1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ ( NGUYỄN TUÂN)

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
Tác giả Nguyễn Tuân
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 68,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng chi tiết đầy đủ về giới thiệu chung tác giả tác phẩm, hình tượng sông Đà và ông lái đò, và một số lí luận liên hệ. Trong file này có đầy đủ các ý luận điểm luận cứ cho bất cứ đoạn trích trong tác phẩm

Trang 1

Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân

I Giới thiệu

1 Tác giả

- Nghệ sĩ, nhà văn lớn của văn xuôi Việt Nam hiện đai; là trí thức giàu tinh thần dân tộc

- Nhà văn duy mĩ, suốt đời đi tìm cái đẹp, xem cái đẹp là tôn giáo mà mình tôn thờ Cái đẹp mà tác giả hướng tới mang tính độc đáo, phi thường, lí tưởng

- Phong cách nghệ thuật: độc đáo, tài hoa, uyên bác, thâu tóm trong một chữ "ngông":

+ Ông luôn khám phá sự vật dưới góc độ văn hóa, thẩm mĩ

+ Nhân vật chính luôn được xây dựng là nghệ sĩ tài hoa

+ Là bậc thầy của ngôn ngữ; có vốn ngôn từ giàu có, phong phú; tài năng sử dụng từ ngữ đắc địa

+ Hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, và ông vận dụng những kiến thức đó để tăng khả năng biểu đạt của văn chương

+ Nhà văn có trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú Từ đó đưa ra những so sánh độc đáo, bất ngờ

- Tuy nhiên, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân có sự vận động, chuyển biến qua hai giai đoạn: trước và sau Cách mạng tháng Tám

+ Trước Cách mạng tháng Tám: là nhà văn lãng mạn, bi quan, bất mãn, phủ nhận thực tại xã hội "ối a ba phèng", "kim tiền ô trọc"; đối lập cái tôi với cái ta, quay về quá khứ để ca ngợi vẻ đẹp "vang bóng một thời"

+ Sau Cách mạng tháng Tám: là nhà văn cách mạng với niềm tin tưởng, lạc quan vào thực tại và tương lai; hòa cái tôi vào cái ta chung; say sưa ca ngợi Tổ quốc, con người, nhân dân lao động của hiện tại

2 Tác phẩm

- Tập tùy bút "Sông Đà" (1960) là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà NT thu hoạch trong chuyến đi thực tế đến miền Tây Bắc rộng lớn và hùng vĩ không chỉ

để thỏa mãn khát khao xê dịch, mà chủ yếu là để tìm kiếm, ca ngợi chất vàng của thiên nhiên cùng "thứ vàng mười đã qua thử lửa" ở tâm hồn người dân lao động Tây Bắc

- Tùy bút "Người lái đò sông Đà" rút từ tập "Sông Đà"

-> tác phẩm thành công nhất của tập tùy bút, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám

II Đọc hiểu văn bản

1 Nhan đề và lời đề từ

2 Hình tượng sông Đà

*Giới thiệu chung

- Con sông Đà là một trong những hình tượng nghệ thuật chính của tùy bút Nó tập trung thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm và tình cảm của tác giả

- Con sông Đà hiện lên qua trang văn (trang hoa, tờ hoa) của Nguyễn Tuân không còn là cảnh trí thiên nhiên đơn thuần, mà nó đã trở thành một sinh thể có hồn, có tính cách, tâm trạng với 2 đặc điểm đối lập: hung bạo, dữ dội và hiền hòa, trữ tình, nên thơ Đúng như lời Nguyễn Tuân: "đây là dòng sông lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng, thác lũ ngay đấy"

2.1 Sông Đà hung bạo, dữ dội

a Mở đầu thiên tùy bút, trong lời đề từ, tác giả đã cho thấy tính chất độc đáo và sự hung bạo của dòng sông Nhà văn đã mượn câu thơ của Nguyễn Quang Bích để miêu tả sông Đà:

"Chúng thủy giai đông tẩu

Đà giang độc bắc lưu"

(Mọi dòng sông đều chảy về hướng đông

Chỉ có sông Đà chảy theo hướng bắc)

-> Qua lời đề từ, độc giả không chỉ thấy vẻ đẹp riêng, cá tính mà còn thấy sự ngỗ ngược, dữ dội của dòng sông khi nó không chịu khuôn theo lẽ chảy thông thường

- Hung bạo của sông Đà còn là ở những con thác dữ nơi thượng nguồn Tác giả rất công phu khảo cứu, và liệt kê một loạt con thác sông Đà từ Vạn Yên về xuôi, trong đó có những con thác vô cùng độc dữ, nham hiểm, nó được hình dung là kẻ thù số một của người dân Tây Bắc

b Cảnh đá bờ sông dựng vách thành

- Nhà văn đã khẳng định: Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá, mà nó còn là những cảnh đá bờ sông dựng vách thành

Trang 2

-> như vậy, sự hung bạo dữ dằn của con sông không chỉ có các thác dữ qua việc tác giả liệt kê; mà nó còn được khắc họa ở cảnh tượng những vách đá như thành quách chẹt hai bên bờ sông

+ Hai chữ " vách thành" gợi liên tưởng đến những thành quách kiên cố, vững chãi Ở đây, tác giả dùng từ "vách thành" để miêu tả độ cao chót vót, lởm chởm của những tảng đá dựng thẳng đứng sừng sững nơi sông Đà Nó vừa cho thấy sự hùng vĩ, vừa gợi ấn tượng về sự hung bạo, dữ dội

+ Có vách đá chẹt dòng sông lại: động từ "chẹt" cho thấy những vách đá bóp nghẹt, bó hẹp dòng sông -> diễn tả độ hẹp

+ Hẹp như cái yết hầu: Đây là biện pháp so sánh độc đáo, bất ngờ Tác giả đã dùng một bộ phận cơ thể của con người để khắc họa đặc điểm địa hình một quãng sông Đà

-> Nó vừa gợi cảm giác rõ nét nơi người đọc, vừa thể hiện độ hẹp, sự nguy hiểm của sông Đà nơi đây Chúng ta hình dung dòng nước chảy qua quãng sông này như chảy vào nút thắt mà hai bên đều là đã hiểm trở

- Bằng trí liên tưởng phong phú, tác giả tiếp tục miêu tả độ hẹp của dòng sông qua các cảnh

+ Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách

-> chỉ cần "nhẹ tay" thôi tức là rất khẽ khàng, không cần dùng nhiều sức lực mà đã có thể ném hòn đã sang bờ kia Điều đó chứng tỏ dòng sông ở khoảng này vô cùng chật hẹp

+ Có quãng con nai con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia

-> Nhà văn dùng đôi mắt quan sát sự di chuyển của các loài vật nơi đại ngàn để từ đó khắc họa ấn tượng về độ hẹp Đà giang

- Chính những vách đá sừng sững, chót vót đang chẹt dòng sông lại nên ở khúc sông này còn rất tối, lạnh vì thiếu vắng ánh sáng, nguồn năng lượng mặt trời:

+ Mặt sông chỗ ấy lúc đúng ngọ mới có mặt trời Nguyễn Tuân sử dụng kiến thức về địa lí nhằm miêu tả cảnh: chỉ lúc đúng ngọ tức giữa trưa, khi mặt trời đứng bóng thì mới có ít ỏi tia nắng len lỏi, soi chiếu vào mặt sông; còn dường như suốt ngày nơi đây đều tối tăm, âm u

