1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các giải pháp cho sự phát triển bền vững ở việt nam

30 529 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Cho Sự Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam
Người hướng dẫn PT. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Môi trường và Phát triển Bền vững
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 339 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy luật tiến hóa,trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiện từ động vật.. Mối quan hệ môi trường và sự tồn

Trang 1

Lời nói đầu

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệmật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sựtồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên".( Theo điều 1, luật bảo vệ môitrường của Việt Nam.)Không thể phủ nhận tầm quan trọng của môi trường đốivới cuộc sống của con người Ngay từ khi xuất hiện, con người đã biết khai thácthiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình Dần dần, con người muốn thỏamãn nhiều hơn nên cũng tác động mạnh mẽ hơn tới môi trường Ngược lại, môitrường cũng có những tác động lớn tới cuộc sống của con người Những tác độngqua lại giữa môi trường và con người đang diễn ra từng ngày từng giờ và làmthay đổi hay biến đổi đời sống của nhân loại

Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn: dân số, lươngthực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái Năm cuộc khủng hoảng này đều liênquan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người cónguy cơ suy giảm Mặt khác môi trường đang bị phá hoại và ô nhiễm nặng nềcũng là một phần nguyên nhân gây nên 5 cuộc khủng hoảng trên Có thể nói thếgiới đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới, đó chính là cuộc khủnghoảng môi trường Mà nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng này chính làcon người, tuy nhiên cũng chỉ có con người mới có thể khắc phục được tình trạngnày Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triểncuộc sống của con người

Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài mối quan hệ giữa con người,xãhội và tự nhiên, môi trường để viết tiểu luận Dù đã cố gắng nhưng chắc chắn vẫnmắc phải một số khuyết điểm khi viết, vì vậy kính mong thầy xem xét kỹ lưỡng

và sửa chữa những sai sót không mong muốn ấy Em xin chân thành cảm ơn thầy

Mối quan hệ biện chứng giữa con người, xã hội và môi trường

Trang 2

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè,nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xãhội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.

2.Phân loại

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

 Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tácđộng của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở,đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người cácloại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng,đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộcsống con người thêm phong phú

 Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó lànhững luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhaunhư: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan,làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuônkhổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làmcho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

 Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồmtất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong

Trang 3

cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viênnhân tạo

3.Chức năng của môi trường

Môi trường có các chức năng cơ bản sau:

 Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật

 Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạtđộng sản xuất của con người

 Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trongcuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

 Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới conngười và sinh vật trên trái đất

 Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lươngthực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiếtcho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loạikhông gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới.Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làmcho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi

II Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên

Tự nhiên theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất vô cùng vô tận Quá

trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy luật tiến hóa,trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiện từ động vật

Sự ra đời của con người không chỉ là kết quả của các quy luật sinh học màquan trọng hơn là kết quả của các quá trình lao động Đây là quá trình con ngườitác động vào giới tự nhiên, khai thác và cải biến giới tự nhiên để đáp ứng nhu cầutồn tại của mình Chính trong quá trình lao động, cấu tạo cơ thể của con ngườingày càng hoàn thiện hơn và cũng chính trong quá trình lao động, nhu cầu traođổi, hợp tác đã làm ngôn ngữ xuất hiện Lao động và ngôn ngữ là hai sức kíchthích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của con người, tâm lý động vật thành ýthức

Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành các quan hệ giữa ngườivới người, quá trình chuyển biến từ động vật thành người cũng là quá trìnhchuyển biến từ cộng đồng mang tính bầy đàn, hành động theo bản năng thànhmột cộng đồng mới khác hẳn về chất, ta gọi là xã hội Đây cũng là quá trìnhchuyển biến từ vận động sinh học thành vận động xã hội

Trang 4

Vậy xã hội là hình thái vận động cao nhất của thế giới vật chất Hình thái vậnđộng này lấy con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nềntảng Xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cánhân, "là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người".

Như vậy, xã hội là bộ phận đặc thù của tự nhiên

Tính đặc thù của bộ phận này thể hiện: phần còn lại của tự nhiên chỉ cónhững nhân tố vô ý thức và mù quáng tác động lẫn nhau; còn trong xã hội, nhân

tố hoạt động là những con người có ý thức, hành động có suy nghĩ và theo đuổinhững mục đích nhất định Hoạt động của con người không chỉ tái sản xuất rachính bản thân mình mà còn tái sản xuất ra giới tự nhiên

III Mối quan hệ con người, xã hội và môi trường, tự nhiên

1.1 Sự tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên và xã hội, con người

a Mối quan hệ môi trường và sự tồn tại, phát triển của con người:

Trong quá trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quyluật tiến hóa, trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiện từ độngvật Ở trình độ mông muội, khi con người chỉ biết chủ yếu hái lượm những sảnphẩm có sẵn trong tự nhiên thì hầu như con người bị giới tự nhiên hoàn toànthống trị Cuộc sống của con người phụ thuộc chủ yếu vào môi trường tự nhiên

