng quan, luận án hướng đến đến các vấn đề cơ bản:
về nghiên cứutruyền thông đại chúng, nghiên cứu nội dung thông điệp truyền thông, nghiên cứu
thông điệp về gia đình trên báo chí Cách phân chia như vậy cho thấy được sự quan
sát bao quát về nghiên cứu truyền thông đại chúng trong diễn tiến lịch sử trong
phạm vi quốc tế và quốc gia
Luận án tập trung vào việc quan sát các công trình hướng tới mục đích
nghiên cứu nội dung thông điệp truyền thông và nghiên cứu thông điệp về gia
đình Thứ tự các vấn đề được trình bày trên đây chỉ ra rằng, nền móng cơ bản của
các hướng nghiên cứu chủ đạo trong truyền thông đại chúng và mối quan tâm tập
trung của chúng tôi vào đối tượng học thuật được lựa chọn và nói
rõ ở mục đíchnghiên cứu của luận án này
Nhận xét khái quát là, nền tảng tri thức lý thuyết được hình thành trong giai
đoạn đầu nghiên cứu phát sinh ở hai nền học thuật lớn là Mỹ và Đức, đã xác định
những định hướng nghiên cứu lý thuyết cơ bản và cả các nghiên cứuứng dụng được
tiến hành trong thực tế trong sự quan tâm đến các khái niệm cơ bản tạo nên hệ
thống tri thức lý thuyết truyền thông bao gồm các yếu tố: Nguồn tin, thông điệp,
kênh, công chúng và hiệu quả Những mắt khâu này là cơ sở lý thuyết để chỉ ra các
đề tài nghiên cứu cụ thể, tạo nên mối quan tâm của giới học thuật bao gồm các nhà
chính trị học, xã hội học, báo chí học, marketing…
Trong phạm vi quan tâm của mình, luận án nhấn mạnh đến các công trình
nghiên cứu theo hướng phân tích nội dung thông điệp truyền thông.Mặc dù hướng
nghiên cứu này được quan tâm sau hướng nghiên cứu công chúng nhưng nó rất có ý
nghĩa vì tập trung vào việc trả lời hai câu hỏi cơ bản: Thông điệp nói gì và thể hiện
như thế nào trên mặt báo thông qua các thể loại báo chí để hình thành nên tác phẩm
Trang 40chúng từ thông điệp liên quan đến giá trị, quan hệ, chức năng của gia đình được giới
học giả theo hướng hàn lâm và cả hướng ứng dụng đề cao Đây là một gợi ý để chúng
tôi sử dụng tri thức của những nghiên cứu có trước trong công trình của mình
Trong bối cảnh chung đó, hoạt động nghiên cứu và đào tạo của các cơ quan
giảng dạy và nghiên cứu về truyền thông đại chúng, nhất là ở Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, hướng tiếp cận này rất được coi trọng Công trình mong muốn có sự
đóng góp nhất định trên phương diện học thuật từ nghiên cứu
“Thông điệp về giađình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí
Minh" góp phần củng cố thêm về mặt lý luận và thực tiễn cho những nghiên cứu
truyền thông đại chúng trong việc truyền tải thông điệp về gia đìnhtrong thời gian
được quan sát, đồng thời đưa ra những đề xuất đối với các tờ báo trên, nhằm góp
phần xây dựng gia đình Việt Nam bền vững