Trong số các loại hình sản phẩm mộc đa dạng và phong phú, sản phẩm ghế nói chung và sản phẩm ghế phục vụ cho việc nghỉ ngơi ngoài trời nói riêng là một loại hình sản phẩm mộc có tính thự
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống của con người ngày càng được nâng cao cả về tinh thần lẫn vật chất Cuộc sống ồn ào tấp nập mang lại cho chúng ta nhiều cảm giác căng thẳng và mệt mỏi, do đó nhu cầu giảm stress là điều tất yếu và ngày càng trở nên phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau Vì vậy một không gian thư giãn ngoài trời với một chiếc ghế đa năng sẽ giúp con người sảng khoái hơn sau những giờ làm việc
Trong số các loại hình sản phẩm mộc đa dạng và phong phú, sản phẩm ghế nói chung và sản phẩm ghế phục vụ cho việc nghỉ ngơi ngoài trời nói riêng là một loại hình sản phẩm mộc có tính thực dụng lớn và đang có xu hướng được sử dụng nhiều, phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi ngoài trời tại nhà, văn phòng, bãi biển…Tuy nhiên theo xu hướng hiện nay của đa số người sử dụng, các sản phẩm tạo ra không chỉ đáp ứng được công năng chính mà còn phải là một sản phẩm đa chức năng,vừa tiết kiệm diện tích vừa có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Ví dụ như một chiếc ghế trước tiên nó có công dụng để ngồi tạo cho con người cảm giác thoải mái, ngoài ra nó còn được dùng để ngồi ăn uống, tâm sự… Loại hình sản phẩm này ngày càng trở nên đa dạng về chủng loại và mẫu mã, giúp cho con người có cơ sở lựa chọn kiểu dáng theo sở thích của riêng mình cũng như lựa chọn sản phẩm để phát triển chế tạo
Nắm bắt được nhu cầu này đã có rất nhiều ý tưởng thiết kế được đưa ra
để đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và đã có rất nhiều sản phẩm đã thành công với nhiều kiểu dáng và chất lượng thỏa mãn phù hợp với túi tiền của người sử dụng
Từ những vấn đề đã nêu ở trên, được sự đồng ý của khoa chế biến lâm sản, bộ môn công nghệ xẻ mộc, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Cao
Quốc An em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Thiết kế sản phẩm ghế đa năng
sử dụng cho không gian ngoại thất”
Trang 2CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Mục tiêu tổng quát
Thiết kế được sản phẩm ghế ngồi đa năng dùng cho không gian ngoại thất 1.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu một số mô hình ghế sử dụng cho không gian ngoại thất
- Tổng hợp và phân tích ghế sử dụng ngoài trời, đặc điểm của đối tượng sử dụng
- Đưa ra phương án thiết kế sao cho phù hợp với không gian thư giãn, đảm bảo tính vững chắc mà vẫn hiệu quả kinh tế, tiết kiệm diện tích đồng thời
sử dụng nguyên vật liệu hợp lí
- Lập hồ sơ thiết kế tạo dáng cho sản phẩm
1.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu, sưu tầm các loại ghế sử dụng ngoài trời
- Đánh giá công năng của ghế sử dụng ngoài trời
- Xây dựng hệ thống bản vẽ của phương án thiết kế:
+ Các bản vẽ thể hiện các kết cấu và bóc tách các chi tiết,lắp ráp
+ Các bản vẽ phối cảnh trong không gian ngoại thất
- Các bước tạo sản phẩm
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ghế đa năng
- Phạm vi: Sản phẩm dùng ngoài trời làm bằng gỗ tự nhiên
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp kế thừa các lí thuyết có liên quan
- Tham khảo các tài liệu về thiết kế sản phẩm mộc
- Các thông số kĩ thuật dành cho thiết kế nội thất và sản phẩm mộc
Trang 31.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
- Khảo sát hiện trạng sử dụng các loại sản phẩm ghế ngoài trời: tổng hợp, phân tích những đặc điểm của hiện trạng , điều đạt được và chưa đạt được của vấn đề để đưa ra giải pháp thiết kế sản phẩm một cách tối ưu nhất
1.4.3 Phương pháp tư duy logic:
Tổng hợp các kiến thức đã có, các tài liệu sưu tầm trong quá trình thiết kế, kết hợp với tư duy sáng tạo của bản thân để đưa ra các phương án thiết kế sao cho phù hợp nhất với yêu cầu thực tế
Trang 4CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Cơ sở lí thuyết
2.1.1 Khái quát chung về loại hình sản phẩm ghế
Ghế là hình thức kết cấu của sản phẩm mộc với chức năng chung là để
đỡ cơ thể người ở các tư thế ngồi hoặc nằm Với chức năng như vậy nên kết cấu của ghế ngồi là một kết cấu chịu lực, các chi tiết ở mặt ngồi và lưng tựa chủ yếu chịu lực uấn và kéo Cấu trúc của ghế phải đảm bảo đủ bền trong trường hợp tải trọng động lớn nhất do người sử dụng tạo ra (ở đây đề cập tới tải trọng của cơ thể chứ không phải của vật nào khác)
