1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế nội thất quán cafe sinh viên tại xuân mai

58 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế nội thất quán cafe sinh viên tại Xuân Mai
Tác giả Tạ Phương Ngân
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Chứ
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Thiết kế nội thất
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Xuân Mai
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản phẩm xanh và kỹ thuật xanh * Sản phẩm xanh Theo nghĩa hẹp mà nói, sản phẩm xanh là chỉ những sản phẩm thuần khiết từ thiên nhiên không có cho thêm bất kỳ một loại hoá chất nào vào,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp, đầu tiên cho phép tôi gửi lời

cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Văn Chứ đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo

tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Chế Biến Lâm Sản, bộ môn Công Nghệ Đồ Mộc và Thiết Kế Nội Thất đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Nhân dịp này cũng cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới Đảng Ủy, Ban Giám Hiệu, các phòng ban Trường Đại Học Lâm Nghiệp đã cho phép tôi để tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Trung Tâm Thí Nghiệm thực hành, Khoa Chế Biến Lâm Sản, trường Đại Học Lâm Nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi học tập và nghiên cứu

Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, Trong quá trình tôi học tập và hoàn thành luận án đã dộng viên và tạo điều kiện cho tôi những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tốt những yêu cầu của khóa học đề ra

Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất và lời chúc sức khỏe!

Tác giả luận văn

Tạ Phương Ngân

Trang 2

MỤC LỤC

Đặt vấn đề……… 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG……… 2

1.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……… 2

1.1.1 Mục tiêu tổng quát……… 2

1.1.2 Mục tiêu cụ thể……… 2

1.2 Nội dung nghiên cứu……… 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu……… 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu…….……… 3

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5 2.1 Cơ sở lý luận ……… 5

2.1.1 Khái niệm cơ bản……… 5

2.1.2 Các nguyên lý cơ bản của thiết kế……… 5

2.1.2.1 Thiết kế nội thất và quá trình thiết kế nội thất……… 5

2.1.2.2 Cơ sở của trang trí nội thất……… 13

2.1.2.3 Thiết kế môi trường nội thất của cửa hàng ăn uống………… 16

2.2 Cơ sở thực tiễn……… 19

2.2.1 Tìm hiểu một số không gian nội thất quán café……… 19

2.2.2 Tìm hiểu một số không gian nội thất quán café sinh viên …… 30

2.2.3 Khảo sát không gian nội thất quán café sinh viên tại Xuân Mai 33 CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ……… 35

3.1 Ý đồ thể hiện không gian nội thất cho cửa hàng……… 35

3.2 Các yếu tố cấu thành trong nội thất… ……… 35

3.3 Hoạt động của thiết kế sáng tác……… 37

CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU SÁNG TÁC……… 39

4.1 Kết quả đạt được về mặt lý thuyết……… 39

4.2 Kết quả đạt được về mặt thực tiễn……… 39

4.3 Kết quả đạt được về mặt sáng tạo……… 39

Trang 3

CHƯƠNG 5 : ĐÁNH GIÁ THIẾT KẾ……… 40

5.1 Đánh giá về giá trị công năng sử dụng……… 40

5.2 Đánh giá về hiệu quả kinh tế……… 40

5.3 Đánh giá về giá trị thẩm mỹ……… 40

CHƯƠNG 6 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 40

6.1 Kết luận……….……… 40

6.2 Kiến nghị……….……… 40

Tài liệu tham khảo……….……… 42

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cafe đi vào cuộc sống của chúng ta thật nhẹ nhàng và lãng mạn Bên ly cafe có những người tìm thấy hạnh phúc, cũng có những người có thể trút được những nỗi niềm mà không thể chia sẻ cùng ai

Với không gian tĩnh lặng và các sản phẩm hương vị độc đáo, cafe đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống ẩm thực và góp một nét văn hoá tạo nên bản sắc riêng

Cafe cũng trở nên rất thân thiết đối với đời sống sinh viên Ngoài thời gian dành cho học tập, những ngày cuối tuần, ngày nghỉ, các bạn sinh viên thường rủ nhau đến các quán cafe để có một chút thời gian thảnh thơi, thư giãn, nghe nhạc hay tâm sự với bạn bè sau những ngày học tập căng thẳng Những phút giây như vậy đã tạo nên những kỉ niệm đẹp của không ít bạn sinh viên Chính vì vậy, có một số quán cafe dành riêng cho sinh viên không khí ở đây khá yên tĩnh, nhẹ nhàng, lãng mạn và rất trẻ trung

Hiện nay có rất nhiều quán cafe, mỗi quán lại mang một phong cách đặc biệt riêng Như quán mang xu hướng bảo vệ môi trường, quán mang xu hướng đơn giản – hiện đại, lại có quán cà phê theo xu hướng trẻ trung – năng động và có quán cafe theo xu hướng sang trọng – cổ điển…

Nhưng thật đáng tiếc là ở Xuân mai lại chưa có quán cafe nào dành riêng cho sinh viên Mà số lượng các bạn sinh viên ở Xuân mai cũng rất là đông điển hình như sinh viên của Trường Đại học Lâm Nghiệp, Trường Cao Đẳng Nông nghiệp và nông thôn Bắc Bộ, Trường Cao đẳng Sư phạm

Xuất phát từ nhu cầu thực tế như vậy và từ rất nhiều xu hướng dành

cho quán cà phê sinh viên tác giả đã mạnh dạn lựa chọn khóa luận “Thiết kế

nội thất quán cafe sinh viên tại Xuân Mai”

Trang 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong xã hội phát triển như hiện nay, cuộc sống của người dân dần dần được nâng lên, nhu cầu của người dân không chỉ ăn no mặc ấm mà còn phải

ăn ngon mặc đẹp, nhu cầu về văn hóa tinh thần cũng dần dần được cải thiện Cafe cũng là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong xã hội ngày nay

Thị trấn Xuân Mai là một khu vực đang trên đà phát triển với số lượng dân cư rất đông Ở đây không chỉ đời sống vật chất mà đời sống tin thần và sự hưởng thụ được người dân ở đây rất quan tâm Vì vậy đã có không ít quán cafe được mọc lên ở đây, nhưng các quán này chủ yếu mang đặc thù của cửa hàng kinh doanh, với không gian được bố trí rất trật chội bởi nhiều ghế bàn Các quán này không dành riêng cho một giới khách nào cả, với không gian chưa mang tính thẩm mỹ cao

Sinh viên chiếm số đông trong thành phần dân cư của thị trấn Nhu cầu của sinh viên cũng rất đa dạng Một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống sinh viên đó là một không gian được thư giãn bên ly cafe sau những giờ học tập căng thẳng, được giao lưu với bạn bè để trau dồi những kinh nghiệm trong học tập cũng như trong cuộc sống và được lưu lại những kỉ niệm đáng nhớ về cuộc đời sinh viên