Ở trình độ văn minh cao hơn, nhất là khi khoa học - kỹ thuật phát triển thì conngười đã từng bước chế ngự được tự nhiên, biết khai thác tự nhiên phục vụ cholợi ích, nhu cầu của mình Nhiều ngành nghề được hình thành từ những điều kiện

có sẵn của môi trường tự nhiên như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, cácngành khai thác, Song nhìn chung, môi trường tự nhiên vẫn giữ vai trò to lớntrong việc tổ chức, phân công lao động, phân bố lực lượng sản xuất và tạo điềukiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quá trình sản xuất, do đó ảnh hưởng đếnnăng suất lao động, đến tốc độ phát triển của xã hội

Con người tồn tại và phát triển cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là thỏa

mãn những nhu cầu của bản thân, muốn đạt được mục đích ấy thì phải thông qualao động Về lao động sản xuất, C.Mac viết: "lao động, trước hết là một quá trìnhdiễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của

Trang 5

và tự nhiên Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách làmột lực lượng của tự nhiên" Qua định nghĩa này về lao động sản xuất và tự nhiên

ở một ý nghĩa nào đó, là hai lực lượng tự nhiên quan hệ với nhau, tác động đếnnhau Lao động không chỉ đơn thuần là một hành vi tự nhiên mà còn là một hành

vi xã hội, hành vi có ý thức của con người C.Mac đã chỉ ra rằng: "chúng ta giảđịnh lao động dưới một hình thái mà chỉ con người mới có được mà thôi Connhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việc xâynên những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải

hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏinhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xâydựng chúng ở trong đầu mình rồi" Như vậy, lao động là hoạt động có ý thức củacon người tác động vào thiên nhiên nhằm cải biến những đối tượng trong tự nhiênthành những giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu của mình Ở đây, lao động làhoạt động sản xuất riêng của con người , của xã hội loài người Hoạt động này tạo

ra một phương thức tuần hoàn vật chất đặc thù không có trong tự nhiên: quá trìnhkhai thác, cải biến tự nhiên, chuyển hóa tự nhiên thành những giá trị sử dụng chocon người, sự tuần hoàn có tính chất sản xuất Bên cạnh đó, con người không chỉtồn tại trong môi trường xã hội mà còn tồn tại trong môi trường tự nhiên, do vậy,hoạt động của con người không chỉ tuân theo những quy luật xã hội mà còn phụthuộc vào những quy luật của tự nhiên Quy luật xã hội và quy luật tự nhiên gắn

bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động của con người, họat động lao động sản xuấtcũng không phải ngoại lệ Để đạt được sự phát triển lâu bền của xã hội, một mặt,con người phải tôn trọng và tuân theo những quy luật của tự nhiên, có như vậymới đảm bảo được những cơ sở tự nhiên cho sự tồn tại của xã hội Theo Mác, conngười không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thếgiới hữu hình bên ngoài Sự tồn tại và phát triển của con người ngay từ khi mớixuất hiện đã phụ thuộc vào tự nhiên Chính vì vậy, khi con người bất chấp quyluật, phạm vi, những nguyên tắc đảm bảo cho sự phát triển bền vững, biến khaithác thành chiếm đoạt tự nhiên thì môi trường tự nhiên không phải chỉ gây khókhăn cho quá trình sản xuất mà còn đe dọa đến sự sống còn của toàn xã hội

b Môi trường ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội?

Quá trình lao động của con người cũng nhằm mục đích phát triển kinh tế xãhội Vậy môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội như thế nào?Trước hết, phải hiểu, phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiệnsống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất,cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá Phát triển là xu thế chungcủa từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sựphát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng

Trang 6

của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môitrường

Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưuthông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, nănglượng, sản phẩm, phế thải Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với cácthành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn

đó Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo.Tác độngcủa hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môitrường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây

ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiênđồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suythoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây rathảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực

Trong quá trình lao động, con người cải thiện đời sống của mình và cũngđồng thời phát triển xã hội Hay nói cách khác, trong thời đại ngày nay, conngười trở thành trung tâm của sự phát triển Sự phát triển bắt nguồn từ con người

là sự phát triển bền vững nhất Tuy nhiên, hiện nay con người đang làm gì đểphát triển chính mình? Rõ ràng, sự khác biệt giữa con người với những sinh vậtkhác là con người có ý thức, do đó sự tác động một cách nhân tạo đến tiến trìnhphát triển, tức là hoạt động có ý thức, là quan trọng nhất Nhưng đôi lúc hoạtđộng có ý thức lại hạn chế con người Vậy thì, đối với sự phát triển của conngười, ý thức quan trọng hơn hay phần sinh học của con người quan trọng hơn?Thực ra chưa ai đặt ra câu hỏi này, ai cũng xem phát triển là một tiến trình tựnhiên mà không xem ý thức là một yếu tố tham gia vào quá trình phát triển củacon người Thậm chí, người ta chỉ mới xem ý thức như là một dấu hiệu để chứng

tỏ mình là con người Càng ngày đối diện với sự xuất hiện của các khái niệm nhưnền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, vấn đề tư tưởng người ta càng thấyrằng các sản phẩm của ý thức đã tham gia một cách nhộn nhịp hơn vào tiến trìnhphát triển Cần phải phân định tỷ lệ - hay vai trò của những yếu tố tự nhiên vànhững yếu tố sinh học phát triển tự nhiên của con người với sự tham gia của ýthức Chúng ta không có năng lực để đo đạc một cách chính xác nhưng chúng tahoàn toàn có thể dự báo được con người phải nhận ra giới hạn hay nhận ra sự rủi

ro mà hoạt động ý thức mang lại Phải nói rằng, do các hoạt động mang chấtlượng ý thức cải tạo thiên nhiên để phát triển mà con người đang phá vỡ sự cânbằng sinh thái và tiêu diệt các nguồn sống của mình