Do chức năng của ghế là để ngồi với nhiều mục đích khác nhau cho nên cấu tạo của ghế hết sức đa dạng, kết cấu chung của ghế là kết cấu giá đỡ Theo đặc thù sử dụng chúng ta có thể phân ra làm nhiều loại ghế khác nhau:
- Ghế tựa: là loại ghế có kết cấu và kích thước phù hợp với trạng thái ngồi thẳng hay có thể ngồi tựa nhẹ lưng vào bộ phận lưng tựa của ghế nhằm phục vụ cho các mục đích như ngồi, viết, đọc, ăn uống hay các hoạt động làm việc ở trên ghế
- Ghế đẩu: Là loại ghế ngồi ở trạng thái tương tự như ghế tựa nhưng không có phần tựa lưng, vì yêu cầu của trạng thái làm việc đặc biệt hoặc đơn giản hóa cho các trường hợp ngồi không lâu
- Ghế salon: là kiểu ghế có tay tựa nhằm phục vụ các mục đich sử dụng để ngồi ở trạng thái nghỉ ngơi, lịch sự, thoải mái (tiếp khách, uống trà, đọc báo ) Ghế salon cũng có cấu tạo rất đa dạng phụ thuộc vào các kiểu tay tựa và chân ghế
- Các kiểu ghế đặc biệt khác (như ghế hội trường, ghế xích đu và nhiều loại ghế khác)
Đối tượng sử dụng của ghế ngồi là con người do vậy đặc điểm của người ngồi sử dụng ghế khác nhau liên quan tới các thông số của ghế Do con người hoạt động đa chức năng nên yêu cầu ghế ngồi cũng phải đa chức năng Tuy nhiên tùy thuộc vào mục tiêu hoạt động cụ thể của con người mà ghế
Trang 5ngồi có hình dáng và thông số khác nhau, đó là do đặc điểm của từng đối tượng sử dụng Mỗi loại ghế thiết kế phải theo yêu cầu công năng của từng đối tượng sử dụng
2.1.2 Xu thế phát triển của sản phẩm ghế ngoài trời
Xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng phức tạp, lao động chân tay đang dần được thay thế bằng lao động trí óc tất cả các yếu tố trên luân gây sức ép cho con người, tạo ra cho chúng ta nhiều cảm giác căng thẳng, khó chịu Do đó sản phẩm mộc nói chung và sản phẩm ghế ngoài trời nói riêng là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược của nước ta, có thể thấy rằng sản xuất sản phẩm mộc và nhu cầu sử dụng sản phẩm mộc của chúng ta là rất lớn Các sản phẩm mộc đã trở thành một nhu cầu thưởng thức của con người, chúng làm cho không gian nội ngoại thất trở nên sang trọng, thoáng mát và tự nhiên Ngày nay, sử dụng sản phẩm mộc ngoài vấn đề công năng ứng dụng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất mà tính thẩm mĩ cũng đặc biệt được chú trọng
Xu thế hiện nay đối với ghế ngồi là tăng cường sự phong phú về hình thức, đa dạng về kết cấu, gỗ và các vật liệu thay thế gỗ được kết hợp sử dụng
để tạo nên ghế ngồi Xu hướng sử dụng vật liệu mới và công nghệ mới, các sản phẩm ép định hình và kim loại được sản xuất ra ghế ngồi rất phổ biến và được ưa chuộng Mặt khác, xu thế còn đi sâu vào việc khai thác về khía cạnh
đa dạng hình thức và kết cấu đơn giản
2.1.3 Nguyên lí cấu tạo chung của ghế
Ghế có nhiều kiểu loại, mỗi chức năng sử dụng yêu cầu riêng đều có những kiểu dáng ghế ngồi riêng Song nhìn chung chúng bao gồm các bộ phận chính sau:
- Chân ghế
- Mặt ngồi
- Lưng tựa và tay tựa (có loại có, có loại không có)
Trang 6Để tăng độ vững chắc của ghế, ở góc liên kết giữa chân và xà đỡ mặt ghế, thường được tăng cường bằng ke
Mặt ngồi
Mặt ngồi có thể là ván thuần tuý, ván định hình hay ván ghép vào khung, cá biệt có thể ghép nan Mặt ngồi cũng có thể là mặt mềm hoặc mây đan, hoặc bọc đệm
Liên kết giữa mặt ngồi và chân ghế (hay khung đỡ mặt ghế) có thể là liên kết đinh hoặc vít Giải pháp cụ thể tuỳ thuộc vào từng kiểu ghế, nhưng nguyên tắc chung là phải đảm bảo tính tiện nghi, dễ lắp ráp và tính thẩm mỹ của sản phẩm Đối với mặt ngồi bằng ván cứng không có khung, có thể liên kết đinh từ trên xuống Còn đối với mặt ngồi có khung, thường có giải pháp liên kết với các thang đỡ trên hệ chân từ dưới lên (tốt nhất là nên dùng vít)
Lưng tựa
Lưng tựa là một bộ phận cấu thành của ghế được kết hợp vào chân sau của ghế hoặc liên kết với mặt ngồi, nhưng phổ biến nhất là liên kết vào chân sau của ghế
Về cấu tạo, lưng tựa có thể ở dạng nan hay song tròn (hoặc tiện), hoặc ở dạng tấm (có thể cong hoặc thẳng), có kích thước, hình dạng thích hợp với dáng tổng thể của ghế Liên quan đến chất liệu, lưng tựa có thể mềm hoặc cứng Lưng tựa mềm có thể bằng mặt mây đan hoặc bọc đệm Lưng tựa cứng được làm bằng gỗ tự nhiên hoặc ván dán (có thể là ván ép định hình) Nói