Ở Xuân Mai đã có rất nhiều người nghiên cứu và thiết kế về quán cafe Nhưng việc nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc thiết kế những quán cafe mang đậm tính chất kinh doanh, chưa có tính thẩm mỹ cao và không theo một xu thế đặc biệt nào cả Và một điều quan trọng nữa đó là ở Xuân Mai chưa có một quán cafe nào mang đặc trưng và dành riêng cho sinh viên Vì vậy, tác giả đã nghiên cứu và đi đến thiết kế quán cafe dành cho sinh viên và các bạn

giới trẻ có tên là “Coffee Student” tại Xuân Mai Tác giả mong muốn sẽ đem

lại một không gian mới lạ, một nét đặc trưng riêng của một quán cafe và phục

vụ nhu cầu của các bạn sinh viên

Trang 6

Với “Coffe Student” , một không gian yên tĩnh, một không gian trẻ

trung, đơn giản và hiện đại Quán có những bức tường được xây với độ cao thấp khác nhau tạo nên không gian mở, làm mờ đi khoảng cách không gian bên trong và không gian bên ngoài gợi cho khách hàng cảm giác thoáng đãng, thư thái Những bức tường âm mang hình trái tim hoặc hình chữ nhật để các bạn trẻ dán những tờ giấy nhỏ nhỏ xinh xinh ghi những dòng lưu niệm lên đó Những không gian mang tính đặc trưng cho quán như bức tường quảng cáo được làm bằng vỏ chai bia, không gian bên trong có khu tiểu cảnh tạo cho khách hàng một cảm giác gần gũi với thiên nhiên hơn

Một tác phẩm ấn tượng như vậy thì không có lý do gì mà quán lại không thu hút được các bạn trẻ Vì vậy tác giả tin rằng đây là một hướng nghiên cứu đúng đắn

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Tổng hợp, phân tích và lựa chọn nội thất quán cafe sinh viên

- Thiết kế nội thất quán café sao cho phù hợp nhất với điều kiện kinh tế,

xã hội và sinh viên hiện nay ở Xuân Mai

- Thiết kế bóc tách một số đồ đạc sử dụng trong nội thất quán

1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khóa luận tập chung giải quyết các nội dung cơ bản sau:

- Giới thiệu chung về nội thất quán café hiện nay

- Tìm hiểu về trào lưu, sở thích uống café của sinh viên hiện nay

- Phân tích, lựa chọn phương án thiết kế

Trang 7

- Lập bản vẽ thiết kế mô phỏng nội thất quán café

- Hoàn thiện các bản vẽ thiết kế, thiết kế chi tiết một số sản phẩm tiêu biểu

1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp kế thừa:

Để giải quyết nội dung nghiên cứu cở sở lý thuyết tôi sử dụng phương

pháp kế thừa Tổng hợp các tư liệu nghiên cứu về các nguyên tắc thiết kế nội thất từ tư liệu khóa luận của các anh (chị) khóa trước trên thư viện của nhà trường c ng bài giảng giáo trình đã được học Tham khảo tài liệu trên internet, tạp chí…

Để giải quyết nội dung nghiên cứu tìm hiểu cơ sở thực tế tôi sử dụng phương pháp điều tra khảo sát thực tế, và phương pháp kế thừa Thu thập các hình ảnh trên thực tế, mạng internet…

- Phương pháp tư duy logic:

Dựa trên việc bản vẽ kiến trúc, thực tế hiện nay nghiên cứu về bản chất, quy luật hoạt động diễn ra trong không gian nội thất, tạo dựng ý đồ thiết kế

- Phương pháp phân tích:

Tìm hiểu và khảo sát phong cách, tính thẩm mỹ, tính công năng trong trang trí nội thất các quán café Việc phân tích phải được thông qua cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận khoa học

- Phương pháp thiết kế mô phỏng:

Dựa trên sự phân tích, cách biểu diễn bản vẽ trong kỹ thuật, sự sáng tạo dựa trên tìm hiểu thực tiễn và những phần mềm đồ họa như: autocad, 3d max, photoshop Thiết kế mô phỏng quán café sinh viên

- Phương pháp nhân trắc học và tư duy logic:

Dựa vào kích thước cơ thể người, mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với các sản phẩm mộc để từ đó lựa chọn kích thước phù hợp cho bản vẽ thiết kế, đảm bảo công năng, thẩm mỹ của sản phẩm

Trang 8

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Hiện nay quán café có rất nhiều, tuy nhiên tác giả chỉ tìm hiểu:

- Các vấn đề tìm hiểu về không gian kiến trúc thông qua hệ thống bản

vẽ thiết kế của người vẽ

- Nguồn thông tin thu thập thông qua thực tế, trên mạng internet và các tài liệu

- Thiết kế một hạng mục tiêu biểu dựa trên những thông tin tìm hiểu được

- Đề tài chỉ dừng lại ở mức độ khóa luận tốt nghiệp không đi sâu vào thi công cụ thể

Trang 9

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Cuộc sống của chúng ta chủ yếu diễn ra ở bên trong những không gian nội thất do các cấu trúc và mái che của các công trình tạo nên Những không gian này chuẩn bị đầy đủ những điều kiện về khung cảnh vật chất cho rất nhiều những gì chúng ta có thể sáng tạo ra và làm cho kiến trúc hàm chứa có nội dung và hình thức sống động

Thiết kế đồ họa là cụm từ để chỉ một chuyên nghành thuộc về mỹ thuật

Trong đó danh từ “Đồ họa” để chỉ những bản vẽ được hiển thị trên một mặt phẳng (đa chất liệu), và động từ “thiết kế” bao hàm ý nghĩa kiến thiết, sáng tạo Từ đó có thể hiểu, “Thiết kế đồ họa” là kiến tạo một hình ảnh, một tác phẩm lên một bề mặt chất liệu nào đó, mang ý nghĩa nghệ thuật nhằm mục đích trang trí, làm đẹp, phục vụ nhu cầu con người

Thiết kế nội thất là việc tổ chức tất cả sản phẩm của mỹ thuật ứng dụng

vào trong không gian, sao cho không gian hài hòa về tổng thể, bố cục, màu sắc, ánh sáng và tính công năng cao Những yếu tố cần thiết cho một không gian nội thất : Công năng, ích dụng, thẩm mỹ

Trang trí nội thất còn cần đến nhu cầu sử dụng của từng đối tượng cụ

thể, từng công việc cụ thể Trang trí nội thất là mội bộ môn trong mỹ thuật ứng dụng hay còn gọi là mỹ thuật công nghiệp Vì vậy yếu tố thẩm mỹ, cách nhìn, sự sáng tạo của sản phẩm phù hợp cho từng không gian là quan trọng và

rất cần thiết

2.2 CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA THIẾT KẾ

2.2.1 Thiết kế nội thất và quá trình thiết kế nội thất

Ở một góc độ nào đó, việc thiết kế nội thất cũng giống như công việc trang trí nội thất Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể phân biệt được nhờ những

Trang 10

khái niệm về thiết kế Trong thiết kế, việc bố trí thế này hay thế khác đều được lập phương án và kế hoạch thực hiện rõ ràng chính xác

* Các bước và nội dung thiết kế nội thất

Nhìn chung, thiết kế nội thất được thực hiện theo các bước sau:

Thu thập thông tin làm cơ sở thiết kế

Xây dựng và lựa chọn phương án thiết kế

Trình bày bản vẽ và thuyết minh, đánh giá thiết kế

Lập kế hoạch thi công và nghiệm thu

Bước 1: Thu thập thông tin làm cơ sở thiết kế

Việc thu thập thông tin được thu thập theo các nhóm thông tin sau:

- Người sử dụng và những yêu cầu họ:

+ Người sử dụng: Là cá nhân hay nhóm? Nếu là nhóm thì có bao nhiêu người?; Là cụ thể hay trừu tượng?; Ngành nghề? nhóm tuổi?

