Để tìm hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất và khả năng sử dụng của gốm sứ, em đã mạnh dạn làm đề tài: “ Nghiên cứu quy trình sản xuất gốm sứ tại Làng nghề Bát Tràng và đánh giá khả năng sử
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin gử i lời cám
ơn chân thành đến thầy PGS.TS Trần Văn Chứ, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong bộ môn Công nghệ Mộc và thiết kế trang trí nội thất cùng các thầy cô trong khoa Chế Biến Lâm Sản đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành các nhiệm vụ nội dung khóa luận
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đìn h và bạn bè đã động viên tinh thần và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận này
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010
Trang 2
MỞ ĐẦU
Cuộc sống ngày càng được cải thiện, nhu cầu thẩm mỹ của con người cũng không ngừng tăng lên Với những ý tưởng mới, sáng tạo mới con người
đã tạo lên cho mình một không gian sống riêng : mới mẻ và tiện nghi
Và có thể nói nhu cầu về nhà ở càng phát triển thì nhu cầu về trang trí nội thất cũng ngày càng được quan tâm Như chúng ta đã biết từ xa xưa gốm
sứ đã được ưa chuộng được coi như những vật dụng rất sang trọng, nhất là trong các cung điện lâu đài, nó tạo nên vẻ đẹp quyền uy và cá tính và còn mang đậm nét văn hóa dân tộc Ngày nay, các vật liệu gốm sứ là phụ kiện trang trí rất quan trọng, ta thường dùng nó trong các công trình kiến trúc, làm vật liệu trang trí trong nhà Chính vì thế, trong các phong cách thiết kế, ta thường bắt gặp sự xuất hiện của chúng Nó không những tạo nên điểm nhấn cho ngôi nhà mà còn tạo nên nét cá tính riêng của chủ nhân Và chắc chắn rằng đó là nghệ thuật trang trí
Và không những dùng cho các công trình kiến trúc chúng còn là những vật dụng không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi gia đình Với các
ưu điểm bền đẹp, phong cách và hữu dụng, gốm sứ đã không thể thiếu được trong mỗi thiết kế
Với những mục đích khác nhau, cách sử dụng khác nhau thì khả năng
sử dụng gốm sứ trong mỗi công trình kiến trúc cũng khác nhau Hiện nay, người ta nhìn nhận đánh giá khả năng sử dụng gốm sứ theo các phong cách khác nhau : phong cách dân tộc, phong cách hiện đại hay phong cách cổ truyền… nhưng tất cả đều tạo nên vẻ đẹp riêng phù hợp với không gian kiến trúc thiết kế và cách bày trí của chủ nhân
Ở các nước phương Đông đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam thì nghệ thuật trang trí đồ gốm sứ trong nhà đã có truyền thống từ rất lâu Gốm sứ không chỉ đơn thuần là đồ trang trí trong nhà mà còn là nét văn hóa dân tộc mang tính lễ nghi và xã hội, mang đậm nét “ hồn đất” của đất nước đó Những
Trang 3đồ gốm sứ như tranh sứ, lọ hoa, bình hoa… được để rất cẩn thận và để ở những điểm nhấn trong gian nhà Trong không gian như phòng khách hay phòng ngủ thì cách trang trí đồ gốm sứ có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thoải mái, tiện nghi hay diện tích của không gian và nó cũng là tâm điểm, điểm nhấn của không gian đó
Quy trình sản xuất gốm sứ đã và đang phát triển mạnh Các sản phẩm mới không ngừng có sự thay đổi về kiểu dáng, chất liệu và giá trị thẩm mỹ cũng không ngừng được nâng cao Ngoài việc sản xuất theo cách thủ công truyền thống thì hiện nay còn thêm các cách sản xuất mới đem lại năng suất
và hiệu quả cao hơn rất nhiều
Để tìm hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất và khả năng sử dụng của gốm
sứ, em đã mạnh dạn làm đề tài: “ Nghiên cứu quy trình sản xuất gốm sứ tại Làng nghề Bát Tràng và đánh giá khả năng sử dụng gốm, sứ trong nội thất
” Dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Trần Văn Chứ
Trang 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Mục tiêu của đề tài
– Nhận xét đánh giá được quy trình sản xuất tại cơ sở đó
– Đánh giá được khả năng sử dụng gốm sứ trong nội thất: cách sử dụng, cách trang trí, cách bố trí sắp xếp và sự hợp nhất hoàn chỉnh của không gian trang trí trong một phòng khách, phòng ngủ …