+ Ngồi khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng thấy lạnh

-> Nhà văn qua cách miêu tả ấn tượng muốn truyền cảm giác đến với độc giả, khiến cho người đọc không chỉ hình dung ra cảnh vật mà như đang cùng chèo đò trải nghiệm bằng cảm xúc rất thực Đến với quãng sông này, mùa hè nóng nực mà vẫn thấy lạnh Có một sự đối lập về xúc cảm rõ nét Trước hết là cái lạnh mà xúc giác, da thịt cảm nhận được khi di chuyển qua nơi thiếu vắng hơi ấm, sức nóng của mặt trời Bên cạnh đó, đây còn là cảm giác lạnh của nỗi

sợ hãi, ớn lạnh, rợn ngợp khi đi qua khúc sông mà hai bên là đá lởm chởm, tối, vắng lặng

+ Chèo thuyền qua khúc sông tối, lạnh, với những vách đá sừng sững hai bên bờ còn làm tác giả liên tưởng đến cảm giác như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên khung cửa sổ trên tầng nhà thứ mấy vừa phụt tắt đèn điện

-> tô đậm, nhấn mạnh cảm giác hụt hẫng, chới với, sợ hãi trước sự tối tăm, rợn ngợp mà nó đem lại

=> Như vậy, trước cảnh đá bờ sông dựng vách thành, ta thấy thuyền qua đây rất khó di chuyển, cần phải có kinh nghiệm, sự khéo léo, kĩ thuật điêu luyện

để chèo lái con thuyền

c Mặt ghềnh Hát Loongs: địa hình hiểm trở; mặt sông chuyển động dữ dội, vần vũ, cuộn xoáy của sóng, gió, đá, nước.

- Nếu ở cảnh đá dựng vách thành tạo cho người đọc cảm giác rợn ngợp, lạnh lẽo thì khi đến với mặt ghềnh Hát Loongs, sông Đà lại đem tới cảm giác sợ hãi trước sự cuồng nộ của nước, sóng, gió đang gào thét, gầm rú Nó sẽ thử thách tài năng, sức mạnh, lòng dũng cảm, kinh nghiệm của người lái đò

- Câu văn dài, chia thành nhiều vế, nhịp điệu nhanh; kết hợp phép điệp liên hoàn, cụ thể là điệp từ, điệp cấu trúc, đặc biệt điệp từ "xô"

-> đã nhấn mạnh, tô đậm, tạo ấn tượng về cảnh dữ dội, sự hung bạo của mặt ghềnh khi sóng, gió, đá, nước gối chuyền lên nhau, dồn đuổi, xô đẩy nhau để truy kích con thuyền Cảnh sóng bọt trắng xóa, gió cuồn cuộn, đá lởm chởm tạo nên sự hỗn loạn, dữ dằn

- Bằng biện pháp đảo ngữ đưa từ láy "cuồn cuộn" lên đầu vế câu

-> Nhằm khắc họa luồng gió vần vũ, cuộn xoáy như cơn lốc, như vòi ròng, như cơn cuồng phong Gió vốn vô hình trở nên hữu hình, gào thét thật đáng sợ

- Biện pháp nhân hóa kết hợp từ tượng thanh "gùn ghè", nhà văn cho ta thấy luồng gió dữ dằn hay sông Đà giờ đây như con thú dữ, con thủy quái đang nổi giận, gầm gừ, giơ nanh vuốt nhằm vồ lấy người lái đò

- Đồng thời, tác giả còn dùng thủ pháp so sánh bất ngờ, độc đáo: sông Đà như kẻ đòi nợ xuýt "Đòi nợ xuýt" nghĩa là đòi người mắc nợ mình một cách vô lí -> từ đó nhằm chỉ ra tính chất hung hăng, hiếu chiến, ngang ngược, ưa gây sự của dòng sông

=> Trước mặt ghềnh cuồng nộ, mức độ nguy hiểm đã tăng lên với người lái đò Thuyền qua đây mà khinh suất tay lái sẽ bị lật ngửa, bị đánh chìm

d Quãng Tà Mường Vát ở phía dưới Sơn La: có những hút nước ngầm Đây là cái bẫy của thần chết bày ra trên dòng sông.

Trang 3

- Bằng công phu trong việc khảo cứu, bằng tài năng miêu tả, Nguyễn Tuân đã biến những hút nước vốn vô tri vô giác hiện hình rõ nét và gào thét trên trang văn Không còn cảnh nước xô đá, đá xô sóng, gió cuồn cuộn, mà giờ đây trên sông Đà xuất hiện những xoáy nước chẳng dễ nhận diện Đó là những cái bẫy

vô cùng nham hiểm, nếu khinh suất tay lái và không có kinh nghiệm thì người lái đò sẽ phải trả giá bằng tính mạng của mình Vậy độ nguy hiểm của hút nước được Nguyễn Tuân miêu tả như thế nào?

- Trước hết, tác giả khắc họa: " trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu"

+ Hai từ "bỗng có" cho thấy hút nước xuất hiện bất ngờ, đột ngột mà con người chưa thể lường trước và hình dung ra được nếu không có kinh nghiệm -> Như vậy, con sông Đà đang bày ra mưu mô vô cùng nham hiểm hòng đánh lừa và ăn chết con thuyền Đó là nguy hiểm khôn lường, những tình huống bất thường mà người dân lao động phải đối diện và vượt qua

+ Bằng trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú, kết hợp vốn hiểu biết về kĩ thuật xây dựng, tác giả đưa ra so sánh độc đáo bất ngờ: "hút nước giống như giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu"

-> Bằng hình ảnh so sánh này, nhà văn vừa giúp độc giả hình dung, cảm nhận rõ đặc điểm của hút nước vừa khắc họa cường lực ghê gớm của nó Ở đây, hút nước xoáy tít đáy, lừ lừ cánh quạ đàn, sức mạnh vô cùng dữ dội Từ láy "lừ lừ" diễn tả ấn tượng cái diện mạo hung bạo, dữ dằn của xoáy nước; cái gương mặt giận dữ, ngang ngược, nhằm đe dọa con người của nó

- Sau đó, Nguyễn Tuân đã đi vào tập trung đặc tả âm thanh của hút nước:

+ Nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc

-> Động từ "thở", "kêu" đã khắc họa xoáy nước trở thành sinh thể đang nổi giận, gào thét, phóng to âm thanh, giọng điệu của nó nhằm thách thức với người lái đò

+ Hình ảnh so sánh hút nước như "cửa cống cái bị sặc" đã gợi tả, tạo ám ảnh về sự cuồng nộ, dữ dội của xoáy nước Nước phun trào, sôi lên vô cùng hung dữ

+ Không chỉ vậy, tác giả còn hình dung hút nước phun trào dữ dằn, kêu lên ặc ặc như vừa rót dầu sôi vào

-> vẫn là sự so sánh bất ngờ, Nguyễn Tuân miêu tả khung cảnh hỗn loạn của hút nước, không khí nước sôi, lửa bỏng, rất nguy hiểm, nó như một chảo dầu khổng lồ Có lẽ chưa bao giờ, và không có bất cứ dòng sông nào trong văn chương lại xuất hiện những hút nước cuồng nộ, ghê sợ đến vậy Và có lẽ, cũng chỉ trong trang văn của Nguyễn Tuân thì hút nước mới mang tâm địa, gương mặt của con thủy quái đang thù địch, đe dọa, hòng nuốt chửng con thuyền

- Bên cạnh việc tái hiện cụ thể xoáy nước ở sức mạnh của dòng chảy và âm thanh gào thét, thì Nguyễn Tuân bằng ngòi bút tài hoa đã tiếp tục hình dung, liên tưởng tới những tình huống khác nhau khi con người chèo thuyền qua đây nhằm tô đậm sự nguy hiểm, cảnh tượng đầy chết chóc:

+ Không thuyền nào dám men gần đến những hút nước ấy

+ Thuyền nào qua đây cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực -> Phát huy trí liên tưởng độc đáo để đưa ra hình ảnh so sánh đặc sắc, từ đó tạo ấn tượng về hút nước nguy hiểm, mà không cẩn thận thì người lái đò sẽ bị

nó đánh tan thuyền Ở đây, nhà văn sử dụng kĩ thuật lái xe để miêu tả nghệ thuật chèo lái con thuyền Đứng trước những xoáy nước kinh sợ này đòi hỏi người lái đò phải có tay lái uyển chuyển, điêu luyện, mềm mại, có khả năng xử lí tốt tình huống thì mới vượt qua được xoáy nước

+ Và, Nguyễn Tuân lại hình dung ra cảnh tượng những bè gỗ không có sự am hiểu về hút nước, coi thường nó, đồng thời kĩ thuật xử lí không tốt nên đã bị

nó lôt tuột xuống Đó là cảnh: con thuyền nghênh ngang vô ý bị hút nước nó hút xuống, thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến, bị dìm, và đi ngầm dưới lòng sông, mươi phút sau thì tan xác

-> Sử dụng câu văn dài, chia thành nhiều vế, với hàng loạt động từ mạnh: hút xuống, trồng cây chuối, vụt biến, bị dìm, đi ngầm, tan xác đã gợi ra qua trình vật lộn, chìm nổi của con thuyền trên xoáy nước man dại Những cái hút đó như con quái vật trên dòng sông đang dùng hết sức lực xé tan xác con thuyền, nuốt chửng người lái đò Chỉ trong tích tắc, con thuyền đã biến mất trên Đà giang

+ Nguyễn Tuân còn mượn thủ pháp lia ngược ống kính của điện ảnh để khắc họa sự hung bạo, cuồng nộ của hút nước trên sông Đà Nhà văn tưởng tượng

ra cảnh anh bạn quay phim (ghi tiếp ý ở giữa trang 158 bản phô tô)

e, Thác dưới.

- Những con thác dữ là hình ảnh chủ đạo của sông Đà hung bạo, dữ dội Đặc điểm này đã từng đi vào ca dao của người Tây Bắc:

"Đường lên Mường Lễ bao xa

Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh"

Và trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng, ta cũng từng bắt gặp con thác gào thét "Chiều chiều oai linh thác gầm thét"

Trang 4

Nhưng có lẽ ám ảnh và dữ dội nhất phải kể đến thác dưới trong bài tùy bút của Nguyễn Tuân Bằng ngòi bút tài hoa, cái tôi "ngông" và sự uyên bác của mình, tác giả đã chạm khắc nên những con thác cuồng nộ mà sự độc dữ của nó được hình dung như con quái vật đang giơ nanh vuốt, đang chực chờ nhấn chìm, nuốt chửng con thuyền

- Thông thường, khi nói đến những con thác là thường nói đến vẻ đẹp hùng vĩ của đại ngàn Cũng đã có biết bao trang thơ, trang văn miêu tả những dòng thác tung bọt trắng xóa, cuộn cuộn chảy tạo nên cảnh tượng kì vĩ, hùng tráng, bí ẩn

+ Song, Nguyễn Tuân trong bài tùy bút của mình, đã không hề dùng một đường nét, màu sắc nào để khắc họa sự hùng vĩ ấy Ở đây, tác giả chỉ tập trung đặc tả âm thanh, tiếng thác chảy Từ đó, cho thấy tính chất hung bạo, dữ dằn của nó

- Trước hết, bằng cái nhìn khái quát, bằng sự cảm nhận tinh tế của thính giác, tác giả khắc họa ấn tượng những con thác đang gào thét: "Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên"

+ "Còn xa lắm" nghĩa là giữa người lái đò và con thác đang cách nhau một khoảng cách rất xa Lúc này, bằng thị giác, ông đò chưa thể nhìn thấy được hình ảnh con thác Song âm thanh tiếng thác chảy đã vang dội đến rõ rệt Như vậy chứng tỏ con thác chảy rất mạnh, cuồng nộ

+ "Tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên" -> biện pháp điệp từ "réo", "mãi" đã tô đậm chân dung những con thác hung dữ Nó dường như đang phóng

to âm thanh đến cực đại, ghê rợn Lúc này, con thác hay sông Đà hung bạo đang cất lên bản hòa tấu dữ dội, đầy phẫn nộ, gầm thét để đe dọa, thị uy con người

- Sau đó, ở cự li gần hơn, bằng sự tinh tế của các giác quan, tài năng của việc quan sát, cũng như với trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú kết hợp với ngôn ngữ giàu có, Nguyễn Tuân đã tái hiện, miêu tả cụ thể các cung bậc, âm điệu khác nhau của tiếng thác chảy Con thác vốn vô tri được tác giả nhân hóa thành một sinh thể dữ dằn, nham hiểm

+ Chỉ là âm thanh thác chảy nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, tiết tấu rất đa dạng: nghe như là oán trách, rồi lại như là van xin, rồi lại như khiêu khích, giọng gằn và chế nhạo

-> Những âm thành này thật đáng sợ Con thác như đang điên cuồng, trở thành con thủy quái hung hãn, tâm địa hiểm ác, độc dữ, là kẻ thù của người dân Tây Bắc Nó đang giơ nanh vuốt, gầm lên hòng nuốt chửng, nhấn chìm con thuyền và người lái đò

- Cuối cùng, với trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú, tác giả đã miêu tả sức mạnh của thác dưới bằng hình ảnh so sánh đầy độc đáo, bất ngờ: "nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da thịt cháy bùng bùng"

+ Nguyễn Tuân sử dụng liên tục nhiều động từ mạnh: rống lên, lồng lộn, phá tuông, gầm thét -> để nhấn mạnh những thanh âm man rợ, kinh hoàng và cảnh tượng hỗn loạn Thác dữ hay cái nhạc khí của thiên nhiên đang phóng to hết cỡ giai điệu ghê rợn của nó ra

+ Biện pháp so sánh độc đáo: " như tiếng một ngàn trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa "-> đã gợi đến cảnh tượng kinh thiên động địa của trận động đất thời tiền sử, cảnh cháy rừng khủng khiếp Những trâu mộng bị lửa thiêu đốt làn da nên chúng rống lên, lồng lộn, quằn quại, phá tuông khu rừng; bên cạnh đó, rừng lửa gầm thét với đàn trâu Sự cộng hưởng của những âm thanh, hình ảnh này cho thấy khung cảnh kinh hoàng, đầy chết chóc nơi thác nước

Như vậy, nhà văn đã chơi ngông trong nghệ thuật khi dùng những cái vốn đối chọi, tương phản để khắc họa sức mạnh của nhau Ông đã lấy cái dữ dội của lửa để miêu tả cái dữ dằn, cuồng nộ của thác nước; lấy cảnh hỗn loạn của khu rừng và nỗi đau đớn, dữ tợn của đàn trâu để cho thấy cái sức mạnh, hung dữ của thác nước

=> Con thuyền qua thác nước là qua một mảnh đất đầy chết chóc, nơi đó thần chết lẩn khuất trong những con thác để chực chờ tóm lấy và ăn chết con thuyền

g Thạch trận

- Cái đặc sắc và ấn tượng hơn cả trong tính chất hung bạo của sông Đà là thạch trận - mối kinh sợ của người lái đò Có lẽ chẳng ai có thể đặc tả hình ảnh đá trên sông dữ dội hơn Nguyễn Tuân Nhà văn đã quan sát tỉ mỉ, và miêu tả thạch trận ở nhiều điểm nhìn, góc độ để nó hiện hình rõ nét, ấn tượng

- Đầu tiên, đến với thạch trận, tác giả đã miêu tả bằng cái nhìn bao quát, ở khoảng cách từ xa, thấy cảnh mặt sông ở thạch trận vô cùng dữ dội: "ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá"