Trang 7chung, lưng tựa mềm có thể đảm bảo tính tiện nghi sử dụng tốt hơn lưng tựa cứng, nhưng về mặt gia công chế tạo thì lại phức tạp hơn lưng tựa cứng
Tay vịn
Tay vịn với mục đích là để đặt tay lên khi ngồi cho cảm giác thoải mái Ngoài ra nó còn tạo vẻ sang trọng cho ghế và cho ta cảm giác an toàn đồng thời cũng là điểm vịn tựa cho người già dễ đứng dậy Tay vịn thường làm từ các chất liệu như: gỗ, inox, mút, gỗ và mút kết hợp…Ngoài tay vịn bằng gỗ ra
ta có thể làm tay vịn bằng các chất liệu khác như chất liệu sắt vì chất liệu này cho phép thực hiện nhiều hoa văn đẹp vì tính chất dễ uốn của sắt Để không nặng nề và vô hồn cho tay vịn bằng sắt, thép hay inox ta có thể lấy cách điệu
từ hoa lá, hình dáng con vật… như vậy tạo cho tay vịn đẹp hơn, nhẹ nhàng hơn và mang tính nghệ thuật hơn
Màu sắc của tay vịn thường là màu của ghế, hiện nay các gia đình người Việt thường dùng bàn ghế gỗ nên tay vịn của nó thường là chất liệu gỗ Theo phong cách người Việt thì màu thường là màu cánh gián, có thể dùng sơn vecny và các loại sơn khác để tạo màu mong muốn
Tay vịn của ghế được liên kết với mặt ngồi và lưng tựa bằng mộng dương rất khít và được phết keo để tạo ra độ kín khít của các bộ phận
2.1.4 Sản phẩm mộc và những nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc
2.1.4.1 Những yêu cầu chung của sản phẩm mộc
Mọi sản phẩm mộc nói chung để đứng vững trên thị trường cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Yêu cầu công năng: Mỗi sản phẩm mộc đều có chức năng sử dụng
nhất định được thiết lập theo ý đồ của nhà thiết kế, chức năng đó có thể là trang trí, yêu cầu đầu tiên đối với một sản phẩm mộc là phải thoả mãn các chức năng của chúng Khi xem xét phân tích sản phẩm mộc, người ta phải quan tâm đầy đủ đến các chức năng của mỗi sản phẩm vì nó không chỉ có một chức năng nhất định mà còn có thể có chức năng phụ khác do phát sinh khi sử dụng Ví dụ: Sản phẩm ghế Trước tiên phải đáp ứng chức năng của nó là
Trang 8ngồi, ngoài ra còn có thể ngồi ở nhiều tư thế khác nhau hay có thể được làm vật đứng lên để làm việc gì đó Nếu khi thiết kế điều này không được quan tâm đúng mức thì chắc chắn thiết kế sẽ không đạt yêu cầu như mong muốn
- Yêu cầu thẩm mỹ: Trong lĩnh vực thiết kế sản phẩm mộc không chỉ
đáp ứng yêu cầu về chức năng sử dụng mà nó cần đáp ứng yêu cầu về thẩm
mỹ, nếu không có yêu cầu về thẩm mỹ công việc thiết kế sản phẩm mộc dường như trở thành vô nghĩa Thẩm mỹ có thể nói là phần hồn của mỗi sản phẩm Một chiếc ghế để ngồi thì bình thường không nói lên điều gì nhưng khi
nó được thiết kế tạo dáng theo một ý đồ thẩm mỹ nó lại tạo ra một cảm súc thoải mái hơn cho người ngồi cũng như những người xung quanh khi nhìn vào nó Có thể nói thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm nó kết tinh lên giá trị sản phẩm
- Yêu cầu kinh tế: Không chỉ riêng với sản phẩm mộc một trong
những yêu cầu khá quan trọng nói chung đối với sản phẩm mộc là yêu cầu về kinh tế
Yêu cầu đối với mỗi sản phẩm mộc có thể hướng theo một mục tiêu nhất định: " Đáp ứng chức năng tốt nhất, có thẩm mỹ đẹp nhất nhưng phải có giá thành thấp nhất" Để làm được điều đó trong mỗi sản phẩm ta cần có kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, thuận tiện cho gia công chế tạo, giá thành sản phẩm sẽ hạ Tạo ra các sản phẩm tốt, có kết cấu chắc chắn bền vững cũng có ý nghĩa kinh tế lớn đối với người sử dụng cũng như đối với xã hội
2.1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm mộc
Tương ứng với những yêu cầu đối với sản phẩm mộc ta có các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm mộc như sau:
- Mức độ đáp ứng công năng của sản phẩm: Theo chỉ tiêu này để
đánh giá sản phẩm mộc có đạt yêu cầu hay không ta phải xét đến công năng của nó Dựa vào tiêu chí này ta sẽ đánh giá được một phần chất lượng sản phẩm mộc Vì để sản phẩm mộc đạt yêu cầu và được thị trường chấp nhận thì trước tiên phải đạt được chỉ tiêu về đảm bảo chức năng của nó thì đã coi như là vô
Trang 9hiệu trong sử dụng với những yêu cầu thiết thực mà người sử dụng cần thiết đến chức năng đó của nó Khi đó người sử dụng sẽ không chấp nhận sản phẩm
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm mộc: Đây cũng chính là một trong những chỉ
tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng sản phẩm mộc Dù sản phẩm có đạt được chỉ tiêu về chức năng nhưng không đẹp thì cũng khó được chấp nhận
- Tính kinh tế: Chủ yếu thể hiện ở tính sử dụng nguyên vật liệu hợp lý