Trang 7

1.2 Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên

Có nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, trong đóquan trọng nhất là trình độ phát triển của xã hội và việc nhân thức, vận dụng quyluật tự nhiên, quy luật xã hội vào hoạt động thực tiễn của con người

a Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triểncủa xã hội

Lịch sử xã hội là sự tiếp tục lịch sử của tự nhiên Chỉ có quan hệ với nhaucon người mới làm nên lịch sử của mình Nhưng chính quá trình quan hệ với giới

tự nhiên con người đã cải biến giới tự nhiên Thông qua hoạt động của mình, conngười làm cho lịch sử xã hội và lịch sử tự nhiên gắn bó và quy định lẫn nhau Sựgắn bó và uy định lẫn nhau ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội màtiêu chí để đánh giá nó là phương thức sản xuất - cách thức sản xuất ra của cải vậtchất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định của con người Sự ra đời của phươngthức sản xuất mới cao hơn những phương thức sản xuất trước đó đã quyết địnhnhững chuyển biến về chất của xã hội loài người, đưa xã hội loài người từ môngmuội, dã man sang xã hội văn minh Cũng chính phương thức sản xuất quy địnhtính chất của mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên vì mỗi phương thức sản xuấtkhác nhau sẽ có những công cụ lao động khác nhau để khai thác giới tự nhiên, sẽ

có những mục đích tiến hành sản xuất khác nhau Khi công cụ lao động thay đổi,khi mục đích sản xuất của mỗi chế độ xã hội thay đổi thì tính chất của mối quan

hệ giữa xã hội và giới tự nhiên cũng thay đổi

b Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ nhận thức vàvận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn

Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên được thể hiện qua hoạt động của conngười Song "tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phảithông qua đầu óc họ"; bởi vậy mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, ngoài việcphụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội còn phụ thuộc vào trình độ nhậnthức, trước hết là nhận thức các quy luật và việc vận dụng nó trong hoạt độngthực tiễn

Hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của con người là hoạt động chinh phụcgiới tự nhiên Hoạt động này có thể làm giới tự nhiên biến đổi theo hai hướng.Nếu con người tác động vào giới tự nhiên theo đúng quy luật của nó thì conngười đã tạo ra thiên nhiên thứ hai hài hòa đối với sự phát triển của xã hội.Ngược lại, nếu con người bất chấp quy luật, chỉ khai thác, chiếm đoạt những cái

có sẵn trong giới tự nhiên thì sự nghèo nàn đi của giới tự nhiên và việc phá vỡcân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội là không tránh khỏi Con người tàn phá giới

tự nhiên bao nhiêu thì con người sẽ phải gánh chịu hậu quả của nó bấy nhiêu.Đấy là lúc tự nhiên "trả thù" lại con người Anghen đã dạy: "Sự việc nhắc nhở

Trang 8

chúng ta từng giờ từng phút rằng chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tựnhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bênngoài tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta với cả xương thịt, máu mủ và đầu óccủa chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên, vàtất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cảcác sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể

sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác"

Việc nhận thức quy luật của giới tự nhiên và sử dụng những quy luật đó mộtcách có hiệu quả để đảm bảo sự cân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội không táchkhỏi việc nhận thức quy luật của xã hội và sử dụng những quy luật xã hội Đâyvừa là tiền đề, vừa là từng bước thực hiện việc điều khiển một cách có ý thức mốiquan hệ giữa xã hội và tự nhiên Chỉ có nắm vững các quy luật của xã hội và triệt

để vận dụng nó,con người mới xác định được đúng đắn mục đích của quá trìnhsản xuất và mới có ý thức tự giác lựa chọn những công cụ, phương tiện hợp lý đểthực hiện mục đích, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của toàn xã hội trongmối quan hệ hài hòa tự nhiên - xã hội

2 Thực tiễn

2.1.Tiến trình phát triển của xã hội loài người và mối quan hệ giữa xã hộiloài người với môi trường

a.Xã hội nguyên thủy

Xã hội nguyên thủy được đặc trưng bởi cuộc sống bầy đàn Công cụ sản xuấtthô sơ và nền sản xuất chưa hình thành Xã hội cộng sản nguyên thủy dựa trênnền kinh tế hái lượm, săn bắn Với phương thức kinh tế này, con người chưa táchkhỏi tự nhiên, họ bị phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên sự hiểu biết của ngườinguyên thủy, những hoạt động của họ chưa làm thay đổi thế giới tự nhiên, sự lưuthông vật chất giữa người và tự nhiên chưa có sự khác biệt so với bản thân sựtuần hoàn vật chất của chính bản thân lưu thông vật chất của giới tự nhiên Nódựa chính ngay trên sự tuần hoàn của giới tự nhiên để sinh tồn Nói khác đi, nóchưa tạo ra nền sản xuất của mình, do vậy chưa hình thành một sự tuần hoàn vậtchất đặc thù giữa xã hội và tự nhiên Chính điều này khiến cho con người và xãhội loài người nguyên thủy tồn tại trong một thể hòa hợp đồng nhất với giới tựnhiên Cố nhiên với trạng thái đồng nhất này, vấn đề môi trường chưa xuất hiện b.Làn sóng văn minh nông nghiệp