+ Các yêu cầu: Yêu cầu của nhóm là gì? Yêu cầu của từng cá nhân ra sao?; Sự cần thiết về không gian cá nhân, sự riêng tư; Quan hệ qua lại, lối đi ; Các đồ vật ưa chuộng, màu ưa thích, ; Các vị trí đặc biệt, các sử thích riêng tư

- Các yêu cầu về hoạt động:

Hoạt động chủ yếu là gì? thứ yếu là gì?; Bản chất của hoạt động là chủ động hay thụ động?; Hoạt động ồn ào hay yên tĩnh?; Hoạt động công cộng, nhóm nhỏ hay cá nhân riêng biệt?; Nếu không gian được sử dụng cho nhiều hoạt động thì các hoạt động quan hệ với nhau như thế nào?; Hoạt động có diễn ra thường xuyên hay không?; Thời gian hoạt động là ngày hay đêm?; Hoạt động cần có các yêu cầu như thế nào: Riêng tư và ngăn cách, lối ra vào

ra sao, khả năng sử dụng như thế nào, các yêu cầu đối với chiếu sáng, chất lượng âm thanh

- Các yêu cầu về đồ đạc:

+ Xác định các yêu cầu về đồ đạc và thiết bị cho mỗi hoạt động: Loại, kiểu dáng, số lượng các thiết bị ra sao?; Diện tích làm việc; Diện tích dự trữ

Trang 11

và trưng bày; Các phụ kiện và các thiết bị đặc biệt cần thiết khác ; Đèn chiếu, điện, cơ khí

+ Xác định chất lượng yêu cầu của các thiết bị: Tính tiện nghi; Tính an toàn; Sự đa dạng của thiết bị; Độ bền; Khả năng bảo quản

+ Xác định cách bố trí: Phân theo nhóm công năng, bố trí phù hợp theo kiểu dáng hay bố trí linh hoạt

- Phân tích không gian:

- Các yêu cầu về kích thước:

+ Xác định các yêu cầu về kích thước đối với không gian và các nhóm trang thiết bị: Diện tích cần thiết cụ thể cho mỗi nhóm được trang bị; Không gian cần thiết cho lối vào và di chuyển trong phạm vi giữa các khu vực hoạt động; Số người phù hợp; Khoảng cách phù hợp và tác động qua lại

+ Xác định sự phù hợp giữa hoạt động và các kích thước của không gian: Nghiên cứu các phương thức và nhóm hoạt động phù hợp trong phạm vi hình dáng, tỷ lệ của diện tích sàn với chiều cao của không gian

- Các chất lượng yêu cầu: Xác định chất lượng phù hợp với khung cảnh

không gian và sở thích hoặc nhu cầu của khách hàng hoặc người sử dụng Cảm xúc, tâm trạng hoặc môi trường; Hình tượng và phong cách; Mức độ thông thoáng bao quanh; Tiện lợi và an toàn; Trọng điểm và hướng không gian; Môi trường âm thanh; Tính năng động

- Mối quan hệ yêu cầu: Mối quan hệ yêu cầu giữa các khu vực hoạt động liên

quan; Giữa các khu vực liên quan tới sự hoạt động; Giữa căn hộ và không

gian bên cạnh; Giữa căn hộ và bên ngoài

Trang 12

+ Phân khu yêu cầu cho các hoạt động: tổ chức các hoạt động thành các nhóm hoặc theo các tập hợp tương xứng và thuận tiện cho sử dụng

Bước 2: Xây dựng và lựa chọn phương án thiết kế

Đây là bước chủ yếu diễn ra quá trình thiết kế Quá trình này có thể mô

tả qua những vòng tròn mà trên đó lăp đi lặp lại ba công đoạn đó là: Phân tích

- Tổng hợp - Đánh giá

Để xây dựng được các phương án thiết kế, ban đầu chúng ta cần phân tích các thông tin thu thập được để từ đó tổng hợp lại đưa ra một phương án thiết kế Tiếp đó sẽ là đánh giá phương án vừa tạo ra xem ưu, nhược ở đâu để tiếp tục rút kinh nghiệm cho các phương án kế tiếp Sau khi đánh giá, nếu kết quả chưa đạt được như mong muốn, ta lại tiến hành phân tích, tổng hợp rồi lại đánh giá cho tới khi điều đạt được xấp xỉ với điều mong đợi

- Phân tích:

Trong công đoạn này, chúng ta cần phân tích các nội dung theo các thông tin đã thu thập được ở bước thứ nhất, nói đúng hơn là ta cần phải trả lời các câu hỏi sau:

+ Cái gì đang tồn tại? : Các tư liệu về vật chất, văn hoá hiện tại; Mô tả các yếu tố hiện có; Cái gì có thể thay đổi, cái gì không thể?

+ Người sử dụng muốn gì?: Xác định các yêu cầu và sở thích của người

sử dụng; Đề ra những mục tiêu, những yêu cầu về chức năng; Yêu cầu về hình ảnh và phong cách thẩm mỹ; Sự kích thích và ý nghĩa về mặt tâm lý

+ Điều gì có thể thực hiện? : Xác định có thể chọn cái gì, cái gì không thể chọn?; Xác định cái gì có thể điều chỉnh, cái gì không thể?; Xác định cái

gì được phép, cái gì bị cấm?; Xác định các giới hạn về: thời gian, kinh tế, pháp lý, kỹ thuật

Từ việc phân tích các phần của vấn đề, chúng ta có thể đặt ra các giải pháp, phương án thiết kế Điều này đòi hỏi sự tổng hợp, kết hợp giải đáp những vấn đề về các phương diện khác nhau để các giải pháp gắn bó với nhau

Trang 13

Có nhiều cách tiếp cận lựa chọn để tạo ra các ý đồ và tổng hợp các giải pháp cho một vấn đề Chúng ta có thể tách ra một hoặc hai vấn đề chủ chốt có giá trị hoặc có tầm quan trọng và dựa vào các vấn đề này mà đưa ra các giải pháp Nghiên cứu các trường hợp tương tự và sử dụng chúng làm mẫu để phát triển các giải pháp của vấn đề đã nắm chắc Phát triển các giải pháp thích hợp cho các bộ phận của vấn đề có thể kết hợp vào các giải pháp tổng thể và làm cho chúng hài hoà với cái hiện có

Nếu không có sự phân tích, tổng hợp từ đầu thì khó có thể phát triển một ý đồ tốt

- Tổng hợp:

Việc thiết kế đòi hỏi sự suy nghĩ hợp lý dựa trên kiến thức và sự hiểu biết tích luỹ được qua kinh nghiệm và nghiên cứu Nội dung chính của công đoạn tổng hợp này là:

+ Lựa chọn các phần: Tiến hành lựa chọn và ấn định các giá trị cho các vấn đề hoặc yếu tố then chốt; Nghiên cứu bản chất của các phần này; Hình dung ra cách làm cho các phần này có thể phù hợp với các phần khác

+ Tạo ý đồ: Nhìn nhận tình hình từ các quan điểm khác nhau; Bố trí các phần để thấy sự thay đổi có thể tác động đến tổng thể như thế nào; Nghiên cứu các biện pháp để kết hợp vài ý đồ tốt vào một biện pháp tốt hơn

+ Tổng hợp lại toàn bộ các ý đồ

- Đánh giá:

Thiết kế đòi hỏi phải xét duyệt chặt chẽ các giải pháp lựa chọn và so sánh các ưu điểm, nhược điểm của từng đề xuất cho đến khi đạt được sự phù hợp nhất giữa vấn đề thiết kế cụ thể và giải pháp Nội dung của công đoạn này là:

+ So sánh các ý đồ đã lựa chọn: So sánh mỗi giải pháp với mục tiêu và tiêu chuẩn của thiết kế ; Cân nhắc các thuận lợi và ưu điểm so với các chi phí

và độ tin cậy của mỗi giải pháp ; Xếp thứ tự các giải pháp về sự thích hợp và hiệu quả

Trang 14

+ Đưa ra các quyết định về thiết kế

Tiêu chí để đánh giá thiết kế:

- Mức độ đáp ứng chứng năng và mục đích của phương án thiết kế

- Chất lượng thẩm mỹ của thiết kế

- Chất lượng tinh thần của thiết kế: có ý nghĩa, gây ấn tượng, độc đáo

- Tính kinh tế của thiết kế

Bước 3: Trình bày bản vẽ và thuyết minh thiết kế

Sau khi đã quyết định lựa chọn được một phương án thiết kế, chúng ta tiến hành trình bày bản vẽ và thuyết minh phương án thiết kế

Bản vẽ thiết kế được lập thành hồ sơ Thông thường trong thiết kế nội thất có ít nhất là 7 bản vẽ: bản vẽ các mặt tường, bản vẽ mặt bằng, bản vẽ mặt trần và bản vẽ phối cảnh tổng thể Trong một số thiết kế, số bản vẽ có thể lên tới hàng trăm bản, có đầy đủ các góc nhìn phối cảnh và những phương án thiết kế khác để giúp người xem dễ dàng so sánh, dễ dàng thấy được tính ưu việt của phương án thiết kế

Trong bản vẽ các mặt tường, màu của các chi tiết được thể hiện một cách trung thực để người thi công có thể lấy đó làm màu chuẩn thiết kế, không lấy theo màu của bản vẽ phối cảnh

Các bản vẽ mặt cắt tường cũng như các chi tiết khác được thực hiện theo tiêu chuẩn bản vẽ kỹ thuật hiện hành

Thuyết minh thiết kế phải làm rõ các nội dung sau:

+ Lý do thực hiện thiết kế: theo đơn đặt hàng, theo tính cấp thiết phải thay đổi cải tạo

+ Thực trạng của phương án cũ (nếu có trong trường hợp thiết kế cải tạo) + Tính ưu việt của phương án thiết kế mới so với phương án thiết kế cũ + Đánh giá tổng hợp về phương án thiết kế

Bước 4: Lập kế hoạch thi công và nghiệm thu

Trong bước này, người thiết kế cần lập ra một kế hoạch thi công để khẳng định tính khả thi của thiết kế Cụ thể các đồ đạc nào là thiết kế, đồ đạc

Trang 15

nào là mua sẵn Nếu là thiết kế cần có bản vẽ thiết kế sơ bộ Còn nếu là đồ đạc mua sẵn phải có mẫu mã catalog với đầy đủ kích thước kèm theo

2.2.2 Cơ sở của trang trí nội thất

Cơ sở của trang trí nội thất trước tiên là không gian kiến trúc bên trong của công trình Việc trang trí nội thất không chỉ dựa trên cơ sở hình học của không gian kiến trúc mà còn dựa vào ý đồ của kiến trúc sư thiết kế công trình Nếu hai yếu tố này không ăn khớp thì mọi sự nỗ lực của nhà thiết kế đều là vô nghĩa Quả thực, chức năng của mỗi căn phòng đã được hoạch định bởi kiến trúc sư, trên cơ sở đó người thiết kế nội thất phải làm nổi bật chức năng của mỗi căn phòng đó

Ngoài ra trang trí nội thất cần dựa trên những cái đã có, những kiểu dáng, đồ đạc, những trang thiết bị và công nghệ đã biết trong xã hội hiện đại

* Các nguyên tắc của trang trí nội thất

- Trong trang trí nội thất, nguyên tắc đầu tiên cần đảm bảo đó là không làm ảnh hưởng tới kết cấu kiến trúc cũng như ý đồ của kiến trúc sư (trừ trường hợp thay đổi mục đích sử dụng của không gian nội thất)

- Nguyên tắc thứ hai đó là phải tạo ra được một không gian nội thất độc đáo có tiếng nói riêng, có tâm hồn và đầy ý nghĩa Qua cách bài trí không gian nội thất, chúng ta có thể đọc biết được nhiều điều về gia chủ như tính cách, sở thích tất nhiên là trong trường hợp căn phòng đó được trang trí đúng cách, không bạ gì dùng nấy

- Trang trí nội thất phải được thực hiện theo các nguyên tắc mỹ thuật cơ bản Một không gian được trang trí tồi, không tuân theo các nguyên tắc mỹ thuật sẽ một không gian nội thất luộm thuộm, đồ đạc như nhảy múa, cãi vã nhau, cho ta cảm giác khó chịu khi bước vào đó Vì vậy chúng ta cần quan tâm đến những điều luật trong nguyên tắc mỹ thuật cơ bản sau:

Luật cân bằng : Sự cân bằng phù hợp của các yếu tố là sự cần thiết

đối với một mẫu thiết kế Luật cân bằng có hai loại đó là cân bằng đối xứng

và cân bằng bất đối xứng

Trang 16

Cân bằng đối xứng biểu thị tất cả các yếu tố như chiều cao, chiều rộng… được sắp đặt một cách đối xứng Cân bằng đối xứng đề cập đến tất cả những gì được sắp xếp trong một bố cục Cân bằng đối xứng được chia ra làm nhiều loại như cân bằng đảo ngược, cân bằng hai trục, cân bằng xuyên tâm…

Cân bằng bất đối xứng đạt được khi không có sự đối xứng Khi tất cả các yếu tố được sắp đặt không có sự đối xứng với nhau Luật cân bằng được

áp dụng trong rất nhiều thiết kế

Luật nhấn mạnh : Những yếu tố cần phải nổi bật thì sẽ được nhấn

mạnh Sự nhấn được tạo ra bởi sự sắp đặt các yếu tố một cách hợp lý Hoặc đặt chúng ở vị trí đáng được chú ý bằng cách dùng sự tương phản, có nghĩa là làm chúng nổi bật lên bằng những nét đặc trưng như màu sắc, hình dáng, tỉ lệ

Sự nhấn mạnh hoặc tương phản mang lại sự muôn màu muôn vẻ cho một mẫu thiết kế Một số loại tương phản phổ biến là : cong – thẳng, rộng – hẹp, hoa

mỹ - x xì…Nhấn mạnh bằng tương phản xuất phát từ rất nhiều phương pháp, nhưng phương pháp phổ biến nhất có lẽ là màu sắc Sự tương phản về đường nét, hình dáng và kích thước làm nên ưu thế của một chi tiết so với tổng thể Thí dụ như một đóa hoa được đặt trước một bức tường tĩnh lặng và đơn sắc thu được hiệu quả nhiều hơn trong một môi trường ồn ào náo nhiệt

Luật đồng nhất : Sự đồng nhất hoặc hài hòa tạo nên sự liên kết giữa

các yếu tố trong một diện mạo Nó là sự cân bằng phù hợp của tất cả các yếu

tố để tạo nên một tổng thể dễ chịu Sự đồng nhất được phản ánh trong tổng thể hài hòa Sự đồng nhất ám chỉ đến sự hợp nhất của tất cả các yếu tố trong một khối, nơi mà mỗi phần khác nhau hỗ trợ những phần còn lại và tất cả sự kết hợp đó làm thành một khối nghệ thuật đồng nhất Nó đạt được bằng cách

sử dụng sự liên tục và sự hài hòa

Luật đơn giản : Sự đơn giản trong thiết kế dẫn đến sự nhận thức chủ đề

một cách dễ dàng hơn Sự đơn giản là thực sự cần thiết, đặc biệt trong sự bố trí, để tạo nên sự rõ ràng, sang sủa

Trang 17

Luật cân xứng : Luật cân xứng là mối quan hệ giữa hình dạng và kích

thước Nó giúp cho chúng ta đạt được sự cân bằng, đồng nhất Để có được một sự cân bằng tốt thì các yếu tố phải được điều chỉnh Sự đều chỉnh kích thước của các yếu tố với một sự cân xứng hoàn hảo tạo nên một mẫu thiết kế tốt Đó chính là sự liên quan giữa kích thước của các yếu tố với nhau, và với

sự cân bằng tổng thể Sự cân xứng bao gồm những mối liên quan đó là liên quan về chiều cao, chiều rộng, chiều sâu và không gian xung quanh