1.2 Nội dung nghiên cứu
– Tìm hiểu quy trình sản xuất gốm sứ tại cơ sở
– Đánh giá được hoạt động sản xuất, quy trình sản xuất của công ty – Tìm hiểu đặc điểm quy trình sản xuất của các cơ sở sản xuất tại Làng nghề
– Tìm hiểu được khả năng sử dụng đồ gốm sứ trong nội thất
Trang 5Đánh giá được sự phù hợp của gốm sứ trong không gian nội thất
1.4 Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp thực tiễn : đi khảo sát thực tiễn tại cơ sở ( Công ty cổ
phần du lịch dịch vụ thương mại làng gốm Bát Tràng), chụp ảnh làm ngôn thông tư liệu
– Phương pháp kế thừa : nghiên cứu qua tư liệu có sẵn, tìm hiểu về
quy trình sản xuất gốm sứ và đánh giá khả năng sử dụng chúng trong trang trí nội thất ( tài liệu trong các trang web, sách, báo, đài, ti vi…)
– Phương pháp tư duy logic : trên cơ sở lý thuyết và thực tế tiến hành
tổng hợp, lựa chọn hợp lý, khoa học sau đó đánh giá hoàn thiện
Trang 6Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH SẢN XUẤT GỐM SỨ
2.1 Những nét chung về gốm sứ
2.1.1 Tìm hiểu lịch sử về đồ gốm sứ
Như chúng ta đã biết gốm sứ là loại sản phẩm được con người biết đến
và sử dụng từ rất lâu Lịch sử sản xuất gốm sứ ở nước ta rất lâu đời ngay từ thời cuối đồ đá mới nhân dân lao động đã biết làm đồ sứ, đến thời kỳ Ngụy Tấn nam bắc triều kỹ thuật chế tác đồ sứ đã đạt trình độ thành thục tương đối cao Trong thời kỳ cận đại do ảnh hưởng của các bán thực dân, bán phong kiến mà đồ gốm sứ hiện đại ở nước ta đặc biệt là chế phẩm gốm sứ trang sức kiến trúc có tốc độ phát triển rất chậm đã không đáp ứng nổi nhu cầu trang sức hiện đại
Sau đây,em xin nêu vài nét khát quát sự có mặt của gốm qua quá trình phát triển lịch sử đất nước
Thời tiền sử: những sản phẩm đất nung được phát hiện cho thấy ở giai
đoạn đầu thường thô có pha lẫn cát hoặc các tạp chất khác, được nặn bằng tay, hoa văn đơn giản ở phía ngoài như các vạch chéo, vân sóng, vân chải răng lược… Các hoa văn này được tạo ra khi sản phẩm còn ướt, một số được tạo bằng bàn dập hoặc dùng que nhọn để vẽ, vạch
Các nhà chuyên môn cho rằng trong suốt thời gian dài, từ lúc phát minh ra đồ gốm tới đầu thời kỳ đồ đồng, phần lớn gốm được hình thành bởi bàn tay của phụ nữ (vân tay để lại trên sản phẩm cho thấy điều đó); được nung ngoài trời, nhiệt độ thường dưới 700ºC Các sản phẩm gốm thời kỳ này là đồ đựng, đồ đun nấu, về cuối ta thấy xuất hiện thêm các loại đồ dùng để ăn uống, trang sức
Thời kỳ đồ đồng: ở Việt Nam (cách đây 4 nghìn năm), hầu hết
các sản phẩm gốm được hình thành bằng bàn xoay một cách khá thành thạo, do vậy tạo nên sự phong phú về chủng loại và kiểu dáng
Trang 7sản phẩm: ngoài các sản phẩm đun nấu còn thấy những sản phẩm gốm để chứa đựng, dụng cụ ăn uống, trang sức, công cụ lao động và gốm mỹ thuật
(Nguồn : internet )
Về trang trí, gốm đất nung chủ yếu có các hoa văn hình hoạ, nét chìm là chính Một số sản phẩm được xoa một lớp áo bằng nước đất khác màu nhưng chưa phải men Các hoa văn trang trí và cách tạo dáng của gốm giai đoạn này có ảnh hưởng đến tạo dáng và trang
trí trên đồ đồng cùng thời
Thời đại đồ sắt: gốm đất nung được sản xuất hầu như khắp các
vùng trong nước Chất lượng gốm còn non lửa và vẫn thô sơ nhưng
về tạo dáng và trang trí thì chưa có thời kỳ nào đặc sắc và phong phú bằng Hiện vật thời kỳ này cho thấy nghề gốm vẫn gắn bó với nghề nông nhưng nam giới đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất
Trang 8( Nguồn : internet )
Đến thế kỷ 2 trước Công nguyên Việt Nam bị rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc Nghề gốm tiếp tục phát triển trên vốn kinh nghiệm cổ truyền, có tiếp thu ảnh hưởng của gốm Trung Hoa Về chủng loại sản phẩm, xuất hiện thêm loại gốm kiến trúc như gạch, ngói Ngoài ra còn có các tượng động vật nhỏ như lợn, bò với kiểu nặn sơ sài Phong cách gốm thời kỳ này mang phong cách Hán hoặc kết hợp hoa văn Việt và hoa văn Hán Nhiều sản phẩm gốm Hán khác được cải biên theo phong cách Việt