không những tạo ra được sản phẩm có chất lượng mà có thể giảm được chi phí chế tạo ra một sản phẩm
- Khả năng thực hiên gia công chế tạo sản phẩm: Đây là một trong
những yếu tố cơ bản để đánh giá chất lượng sản phẩm mộc Việc sản xuất theo công nghệ hiện đại là rất quan trọng, bởi không chỉ là dễ sản xuất mà còn tạo ra được giá trị kinh tế cũng như chất lượng Trái lại nếu sản mộc chỉ có thể sản xuất được theo công nghệ cổ điển thì khó mà sản xuất ra được nhiều sản phẩm và hiệu quả kinh tế cũng không cao
Sản phẩm mộc có thể dựa trên những chỉ tiêu chính này để đánh giá nó
là tốt hay chưa tốt
2.1.4.3 Nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc
Thiết kế sản phẩm mộc có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất hàng mộc Bởi thiết kế sản phẩm mộc là yếu tố quyết định đến việc sản xuất và khi sản phẩm đó được sản xuất ra có được thị trường chấp nhận hay không có đạt được giá trị kinh tế hay không còn phải phụ thuộc chất lượng sản phẩm và các yêu cầu khác như trình bày ở trên Thiết kế đồ mộc thường cần phải đòi hỏi
có sự hiểu biết một số vấn đề có liên quan tới thiết kế kết cấu và thiết kế mỹ thuật, thiết kế mỹ thuật là việc tạo ra các ý tưởng về kết cấu hợp lý kỹ thuật nhằm tạo ra hình thức sản phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật để phục vụ đời sống con người, nhưng chỉ mỹ thuật thôi thì chưa đủ mà đòi hỏi khi thiết kế phải tính toán sao cho đảm bảo các chỉ tiêu về độ bền, tính thực dụng, kinh tế, tính khả thi, tính thời đại, tính dân tộc… Để thực hiện tốt thiết kế sản phẩm mộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc thiết kế
Trang 10- Tính thực dụng: Trong mọi công đoạn thiết kế người thiết kế phải
lấy công năng của sản phẩm làm định hướng Khi tạo dáng ngoài mục tiêu là
có mẫu mã đẹp ta luôn phải chú ý tới khả năng đáp ứng của sản phẩm trong
sử dụng Nguyên tắc đảm bảo công năng được chú ý nhiều nhất trong quá trình tính toán nguyên vật liệu và các giải pháp liên kết, kết cấu sản phẩm, tính thực dụng trong thiết kế là một yếu tố rất quan trọng quyết định tới sự sửa đổi sản phẩm, không những vậy mà hiện tại nhu cầu xã hội đang ngày càng phát triển khoa học kỹ thuật không ngừng nâng cao mỗi ngày một đổi mới mọi thứ đều được hiện đại hoá theo Bởi vậy một đồ vật muốn tồn tại và phát triển lên được thì nó cần có tính thực dụng, đạt yêu cầu về công nghệ, công năng và công dụng riêng của nó Như vậy khi thiết kế ra một sản phẩm nào đó mà không đạt được công dụng, chức năng thì coi như sản phẩm đó không có giá trị, chính vì vậy tính thực dụng trong thiết kế là rất quan trọng, khi thiết kế phải đảm bảo nguyên tắc thực dụng này là đầu tiên, bởi chính vậy
sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của sản phẩm mộc
- Tính thẩm mỹ: Nguyên tắc này chủ yếu vận dụng trong quá trình tạo
dáng sản phẩm, nhưng trong quá trình thi công cũng không thể xem nhẹ yếu
tố này bởi độ tinh xảo trong các mối liên kết, chất lượng trên bề mặt sản phẩm ảnh hưởng không ít tới chất lượng thẩm mỹ của sản phẩm tạo dáng sản phẩm mộc, tạo kết cấu các nội dung cơ bản của thiết kế sản phẩm mộc
Để tạo ra sản phẩm một cách có thẩm mỹ và mọi đối tượng đều cảm thấy đẹp thì phải tuân thủ theo nguyên tắc thẩm mỹ, thiết kế mỹ thuật là nhằm tạo ra các phương án tạo hình, phối cảnh… Có giá trị về mặt nghệ thuật Tất nhiên tuỳ thuộc vào yêu cầu sử dụng của từng sản phẩm và từng đối tượng sử dụng mà mức độ yêu cầu về thẩm mỹ là khác nhau, vậy việc kết hợp đồ mộc phụ thuộc vào những nhu cầu trong nhà cũng như đồ mộc trang trí nội thất thường được gắn với trang hoàng nhà cửa, để công tác thiết kế đồ mộc được tốt nhất chúng ta cần có những kiến thức cơ bản về mỹ thuật
Trang 11- Tính phù hợp công nghệ: Để thiết kế mẫu có tính khả thi thì bao giờ