2.2.3 Thiết kế môi trường nội thất của cửa hàng ăn uống, quán café

Thiết kế nội thất các cửa hàng ăn, Coffee, trong thiết kế không gian, phải căn cứ vào hành vi ăn uống để bố trí chỗ ngồi, để đảm bảo tính riêng tư nhất định, có thể d ng phương thức cắt rời hoặc cách ly tách khách hàng ăn uống, phải theo kích thước cơ thể người để thiết kế hoặc chọn gia cụ Ngoài không gian thiết kế phải phù hợp nhu cầu cửa hàng vì ăn uống, quan trọng hơn là thiết kế môi trường thị giác, môi trường thính giác và môi trường khứu giác Trong một môi trường dễ chịu, yên tĩnh (thanh nhã) ăn uống không chỉ

là một loại hưởng thụ vật chất, đồng thời cũng là một loại hưởng thụ tinh thần Nguyên tắc chủ yếu thiết kế nội thất phòng ăn có một số mặt sau đây:

a Chọn và thiết kế đồ mộc (gia cụ)

Đồ mộc trong phòng ăn, quan trọng nhất là ghế, quầy (quầy đồ ăn, quầy rượu và quầy thu tiền), thứ đến là bàn Tạo hình và màu sắc của ghế phải phù hợp với môi trường, đặc biệt là phong vị phòng ăn phải có bầu không khí văn hoá và phong cách đặc biệt Quầy phải sạch sẽ, và phù hợp với ánh sáng đèn chiếu sáng cục bộ

b Xếp chỗ ngồi

Sắp xếp chỗ ngồi phải ngay ngắn, chỗ ngồi có hứng thú, không thể phiền phức lẫn nhau, cần để lại một không gian hoạt động đầy đủ cho hành vi đứng dậy ăn uống kết hợp với các nhân tố giới hạn không gian như cột, vách ngăn, cửa trời, nâng hạ sàn để tiến hành bố trí, thiết kế nội thất phòng

Trang 18

ăn cao thấp khác nhau không gian phòng ăn có thể hình thành cảm giác không gian tập thể (không gian nổi, 3 chiều), không gian thị giác phong phú

c Thiết kế môi trường ánh sáng

Thường các nhà ăn đông người (các quán ăn, quán ăn nhanh, coffee) môi trường chiếu sáng phải đơn giản sáng sủa, cố gắng tận dụng ánh sáng tự nhiên ban ngày, cố gắng không dùng chiếu sáng nhân tạo, độ mở không gian lớn Ban đêm có thể dùng chiếu sáng tổ hợp giữa đèn ống ánh sáng ban ngày và đèn dây tóc, quầy và điểm cảnh không đặt đèn chiếu và đèn tường

Thiết kế môi trường ánh sáng của quán bar và cửa hàng đặc sản dùng sắc màu ấm và hợp lý, độ chiếu sáng không nên quá lớn, nên dùng nhiều đèn dây tóc treo và đèn tường sắc ấm, cũng có thể lợi dụng môi trường ánh sáng nhấp nháy của đèn huỳnh quang

Môi trường ánh sáng nhà ăn lớn có thể dùng sắc màu ấm áp sáng sủa, ban ngày chiếu sáng bằng tổ hợp ánh sáng tự nhiên và ánh sáng đèn

f Chất liệu mặt tiếp xúc không gian

Mặt tường

Để lợi dụng tán xạ và phản xạ tự do của âm thanh, cảm giác chất lượng mặt tường cần thô một chút, phần tiếp xúc với người có thể nhẵn hơn (chân

Trang 19

tường) Cũng có thể treo một số sản phẩm trang trí, như lụa, để điều tiết cảm giác chất lượng mặt tường

Sàn nhà

Sàn nhà phải chống trơn, không được phản quang Quán ăn đại chúng (bình dân) có thể dùng gạch chịu mài mòn, nhà hàng đặc sản, quán bar (quán rượu) có thể dùng ván sàn gỗ, thảm trải đất Khi diện tích lớn, dùng màu sắc nhạt, khi diện tích nhỏ có thể dùng màu sắc trung tính

số màu sắc so sánh nhất định hiệu quả càng tốt

h Thiết kế chất lượng âm

Căn cứ vào địa điểm có thể phát âm nhạc bối cảnh khác nhau (thường lấy nhạc nhẹ làm chủ), nhưng âm lượng nhỏ, không ảnh hưởng đến khách cùng bàn nói chuyện Hiệu quả cách âm phải tốt

i Thông gió và điều hoà không khí

Đảm bảo thông gió và nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, là điều kiện không thể thiếu được của môi trường ẩm thực Nhưng cần chú ý đến tiếng ồn của thông gió và thiết bị điều hoà, đề phòng sản sinh tiếng ồn ảnh hưởng đến môi trường

j An toàn phòng chống cháy

Chú ý các biện pháp an toàn phòng chống cháy, thiết bị chống cháy và đường thoát hiểm phải sẵn sàng

Trang 20

2.2.3 Kỹ thuật “xanh” và thiết kế “xanh hoá” trong nội thất (còn gọi là thiết kế lục hoá trong nội thất)

Sản xuất công nghiệp hiện đại là đem những nguồn tài nguyên (bao gồm

cả năng lượng) thông qua quá trình sản xuất để chuyển hoá thành những sản phẩm cung cấp cho con người sử dụng hoặc lợi dụng Nó là ngành công nghiệp tạo ra sự giàu có cho con người, đồng thời nó cũng chính là nguồn gốc chủ yếu để tạo ra sự ô nhiễm cho môi trường Trong quá trình đem nguồn tài nguyên để chuyển hoá thành sản phẩm, cũng như trong quá trình sử dụng và

xử lý đối với sản phẩm, nó cũng sẽ tạo ra những chất thải và chất độc hại đối với con người và môi trường Do đó, việc làm thế nào để giảm khả năng gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất cũng là một vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu hiện nay Con người luôn khát vọng có được một ngôi nhà xanh sạch, màu xanh tượng trưng cho tự nhiên, cho sự sống, cho sức khoẻ, cho sự thư giãn và cho sức lực Con người đã bắt đầu lựa chọn từ màu xanh

để thay thế cho sự không ô nhiễm, không độc hại và cũng như để bảo vệ môi trường sống Đó chính là bối cảnh của thời đại ngày nay, và một khái niệm mới “Kỹ thuật xanh” (Green technology) đã ra đời, nó mang theo những đặc tính về sứ mệnh để len lỏi vào tất cả các ngành nghề, đồng thời nó cũng được coi là con đường phát triển của các xí nghiệp sản xuất hiện đại

Ngành sản xuất đồ gia dụng là một loại ngành nghề mang tính truyền thống, đối với con người hiện đại, ngoài những yêu cầu về phẩm chất kỹ thuật

và nghệ thuật như: hình dáng, công dụng,…, của đồ gia dụng ra, thì nó còn cần phải phù hợp với những tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, phải có lợi cho

cơ thể con người Hiện nay, “đồ gia dụng xanh” có tính năng bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề quan trọng trong sản xuất đồ gia dụng Việc thiết kế rạo ra những sản phẩm đồ gia dụng xanh đã trở thành những điều kiện

để đảm bảo sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế và là những chỉ tiêu để xí nghiệp có thể đạt được những chứng nhận về khả năng bán hàng trên thị trường quốc tế