Thời Lý - Trần: thế kỷ 10 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử
Việt Nam Thời kỳ phục hồi độc lập dân tộc sau hơn mười thế kỷ đô
hộ của phong kiến Trung Hoa Suốt bốn thế kỷ, từ nhà Lý sang nhà Trần, đồ gốm đạt được những thành tựu rực rỡ Quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất liệu… đều được mở rộng Nhiều loại men được ứng dụng và ổn định về công nghệ Đặc biệt men trắng cũng xuất hiện ở thời kỳ này ngoài men tro và men đất Ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm là hình dáng, hoa văn trang trí, men màu
Sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ cao đã tạo nên sản phẩm gốm thời kỳ này có ba loại nổi tiếng là gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc
Trang 9Về tạo dáng gốm Lý - Trần ngoài những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả là cách tạo dáng của những đồ đồng trước đó Trang trí trên gốm Lý - Trần, hoa văn hình học chiếm vị trí phụ Những hoạ tiết chính ở đây là hoa lá, chim, thú, người Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam Một đặc điểm nữa là nét chìm được làm “bè” ra, một bên rõ cạnh, một bên biến dần vào sản phẩm, làm chỗ chảy dồn men, tạo nên độ đậm nhạt cho hoạ tiết như trên gốm men ngọc hoặc làm giới hạn để tô nâu
Về kỹ thuật, lò nung cho gốm thời Lý - Trần có một bước tiến lớn như việc sử dụng các lò cóc, lò nằm, có khi cả lò rồng để nâng nhiệt độ nung cho sản phẩm lên đến 1200ºC ” 1280ºC Việc sử dụng bao nung và kỹ thuật nung chồng bằng con kê (lòng dong) được ứng dụng rộng rãi đối với nhiều loại sản phẩm đã cho thấy đạt trình độ sản xuất gốm cao cấp, nhất là gốm men ngọc Nhiều địa phương sản xuất gốm ở Thanh Hoá, Hà Nội, vùng Nam Định… chứng tỏ sự hình thành gốm tập trung và mang tính chuyên nghiệp
Gốm Lý - Trần đã tạo nên sự chuyển hoá bước đầu giữa yêu cầu sử dụng với chất liệu Điều này nó thể hiện bước tiến bộ về mặt
kỹ thuật và nghệ thuật, phản ánh tư tưởng duy lý trong quá trình sáng tạo gốm và ứng dụng nó vào đời sống một cách tốt đẹp nhất, phù hợp nhất
Trang 10Sau thế kỷ 14: nhiều trung tâm sản xuất gốm chuyên môn hoá
nổi tiếng như Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh, Hàm Rồng, Mỹ Thiện, Phú Vinh… chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của nghề Nhiều sản phẩm gốm ghi lại địa phương, ngày tháng và người sáng tạo ra nó Nhiều quốc gia đã nhập gốm từ Việt Nam, đặc biệt thợ giỏi của Nhật Bản còn bắt chước gốm của Việt Nam
Tiêu biểu cho kỹ thuật và nghệ thuật gốm Việt Nam thời kỳ này là gốm hoa lam; gốm chạm đắp nổi tinh tế, có bản sắc riêng Ngoài ra còn có loại gốm vẽ men mà người Nhật thời đó trong trà đạo rất ưa chuộng, gọi là “Hồng An Nam”
Về kỹ thuật, các loại lò rồng cỡ lớn đã được sử dụng khá rộng rãi, nhiệt độ và chế độ nung, điều khiển lửa một cách chủ động Loại men tro trấu, tro cây được dùng nhiều Kỹ thuật vẽ hoa đã đạt tới trình độ thành thục, nét trang trí phóng bút mang nhiều chất hội hoạ
Đến thời Gia Long (đầu thế kỷ 19), nghề gốm có dấu hiệu xuống dốc
bởi việc nhập gốm từ Trung Hoa theo các đơn đặt hàng của triều đình Huế Một vài cơ sở sản xuất gốm ở Biên Hoà, Lái Thiêu đã phát triển một loại gốm men lửa trung (thường gọi là gốm Biên Hoà) được sử dụng khá rộng rãi ở các địa phương lân cận Đầu thế kỷ 20, ở miền Bắc, một vài cơ sở đã nhập thiết bị
từ nước ngoài và nghiên cứu sản xuất đồ sứ, nhưng kết quả không đáng kể
Trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người Việt Nam không có điều kiện để phát triển nghề thủ công nói chung và nghề gốm nói riêng Nghề gốm bị sa sút và có lúc tưởng chừng bị mất nghề Sau ngày đất nước thống nhất, hầu hết các nghề thủ công được hồi sinh, trong đó nghề gốm là một nghề đã được khôi phục và phát triển rất nhanh Nhiều trung tâm gốm trở lại hoạt động sôi nổi và rất năng động như Bát Tràng, Đông Triều, Phù Lãng, Biên Hoà… May mắn thay, các lớp nghệ nhân cũ vẫn còn và các lớp nghệ nhân mới đang xuất hiện Sản phẩm gốm của Việt Nam từ lâu đã là