Loài người bước vào đời sống kinh tế của mình bằng việc phát minh ra nôngnghiệp và bằng nông nghiệp, loài người đã tạo ra nền sản xuất của chính mình.Nền sản xuất này có đặc điểm cơ bản: Sản xuất nông nghiệp có đối tượng củamình là cây trồng và vật nuôi Con người tác động vào cây trồng vật nuôi để sản

Trang 9

xuất ra lương thực thực phẩm duy trì sự sinh tồn của mình Nó dựa vào quy luậttrao đổi chất của bản thân giới tự nhiên để sản xuất ra của cải cho mình Sản xuất

ở đây là quá trình con người tác động vào cây trồng, thuần hóa và nuôi dưỡng súcvật, qua đó thu về cho mình những sản phẩm cần thiết để nuôi sống mình Háilượm và săn bắn là chiếm hữu trực tiếp từ tự nhiên cũng chính những nguồnlương thực, thực phẩm tồn tại trong tự nhiên Sản xuất nông nghiệp là con ngườichủ động điều khiển và kiểm soát quá trình sinh sản của sinh vật để thu đượcnhững sản phẩm cần cho sự sống của mình Tóm lại, nền kinh tế của làn sóngnông nghiệp là nền kinh tế sinh thái Nó tiến triển, tiến hóa trong sự cân bằng vàbao dung của giới tự nhiên, con người, xã hội hòa hợp với giới tự nhiên

c.Cách mạng công nghiệp và làn sóng văn minh công nghiệp

Nhân loại chuyển vào thời đại phát triển bằng cuộc cách mạng công nghiệpthiết lập hệ phát triển thị trường - công nghiệp và tạo ra làn sóng công nghiệp.Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bản chất nền kinh tế tự nhiên sinhtồn, tự cung tự cấp, thành nền kinh tế thị trường theo đuổi mục tiêu sản xuất ragiá trị thặng dư và chuyển nền kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế côngnghiệp Vậy cuộc cách mạng công nghiệp và làn sóng công nghiệp đã làm thayđổi mối quan hệ giữa con người, xã hội với giới tự nhiên, với môi trường như thếnào?

Thứ nhất, làn sóng công nghiệp được diễn ra trong hệ kinh tế thị trường vàđược thúc đẩy bởi các quy luật của kinh tế thị trường Nếu trong làn sóng nôngnghiệp kinh tế là kinh tế sinh tồn thì trong làn sóng công nghiệp, hoạt động kinh

tế là nhằm vào việc sản xuất ra giá trị thặng dư Ở đây quy luật giá trị thặng dư làquy luật kinh tế cơ bản Dưới sự thúc đẩy của quy luật giá trị thặng dư, sức sảnxuất có một sự bành trướng không giưới hạn Đến lượt mình, chính quy luật giátrị thặng dư trở thành động lực mạnh mẽ nhất đối với việc khai thác thiên nhiên Thứ hai, kỹ thuật máy móc đã tạo ra cho nền sản xuất xã hội một phương tiệnmạnh mẽ nhất để tăng sức sản xuất của lao động lên vượt khỏi những giới hạn tựnhiên của con người Bằng cuộc cách mạng công nghiệp, nhân loại đã mở ra mộtthời đại khai thác đại quy mô giới tự nhiên.Có thể nói, cách mạng công nghiệptạo ra bộ máy sản xuất công nghiệp với kỹ thuật và máy móc mạnh để khai thác,chế biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Thứ ba, nếu trong làn sóng nông nghiệp, con người dùng hệ sinh thái và quyluật sinh học để sản xuất ra các giá trị sử dụng chủ yếu để duy trì cuộc sống củamình, thì làn sóng công nghiệp lại tạo ra bộ máy công nghiệp khai thác và chếbiến các vật chất tự nhiên thành những hàng hóa trong quá trình theo đuổi giá trịthặng dư Trong mối quan hệ này, sự tăng trưởng kinh tế ngày càng ít phụ thuộcvào nông nghiệp và ngày càng tăng sự phụ thuộc vào sự thăng tiến, phát triển của

Trang 10

bộ máy công nghiệp Sự phát triển của nền công nghiệp là tỷ lệ thuận, hơn nữa, tỷ

lệ cấp số nhân với việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên Có thể nói,cách mạng công nghiệp tạo ra làn sóng công nghiệp, tạo ra công nghiệp máy móc

là tạo ra thời đại công nghiệp khai thác Chỉ số phát triển kinh tế do vậy được đobằng quy mô và sức sản xuất điệ, than, dầu khí, sắt thép, xi măng và máy móc.Một nền công nghiệp phát triển và hùng mạnh do vậy được đo bằng lượng máymóc, điện, than, sắt, xi măng sản xuất ra trong một năm và mức sản cuất thực ra

là mức khai thác tài nguyên tính trên đầu người

Thứ tư, cùng với bộ máy công nghiệp dựa trên ký thuật máy móc, làn sóngcông nghiệp là làn sóng trong đó kinh tế phát triển dựa vào việc cơ khí hóa, tăngcường sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu và sản phẩm được sản xuất dựa trêntiêu phí nhiều vật liệu và năng lượng Do vậy, nền kinh tế là bộ máy công nghiệpchế biến tài nguyên và nền kinh tế của làn sóng công nghiệp là nền kinh tế tàinguyên