Trang 21

2.2.3.1 Sản phẩm xanh và kỹ thuật xanh

* Sản phẩm xanh

Theo nghĩa hẹp mà nói, sản phẩm xanh là chỉ những sản phẩm thuần khiết

từ thiên nhiên không có cho thêm bất kỳ một loại hoá chất nào vào, hoặc là những sản phẩm được chế tạo từ nguồn thực vật thiên nhiên; theo nghĩa rộng

mà nói, sản phẩm xanh là chỉ toàn bộ quá trình sản xuất, sử dụng cho đến thu hồi đều phải phù hợp với những yêu cầu về bảo vệ môi trường, không có hại hoặc gây hại rất ít đối với môi trường, có lợi cho việc tái sinh nguồn tài nguyên và việc thu hồi lợi dụng đối với sản phẩm

Căn cứ theo những yêu cầu của sản phẩm xanh, ngoài việc bản thân của sản phẩm có khả năng phù hợp được với những chỉ tiêu kiểm tra theo quy định trong tiêu chuẩn ra, thì nó còn yêu cầu trong quá trình sản xuất và sử dụng, bao gồm việc lựa chọn và sử dụng nguồn nguyên vật liệu, sản xuất, thi công và ứng dụng,…, đều không được gây ra sự ô nhiễm cho môi trường, chỉ

có như vậy mà tạo ra được sản phẩm thì mới được coi là đạt được sản phẩm xanh Do sử dụng những “vật liệu xanh”, thông qua “thiết kế xanh”, “sản xuất xanh” và “đóng gói xanh”, quá trình sản xuất đó sẽ đảm bảo được sự tiết kiệm năng lượng, giảm thấp sự tiêu hao, giảm sự ô nhiễm cho môi trường Nó là một đặc trưng chủ yếu của sản phẩm xanh, đồng thời cũng thể hiện được toàn

bộ chu kỳ của sản xuất và sử dụng đối với sản phẩm

Trang 22

nó là tạo ra những sản phẩm xanh, đồng thời làm cho toàn bộ chu kỳ tồn tại của sản phẩm đó từ khâu thiết kế, chế tạo, đóng gói, vận chuyển, sử dụng, đến

xử lý phế liệu, đều có ảnh hưởng ô nhiễm rất nhỏ tới môi trường, tỷ lệ lợi dụng đối với nguồn tài nguyên cao, điều tiết được tối ưu về hiệu ích kinh tế của xí nghiệp cũng như của xã hội Nó chủ yếu gồm có 3 vấn đề: thứ nhất là vấn đề lợi dụng tối ưu nguồn tài nguyên, tức là phải khai thác hợp lý, có sự phối hợp với bảo hộ; hai là vấn đề về bảo vệ môi trường, tức là phát triển kỹ thuật sản xuất sạch (Clean manufacturing) và tạo ra những sản phẩm không ô nhiễm, không gây độc hại, phải có khả năng bảo vệ môi trường; ba là vấn đề

về toàn bộ chu kỳ tồn tại của sản phẩm, tức là phải có được sự văn minh trong sản xuất, thích hợp trong bán hàng, phải lấy yếu tố con người là gốc Kỹ thuật xanh chính là sự hỗn hợp của 3 nội dung ở trên

Kỹ thuật xanh là lấy chất lượng tốt, hiệu quả cao, tiêu hao thấp, giá thành hợp lý, hình dáng đẹp, an toàn trong sử dụng, đáng tin cậy, có khả năng bảo

vệ môi trường làm mục tiêu, đồng thời cũng có được tính tiên tiến về kỹ thuật sản xuất, phù hợp với chiến lược phát triển một cách liên tục của thế kỷ 21 Phát triển bền vững (Sustainable development) là đem môi trường sinh thái liên kết với sự phát triển về kinh tế thành một chỉnh thể hữu cơ tương quan nhân quả, cho rằng sự phát triển kinh tế cũng cần phải xem xét đến năng lực gánh chịu trong thời gian dài của môi trường sinh thái, làm cho môi trường và nguồn tài nguyên có khả năng thoả mãn được những nhu cầu về phát triển kinh tế, nó cũng là một yếu tố đảm bảo cho sự sinh tồn của con người, từ đó hình thành một chiến lược mang tính tổng hợp Do biện pháp thực hiện đối với kỹ thuật xanh hoặc sản xuất sản phẩm xanh là một quá trình có liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của loài người, do đó, kỹ thuật xanh đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của con người, mỗi một nhà sản xuất, đặc biệt là mỗi một xí nghiệp sản xuất, đều phải xem xét đến hành vi của xí nghiệp Chúng ta nên từ góc độ đạo đức xã hội và hiệu ích của xã hội để nhận thức về kỹ thuật xanh, mỗi xí nghiệp sản xuất đều phải

Trang 23

hành động và bắt buộc phải hành động Đối với bất kỳ một quá trình sản xuất nào, hay một sản phẩm nào mà tạo ra sự ô nhiễm cho môi trường, có hại cho sức khoẻ của con người, hoặc là cho rằng kỹ thuật xanh có thể sẽ phải đầu từ lớn, hiệu quả ít, thu vốn chậm,…, hoặc là có những nhận thức và hành vi không thực sự muốn lựa chọn kỹ thuật xanh trong sản xuất thì đều là vô trách nhiệm đối với xã hội

Kỹ thuật xanh không chỉ là thể hiện rõ được hiệu ích cho xã hội, mà nó còn thể hiện rõ được tính hiệu ích về mặt kinh tế Thứ nhất, kỹ thuật xanh nó

sẽ nhấn mạnh đến việc mở rộng sản xuất sản phẩm xanh, cải thiện được tính năng của sản phẩm và nâng cao được đẳng cấp của sản phẩm, nó có thể tạo ra những cơ hội lớn về thị trường cho xí nghiệp; thứ hai, thực hiện với kỹ thuật xanh có khả năng nâng cao được đến mức tối đa về khả năng lợi dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thấp sự tiêu hao nguyên vật liệu, trực tiếp làm giảm giá thành của sản phẩm; thứ ba, thực hiện kỹ thuật xanh, có thể làm giảm sự ô nhiễm môi trường và có hại cho sức khoẻ con người, làm giảm hoặc tránh được những vấn đề do môi trường mà gây ra những phiền phức hoặc bị phạt tiền; thứ tư, thực hiện kỹ thuật xanh, có thể làm cải thiện được môi trường lao động của công nhân trong xí nghiệp, có lợi cho việc bảo vệ sức khoẻ của người lao động và nâng cao tính an toàn trong sản xuất, giảm thấp những rủi ro không đáng có; thứ năm, thực hiện kỹ thuật xanh, trong điều kiện được làm việc ở môi trường sạch sẽ, người công nhân sẽ cảm thấy thoải mái, có lợi cho việc nâng cao tính năng động của người công nhân, nâng cao được hiệu quả sản xuất, tạo ra nhiều hơn nữa lợi nhuận cho xí nghiệp; thứ sáu, thực hiện kỹ thuật xanh, làm cho xí nghiệp sẽ có được một ấn tượng tốt đối với xã hội, tăng thêm nguồn vốn vô hình cho xí nghiệp Do đó, đối với kỹ thuật xanh không nên chỉ bị động coi đó là một sự tuân thủ theo những quy định của chính phủ hoặc đạo đức xã hội, mà nên coi đó như là một quyết sách

về chiến lược kinh doanh, tức là khi thực hiện kỹ thuật xanh sẽ tạo ra cho xí nghiệp những cơ hội