+ Hình ảnh "sóng bọt tung trắng xóa" cho thấy sóng nước nơi đây vần vũ, cuộn xoáy, tuôn trào, tung trắng dòng sông

+ Bên cạnh đó, hình ảnh " một chân trời đá" dựng lên địa hình hiểm trở, khắc nghiệt Dòng sông có vô số đá lớn, đá bé, đá chìm, đá nổi đang bày ra hòng ngăn cản, ăn chết con thuyền

+ Đồng thời, Nguyễn Tuân còn liên tưởng mặt sông rung rít lên như tuyếc bin thủy điện nơi đáy hầm đập

Trang 5

-> Bằng sự am hiểu về kiến thức thủy điện, nhà văn đã có so sánh bất ngờ : mặt sông như máy quay phát điện, từ đó nhằm diễn tả sự chuyển động dữ dội,

âm thanh đang rít lên của dòng chảy cuồng nộ nơi quãng sông này

- Tiếp đến, ngòi bút của Nguyễn Tuân lia cận cảnh để miêu tả sắc diện, hình hài từng hòn đá Nhà văn đã dùng đến kĩ thuật của nghệ thuật điêu khắc và sử dụng biện pháp nhân hóa để thổi hồn vào từng hòn đá, thớ đá vô tri Qua đó, hình thù, diện mạo, tâm địa của lũ đã nơi sông nước được hiện hình rõ nét + Nhìn tổng thể, đặc điểm chung của toàn bộ đá là: mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó

-> Các từ láy giàu giá trị tạo hình: ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó đã cho thấy rằng: đây là những gương mặt của hòn đá không tạo một chút thiện cảm nào, nó xấu xí, rất khó chịu, biến dạng, trông xấc xược, côn đồ

+ Và rồi, tác giả đi vào miêu tả nét riêng của một số hòn đá tiêu biểu: có những hòn đá bệ vệ oai phong, có hòn nhìn nghiêng thì y như đang hất hàm hỏi con thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến, có hòn lùi lại, thách thức con thuyền có giỏi thì tiến gần vào

-> Bằng biện pháp nhân hóa, khắc họa cận cảnh diện mạo của nó một cách độc đáo, nhà văn cho thấy tính chất hung hăng, hiếu chiến, ưa gây sự của thạch trận

- Đá được bày binh bố trận theo chiến thuật vô cùng nham hiểm Nó đang bày thạch trận tức là đang dàn trận địa với các trùng vi, vòng vây vô cùng lợi hại

để tiêu diệt con thuyền Chúng ta ngỡ rằng, đá nó đứng, nó ngồi, nó nằm tùy theo sở thích tự động Nhưng thực ra, sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Ở đây, tác giả đã sử dụng kiến thức của quân sự, binh pháp, võ thuật, thể thao nhằm khắc họa ấn tượng về thạch trận nham hiểm, hung bạo

+ Đá được chia làm 3 hàng:

Hàng tiền vệ có hai hòn canh một cửa đá trông như sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ thuyền vào

Tuyến giữa: sóng luồng phối hợp với đá đánh khuýp quật vu hồi tức là đánh quật con thuyền trở lại

Tuyến ba: nếu con thuyền chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của boong ke chìm và pháo đài đá nổi sẽ đánh tan con thuyền, tiêu diệt thuyền trưởng, thủy thủ ngay tại chân con thác

+ Phối hợp với đá là sức mạnh của nước

Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện Bọn sóng nước lấy hết sức để khích lệ, cổ vũ bằng âm thanh đối với lũ đá hung hăng trong cuộc giao chiến với người lái đò

Không chỉ có nhiệm vụ reo hò làm thanh viện, mà nước thác còn trực tiếp tham chiến, đánh vào ông đò Sức mạnh của nó nâng đến mức thần thánh, phi thường Trong trận đánh, bọn sóng cho thấy sự hung bạo, dữ dằn của chúng: mặt nước hò la vang dậy, ùa vào bẻ gãy cán chèo, như thể quân liều mạng mà

đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền, có lúc chúng đội cả thuyền lên, túm lấy thắt lưng ông đò, bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò

-> Bằng những câu văn với nhịp điệu nhanh, sử dụng nhiều động từ mạnh, nhà văn đã khắc họa, nhấn mạnh sự dữ dội, cuồng nộ của bọn nước thác nơi thạch trận

+ Thạch trận chia làm 3 vòng vây, trùng vi:

Trùng vi thứ nhất: có 5 cửa, trong đó có 4 cửa tử, 1 cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn của dòng sông

Trùng vi thứ hai: tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền Và lúc này cửa sinh lại được bố trí lệch phía bờ hữu ngạn

Trùng vi thứ 3: bên phải bên trái đều là cửa tử, đều là luồng chết cả Còn luồng sống hay cửa sinh lại ở giữa ngay bọn đá hậu vệ của con thác

=> Qua đó, ta thấy thạch trận được dàn bày với chiến thuật vô cùng nham hiểm, xảo quyệt Binh pháp của thần sông thần đá rất lợi hại, bí hiểm

* Tóm lại, sông Đà hung bạo, dữ dội được hình dung như con thủy quái khổng lồ, nham hiểm, độc dữ Và cuộc sống của người lái đò nói riêng, của người dân lao động nơi miền Tây Bắc nói chung là một cuộc chiến đấu gian khổ, khốc liệt với thứ kẻ thù số một ấy

2.2 Sông Đà thơ mộng, trữ tình, hiền hòa

*Đây là dòng sông được nhìn ngắm, chiêm ngưỡng ở hạ lưu với vẻ đẹp nên thơ Nếu ở thượng nguồn, sông Đà được hình dung như con thủy quái nham hiểm, độc dữ, thứ kẻ thù số một của người dân Tây Bắc, thì đến hạ lưu, xuôi về đồng bằng, con sông Đà được miêu tả là công trình nghệ thuật tuyệt mĩ của tạo hóa với vẻ đẹp gợi cảm, kiều diễm, mĩ lệ, tràn đầy sức sống Bằng cảm hứng lãng mạn, Nguyễn Tuân đã say sưa ca ngợi chất vàng của thiên nhiên Dưới ngòi bút tài hoa của tác giả, con sông Đà với vẻ nên thơ, trữ tình đã khiến độc giả bao thế hệ phải đắm say

a, Trước hết, làm nên tính chất thơ mộng, trữ tình là vẻ đẹp của hình dáng, sắc vóc của dòng sông

- Nguyễn Tuân rất công phu trong quan sát, miêu tả Để khắc họa chân thực và có cái nhìn khái quát về đặc trưng dòng chảy, ông đã bay máy bay, từ trên cao nhìn xuống, phát hiện ra: sông Đà như cái dây thừng ngoằn ngoèo -> Hình ảnh sợi dây thừng ngoằn ngoèo cho thấy trí liên tưởng độc đáo từ những điều bình dị Và như vậy dòng sông hiện lên chân thực, gần gũi, song thú vị Đó là dòng sông với hình dáng uốn lượn, quanh co, mềm mại

Trang 6

- Không chỉ hình dung dòng chảy sông Đà như sợi dây thừng mà bằng ngòi bút tài hoa, qua trí tưởng tượng phong phú, với cái nhìn lãng mạn, nhà văn đã khắc họa, miêu tả sắc vóc, hình dáng dòng sông như áng tóc kiều diễm của thiếu nữ Tây Bắc Ấn tượng trước mắt người đọc là "con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt xương xuân"

+ Nếu ở mặt ghềnh Hát Loongs, khi miêu tả đặc tính hung bạo, Nguyễn Tuân sử dụng câu văn dài chia thành nhiều vế, nhịp điệu nhanh, và các động từ mạnh; thì ở đây khi tái hiện vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình trong dáng điệu dòng chảy, tác giả cũng viết một câu văn dài nhưng ít ngắt nhịp, giọng điệu du dương, êm ái, nhẹ nhàng, kết hợp nhiều hình ảnh gợi cảm để cho thấy dòng sông hiền hòa, nên thơ, êm ả, đẹp mĩ lệ