cũng vậy người thiết kế phải đặt việc thiết kế trong khuôn khổ công nghệ cho phép sản xuất, bởi một điều đơn giản là người thiết kế ra mẫu nào đó dù có đẹp đến đâu hay đảm bảo yêu cầu chung về sản phẩm mộc nhưng nếu công nghệ không cho phép thì việc thiết kế mẫu cũng vô nghĩa bởi thực tại không thể sản xuất ra được do vậy việc thiết kế đã không đáp ứng được nhu cầu cho việc ra đời một sản phẩm mới Mặt khác khi xã hội phát triển tiến bộ, khoa học kỹ thuật ngày càng nâng cao Do vậy việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đồ mộc là rất cần thiết, bởi nó có thể làm giảm nhân công lao động nặng nhọc với hiệu quả lao động thấp và thay vào đó là máy móc hiện đại với hiệu quả công việc cao từ đó giúp nâng cao năng xuất rút ngắn thời gian quay vòng kinh doanh, tạo ra lượng hàng hoá với số lượng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường Từ đó đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển nhanh, mạnh, đời sống xã hội được nâng cao, chính vì vậy thiết kế đáp ứng được với việc áp dụng khoa học kỹ thuật để sản xuất là hết sức cần thiết và nguyên tắc này không thể thiếu được trong việc thiết kế sản phẩm mộc
- Tính kinh tế: Việc thiết kế phải nói đến nguyên tắc kinh tế - xã hội là
bởi lý do để tồn tại và phát triển được thì phải có phương án thiết kế cái gì, cho ai, cần nghiên cứu xem xã hội cần gì, sản phẩm làm từ nguyên liệu nào… Vậy phải lựa chọn nguyên vật liệu sao cho hợp lý và có thể áp dụng được công nghệ gia công chế tạo dễ dàng để tạo ra được sản phẩm có giá trị kinh tế cao được xã hội chấp nhận, người tiêu dùng ưa thích, cũng có nghĩa là giá thành sản phẩm thấp, có lãi cao
- Tính thương phẩm: Để đảm bảo được thương hiệu của mình người
thiết kế phải tìm ra các phương án về kỹ thuật để thiết kế sản phẩm của mình điựơc mọi người ưa thích, chấp nhận, kết hợp tạo ra những tiêu đề mẫu mã gây sự chú ý của người xem sản phẩm, quảng cáo trên khắp thị trường sản phẩm thúc đẩy cho sự phát triển hàng hoá Chính vì vậy khi thiết kế phải đảm bảo nguuyên tắc thương phẩm
Trang 12- Tính an toàn: An toàn là yếu tố cơ bản để đảm bảo chất lượng đồ
mộc, thiết kế chế tạo đồ mộc mà thiếu cường độ và độ ổn định thì rất dễ gây ra tai nạn, muốn đảm bảo được an toàn thì phải có nhận thức về tính năng cơ học của vật liệu Khi thiết kế phải tiến hành tính toán và đánh giá khoa học xem có đảm bảo an toàn hay không? Ngoài an toàn về kết cấu ra còn phải kể đến an toàn tâm lý người sử dụng có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường, chính vì vậy nhà sản xuất phải có phương án thiết kế cũng như quảng bá sản phẩm một cách hiệu quả nhất
- Tính hệ thống: Tính hệ thống của đồ mộc thể hiện ở hai mặt đó là
tính đồng bộ và tính linh hoạt của tiêu chuẩn hoá Sản phẩm mộc khi sản xuất
ra nói chung phải dễ môđun hoá, dễ gia công trong chế tạo
- Tính sáng tạo: Tính sáng tạo chính là điểm nhấn trong thiết kế sản
phẩm mộc, tạo nên sự mới mẻ cho sản phẩm mộc Tính sáng tạo thể hiện được phong cách, cái tôi của người thiết kế Việc phát triển thêm những tính năng mới, những hình thức mới, vật liệu mới, kết cấu mới, kĩ thuật mới của
đồ gia dụng đều là quá trình mà người thiết kế thông qua tư duy sáng tạo và việc ứng dụng những biện pháp kĩ thuật mới tạo ra Một người thiết kế có tính sáng tạo thì cần phải nắm được những lí thuyết cơ bản của khoa học thiết kế hiện đại và những phương pháp thiết kế hiện đại, cần sử dụng nguyên tắc thiết
kế có tính sáng tạo để tiến hành tạo ra những sản phẩm mới
- Tính lâu dài: Đồ gia dụng là việc ứng dụng những loại nguyên vật
liệu khác nhau để gia công mà thành, mà trong đó nguồn nguyên liệu từ gỗ là chủ yếu nhất Bởi vì, gỗ là loại vật liệu có tính thích hợp với con người nhất,
nó có được cảm giác về vật liệu thiên nhiên lại có được đặc tính dễ dàng trong gia công Nhưng gỗ lại là một nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà những loài gỗ tốt thường lại có chu kỳ sinh trường khá dài, theo sự cạn kiệt dần của nguồn tài nguyên mà gỗ đã thể hiện rõ được tính quý giá của nó Do vậy, khi thiết kế
đồ gia dụng bắt buộc phải xem xét đến nguyên tắc lợi dụng liên tục đối với nguồn tài nguyên gỗ Cụ thể mà nói thì nó chính là việc lợi dụng tốt nhất đối
Trang 13với những loại gỗ mọc nhanh, gỗ có đường kính nhỏ, giảm thấp lượng tiêu hao của gỗ có đường kính lớn Đối với những loại gỗ quý hiếm thì cần lợi dụng khả năng tạo ván mỏng để dán mặt đối với ván nhân tạo, nâng cao tỷ lệ lợi dụng đối với những loại gỗ quý, cần phải có kế hoạch khai thác và điều tiết hợp lý đối với những loại gỗ quý này, để đảm bảo được môi trường sinh tồn cho con người cũng như khả năng lợi dụng được tốt nhất nguồn tài nguyên gỗ
2.1.4.4 Mối quan hệ của con người với đồ mộc
Con người là nguồn gốc của mọi thiết kế, thiết kế sản phẩm mộc thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa con người với đối tượng thiết kế, mối quan hệ ấy càng được giải quyết tốt hay nói cách khác là được nghiên cứu kỹ lưỡng, sâu sắc thì khả năng đáp ứng nhu cầu về sản phẩm mộc đối với nhu cầu sử dụng của con người ngày càng hiệu quả