Trang 11một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và hôm nay nó còn là một mặt hàng lưu niệm không thể thiếu đối với nhiều du khách gần xa
2.1.3 Đặc điểm, tính chất của gốm, sứ
Căn cứ vào những đặc điểm chung về xương gốm, màu men, đề tài trang trí và đặc biệt nhờ các dòng minh văn, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của gốm cổ Bát Tràng
Hầu hết, đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh
nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả mầu ngà, đục Bát Tràng cũng là làng gốm có các dòng
men riêng từ loại men xanh rêu cùng với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có mầu xám nâu Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm Bát Tràng như sau:
Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát,
chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ
• Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các loại chân đèn, chân nến,
lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, nhiều chiếc còn ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng Đó là một nét đặc biệt trong đồ gốm Bát tràng
• Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như
tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng
Gốm sứ tên gọi chung cho đồ gốm và đồ sứ Nếu sản phẩm được làm từ nguyên liệu đất và phù sa là chủ yếu qua nung ở nhiệt độ thấp đều được gọi là gốm Mặt cắt ngang của gốm thường thô không sáng, không trong suốt, độ
Trang 12hút nước tương đối cao, cường độ thấp, khi gõ vào âm thanh đục Hàng gốm lại phân thành gốm thô và gốm tinh Phôi liệu của gốm thô là trong thành phần đất sét có hàm chứa nhiều tạp chất Chế phẩm của gốm có gạch, ngói, chậu… Gốm tinh phôi của nó có màu trắng hoặc màu ngà là một loại sản phẩm có tính đa lỗ Gốm tinh có gốm kiến trúc, gốm tinh mỹ thuật và gốm tinh gia dụng
Sứ là một loại sản phẩm có nguyên liệu chủ yếu là bột đất sứ, bột trường thạch qua nung ở nhiệt độ cao mà thành Kết cấu của sứ mịn, độ hút nước tương đối thấp, có tính giòn và độ bán thấu Giữa 2 loại gốm và sứ còn
có 1 loại sản phẩm được gọi là sành Đồ sành phân biệt với đồ gốm ở chỗ đồ gốm là thể đa lỗ còn sành lại có kết cấu mịn, độ hút nước dưới 2% Sự khác biệt giữa đồ sành và đồ sứ là đồ sành thường có màu, lại không có tính bán thấu
Chủng loại của gốm sứ rất đa dạng Vật liệu trang sức gốm sứ trong công trình trang sức có gạch men màu, gạch mặt thô, gạch ốp nghệ thuật, sứ Macxay và chế phẩm lưu ly
Tính trang sức của bề mặt phôi gốm sứ tương đối kém, mà các tính năng khác ( như chống thấm, chịu ăn mòn, chịu ố bẩn) không cao Vì thế để nâng cao hiệu quả mỹ quan của chế phẩm gốm sứ, tăng cường các tính năng khác của phôi mà trên bề mặt của phôi gốm sứ cần phải tiến hành phủ một lớp men
Men là chỉ một lớp thủy tinh liên tục bám lên bề mặt phôi gốm sứ Nó
có tính chất tương tự như thủy tinh nhưng lại có cái khác Men có tính dị hướng đồng tính, điểm nóng cháy không cố định, lại có độ sáng bóng rất cao
2.1.4 Quy trình sản xuất gốm, sứ
2.1.4.1 Công nghệ trong sản xuất gốm, sứ
Hiện nay, việc sản xuất đồ gốm sứ không đơn thuần là sản xuất theo nối thủ công nữa mà thay vào đó con người đã tìm ra được
Trang 13những công nghệ mới đem lại hiệu quả và năng suất cao hơn rất nhiều
Việc sản xuất gốm sứ tuy khác nhau ở mỗi cơ sở nhưng đều gồm những công đoạn chung Sự khác nhau về công nghệ chủ yếu được phân biệt ở khâu nung sản phẩm Hiện có 3 loại lò nung đang được các doanh nghiệp sử dụng là lò thủ công truyền thống, lò tuynel và lò gas con thoi Trong đó các doanh nghiệp quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng lò thủ công truyền thống; các doanh nghiệp quy mô vừa chủ yếu sử dụng lò gas con thoi
Đầu tư, năng suất, chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, mức độ sử dụng năng lượng và mức độ phát thải khí nhà kính lệ thuộc chủ yếu vào loại