Thứ năm, cùng với quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế là quá trình đô thịhóa phát triển mạnh, hình thành những trung tâm dân cư rộng lớn, từ đây hìnhthành nền văn minh đô thị công nghiệp hóa - một kiểu tổ chức xã hội và mộtkhông gian, một lối sống công nghiệp đô thị mới được xác lập khác hẳn với tổchức xã hội trong làn sóng nông nghiệp

Thứ sáu, kèm theo với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa là quá trìnhtăng cường mạnh mẽ mức phát thải công nghiệp và rác thải tăng lên một cáchđáng kể

Có thể nói, cách mạng công nghiệp và làn sóng công nghiệp đã tạo ra mộtmối quan hệ mới giữa con người và giới tự nhiên Mối quan hệ này đã phá vỡ sựhòa hợp giữa con người, xã hội và giới tự nhiên Vì mục tiêu phát triển và nhữnglợi ích khác nhau của bộ máy kinh tế thị trường công nghiệp, và bằng bộ máycông nghiệp, con người và xã hội công nghiệp đã mở ra một thời đại phát triển,đồng thời cũng tạo ra một phương thức phát triển dựa trên việc tăng cường mạnh

mẽ khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên trở thànhmục tiêu tấn công của bộ máy công nghiệp Dưới sự thúc đẩy của quy luật giá trịthặng dư và với bộ máy công nghiệp khỏe mạnh nền kinh tế như một cơ thể đóikhát, bằng mọi cách, mọi phương tiện nó tìm kiếm các nguồn tài nguyên và khaithác một cách mạnh mẽ những nguồn tài nguyên không tái tạo được Có thể nói,cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một sự nhảy vọt trong lực lượng sản xuất,hình thành một lực lượng sản xuất khổng lồ cho nhân loại, đồng thời tạo ra mộtlực lượng theo tỉ lệ thuận năng lực khai thác tài nguyên thiên nhiên Cùng với quátrình công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên thiên nhiên, bộ máy công nghiệp

và xã hội công nghiệp đã đụng chạm đến tất cà các chức năng của môi trường

Trang 11

Không chỉ tài nguyên thiên nhiên bị khai thác và dẫn đến cạn kiệt, bị suy thoái

mà cả sinh quyển, sinh thái, không gian sống và nơi chứa phế thải cũng bắt đầu bịtổn thương

Trên đây ta đã thấy, giới tự nhiên là cái nôi của loài người, đồng thời là nềntảng trên đó con người tổ chức cuộc sống với mọi hoạt động xã hội và kinh tế.Tuy nhiên, sự phát triển của làn sóng công nghiệp hãy còn nawmg trong phạm vimức chịu đựng của môi trường tự nhiên của trái đất Những tổn thương cục bộ do

sự phát triển của làn sóng công nghiệp chưa dẫn tới mức trầm trọng gây nguy cơsụp đổ sự cân bằng giữa giới tự nhiên và con người ở phạm vi toàn cầu

d Kinh tế thị trường hiện đại, cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầuhóa - Làn sóng hậu công nghiệp Sự phát triển hiện đại

C.Mac viết: " Công nghiệp hiện đại không bao giờ xét và coi hình thức hiện

có của quá trình sản xuất là hình thức dứt khoát Vì vậy cơ sở kỹ thuật của nó là

có tính chất cách mạng, còn cơ sở của tất cả các phương thức sản xuất trước kia

về căn bản là bao thủ Nhờ dùng máy móc, nhờ cá qua trình hóa học và cácphương pháp khác nền công nghiệp hiện đại không ngừng đảo lộn những cơ sở

kỹ thuật của nền sản xuất…" Như vậy làn sóng công nghiệp không chỉ dừng ởcuộc cách mạng công nghiệp Trong tiến trình kinh tế thị trường - công nghiệp,quy luật giá trị thặng dư và quy luật tích lũy tư bản, đã đặt kỹ thuật sản xuất tồntại trong một tiến trình đổi mới, tiến bộ phát triển không ngừng

Đến lượt mình sự phát triển của kỹ thuật đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với sựphát triển khoa học Mặt khác, chính sự tiến bộ của kỹ thuật và của sự phát triểncủa kinh tế đã tạo ra cơ sở kinh tế và kỹ thuật chắc chắn cho khoa học phát triển.Thặng dư kinh tế không chỉ là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển của khoahọc kỹ thuật Chính thặng dư được tích lũy lại và chuyển thành tư bản là cơ sởkinh tế cho việc phát triển của khoa học và kỹ thuật Ph.Ănghen đã từng chỉ ra ,nền văn minh nhân loại được xây dựng, phát triển trên nguồn thặng dư do chínhnhân loại tạo ra Có thể nói bộ máy kinh tế thị trường - công nghiệp, đồng thời là

bộ máy tự tiến hóa, phát triển lực lượng sản xuất, mà trọng tâm là khoa học kỹthuật

Sự phát triển từ lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Vào giữa thế kỷ XX, lạimột cuộc đại cách mạng trong lực lượng sản xuất của xã hội xảy ra