+ Bằng phép điệp "tuôn dài tuôn dài" -> tô đậm, nhấn mạnh dòng chảy tuôn trào bất tận, dạt dào, tràn đầy sức sống Không còn sóng bọt tung trắng xóa cả chân trời đá, cũng chẳng còn luồng gió cuộn xoáy, mà giờ đây sông Đà bình yên, êm đềm đến lạ, cứ lững lờ trôi

+ Trong tình cảm say mê của Nguyễn Tuân, dáng vẻ quyến rũ, gợi cảm của sông Đà được lí tưởng hóa, được so sánh với áng tóc trữ tình Đây là biện pháp

so sánh và cách kết hợp từ độc đáo của nhà văn So sánh con sông với mái tóc là điều thường thấy trong văn chương Nhưng so sánh sông Đà với "áng tóc trữ tình" là nét đặc sắc riêng của nhà văn họ Nguyễn Tác giả không dùng từ "mái tóc" mà dùng từ "áng tóc", lại kết hợp với định ngữ "trữ tình", từ đó khắc họa rõ nét, ấn tượng hơn vẻ đẹp kiều diễm, quyến rũ, gợi cảm, tràn đầy sức sống của dòng sông Như vậy, không còn diện mạo của con thủy quái nơi thượng nguồn, mà về đến hạ lưu, sông Đà mang vẻ xinh đẹp, thanh tân, dạt dào sức sống tuổi thanh xuân của thiếu nữ Tây Bắc Dòng sông Đà như áng tóc mun ngàn vạn sải, bóng bẩy, óng chuốt đã gợi bao rung cảm thẩm mĩ nơi lòng độc giả Áng tóc mun ngàn vạn sải ngày đêm miên man, uyển chuyển tuôn chảy về đồng bằng, bồi đắp phù sa cho quê hương , đất nước dấu yêu

+ Bên cạnh đó, sông Đà thơ mộng hay áng tóc trữ tình lại được đặt trong phông nền thiên nhiên rừng núi Tây Bắc vào mùa xuân với cảnh xanh trong của mây trời, với không khí cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân, cùng sắc màu rực rỡ, tinh khôi của hoa ban, hoa gạo càng làm tăng tính chất gợi cảm, lộng lẫy, yêu kiều của nó Con sông Đà khoác lên tấm voan huyền ảo của thiên nhiên, điểm tô lên vô số bông hoa rừng càng trở nên mĩ lệ, huyền diệu Hai

từ "ẩn hiện" cho thấy vẻ đẹp hư ảo, bí ẩn, kín đáo, e ấp của dòng sông

=> Qua hình dáng, ta thấy được đặc tính thơ mộng, trữ tình, vẻ tuyệt mĩ của sông Đà; cũng như tình cảm say đắm của Nguyễn Tuân trước đất nước, Tổ quốc

b Màu sắc

* Không chỉ mang hình dáng gợi cảm, kiều diễm, tràn đầy sức sống, mà vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của sông Đà còn thể hện rõ ở màu sắc Màu nước của Đà giang vô cùng biến ảo, lung linh

- Để có thể viết được 3 câu văn xuất thần miêu tả, khắc họa chính xác tính chất của màu nước, Nguyễn Tuân đã rất tinh tế trong quan sát, cũng như công phu trong khảo cứu Ông đã bay máy bay qua nhiều lần, nhiều mùa, đã nhìn say sưa qua làn mây mùa xuân, đã xuyên qua đám mây mùa thu Từ đó cho người đọc thấy rõ vẻ đẹp, đặc trưng của sắc nước Nếu trong bút kí "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" của Hoàng Phủ Ngọc Tường, con sông Hương hiện lên như tấm phản quang nhiều màu sắc với sắc nước thay đổi theo từng thời điểm trong ngày: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím; thì Nguyễn Tuân lại cho độc giả chiêm ngưỡng vẻ đẹp màu nước sông Đà thay đổi theo từng mùa trong năm Trong đó, nhà văn ấn tượng nhất là nước sông Đà vào mùa xuân, mùa thu

- Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu canh hến của sông Gâm, sông Lô

+ Hình ảnh "dòng xanh ngọc bích" rất gợi cảm, đã đặc tả ấn tượng sắc màu sông Đà vào mùa xuân Đó là màu xanh trong sáng, lung linh, xanh trong như vắt, như lọc đến tận đáy và ánh lên lấp lánh Nguyễn Tuân vốn là nhà văn duy mĩ, hướng tới cái đẹp độc đáo, biệt lệ, phi thường, tuyệt mĩ Tất cả sự vật hiện lên dưới ngòi bút của ông đều khác thường Ở đây, màu sắc của dòng sông cũng vậy Cũng là mùa xanh quen thuộc của các dòng sông, song sắc xanh

ấy của sông Đà vẫn rất riêng Cái dòng xanh ngọc bích là đặc trưng không trộn lẫn

+ Đồng thời, hình ảnh "dòng xanh ngọc bích" còn cho thấy niềm tự hào, tình yêu, sự say mê của tác giả đối với cảnh sắc thiên nhiên ở Tây Bắc nói riêng và trên mọi miền đất nước nói chung Nhà văn cảm nhận, con sông Đà được dệt nên bởi muôn vàn viên ngọc nhỏ, tạo nên hòn ngọc bích khổng lồ làm giàu đẹp thêm cho đất nước

+ Bên cạnh đó, bằng am hiểu về kiến thức địa lí, Nguyễn Tuân còn so sánh sông Đà với sông Gâm, sông Lô để thấy sự khác biệt về màu nước Nếu sông Gâm, sông Lô xanh màu canh hến có phần đục, hơi gợn thì sông Đà xanh màu ngọc bích trong sáng Điều đó cho thấy, trong cảm hứng của Nguyễn Tuân, con sông Đà là sản phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ mà tạo hóa ban tặng với vẻ đẹp không tì vết, và vô cùng đặc sắc

- Mùa thu: nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về + Vốn dĩ màu đỏ của các dòng sông vào mùa thu, khi nước lũ ở thượng nguồn đổ về đã không còn xa lạ Thế nhưng cái màu đỏ ấy của sông Đà vẫn rất riêng và đặc sắc trong trang văn của Nguyễn Tuân Ở đây, bằng trí liên tưởng tưởng tượng phong phú, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa, và đưa ra

Trang 7

hình ảnh so sánh độc đáo, bất ngờ, tinh tế khi miêu tả sắc nước: mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội mỗi độ thu về

Khi so sánh màu nước với da mặt của một người bầm đi vì rượu bữa đã tác động mạnh đến thị giác, cảm giác của người đọc, giúp ta hình dung rõ nét, chân thực và ấn tượng về màu đỏ bầm của dòng sông - đặc trưng màu sắc của nước trong mùa thu

Biện pháp nhân hóa kết hợp điệp từ "lừ lừ" lặp 2 lần vừa diễn tả điệu chảy chậm chạp, lặng lẽ, vừa biến con sông vốn vô tri vô giác thành sinh thể với tâm trạng giận dữ, bực bội, bất mãn Chính tâm trạng đó đã làm biến đổi sắc nước một cách thú vị, kì ảo Qua đó, giúp độc giả dễ nhận diện, hình dung tính chất sắc nước của sông Đà lúc vào thu

Phải chăng, cái màu đỏ ấy cũng chính là màu của phù sa tuôn chảy từ thượng nguồn về hạ lưu để bồi đắp cho bờ bãi ven sông, cho quê hương xứ sở, làm giàu cho đất nước