lò nung Sử dụng lò thủ công truyền thống tuy chi phí sử dụng năng lượng thấp, nhưng phát thải khí CO2 lại rất cao, do sử dụng nhiên liệu chủ yếu là than cám, củi và các nhiên liệu phụ khác
Năng lượng được sử dụng trong sản xuất sản phẩm gốm sứ hiện nay là điện, than, củi, gas Xu thế sử dụng lò gas đang tăng mạnh do các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao ở trong nước và xuất khẩu Đa số các sản phẩm xuất khẩu đều được nung đốt bằng lò gas Nung bằng lò gas cho sản phẩm đạt chất lượng cao và đồng đều, tỷ lệ thành phẩm cao Tuy vậy, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng
lò thủ công truyền thống đốt than còn rất cao (Ví dụ, ở làng nghề Bát Tràng
có 600 lò đốt than so với 320 lò gas) Nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình sử dụng lò thủ công đốt than để sản xuất sản phẩm có tính đại trà, giá rẻ có thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc
Do lò thủ công truyền thống còn chiếm số lượng lớn nên vấn đề ô nhiễm môi trường rất nặng nề trong sản xuất gốm sứ, đặc biệt trong các làng nghề tập trung nhiều doanh nghiệp Ô nhiễm do khí thải, bụi than đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân trong vùng
Trang 14Việc thúc đẩy công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng, đặc biệt là sử dụng lò gas sẽ đưa đến cuộc cách mạng giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm gốm sứ
2.1.4.1 Quy trình sản xuất gốm, sứ
Quy trình công nghệ sản xuất gốm sứ nói chung:
Đất dẻo trước khi đưa vào tạo hình sẽ được đưa qua máy luyện và hút chân không lần hai và được đùn ra với các kích thước có đường kính khác nhau tuỳ thuộc vào sản phẩm sản xuất Sau đó được đưa qua bàn cắt và đưa vào máy ép lăn, sản phẩm tạo hình được đưa qua buồng sấy Tiếp theo, sản phẩm được đưa qua các công đoạn: sửa, nung sơ (nhiệt độ nung là 700O
C), chuốt hàng, trang trí sản phẩm, làm men, cắt chân, lò nung Sản phẩm ra lò sẽ được bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) phân loại chất lượng, mài chân, đóng gói trước khi đưa đi tiêu thụ
Quy trình nung đốt trong lò thủ công truyền thống:
Quá trình chuẩn bị:
Sản phẩm trước khi nung được đặt vào trong các bao nung bằng Samốt Khi xếp vào trong lò, nhiên liệu than và bao nung sản phẩm được xếp xen kẽ Quá trình chồng lò là một quá trình lao động nặng nhọc với hàng chục tấn hàng được đưa lên cao từ 6 đến 7 m Kỹ thuật xếp lò do những người thợ giàu kinh nghiệm thực hiện Trong quá trình nung đốt, người thợ không điều khiển được nhiệt lượng cung cấp cho lò nung Môi trường nung không sạch Điều
đó dẫn đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất không cao Theo tính toán, tỷ lệ sản phẩm thu hồi khi nung bằng lò thủ công truyền thống là 65 – 75%
Nhiên liệu chủ yếu là loại than cám 5, cám 6 Trước khi đưa vào lò nung đốt, than được pha trộn theo công thức 50% than cám, 50% chất độn bao gồm giả đất, xỉ than, bùn và nước Sau đó đóng thành các bánh tròn có đường kính khoảng 13 đến 15 cm, phơi khô trước khi đưa vào lò đốt
Quá trình nung đốt:
Trang 15Công đoạn nung đốt là công đoạn tiêu hao năng lượng chủ yếu
Quá trình nung gồm 3 giai đoạn:
– Giai đoạn sấy
Trước khi nung, sản phẩm được sấy từ 1 đến 3 giờ, tuỳ thuộc vào kích
cỡ của sản phẩm Các sản phẩm có kích cỡ lớn phải được sấy lâu hơn để tránh
bị nứt trong khi nung Mục đích của quá trình sấy là giảm độ ẩm trong sản phẩm nung, nhiệt độ sấy thường vào khoảng 200 O
C
C) Sau giai đoạn sấy, nhiên liệu được đưa thêm vào buồng đốt và đốt trong khoảng thời gian từ 4 – 5 giờ Thời gian bảo ôn là 30 phút Khi ngọn lửa trong gầm gi sáng trắng là lúc than trong lò đã cháy đều, lúc đó dừng đốt củi
để than tự cháy trong lò Quá trình này kéo dài từ 10 – 12 giờ Quá trình nung đốt lò than thủ công được thực hiện chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nung đốt của các thợ lò Quá trình cháy trong lò là một quá trình tự nhiên, nhiệt độ nung phụ thuộc vào chất lượng than cám, cách phối liệu, đấu chế và số lượng than chồng vào lò