- Mối quan hệ trực tiếp: Kích thước của mỗi sản phẩm được tạo ra dựa trên cơ sở kích thước thực tế của con người, có nghĩa là sản phẩm và con người
có mối quan hệ trực tiếp nhất định, trong thiết kế kích thước của sản phẩm chịu
sự chi phối của kích thước và trạng thái tư thế hoạt động của con người, những mối quan hệ với các hoạt động ổn định trong thời gian tương đối dài như: Nằm,
Tì, Tựa, Ngồi… Được coi là những mối quan hệ trực tiếp, các kích thước của sản phẩm thường có rằng buộc tương đối chặt chẽ với kích thước của con người Ví dụ như: Chiều cao của mặt ngồi luôn gắn liền với kích thước từ đầu gối tới gót chân và tư thế của con người
- Mối quan hệ gián tiếp: Trong mối quan hệ gián tiếp thì kích thước của con người ít chịu sự ràng buộc hơn, tuy nhiên nó vẫn chịu sự chi phối nhất định, ví dụ chiều rộng hay hẹp một chút cũng không ảnh hưởng nhiều tới trạng thái ổn định của con người, đồ mộc không cần thoả mãn yêu cầu về công năng cơ bản mà còn phải có lợi cho sức khẻ, sinh lý, tâm lý của con người Nói trên một nghĩa nào đó thiết kế mộc tức là thiết kế đồ dùng sinh hoạt cho con người, sản phẩm được thiết kế phải đảm bảo tính tiện dụng trong
Trang 14sinh hoạt và tính dễ chịu khi sử dụng của con người Kích thước cơ thể người
là một trong những tài liệu quan trọng để thiết kế kết cấu kiến trúc và thiết kế
đồ mộc, khi tiến hành tác nghiệp thiết kế phải phù hợp với đặc tính sinh lý của
cơ thể người, có vậy mới đảm bảo được hiệu quả sản xuất, hiệu quả công việc, giảm sự cố
2.1.5 Các liên kết cơ bản của sản phẩm mộc
có thể là thân mộng mượn, không liền với chi tiết mà được gia công ngoài, cắm vào đầu chi tiết tạo thành mộng
Liên kết mộng là loại liên kết trục và lỗ giữa thân mộng và lỗ mộng nhằm tạo ra mối liên kết cứng giữa hai chi tiết Độ cứng vững của liên kết phụ thuộc vào tính chất của nguyên vật liệu, kích thước và hình dạng của lỗ và mộng, cũng như các chế độ gia cố bằng đinh, chốt, nêm, ke hay sử dụng keo dán
b Liên kết keo
Đây là phương thức liên kết đơn giản nhất Với phương pháp này thì phương thức chủ yếu trong liên kết đối với đồ mộc là sử dụng keo dán Do công nghệ ngày càng phát triển nên chất lượng keo dán cũng được nâng cao, đồng thời cũng xuất hiện rất nhiều chủng loại keo dán mới Do đó các liên kết bằng keo dán ngày càng được sử dụng nhiều trong kết cấu của đồ mộc
Trang 15Trong sản xuất thường thấy có: liên kết giữa các thanh gỗ với nhau, dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh… đều sử dụng bằng keo dán
Phương thức này có ưu điểm lớn là có thể tiết kiệm được gỗ, từ gỗ nhỏ tạo thành gỗ lớn, từ gỗ chất lượng kém tạo thành gỗ chất lượng cao, có thể đảm bảo được sự ổn định của kết cấu, nâng cao chất lượng và cải thiện ngoại quan của sản phẩm
c Liên kết đinh
Đây là loại hình liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú: có đinh bằng kim loại, đinh gỗ và đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất là đinh bằng kim loại Đinh bằng kim loại chủ yếu có đinh hình chữ T, đinh hình I… Liên kết bằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường độ nhỏ, vì thế trong sản xuất đồ mộc ít sử dụng, chỉ sử dụng trong các vị trí liên kết bên trong, các vị trí không lộ trên bề mặt hoặc những vị trí mà không cần yêu cầu cao về ngoại quan như dùng để cố định rãnh trượt của ngăn kéo, cố định hậu tủ…
Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng từ rất lâu đời và được phổ biến trong sản xuất các loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc Những loại đinh mang tính trang sức thường được dùng trong các loại sản phẩm đồ mộc làm từ gỗ mềm
Liên kết đinh là liên kết không thể tháo lắp nhiều lần Lực liên kết đinh có quan hệ với chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ, đường kính, độ dài, phương hướng và độ sâu của đinh Ví dụ lực bám đinh ở phần cạnh của ván dăm thấp hơn rất nhiều so với bề mặt của ván, do đó phần cạnh của ván dăm không thích sử dụng liên kết bằng đinh
d Liên kết vít:
Đây là liên kết lợi dụng phần thân vít xuyên qua hai chi tiết để liên kết chúng lại với nhau Vít là một loại được cấu tạo từ kim loại, chúng gồm hai loại là vít đầu tròn và vít đầu bằng Liên kết bằng vít thường không thể sử