- Và, Nguyễn Tuân cũng khẳng định rằng: "chưa bao giờ sông Đà có màu đen"

+ Tác giả kể rằng: có một thời kì, khi thực dân Pháp sang xâm lược, chúng đè ngửa con sông này ra, đổ vào thứ mực Tây và gọi bằng một thứ tên Tây láo lếu là sông đen

-> Như vậy là, nhà văn đã đặt Đà giang vào lịch sử của dân tộc để thấy rằng có thời kì con sông Đà cũng chịu nhiều đau thương như người dân Việt Nam, lúc Pháp đô hộ, áp bức Câu văn là lời khẳng định ngắn gọn, chắc nịch chan chứa trong đó biết bao tình yêu, niềm tự hào về dân tộc

c Sông Đà gợi cảm

*Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, con sông Đà không chỉ đẹp, kiều diễm, lộng lẫy, mềm mại về sắc vóc, hình dáng; không chỉ biến ảo về sắc nước;

mà trong rung cảm thẩm mĩ của ông, Đà giang thật gợi cảm Đến với dòng sông kì diệu, huyền ảo, thơ mộng này, mỗi người lại có một cảm xúc khác nhau Sông Đà gợi bao niềm thích thú, hứng khởi, say mê, bao xúc cảm như nhà văn đã khẳng định: " Con sông Đà gợi cảm Đối với mỗi người, sông Đà lại gợi một cách":

- Đã có lần nhìn sông Đà như một cố nhân Tác giả sử dụng hình ảnh so sánh gợi cảm "sông Đà như một cố nhân", kết hợp từ

"cố nhân" vang lên đã khơi gợi biết bao nỗi niềm, cảm xúc Trong hai tiếng "cố nhân" hàm chứa sự gắn bó, những tình cảm thân thương, và kỉ niệm sâu nặng Đó là bạn cũ gắn bó thân thiết, là tri kỉ, tâm giao, là người tình cũ Gặp lại sông Đà như gặp lại cố nhân Đứng trước sông Đà như đứng trước người bạn tri kỉ năm xưa, như đứng trước tình nhân một thuở Mặc dù biết cố nhân đó lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng, chốc lại bẳn gắt thác lũ, nhưng vượt lên tất thảy, khi hội ngộ, bao trùm vẫn là cảm xúc "đằm đằm ấm ấm" tức là hạnh phúc, vui sướng, bồi hồi, thổn thức, xao xuyến, cảm giác gần gũi, ấm áp thân thương, mừng mừng tủi tủi xen lẫn

- Sau đó, điểm quan sát của Nguyễn Tuân lại di chuyển đến góc nhìn khác: đứng ở dốc núi nhìn xuống Theo tác giả, chuyến đó, đi rừng đã lâu, thèm chỗ thoáng, mải bám gót anh liên lạc, quên mất mình sắp đổ ra sông Đà Cho nên, xuống một cái dốc núi, nhà văn ngỡ ngàng, bất ngờ, ngạc nhiên, thích thú trước cảnh: loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy

+ Từ láy "loang loáng", cùng biện pháp so sánh gợi cảm "như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt" cho thấy sông Đà giờ phút này đẹp, huyền ảo, lung linh, trong sáng như một tấm gương khổng lồ

+ Không chỉ vậy, mà đứng trước chiếc gương khổng lồ sông Đà, Nguyễn Tuân hay độc giả sẽ được sống lại trong kí ức, trò chơi kì diệu nghịch chiếu gương vào mắt của tuổi thơ

- Có khi nhìn dòng sông thấy ánh lên vẻ đẹp cổ điển của Đường thi Tác giả cảm nhận: tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi

"Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu"

-> Nhà văn nhìn màu nắng, sắc nước của sông Đà vào tháng ba mùa xuân thấy nó mang cái đẹp thật cổ kính, như dòng sông Trường Giang hội tụ hoa, khói, sóng trong bài thơ tiễn bạn của Lí Bạch Dòng sông ấy, từ câu thơ của nhà thi tiên, chảy về từ ngàn xưa và neo đậu vào trang văn của Nguyễn Tuân, làm nên chất thơ, chất cổ điển cho sông Đà

- Bên cạnh đó, đứng trước sông Đà, chúng ta còn thích thú, đầy xúc cảm với cảnh vui nhộn, nên thơ, rực rỡ sắc màu của cảnh: bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm

-> sử dụng biện pháp liệt kê, cùng phép điệp từ "sông Đà" lặp lại 3 lần trong 1 câu văn đã tô nhấn mạnh, tạo ấn tượng về cảnh sắc vui tươi, ngập tràn sức sống, lãng mạn Cái không khí đó bao trùm cả không gian sông Đà Chiêm ngưỡng vẻ đẹp này như chiêm ngưỡng bức tranh thổ cẩm dệt nên bởi muôn màu màu sắc rực rỡ của thiên nhiên

- Gặp lại con sông vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại giấc chiêm bao đứt quãng

Trang 8

-> Điệp từ "vui" lặp lại hai lần, kết hợp 2 hình ảnh so sánh độc đáo: như thấy nắng giòn tan, như nối lại giấc chiêm bao đứt quãng, tác giả đã tô đậm, nhấn mạnh niềm hạnh phúc vui sướng, ngỡ ngàng, thích thú không thể kìm nén, không thể giấu nổi, phải bật thành lời cảm thán tha thiết "chao ôi" khi đứng trước dòng sông Đà

d Cảnh ven sông hoang sơ, tĩnh lặng, thuần khiết, nên thơ và tràn đầy sức sống mới

- Lúc này, Nguyễn Tuân đi thuyền xuôi theo dòng sông Đà, và quan sát cảnh hai bên bờ sông Ông viết: "thuyền tôi trôi trên sông Đà", " thuyền tôi trôi qua", "thuyền tôi trôi trên dải sông Đà bọt nước nước lênh đênh"

-> Bằng những câu văn nhiều thanh bằng, âm điệu du dương, ngân nga, êm ái, cùng điệp ngữ "thuyền tôi trôi" lặp lại 3 lần, nhà văn vừa gợi tả dòng chảy nhẹ nhàng, êm đềm, uyển chuyển, mềm mại của dòng sông, vừa khắc họa điệu trôi lững lờ của con thuyền, vừa thể hiện tâm trạng khoan khoái, lâng lâng của mình khi được đi qua Đà giang và chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của nó

- Nguyễn Tuân cảm nhận khung cảnh hai bên bờ sông tĩnh lặng, hoang sơ Tác giả tái hiện:" Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời

Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Mà tịnh không một bóng người":

+ Điệp từ "lặng tờ" được lặp lại hai lần dã khắc sâu, tạo ấn tượng về không gian, khung cảnh tĩnh lặng, vắng vẻ gần như tuyệt đối, không âm thanh, không chuyển động, tất cả dường như ngưng đọng lại

+ Nhà văn còn ngược dòng lịch sử, quay về thời Lí, Trần, Lê để đặt dòng sông trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc Qua đó cho thấy, kể từ ngày đất nước giành được độc lập, và trải qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cho đến hôm nay, dẫu có nhiều biến động nhưng Đà giang vẫn giữ nguyên vẹn cái không khí "lặng tờ" của nó Con sông dường như không hề thay đổi theo thời gian Đồng thời, khi nhắc đến đời Lí, Trần, Lê là tác giả cũng nhằm thể hiện tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cao độ

+ Bên cạnh đó, Nguyễn Tuân còn nhấn mạnh thêm: cảnh ven sông tịnh không một bóng người Như vậy là, quãng sông này không có bất cứ một bóng dáng nào của con người xuất hiện Cảnh vô cùng vắng lặng, hoang sơ