Theo kinh nghiệm khi chồng lò thì lượng than chồng ở xung quanh tường lò và cửa lò nhiều hơn ở giữa lò Than dùng trong gầm gi được đấu chế
có tỷ lệ than cao hơn để dễ bén trong quá trình nung (tỷ lệ than 80%, chất độn 20%)
– Giai đoạn làm nguội
Quá trình làm nguội là một quá trình tự nhiên, thời gian từ khi chồng lò đến khi ra lò phải mất từ 4 – 5 ngày tuỳ theo sản phẩm nung đốt lớn hay nhỏ Trong quá trình dỡ lò, vì sản phẩm và nhiên liệu được xếp chồng xen kẽ nên đây cũng là một khâu rất nặng nhọc, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động do bụi than và hơi nóng
* Những hạn chế của lò thủ công truyền thống đốt than:
• Công việc xếp sản phẩm vào lò và ra lò rất nặng nhọc, tốn nhiều lao động
Trang 16• Suất tiêu hao nhiên liệu cao
• Tỷ lệ thu hồi sản phẩm thấp
• Chất lượng sản phẩm không cao
• Chỉ nung được trong môi trường oxy hoá, không nung được trong môi trường khử (gốm chất lượng cao cần nung trong môi trường khử)
• Không điều chỉnh được nhiệt độ theo ý muốn trong quá trình nung
• Hàm lượng tro thải lớn từ 33 – 40%
• Gây ô nhiễm môi trường do phát thải nhiều loại khí thải trong quá trình nung như khí: CO, CO2, SO2
Quy trình nung đốt bằng lò gas con thoi:
Giới thiệu về lò gas con thoi:
Lò gas con thoi có dạng hình hộp vuông hoặc chữ nhật, lò có nhiều kích cỡ khác nhau, thể tích lò từ 1 – 36 m3
Lò được cấu tạo gồm vỏ lò, xe nung (xe goòng), phà trung chuyển, hệ thống đường ray, ống khói, hệ thống cấp nhiên liệu, đồng hồ đo nhiệt độ, đầu
dò nhiệt (can nhiệt), hệ thống ống dẫn ga từ kho tới lò, van điều áp, đồng hồ
đo áp suất, hệ thống bép phun liệu nằm hai bên sườn lò, bình bọt an toàn
Xe nung mặt trên có các kênh dẫn khói, kênh khói được thông với ống khói qua vách hậu lò, ống khói có hệ thống để điều chỉnh áp suất trong buồng nung
Nhiên liệu của lò gas con thoi là gas hoá lỏng LPG gồm 2 loại chính là butan 50% C4H10 + propan 50% C3H8; nhiệt lượng = 11.827 kcal/kg
Quy trình vận hành lò gas con thoi
Các công đoạn làm mộc tương tự như lò thủ công truyền thống
Lò gas được trang bị các tấm kê nung bằng vật liệu chịu nhiệt cao Công đoạn chồng xếp lò theo trình tự: từng lớp sản phẩm trên mặt xe, lớp nọ cách lớp kia bằng các cục kê giữa các tấm kê, sản phẩm được xếp ở dạng như các giá hàng Lúc xếp sản phẩm, xe nung để ở ngoài Khi xếp đủ sản phẩm,
đủ chiều cao, xe được đẩy vào buồng lò Sau khi kiểm tra an toàn, bắt đầu
Trang 17châm lửa một số bép phun để dấm sấy (chú ý chưa vội đóng cửa lò để tránh
nổ khi lượng gas trong lò cao) khoảng 2 – 3 giờ hoặc dài hơn tuỳ theo sản phẩm dày mỏng Khi đạt được nhiệt độ sấy như yêu cầu thì châm lửa toàn bộ bép và điều chỉnh áp theo quy định từng giai đoạn Nâng nhiệt theo quy trình đường cong nung, đồng hồ báo tới nhiệt thiêu kết, tuỳ theo chủng loại sản phẩm mà điều chỉnh áp để bảo ôn dài hay ngắn nhằm làm cho sản phẩm kết khối
Nguyên lý cháy của lò gas là nhiên liệu được phun từ 2 hàng bép bố trí dọc hai bên sườn lò, cháy tự nhiên, chuyển động theo hướng lên nóc và cuộn ngang, chạy vào kênh dẫn khói theo nguyên lý lửa đảo, trên đường đi dòng khí cháy cấp nhiệt cho sản phẩm Thời gian gia nhiệt và suất tiêu hao nhiên liệu cho một mẻ lò phụ thuộc vào chủng loại sản phẩm và nhiệt độ thiêu kết Khi nung xong, lò được làm nguội tự nhiên, nhiệt độ được hạ xuống đến 100 – 200 OC là an toàn đối với sản phẩm
Quá trình tạo cốt gốm:
– Chọn đất
Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ
– Xử lý, pha chế đất
Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau
Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng) Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra)
Trang 18Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay
"bể lọc" Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng
Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là "bể ủ" Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất) Thời gian ủ càng lâu càng tốt