Trang 16dụng cho các kết cấu tháo lắp nhiều lần, sẽ ảnh hưởng đến cường độ liên kết Phần lộ ra bên ngoài của vít sẽ được sử dụng trong các liên kết như mặt bàn,
tủ, ván lưng, mặt ngồi, ngăn kéo… hoặc có thể để lắp đặt các chi tiết khác như tay nắm, khoá cửa, bản lề…
Lực liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của
gỗ nền; đường kính và độ dài của vít được thể hiện theo chiều ngang của thớ
gỗ (vì cường độ theo chiều dọc tương đối thấp, không nên sử dụng)
e Liên kết bulông:
Liên kết bằng bulông là một dạng liên kết tháo rời có khả năng chịu lực lớn Trong công nghệ sản xuất hàng mộc, liên kết bằng bulông được ứng dụng phổ biến, nhất là các sản phẩm có kích thước lớn phải vận chuyển đi xa Liên kết bằng bu lông được ứng dụng ở các mối liên kết giữa nóc tủ và hồi tủ, giữa vai giường và chân giường (hay đầu giường), giữa vai bàn và chân bàn Khi sử dụng liên kết bằng bulông cần chú ý một số yêu cầu cơ bản sau:
- Đảm bảo tính thẩm mỹ của liên kết
- Dễ tháo lắp
- Không ảnh hưởng đến không gian sử dụng bên trong của sản phẩm
Có nhiều kiểu bulông với nhiều giải pháp liên kết khác nhau Trong các sản phẩm có kết cấu dạng khung, các dạng bu lông thường dùng là loại bu lông đầu tròn
Trong công nghệ sản xuất hiện đại, các sản phẩm mộc lắp ghép tấm được chú ý nhiều về các giải pháp liên kết tháo rời bằng bu lông - ốc vít
f Liên kết bản lề:
Tất cả các loại linh kiện liên kết trên đều là những loại linh kiện liên kết dùng cho liên kết cứng (cố định), liên kết bản lề là loại liên kết động (xoay) Hiện nay có rất nhiều kiểu xoay khác nhau kéo theo là nhiều loại bản lề khác nhau Bản lề quay với trục cố định (1 điểm cố định), trục quay di động (2 điểm cố định)
Trang 17Loại trục quay cố định có thể kể đến như: Bản lề quả nhót, bản lề lá, bản lề goong, bản lề Pi vô,
Bản lề có trục quay di động là loại bản lề khi quay, vị trí tâm quay thay đổi (do có 2 điểm cố định) tạo ra một sức căng định hướng, trong sản xuất còn gọi loại bản lề này là bản lề bật
Hình dạng một số loại thông dụng chủ yếu trên thị trường đang tiêu thụ:
g Các loại liên kết khác:
Đây là các loại liên kết được sản xuất từ kim loại, polyme, thuỷ tinh hữu
cơ hoặc bằng gỗ… Nó được chế tạo đặc thù và lắp nhiều lần và cũng là một loại chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại đồ mộc hiện đại Hiện nay thường sử dụng các loại chi tiết liên kết bằng kim loại ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm và kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng, dễ sản xuất, giá thành rẻ, hiệu quả lắp ráp cao, không tổn hại đến công năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm,…
Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất cácc loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt được mức độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết , tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm
Trang 18Mặt khác nó vẫn toát lên vẻ thanh lịch và hiện đại ở chỗ kết cấu đơn giản không hoa văn phức tạp, các chi tiết có thể sản xuất hàng loạt với máy móc hiện đại Đó cũng chính là tính hiện đại của sản phẩm và được con người chấp nhận trong thời đại ngày nay Với kiểu dáng đơn giản và gọn nhẹ, bạn có thể
di chuyển ghế từ chỗ này đến chỗ khác một cách dễ dàng, đây là một ưu điểm lớn nhất của sản phẩm
Trang 19
Hình 02: Ghế dài sang trọng
Đây là một loại ghế băng được sử dụng cho từ hai đến ba người ngồi, ghế
có thể đặt ở trong nhà hoặc ngoài vườn để ngồi uống nước, thư giãn Với mục đích sử dụng như vậy nên hình dáng của nó chủ yếu phục vụ việc nâng
đỡ tải trọng của cơ thể người nhằm mang lại cảm giác thoải mái nhất cho người sử dụng
Kết cấu và tạo dáng mĩ thuật, đa chức năng mang lại cho người ngồi cảm giác quý phái, sang trọng Loại ghế này phù hợp với việc bày ngoài vườn để uống trà, ngắm cảnh mùa hè, nó có kết cấu đơn giản và thoáng đãng
Nhìn vào chiếc ghế ấn tượng đầu tiên của chúng ta là phần lưng tựa và hai tay vịn, với những đường nét cong điển hình đối xưng nhau qua phần tâm của ghế làm cho chiếc ghế có vẻ sang trọng và cổ kính Lưng tựa được chia làm
ba phần: phần giữa và phần hai bên Tại phần giữa thì ở trên là hình cung kiểu mặt trăng, hai bên có cảm giác giống như hình hai con rồng đang vươn mình lên trên vòng cung của phần giữa, đó là sự độc đáo của chiếc ghế này