- Tác giả tiếp tục miêu tả khung cảnh yên tĩnh, vắng vẻ, hoang sơ, thuần khiết ở ven sông Đà bằng hai câu văn xuất thần, bằng những liên tưởng độc đáo:"

Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa"

+ Hai câu văn đầy chất thơ, sử dụng nhiều thanh bằng tạo âm điệu êm ái, nhẹ nhàng, du dương, kết hợp hình ảnh so sánh, nhân hóa gợi cảm đã khắc họa

vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình, trong sáng, tĩnh lặng của sông Đà

+ Nguyễn Tuân so sánh: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử -> tạo ấn tượng về một dòng sông hoàn toàn đang mang tính chất tự nhiên, chưa có những tác động ảnh hưởng của con người Cảnh vật nơi đây nó vẫn giữ nguyên trạng thái, không khí như thời tiền sử nghĩa là từ thuở hồng hoang đến bây giờ, sông Đà vẫn vậy, hoang sơ, tĩnh lặng

+ Biện pháp nhân hóa "bờ sông hồn nhiên" cùng biện pháp so sánh "như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa", tác giả đã biến con sông Đà vốn vô tri vô giác trở thành sinh thể mang tính cách hồn nhiên, vô tư, trong sáng, thuần khiết như trẻ thơ Đến bờ sông Đà, ta như lạc vào thế giới của cổ tích, như sống lại với nỗi niềm cổ tích tuổi xưa, với xúc cảm của một thời thơ dại

- Nguyễn Tuân còn dùng bút pháp lấy động tả tĩnh để khắc họa, làm nổi bật sự hoang sơ, tĩnh lặng của khung cảnh ven sông Đà

+ Vắng vẻ, yên tĩnh đến mức khiến tác giả "thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ Yên Bái -Lai Châu

-> nghĩa là dòng sông nơi đây hoàn toàn vắng lặng, không hề có bất cứ âm thanh nào, không có tiếng còi của tàu bè, nhà máy, chuyến xe lửa

+ Không khí tĩnh lặng, hoang sơ đến độ nhà văn nghe, cảm nhận được tiếng nói của con vật lành và tiếng còi sương Ông viết rằng: hươu vểnh tai nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: "hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương" -> Các hình ảnh: con hươu vểnh tai nhìn tôi không chớp mắt, hỏi bằng tiếng nói riêng của con vật lành, tiếng còi sương đã cho thấy không khí hư ảo, kì diệu, rất đỗi thơ mộng, hoang sơ ở hai bên bờ sông

+ Khung cảnh tĩnh lặng khiến tác giả nghe được cả tiếng đàn cá dầm xanh quẫy trên mặt nước Tiếng cá quẫy làm xao động cả không gian, làm đàn hươu hoảng sợ vụt biến Chỉ một khắc họa một âm thanh thôi, nhưng qua đó, Nguyễn Tuân đã cho độc giả thấy trọn vẹn không khí hoang sơ, yên tĩnh, vắng vẻ của cảnh ven sông

*Cảnh hai bên bờ sông hoang sơ, tĩnh lặng nhưng không gợi màu sắc tàn lụi, ảm đạm, hoang vu Mà ngược lại, đằng sau sự tĩnh lặng đó vẫn cựa quậy, xôn xao một sức sống mới

Trang 9

- Đó là hình ảnh: nương ngô nhú lên mấy là ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp, búp cỏ gianh đẫm sương đêm, con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung, đàn cá dầm xanh bụng trắng như bạc rơi thoi, con đò mình nở Tất cả những hình ảnh tạo vật, thiên nhiên xuất hiện ở dòng sông Đà đã cho thấy sự sinh sôi, nảy nở, sự giàu có trù phú, sức sống đang bừng lên mãnh liệt, làm nên vẻ đẹp, tiềm năng của quê hương xứ sở

- Ngoài ra, nhà văn còn sử dụng nhiều động từ mạnh: nhú, ra, ngẩng, quẫy, chạy kết hợp các tính từ gợi cảm: non, nõn búp, thơ ngộ, trắng vừa diễn tả sự vận động, sức sống trào dâng, vừa thể hiện vẻ non tơ, mơn mởn của thiên nhiên, tạo vật Đây cũng chính là hình ảnh Tây Bắc đang hồi sinh, bừng lên sức sống mới sau chiến tranh

- Dòng sông Đà thơ mộng, trữ tình đã trở thành cảm hứng cho thi ca, đặc biệt là trong các câu thơ của Tản Đà:

"Dải sông Đà bọt nước lênh đênh

Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình"

của " một người tình nhân chưa quen biết"

-> Cũng chính câu thơ của Tản Đà đã khắc họa rõ nên vẻ đẹp nên thơ, gợi cảm, hiền hòa, trữ tình của Đà giang, một con sông gợi nhiều cảm xúc và làm cho ta đắm say

- Kết thúc đoạn trích, Nguyễn Tuân một lần nữa nhân hóa dòng sông thành sinh thể lững lờ trôi vì như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, và nó như đang lắng nghe giọng nói êm êm của người miền xuôi -> nhằm thể hiện tính chất trữ tình, hiền hòa, thơ mộng của sông Đà 1.3 Đánh giá

a, Nội dung

- Khái quát đặc điểm sông Đà -> 2 đặc điểm thiên nhiên Tây Bắc: hùng vĩ, khắc nghiệt, dữ dội; thơ mộng, trữ tình

- Tạo phông nền, chất lửa để từ đó ca ngợi, tôn vinh vẻ đẹp con người lao động

- Thể hiện tình cảm yêu mến, say mê, tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở

b Nghệ thuật

- Miêu tả con sông Đà ở nhiều điểm nhìn, góc độ

- Uyên bác: vận dụng hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực -> dòng sông hiện lên rõ nét, sinh động, phong phú

- Ngôn ngữ nghệ thuật: giàu có (thác dưới, thạch trận, sóng nước ); giàu tính tạo hình, truyền cảm giác mạnh cho người đọc; biến ảo

- Trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú, từ đó đưa ra những hình ảnh so sánh độc đáo, bất ngờ, thú vị

- Câu văn giàu nhạc tính, co duỗi nhịp nhàng

- Biện pháp tu từ: nhân hóa, so sánh, điệp, đối lập tương phản, liệt kê, đảo ngữ

2 Hình tượng người lái đò sông Đà

*Giới thiệu chung: Ở ông đò là sự hội tụ vẻ đẹp của một người dân lao động bình dị với vẻ đẹp của một nghệ sĩ tài hoa, một trang anh hùng đầy khí phách 2.1 Ông Đò mang vẻ đẹp của một người dân lao động bình dị, âm thầm, vô danh.

*Nếu trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp trong quá khứ, cái đẹp của những bậc nho sĩ tài hoa, tao nhân mặc khách, của những trí thức Hán học cuối mùa, của những anh hùng hào kiệt "vang bóng một thời"; thì sau cách mạng tháng Tám, nhà văn lại hướng tới cái đẹp bình dị được tìm thấy trong những con người lao động âm thầm vô danh trên khắp mọi miền đất nước Tên tuổi của họ dẫu không được lưu danh trong sử sách nhưng sự cống hiến, hi sinh của họ cho công cuộc lao động dựng xây và chiến đấu lại vô cùng cao đẹp Miêu tả người lái đò, trước hết tác giả tập trung vào đặc điểm bình dị, âm thầm, vô danh đó Và từ cái bình thường, Nguyễn Tuân sẽ làm nổi bật sự phi thường Đây cũng là nét đặc sắc trong tùy bút này

*Trước hết, vẻ đẹp của một người dân lao động bình dị được thể hiện ở tên gọi của nhân vật Nguyễn Tuân đã đặt tên cho nhân vật là: người lái đò sông

Đà, ông đò, người nhà đò, người lái đò Lai Châu

-> Tác giả không dùng tên riêng, cụ thể mà sử dụng tên chung để gọi nhân vật Đây là cả một dụng ý nghệ thuật Nhà văn muốn xóa mờ dấu ấn con người

cá nhân để ông đò trở thành hình tượng mang tính chất tiêu biểu, điển hình cho biết bao người dân lao động vô danh đang ngày đêm đóng góp công sức để xây dựng Tổ quốc Con người bình dị ấy hội tụ, kết tinh cho những giá trị đẹp đẽ, cho thứ "vàng mười đã qua thử lửa" của muôn người dân lao động nơi miền Tây Bắc nói riêng, trên khắp đất nước nói chung

*Đặc điểm bình dị, vô danh của người lái đò còn được thể hiện ở nghề nghiệp và ngoại hình của ông.