* Đó là cách mạng khoa học - công nghệ Gọi là cách mạng khoa học côngnghệ vì ở đây diễn ra 2 cuộc cách mạng nằm trong một tiến trình chung của cuộccách mạng lực lượng sản xuất Cuộc cách mạng khoa học đã đem lại sự đảo lộntrong khoa học và cuộc cách mạng này đã đem lại một cơ sở mới cho con ngườigiải quyết mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên Nó không chỉ là nhữngnhận thức chung về thế giới, mà còn đi sâu vào những nhận thức mới về quy luật

Trang 12

vận động của thế giới vậy chất, một bức tranh mới về thế giới vật chất được hìnhthành Điều quan trọng hơn, những khám phá khoa học về thế giới vật chất đãtrực tiếp dẫn tới một cuộc cách mạng trong công nghệ sản xuất Đặc trưng củacách mạng khoa học công nghệ là thông qua công nghệ và quản lý, khoa học trởthành một lực lượng sản xuất trực tiếp Từ đặc trưng này ta thấy, phương thức sảnxuất của xã hội đã được nâng cao, thay đổi về chất Xã hội không chỉ dừng ở bộmáy chế biến tài nguyên thành những giá trị sử dụng cần thiết cho mình Bằngnhững khám phá về quy luật vận động của thế giới vật chất và bằng những phátminh công nghệ mới con người đã tạo ra những lực lượng sản xuất bằng conđường hoàn toàn mới, sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ hoàn toàn mới Côngnghệ điện tử, công nghệ di truyền là trọng tâm và đột phá của cuộc cách mạngkhoa học - công nghệ Với công nghệ này đã mở ra một thời đại mới - làn sónghậu công nghiệp, làn sóng của khoa học công nghệ Công nghệ đã làm thay đổihoàn toàn xu hướng của làn sóng công nghiệp Nếu bộ máy công nghiệp là bộmáy chế biến tài nguyên thì làn sóng khoa học công nghệ hiện đại - công nghệđiện tử hướng sự phát triển vào quá trình làm chủ các bí mật của thế giới vật chất

và bằng công nghệ chuyển thành những lực lượng mạnh mẽ khổng lồ của thế giớivật chất thành của cải cho xã hội loài người Nếu máy móc nối dài cánh tay củacon người, giải phóng lao động cơ bắp, là sự thắng lợi của con người đối với tựnhiên thì khoa học công nghệ hiện đại là sự giải phóng những lực lượng vật chấttiềm ẩn trong những quy luật vận động vật chất và biến chúng thành những lựclượng sản xuất cho con người Năng lượng nguyên tử, công nghệ điện tử, côngnghệ sinh học… là những thành tựu của con người chỉ ra một phương thức sảnxuất hoàn toàn mới Đó là một cuộc đại nhảy vọt dựa trên sự giải phóng sức sảnxuất từ sự khám phá những quy luật của thế giới vật chất và công nghệ chuyểnnhững lực lượng vật chất đó thành lực lượng sản xuất cho nhân loại

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi phương thức lưu thônggiữa con người và tự nhiên Nó làm thay đổi phương thức lưu thông vật chất giữacon người và giới tự nhiên Phương thức này đem lại một sự nhảy vọt trong năngsuất, hiệu quả, đồng thời tránh được những tổn thương môi trường Mặt khác,cũng chính sự phát triển của khoa học công nghệ mới và nội dung của sự pháttriển, kinh tế đã cung cấp cho xã hội cơ sở khoa học công nghệ và cơ sở kinh tế

để giải quyết những hiệu ứng xấu trong quá trình sản xuất và trong quá trình sốngcủa xã hội hậu công nghiệp

Có thể nói, cách mạng khoa học công nghệ là một bước nhảy vọt trong lựclượng sản xuất, làm thay đổi quan hệ giữa con người và tự nhiên, xã hội và tựnhiên Cách mạng khoa học công nghệ đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanhchóng, đồng thời, hình thành một kiểu quan hệ mới giữa con người, xã hội và tựnhiên theo hướng tái lập sự hòa hợp, sự cân bằng giữa con người và tự nhiên

Trang 13

* Trong những năm qua, cách mạng khoa học công nghệ đã đẩy nền kinh tế củathế giới vào một thời đại mới: thời đại phát triển hiện đại Thời đại phát triển hiệnđại được tạo lập trên 3 cơ sở: cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế thị trườnghiện đại và toàn cầu hóa Kinh tế thị trường hiện đại là một hệ thống kinh tế mới,trong đó nền kinh tế trở thành kinh tế vĩ mô với các quy luật kinh tế vi mô làmnền tảng Chính những quan hệ vi mô này làm cho nền kinh tế trở thành một cơcấu chung Trong kinh tế thị trường hiện đại, nhà nước không đơn thuần là một

bộ máy hành chính, một bộ máy chính trị Nó trở thành một nhân tố quyết địnhcủa sự phát triển với chức năng mới - chức năng phát triển Đây là chức năng đặcbiệt và cơ bản của nhà nước hiện đại Nó là người điều tiết thị trường và duy trìcho sự ổn định và bền vững Với vai tò này, nhà nước có ý nghĩa đặc biệt đối vớiviệc giải quyết vấn đề môi trường