Sự kết hợp giữa màu sắc và hình dáng làm cho chiếc ghế thêm phần nổi bật về phong cách tạo dáng cũng như vị thế của chiếc ghế
Trang 20
Hình 03 : Ghế dạng sofa
Đây là loại sản phẩm có kiểu dáng một ghế băng sofa Ghế này có thể đặt trong nhà hoặc ngoài vườn Với thiết kế cong rất hiện đại mà không kém phần tiện nghi thì đây là một sản phẩm lí tưởng cho khu vườn nhà bạn Sản phẩm được làm từ loại gỗ chò chỉ với đặc tính cứng và bền nên rất phù hợp khi đặt ngoài trời Ngoài ra, bạn có thể đặt thêm các tấm đệm để ngồi nếu muốn, và cất chúng đi khi không cần thiết
Một số loại ghế đa năng
Hình 04: Ghế đa năng kết hợp giữa mặt ngồi và ngăn kéo
Trang 21Đây là loại ghế đa năng được sử dụng cho 2- 3 người ngồi, ghế có thể đặt trong nhà hoặc ngoài vườn phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của con người Được thiết kế đặc biệt với ba ngăn kéo ở phía dưới rất hữu ích cho việc cất đựng các vật dụng như: sách, báo hoặc các đồ dùng khác Tuy nhiên, kết cấu của sản phẩm cũng khá phức tạp và khó di chuyển nên sản phẩm này thường đặt cố định một chỗ Sản phẩm được làm từ gỗ tếch
để chân đã được sử dụng để làm ngăn đựng đồ
Trang 22Hình 06: Sản phẩm ghế với bàn cắm dù
Nếu sở hữu chiếc ghế này, bạn hoàn toàn có thể yên tâm khi thư giãn ngoài trời mà không lo thời tiết nắng hay mưa bởi thiết kế độc đáo của nó Hai chỗ ngồi hai bên được kết hợp với một bàn nhỏ ở giữa để đựng đồ, điều đặc biệt hơn là chiếc bàn ấy được khoét một lỗ đủ để chúng ta có thể cắm một chiếc ô lên Thật là tuyệt vời phải không nào? Bạn có thể đặt chúng ngoài vườn, trên bãi biển hay một góc sân nhà bạn Ngoài ra, với các tấm đệm di động làm cho chúng ta có cảm giác thoải mái, dễ chịu nhất sau những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi, khi không cần dùng hãy mang nó cất vào nhà kho hoặc gác xép nhà bạn
2.2.2 Tình hình nguyên liệu sản xuất ghế cho không gian ngoại thất
Hiện nay nguồn gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm, việc sử dụng gỗ tự nhiên để sản xuất ngày càng bị hạn chế Với sự hạn hẹp nguồn gỗ tự nhiên trong nước, ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Theo thông tin từ hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam thì nguồn gỗ nguyên liệu lớn của Việt Nam đang tập chung ở mười thị trường gồm: Malayxia, Trung Quốc, Mỹ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Brazil, New Zealand và Đài Loan
Trang 23Trên thị trường ngày nay, nguyên liệu để sản xuất các loại bàn ghế nói chung và các loại bàn ghế sử dụng trong không gian ngoại thất nói riêng là rất phong phú và đa dạng Ngoài gỗ tự nhiên còn có rất nhiều các loại vật liệu khác như: kim loại, chất dẻo tổng hợp, mây tre đan, ván nhân tạo…cũng được dùng để thay thế gỗ tự nhiên trong quá trình sản xuất đồ mộc Những vật liệu này phát triển không những tạo ra sự phong phú, đa dạng cho sản phẩm mộc
mà còn tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt không kém gì gỗ tự nhiên, nâng cao giá trị về mặt kinh tế Trong sản xuất đồ mộc, ván định hình đang chiếm ưu thế rất lớn bởi những đặc tính ưu việt của nó so với các loại ván khác
Ván mộc là ván được sản xuất để làm đồ mộc có cấu tạo cơ bản là lõi được ghép bằng gỗ xẻ hay tấm tổ ong cho một khung xác định và lớp áo được dán bọc bằng các lớp ván mỏng ( ván dán, ván bóc, ván lạng) Ván mộc được sản xuất từ các tấm định hình tạo thành các bộ phận của sản phẩm mộc Ví dụ như mặt bàn, đầu giường, vách, hồi tủ…Hiện nay trong sản xuất cũng có những loại ván mộc không có khung
Ván ghép thanh là loại ván được ghép từ những thanh gỗ xẻ nhỏ gọi là thanh cơ sở để tạo ra một tấm ván có độ rộng lớn hơn rất nhiều so với kích thước của thanh cơ sở Loại ván này có thể được phủ mặt hoặc không phủ mặt tuỳ theo yêu cầu của sản phẩm cụ thể Người ta có thể trang sức ván ghép thanh bằng một màng trang sức trong suốt nếu các thanh cơ sở được tuyển chọn co chất lượng tốt, tương đối đồng đều và được ghép lại với nhau theo một quy luật nào đó
Kim loại là một loại nguyên liệu tương đối mới mẻ nhưng tác dụng của
nó trong sản xuất nội ngoại thất là rất to lớn Ưu điểm của loại nguyên liệu này đó là rất bền đối với thời gian và môi trường sử dụng, khả năng tạo hình của loại nguyên liệu này cũng lớn có thể tạo ra những đường nét hoa văn trên sản phẩm một cách dễ dàng, loại nguyên liệu này thường được dùng để sản xuất các loại bàn ghế giả cổ là nhiều Nhược điểm của loại này đó là rất khó