- Về nghề nghiệp: ông đò làm nghề lái đò dọc, một nghề, công việc lao động bình thường, quen thuộc trên sông nước, vốn dĩ nó không có gì đặc biệt và nổi bật Nhân vật người lái đò sông Đà cũng như bao nhiêu người dân lao động nơi Tây Bắc, cuộc sống mưu sinh của họ thường gắn với núi rừng hiểm trở, và sông nước dữ dội

Trang 10

- Về ngoại hình: vóc dáng của ông cũng mang nét giống với bất cứ ai sống trên sông và sinh nhai bằng nghề sông nước Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, ngoại hình của người lái đò được khắc họa với những đường nét mang đậm dấu ấn sông nước

+ Bước vào tuổi 70, đầu tóc bạc trắng nhưng thân hình ông lái đò vẫn đẹp như một pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch, nước da ánh lên chất sừng, chất mun + Cánh tay rắn chắc, dài lêu nghêu như cái sào Chân khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái trong tưởng tượng

+ Thị lực vời vợi như nhìn vào một bến bờ xa xăm nào đó, tiếng nói ào ào như át cả sóng nước

+ Trên ngực có những vết chai như củ nâu do cán sào tì vào mà Nguyễn Tuân gọi là thứ huân chương lao động siêu hạng

-> Như vậy, ông lái đò đại diện cho những con người lao động bình dị mà cuộc sống trên sông nước đã in đậm dấu ấn vào trong từng chi tiết của ngoại hình

- Tính cách: khiêm tốn

2.2 Vẻ đẹp của một nghệ sĩ tài hoa, một trang anh hùng đầy khí phách, trí dũng.

* Con người lao động bình dị, âm thầm, vô danh ấy, trong cảm hứng ngợi ca của Nguyễn Tuân lại mang vẻ đẹp phi thường, lí tưởng Đó là vẻ đẹp của một nghệ sĩ tài hoa, một anh hùng trí dũng Để tôn vinh chất vàng mười đã qua thử lửa ở người lái đò sông Đà, nhà văn đã đặt ông đò vào phông nền thiên nhiên hung bạo, dữ dội Nhân vật ông đò chắc chắn sẽ bị mờ nhạt nếu như tác giả chỉ miêu tả trong cuộc mưu sinh phẳng lặng trên sông nước hiền hòa Ở đây, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào cái hùng vĩ, dữ dội của sóng nước, gió, đá thác, thạch trận nham hiểm Từ đó, để làm sáng chói hình ảnh con người đẹp nhất, kiêu hùng nhất

*Vẻ đẹp của một nghệ sĩ tài hoa và một anh hùng được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất sau: giàu kinh nghiệm, tài trí, dũng cảm, kĩ thuật điêu luyện, tay lái ra hoa.

- Giàu kinh nghiệm: sau hơn 10 năm chèo đò làm nghề trên sông nước, với hơn 100 ngược xuôi trên dòng sông, trong đó 60 lần giữ vai trò lái chính nên người lái đò am hiểu tường tận về đặc điểm, tính cách của sông Đà Ông thuộc dòng sông Đà như thuộc lòng bàn tay, như thuộc một trường thiên anh hùng

ca mà nhớ cả dấu chấm "!", chấm câu và đoạn xuống dòng; ông nhớ tên từng con thác dữ nơi thượng nguồn, nhớ mặt từng hòn đá, nhớ từng cửa tử cửa sinh; nắm mọi chỗ nông sâu của dòng sông

+ Trong đoạn trích, tác giả còn kể với độc giả rằng: khi bay trên tàu bay, đưa máy quay phim dí xuống dưới, lượn theo những luồng sinh của thác thì thấy trên thác hiên ngang một người lái đò có tự do, vì người lái đò đã nắm được quy luật tất yếu của lũ đá nơi ải nước, nắm chắc binh pháp thần sông thần đá -> khẳng định kinh nghiệm của người lái đò Kinh nghiệm của ông đò không phải chỉ là hiểu biết của một cá nhân, mà đây chính là kết tinh sự am hiểu của biết bao người dân lao động miền Tây Bắc từ bao đời nay Ông đò hội tụ vẻ đẹp của vốn kinh nghiệm sống đó

- Dũng cảm: là tinh thần quả cảm, gan dạ, kiên cường, chủ động, bình tĩnh của ông đò khi đối diện với sông Đà hung bạo và khi bước vào cuộc chiến sinh tử với thạch trận Đây là tinh thần của một chiến binh nơi sông nước hung bạo, dữ dội

- Tài trí: là vẻ đẹp của con người tài giỏi, thông minh, mưu trí khi đưa ra những chiến thuật tài tình để phá vỡ trận đồ bát quái, phá vỡ trùng vi thạch trận và giành chiến thắng

- Kĩ thuật điêu luyện: bàn tay chèo lái con thuyền vô cùng mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, xử lí khéo léo trong từng tình huống Kĩ thuật lái đò vượt thác vượt ghềnh đã nâng đến mức siêu phàm, thành kĩ năng kĩ xảo

=> Nguyễn Tuân bằng cảm hứng lãng mạn, đã lí tưởng hóa người lái đò, người dân lao động âm thầm vô danh trở thành một nghệ sĩ tài hoa, một vị tướng tài ba, một anh hùng dũng cảm trong cuộc sống lao động va chiến đấu nơi miền Tây Bắc hùng vĩ, khắc nghiệt Đó chính là thứ vàng mười đã qua thử lửa

* Tất cả những phẩm chất này của ông đò được tập trung thể hiện trong cuộc chiến với thạch trận qua 3 trùng vi Cuộc vượt thác vượt ghềnh gay go,

quyết liệt như trận chiến sinh tử Ở đó có sự giằng co giữa sự sống và cái chết Bằng ngòi bút tài hoa, bằng sự uyên bác và trí liên tưởng tưởng tượng phong phú, bằng những trang văn mang đầy không khí chiến trận, Nguyễn Tuân đã xây dựng nên tình huống giàu kịch tính: trận đánh, cuộc chiến dữ dội, ác liệt, một mất một còn giữa ông đò với thạch trận

- Xét tương quan lực lượng rất chênh lệch: 1 bên là sông Đà và thạch trận hung bạo, dữ dội, thâm độc, xảo quyệt, với sức mạnh của sóng nước, đá nâng đến mức thần thánh.(phân tích khái quát thạch trận: đá chia làm 3 hàng, có 3 trùng vi, sức mạnh cúa sóng nước)

Còn một bên là ông đò với vũ khí duy nhất là mái chèo Có lúc tưởng chừng ông đò đã thất thế khi bọn sóng nước bóp chặt lấy hạ bộ Thế nhưng, bằng kinh nghiệm, tài trí, dũng cảm, kĩ thuật điêu luyện, người lái đò đã chiến thắng ngoạn mục

*Diễn biến cuộc chiến qua ba trùng vi thạch trận

*, Ở trùng vi thạch trận thứ nhất

Ngày đăng: 17/07/2023, 01:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w