Nhìn chung, khâu xử lý đất của người thợ gốm Bát Tràng thường không qua nhiều công đoạn phức tạp Trong quá trình xử lý, tuỳ theo từng loại đồ gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau
Tạo dáng
Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải Sau quá trình kéo đất bằng tay
và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng" Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo
Trang 19dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi
lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có th ể làm được công việc này nữa "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm
Người thợ "đắp nặn" gốm là người thợ có trình độ kỹ thuật và
mỹ thuật cao Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mỹ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt
Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòng khuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay
và kéo cán tới mức cần thiết đề tạo sản phẩm Ngày nay người làng gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kỹ thuật "đúc" hiện vật Muốn có hiện vật gốm theo kỹ thuật đúc trước hết phải chế tạo khuôn bằng thạch cao Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp Loại đơn giản
là khuôn hai mang, loại phức tạp thì thường cớ nhiều mang, tuỳ theo hình dáng của sản phẩm định tạo Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện Ngoài ra người ta còn dùng phương pháp đổ rót: đổ "hồ thừa" hay "hồ đầy" để tạo dáng sản phẩm
Trang 20Phơi sấy và sửa hàng mộc
Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần
Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ
đà rồi vừa xoay bàn xoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc" cho đất ở chân "vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa") Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách ), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bộ", phải dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bàn"
Theo yêu cầu trang trí, có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu), có khi phải khắc sâu các hoạ tiết trang trí trên mặt sản phẩm
Quá trình trang trí hoa văn và phủ men
Trang 21– Kỹ thuật vẽ
Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn học tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác phẩm Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu
– Chế tạo men
Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màu nâu, thành phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối (hỗn hợp ôxít sắt và ôxít mangan lấy ở Phù Lãng, Hà Bắc) Từ thế kỷ 15 thợ gốm Bát Tràng đã từng chế tạo ra loại men lam nổi tiếng Loại men này được chế từ đá đỏ (có chứa ôxít côban)
đá thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộn với men áo Men lam phát màu ở nhiệt độ 1250°C Đầu thế kỷ 17 người Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa Hội (thuộc Bích Nhôi, Kinh Môn, Hải Dương) có màu hồng nhạt điều chế thành một loại men mới là men rạn
Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kỹ
Trang 22trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các
"dị" lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật Trong quá trình chế tạo men người thợ gốm Bát Tràng nhận thấy
để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu "nhỏ tro to đàn"
– Tráng men
Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung
sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng nên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm Kỹ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men nên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là
"kìm men", và khó hơn cả là hình thức "quay men" và "đúc men" Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây
– Sửa hàng men
Người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung Trước hết phải xem kỹ từng sản phẩm một xem
Trang 23có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men vào các vị trí ấy Sau
đó họ tiến hành "cắt dò" tức cạo bỏ những chỗ dư thừa men, công việc này gọi là "sửa hàng men"