Trang 24

2.2.3.2 “Đồ gia dụng xanh” và hệ thống kỹ thuật

Đồ gia dụng xanh được coi là một sản phẩm xanh đặc thù, tức là nó có lợi cho sức khoẻ của người sử dụng, không có độc hại hoặc gây tổn thương cho

cơ thể con người, thoả mãn được những nhu cầu của người sử dụng, trong quá trình sản xuất và thu hồi lợi dụng nó luôn phù hợp với những yêu cầu về bảo

vệ môi trường, đó được gọi là sản phẩm đồ gia dụng xanh Căn cứ theo những yêu cầu của sản phẩm xanh, đồ gia dụng xanh ngoài bản thân sản phẩm phải phù hợp với những chỉ tiêu kiểm tra theo tiêu chuẩn và thoả mãn được những tính năng về sử dụng và tinh thần ra, thì nó cũng cần phải thông qua toàn bộ quá trình từ thiết kế, sản xuất, đóng gói, vận chuyển, sử dụng cho đến xử lý phế liệu, đều phải thực hiện được đến mức tối đa về lợi dụng với nguồn tài nguyên, giảm thấp sự ô nhiễm môi trường và thoả mãn được những nhu cầu của con người Trong quá trình sản xuất, sử dụng, hay xử lý thu hồi, đều không được gây ra ô nhiễm cho môi trường hoặc là tạo ra sự nguy hại cho sức khoẻ của con người

Vì vậy, cái gọi là đồ gia dụng xanh cũng chính là sự thể hiện tổng hợp của

kỹ thuật “5 xanh (GDMMPM)”, tức là: “thiết kế xanh (green design)”, “vật liệu xanh (green material)”, “sản xuất xanh (green manufacturing)”, “bao bì xanh (green packing)”, “kinh doanh xanh (green marketing)” Trên phương diện thiết kế đồ gia dụng, cần phải phù hợp với nguyên lý về nhân thể học, phải có được tính khoa học, giảm thấp những tính năng thừa, trong trường hợp sử dụng bình thường và không bình thường, nó không được phép tạo ra những ảnh hưởng không có lợi hoặc có hại đối với cơ thể con người; trên phương diện lựa chọn nguyên vậy liệu trong sản xuất đồ gia dụng, cần phải phù hợp với những yêu cầu tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, lợi dụng nguồn nguyên vật liệu tuân thủ theo nguyên tắc 3R hoặc 4R [giảm thấp lượng sử dụng (reduce), tiến hành lợi dụng (reuse), lợi dụng tuần hoàn (recycle), lợi dụng nguyên liệu tái sinh (re – grow)], nguyên tắc là thực hiện đa dạng hoá,

tự nhiên hoá, gỗ hoá, xanh hoá, bảo vệ môi trường hoá đối với nguồn nguyên

Trang 25

liệu sử dụng trong sản xuất đồ gia dụng; trong quá trình sản xuất đồ gia dụng, không tạo ra sự ô nhiễm cho môi trường (sản xuất xanh), tiết kiệm năng lượng

và nguyên vật liệu, đồng thời cố gắng kéo dài tuổi thọ sử dụng của sản phẩm,

từ đó làm giảm thấp sự tiêu hao năng lượng cho quá trình gia công; trên phương diện đóng gói sản phẩm đồ gia dụng, vật liệu sử dụng phải đảm bảo được tính sạch sẽ, an toàn, không độc hại, dễ phân giải, có thể thu hồi; trên phương diện sử dụng, không được tạo ra những chất gây hai cho sức khoẻ của con người, dễ dàng cho thu hồi và tái sử dụng

* Thiết kế xanh là hạt nhân để tạo ra được sản phẩm đồ gia dụng xanh

Thiết kế xanh là chỉ trong quá trình thiết kế tạo ra sản phẩm và tuổi thọ của nó, đồng thời có xem xét đến các vấn đề về tính năng sử dụng, chất lượng hay giá thành của sản phẩm, nhằm tiến hành thiết kế tối ưu hoá các phương án

để cho quá trình sản xuất và sản phẩm tạo thành sẽ có ảnh hưởng nhỏ nhất đến môi trường, đồng thời tỷ lệ lợi dụng đối với nguồn tài nguyên phải cao, các giá trị về tính năng sử dụng phải tốt nhất

Tư tưởng cơ bản của thiết kế xanh là trong giai đoạn thiết kế cần phải đưa nhân tố môi trường và biện pháp phòng chống ô nhiễm vào trong quá trình thiết kế sản phẩm, đem tính năng về môi trường làm thành mục tiêu và điểm xuất phát của quá trình thiết kế, để làm giảm tới mức thấp nhất hiệu ứng có hại của sản phẩm đối với môi trường Thiết kế xanh còn được gọi là thiết kế cho môi trường (design for environmet) hoặc thiết kế sinh thái (eco – design),

nó nhấn mạnh đến việc phát triển sản xuất các loại sản phẩm xanh

Thiết kế xanh chính là một kỹ thuật quan trọng nhất trong kỹ thuật xanh,

nó bao gồm rất nhiều các yếu tố như: phương án thiết kế sản phẩm, thiết kế tạo hình cho sản phẩm, thiết kế tối ưu hoá về kết cấu sản phẩm, thiết kế lựa chọn nguyên vật liệu, thiết kế bao bì cho sản phẩm, thiết kế quy hoạch công nghệ, thiết kế cho môi trường sản xuất, thiết kế các phương án xử lý thu hồi sản phẩm, hay tính toán giá thành đối với môi trường,…

Trang 26

Việc xác lập về bản chất bảo vệ môi trường xanh trong thiết kế đồ gia dụng hiện đại chủ yếu gồm 3 phương diện: thứ nhất, yêu cầu có được hiệu quả về công dụng, vận dụng lý thuyết về nhân thể học và lý thuyết “lấy yếu tố con người làm gốc” để tiến hành thiết kế đồ gia dụng, không những cần phải coi trọng tính năng về sinh lý, mà cũng cần phải nghiên cứu về tình hình tâm

lý của con người, khi thiết kế phải thoả mãn được yêu cầu về hai mặt đó là tâm lý và sinh lý của con người; thứ hai, cần xem xét một cách hợp lý về tính

đa dạng của nguyên vật liệu, sử dụng những nguyên liệu đảm bảo được tính gần gũi với tự nhiên, không gây độc hại cho con người, có thể tiết kiệm được năng lượng, thoả mãn được những tính năng của sản phẩm, giảm đến mức thấp nhất lượng nguyên liệu tiêu hao, thực hiện sản xuất có hiệu quả tối ưu nhất; thứ ba, thiết kế tạo ra sản phẩm có đẳng cấp cao, cũng cần phải hàm chứa tính khoa học và tính văn hoá sâu sắc trong đó, sản phẩm đẳng cấp cao thông thường là chỉ những loại đồ gia dụng có đẳng cấp về tính nghệ thuật trên phương diện cách điệu về thẩm mỹ

* Vật liệu xanh là cơ sở để tạo ra đồ gia dụng xanh

Vật liệu xanh cũng được gọi là vật liệu sinh thái, vật liệu bảo vệ môi trường, hay vật liệu cho sức khoẻ,…, nó là chỉ việc sử dụng những kỹ thuật tiên tiến, tiết kiệm được nguyên liệu và nguồn năng lượng thiên nhiên, nó là những loại vật liệu được sử dụng phần lớn trong công nghiệp, không tạo ra những chất độc hại, không gây ô nhiễm môi trường, không tạo ra tính bức xạ,

có lợi cho việc bảo vệ môi trường và cho sức khoẻ của con người Tiến hành lựa chọn những loại vật liệu xanh trong sản xuất đồ gia dụng, do tính phức tạp của nó nên cho đến nay vẫn chưa có được một phương pháp cố định và đáng tin cậy Cần phải căn cứ vào tình hình thực tế, sử dụng những phương pháp phân tích có hệ thống để xem xét từ nhiều góc độ ảnh hưởng đến môi trường

từ nguyên liệu, cho đến quá trình sử dụng của sản phẩm đồ gia dụng, đồng thời cũng xem xét tổng hợp những nhân tố như: tính năng sử dụng, chất lượng, giá thành,…, của sản phẩm, để lựa chọn ra được những vật liệu tối ưu nhất