Toàn cầu hóa là xu thế đặc trưng của thời đại phát triển hiện đại Toàn cầuhóa được thúc đẩy bởi lực lượng sản xuất to lớn và thể hiện một trình độ pháttriển cao của xã hội hóa Ta biết rằng, trong làn sóng công nghiệp, nhiều khu vựccủa trái đất còn nằm ngoài sự tác độn, khai thác và kiểm soát của con người Đó

là những kho dự trữ to lớn, giàu có cho một quá trình phát triển trong tương lai,những dự trữ của trái đất còn hơn sức khai thác của con người Toàn cầu hóa,cũng tức là con người đã mở rộng phạm vi tác động, khai thác và kiểm soát củamình trên toàn bộ môi trường của trái đất Nó đã mở đến những cái kho dự trữcuối cùng của giới tự nhiên

Trên đây ta thấy, làn sóng công nghiệp đã lâm vào mặt mâu thuẫn của sựphát triển: dường như trong khi thúc đẩy sự phát triển thì sự phát triển đó lại tấncông, làm tổn thương đến chính ngay nền tảng trên đó xã hội tổ chức toàn bộ sựphát triển của mình Ở đây, một viễn cảnh không mấy tốt đẹp hiện ra: một ngàynào đó mọi nguồn tài nguyên sẽ cạn kiệt và môi trường trở nên tồi tệ trong đó conngười không thể sống được nữa và thế là thế giới sụp đổ Trước viễn cảnh này,con đường sống của nhân loại tất yếu là vãn hồi sự cân bằng, hòa hợp giữa conngười, xã hội và giới tự nhiên, đồng thời, để thực hiền yêu cầu này, cơ hồ conđường phải quay trở lại điểm xuất phát, quay trở lại thời đại của làn sóng nôngnghiệp Quay lại làn sóng nông nghiệp tức là thụt lùi, phản phát triển Thực ra hệkinh tế thị trường - công nghiệp đã đặt tiến trình kinh tế của nhân loại vào mộttiến trình phát triển không ngừng, bất khả kháng không có gì có thể cản được,thành một quy luật thép Thực tế phát triển của loài người đã bác bỏ ý tưởng ngớngẩn, quay trở lại làn sóng nông nghiệp để vãn hồi sự cân bằng quan hệ giữa conngười, xã hội, sự phát triển và môi trường Chính trong nội sinh của hệ kinh tế thịtrường công nghiệp, lực lượng sản xuất tất yếu được phát triển và những cuộccách mạng trong phương thức sản xuất sẽ nổ ra Cũng chính các cuộc cách mạngnày sẽ tạo ra phương thức và những cơ sở tất yếu để giải quyết thỏa đáng mối

Trang 14

quan hệ giữa con người, xã hội và giới tự nhiên, môi trường, hình thành một nềntảng mới cho sự phát triển ở cấp độ cao hơn C.Mac đã từng chỉ ra: "Nhân loạibao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được,

vì khi xét kĩ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng, nảm thân nhiệm vụ ấy chỉ nảysinh khi những điều kiện vật chất giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũngđang ở trong quá trình hình thành."

Hiện nay, ở đầu thế kỉ XXI, khi cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế thịtrường hiện đại, toàn cầu hóa đã đạt tới những trình độ phát triển cao thì cũngchính từ đây vấn đề khủng hoảng môi trường lại phát sinh Đương nhiên, môitrường tổn thương nghiêm trọng xảy ra trong làn sóng hậu công nghiệp, thì đểcho ta một ý niệm hiển nhiên là môi trường bị tổn thương nghiêm trọng, xung độtmôi trường gay gắt đó là hậu quả của làn sóng hậu công nghiệp, của cách mạngkhoa học công nghệ, của kinh tế thị trường hiện đại và của toàn cầu hóa Điềunày có nghĩa là, làn sóng hậu công nghiệp, sự phát triển hiện đại rốt cuộc là làmtrầm trọng thêm vấn đề môi trường, nó không dẫn việc giải quyết mối quan hệgiữa con người, xã hội và tự nhiên vốn có đã có nguy cơ tổn thương trầm trọng từtrong làn sóng công nghiệp

Trên đây, ta đã thấy cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế thị trường hiệnđại và toàn cầu hóa đã tạo ra một cách thức sản xuất mới cho sự phát triển và dovậy, nó tạo ra kiểu quan hệ mới giữa con người, xã hội và giới tự nhiên, do vậy

đó chính là thời đại con người, xã hội và tự nhiên có thể hòa hợp môi trường Vậy

lý do gây xung đột một trường là ở đâu?

Cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế thị trường hiện đại là sự nối tiếptất yếu của làn sóng công nghiệp, do vậy, quê hương, nơi xuất phát của cáchmạng khoa học công nghệ, kinh tế thị trường hiện đại lại là ở các nước côngnghiệp phát triển, nơi xuất phát của cách mạng khoa học công nghiệp và làn sóngcông nghiệp trước đây Điều này cũng có nghĩa là khi bộ phận phát triển nhất củathế giới chuyển sang thời đại hậu công nghiệp, thì đại bộ phận thế giới vẫn đang

ở trong làn sóng nông nghiệp hoặc chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóngcông nghiệp Ta biết rằng, chuyển sang làn sóng công nghiệp, xác lập bộ máycông nghiệp, đồng thời là xác lập nền kinh tế tài nguyên, xác lập trào lưu tấncông vào thế giới tự nhiên

Trên kia ta đã phân tích mối quan hệ giữa làn sóng công nghiệp và giới tựnhiên, và thấy rằng, làn sóng công nghiệp là giai đoạn phát triển của con ngườitạo ra một sự mất cân bằng giữa xã hội và giới tự nhiên, có nguy cơ làm tổnthương trầm trọng môi trường, gây xung đột môi trường Trong điều kiện giờđây, khi làn sóng công nghiệp lan rộng đang còn hiện hữu và phát huy hiệu lực ở

cả một khu vực rộng lớn là khu vực thế giới thứ 3, thế giới đang phát triển Mặt

Trang 15

khác, vấn đề khủng hoảng môi trường giờ đây mang tính toàn cầu song khả nănggiải quyết vấn đề chỉ ở chỗ có phương tiện, có cơ sở, để giải quyết xung đột môitrường, vấn đề quyết định chính là ở chỗ, các quốc gia phát triển hiện đại có thamgia quyết định vào việc bảo vệ môi trường hay không Ta biết rằng, sự phát triểnhiện đại là phát triển dựa trên cách mạng khoa học - công nghệ, nhờ đó có thểtránh được việc tấn công mạnh vào tài nguyên thiên nhiên nhưng thay vì lượngphát thải của nền kinh tế tri thức này vào môi trường chất độc hại và phế thải gâytổn thất nặng nề môi trường, việc phá vỡ tầng oozon, làm nhiệt độ trái đất tănglên, mực nước biển tăng lên,…, có sự tham gia đáng kể của hoạt động kinh tế xãhội của các nước phát triển hiện đại Nhưng những ngoại ứng xấu của hoạt độngkinh tế xã hội của các nước phát triển hiện đại lại chưa thể kiểm soát và chưa cóđược những thể chế hữu hiệu, buộc những nước này giảm mức phát thải, xử lýnhững phát thải gây ô nhiễm tổn thất môi trường của các nước phát triển.

Có thể nói làn sóng công nghiệp đã trở thành lỗi thời song còn hiệu lực mạnh

và vẫn đang tiếp tục thúc đẩy một bộ phận lớn thế giới phát triển, còn làn sónghậu công nghiệp, làn sóng phát triển hiện đại đang hình thành song chưa có thểchế tương thích khiến cho việc giảm thiểu sự suy thoái môi trường thành một tấtyếu trong phát triển kinh tế - xã hội đã tạo ra một sự cộng hưởng làm bùng nổ sựxung đột môi trường Sự phát triển trong điều kiện đan xen các làn sóng chậmphát triển, làn sóng công nghiệp và hậu công nghiệp làm cho trái đất với cái khotài nguyên cổ truyền của nó trở nên chật hẹp, nhỏ bé và ít ỏi Nói cách khác, sựphát triển của nhân loại đã vượt quá khuôn khổ cho phép của môi trường Trái đất

đã không chịu đựng nổi sức tấn công của con người Mối quan hệ giữa con người,

xã hội và giới tự nhiên, môi trường thông qua sự phát triển đã lâm vào trạng tháimất cân bằng, hài hòa giữa con người, xã hội, và giới tự nhiên, môi trường

e Phát triển bền vững - yêu cầu tất yếu của việc tái lập sự cân bằng giữa conngười, xã hội, phát triển và môi trường

Nhân loại đã tạo ra một cỗ máy phát triển, mà sự vận hành của nó là một sựvận động không ngừng tiến lên Nhưng cỗ máy phát triển công nghiệp này dưới

sự thúc đẩy của hệ kinh tế thị trường và cơ sở kỹ thuật công nghiệp, nó có mộtsức bành trướng không có giới hạn Đồng thời nó đặt môi trường Trái đất - mộtgiới tự nhiên hữu hạn, trong một giới hạn chật hẹp, tức sự bành trướng to lớn của

nó Ở một ý nghĩ nhất định, phương thức sản xuất của cỗ máy công nghiệp chứađựng sự xung đột gay gắt giữa sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất với tính cóhạn của môi trường Bởi vậy, vấn đề cố nhiên phải phát triển và mặt khác lại phảiduy trì được trạng thái hài hòa, cân bằng giữa con người, xã hội và tự nhiên.Trước yêu cầu này, đã phát sinh khái niệm về phát triển bền vững Khái niệmphát triển bền vững được ủy ban môi trường và phát triển thế giới nêu ra vào năm1987: "Những thế hệ hiện đại vần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không

Ngày đăng: 30/05/2014, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5.Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam đa dạng sinh học, ngân hàng thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam đa dạng sinh học
Tác giả: Ngân hàng thế giới
1.Giáo trình Triết học Mac-Lenin, Bộ giáo dục đào tạo, NXB chính trị quốc gia Khác
2.Vấn đề văn hóa môi trường ở Việt Nam Khác
3.Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005, ngân hàng thế giới Khác
4.GEO-ấn bản ghi nhanh của UNEP về vấn đề môi trường thế giới Khác
7.Tạp chí hoạt động khoa học Khác
8.Website cục bảo vệ môi trường Khác
9.Website ngân hàng thế giới Khác
10.Bản tóm tắt thông điệp của giám đốc chương trình môi trường thế giới Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w