Trang 27

Khi lựa chọn vật liệu mà không thích hợp, sẽ có thể tạo thành sự ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, chủ yếu biểu hiện ở những mặt sau:

(1) Vật liệu và quá trình sử dụng sản phẩm sẽ tạo ra những chất ô nhiễm cho môi trường, hiện nay rất nhiều các sản phẩm đồ gia dụng trong quá trình sử dụng đã không ngừng tạo ra những chất ô nhiễm cho môi trường bên trong nội thất, nó chủ yếu là do từ nguồn nguyên vật liệu tạo ra

(2) Vật liệu trong quá trình gia công cũng sẽ tạo ra sự ô nhiễm cho môi trường, trong quá trình sản xuất, do những tính năng gia công đối với vật liệu

là khác nhau hoặc là kích thước lớn nhỏ của vật liệu không thích hợp, làm cho công cụ gia công bị tổn hại quá lớn, năng lượng tiêu hao cao, các loại khí thải, dịch thải, mùn cưa, bụi bột, tiếng ồn,…, hay những chất có hại khác tạo ra trong quá trình gia công, chúng đều có ảnh hưởng rất lớn đến sự tiêu hao đối với nguyên vật liệu và ảnh hưởng đến môi trường

(3) Những vật liệu được coi là phế liệu trong sản xuất thì chúng cũng rất dễ tạo ra sự ô nhiễm cho môi trường, vật liệu được sử dụng trong sản xuất

đồ gia dụng khác nhau, trong trường hợp chúng được coi là phế liệu thì do quá trình xử lý thu hồi hoặc phương pháp xử lý không thích hợp hoặc là quá trình xử lý thu hồi khó khăn, sẽ đều có thể ảnh hưởng đến sự ô nhiễm môi trường

(4) Bản thân của quá trình tạo ra những vật liệu dùng trong sản xuất đồ gia dụng cũng có thể tạo ra sự ô nhiễm cho môi trường, có rất nhiều loại sản phẩm đồ gia dụng, mà trong quá trình sản xuất và sử dụng có những tác động rất nhỏ đối với môi trường, mà quá trình xử lý và thu hồi nó cũng khá dễ dàng, thế nhưng bản thân của loại vật liệu đó trong quá trình sản xuất lại gây ra ô nhiễm rất nghiêm trọng cho môi trường Việc lựa chọn vật liệu xanh để đảm bảo cho môi trường chính là trong quá trình thiết kế sản phẩm cần cố gắng lựa chọn những loại vật liệu có ảnh hưởng nhỏ nhất đến môi trường sinh thái

Trang 28

2.2.4 Công thái học trong thiết kế không gian nội thất

Thiết kế kiến trúc nội thất trên thực tế có thể nói là thiết kế kích thước không gian, bố cục và vấn đề trang trí không gian, tìm hiểu những quan hệ liên quan giữa người và không gian đối với thiết kế hợp lý không gian nội thất

là vô cùng quan trọng, nếu không thì không gian thiết kế ra có thể đưa đến sự không thuận tiện và áp chế tâm lý, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu suất công tác và nghỉ ngơi

2.2.4.1 Phân loại không gian nội thất

Yêu cầu của con người đối với không gian sinh hoạt nội thất (hoặc không gian tác nghiệp) không phải là một kích thước cố định, đặc biệt là kích thước không gian tâm lý yêu cầu chịu ảnh hưởng của nhân tố môi trường Từ những yêu cầu khác nhau của con người đối với không gian nội thất có thể phân ra:

1) Không gian hành vi (không gian vật lý): Không gian thoả mãn nhu cầu hoạt động hành vi của con người, không gian thường căn cứ vào kích thước động thái cơ thể và phạm vi hoạt động hành vi để xem xét Như không gian nhà bếp cần có để hoàn thành các hoạt động bếp núc, không gian tắm cần

có để hoàn thành hoạt động tắm rửa,

2) Không gian sinh lý: Kích thước không gian nhu cầu sinh lý của người yêu cầu, như kích thước của cửa sổ để thoả mãn điều kiện lấy ánh sáng theo nhu cầu của thị giác, kích thước thông gió theo yêu cầu của khứu giác và

hô hấp,

3) Không gian tâm lý (không gian tri giác): Kích thước không gian thoả mãn nhu cầu tâm lý của người, như chiều cao trần nhà không gây cảm giác đè nén

Trong sinh hoạt hàng ngày, giữa người và người có một khoảng cách không gian nhỏ nhất, gọi là không gian cá nhân (Personal Space) Phần trên

đã nói, kích thước của không gian này liên quan đến môi trường, dân tộc, tính biệt, Thí dụ, ở ô tô công cộng, trong tầu điện, không gian này rất nhỏ, còn ở

Trang 29

phòng gia đình, không gian này tương đối lớn Vì thế, thiết kế kích thước không gian phải nhân thời, nhân địa, nhân nhân để thiết kế

2.2.4.2 Tri giác tâm lý của người đối với không gian nội thất

* Tri giác tâm lý đối với chiều dài

Các nhà khoa học Nhật Bản thông qua thực nghiệm nghiên cứu khi người ở trong nội thất, đối với tri giác tâm lý kích thước không gian, thu được các kết quả thực nghiệm như sau:

1) Phương hướng chính tiền: Thông qua thực nghiệm phát hiện, cự ly tri giác tâm lý của 80% số người ngắn hơn cự ly thực tế, bình quân ngắn khoảng 1/8 Điều này có nghĩa là người ngồi đối diện với tường, cự ly tri giác thực tế 1/8cm Nhưng, khi có cửa sổ đối diện trên tường, thì cự ly tri giác so với không có cửa sổ dài 1/15 - 1/20; cự ly trái phải cũng hẹp, cự ly tri giác tương đối của hướng phía trước cũng xa

2) Phương trái, phải: Khi người ở trong nội thất, khoảng cách trái phải với tường bằng nhau, cự ly tri giác tâm lý và cự ly thực tế cơ bản nhất trí Và khi cự ly trái phải với tường không bằng nhau, cự ly tri giác tâm lý phía gần dài hơn thực tế, và phía xa thì cảm giác ngắn

3) Phương đỉnh đầu: Chiều cao cảm giác tâm lý của khoảng 70% số người cao hơn chiều cao thực tế khoảng 1/15 Khi phòng rộng 15 - 20 m2, trần thấp hơn khoảng 230 cm, con người có cảm giác bị đè nén, chiều cao cơ thể và tri giác tâm lý chiều cao hầu như không có quan hệ với nhau, nhưng chiều cao cơ thể càng cao, cảm giác đè nén càng lớn

* Cảm giác tâm lý đối với diện tích

1) Tri giác diện tích nội thất: Sự thay đổi đối với diện tích nội thất từ 15-20 m2, có khoảng 80% số người không cảm nhận được, các cạnh của phòng tu ngắn khoảng 1/10, đối với thay đổi diện tích không phản ứng được trên tri giác tâm lý Đây là khảng cách không khác biệt của tri giác tâm lý của người đối với diện tích

Ngày đăng: 17/07/2023, 00:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w