Quá trình nung
Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm.Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt
độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò
Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn
– Bao nung
Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lại làm bao nung Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò
Trang 24đạt đến độ lửa cao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng)
Gần đây bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa có mầu xám sẫm trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (gọi là sa mốt) với tỷ lệ 25–35% đất sét và 65–75% sa mốt Người ta dùng một lượng nước vừa đủ để trộn đều và đánh nhuyễn chất hỗn hợp này rồi đem in (dập) thành bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò Bao nung thường hình trụ để cho lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm Tuỳ theo sản phẩm mà bao nung có kích thước không giống nhau nhưng phổ biến hơn cả là loại có đường kính từ 15 đến 30 cm, dày 2–5 cm và cao từ 5 đến 40 cm Một bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần
Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hoặc lò tuynen, thường không cần dùng bao nung
– Nhiên liệu
Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt
lò, sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và
"củi bửa" và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng Củi bửa và củi phác sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho ải ra rồi mới đem sử dụng Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò
Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ để gầy lò Than cám đem nhào trộn kỹ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô
để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay
Trang 25– Chồng lò
Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào
lò nung Việc xếp sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và hình dáng kích, cỡ của bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên việc chồng lò theo từng loại lò cũng có những đặc điểm riêng Đối với loại lò ếch, người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ
10 (riêng bích thứ 10 vì lửa kém nên sản phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài) Ở bầu cũi lợn (bầu đầu tiên) nơi giành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên đôi khi người ta xếp các loại sản phẩm trong các bao ngoại cỡ Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống như lò đàn Riêng đối với lò hộp, tất cả các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ không đậy nắp và xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường lò và chỗ khoảng trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than
– Đốt lò
Nhìn chung đối với các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu thì quy trình đốt lò đều tương tự nhau và với kinh nghiệm của mình, người "thợ cả" có thể làm chủ được ngọn lửa trong toàn bộ quá trình đốt lò Ở lò đàn khoảng một nửa ngày kể từ khi nhóm lửa người ta đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò Sau đó người ta tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư t hì việc tiếp củi ở các bầu cũi lợn được dừng lại Tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi Người xuất cả bằng kinh nghiệm của mình kiểm tra kỹ các bích và ra lệnh ngừng ném củi bửa vào bích nào khi biết sản phẩm ở bích đó đã chín Càng về cuối sản phẩm chín càng nhanh Khi sản phẩm trong bích đậu đã sắp chín thì người thợ cả quyết định
Trang 26ném dồn dập trong vòng nửa tiếng khoảng 9-10 bó củi bửa qua lỗ đậu rồi kết thúc việc tiếp củi Trong phường đốt lò, người phường trưởng (xuất cả) phụ trách chung về kỹ thuật, hai người thợ đốt ở cửa lò (đốt dưới), bốn người chuyên ném củi bửa qua cấc lỗ giòi (đốt trên)
Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày
2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò
Đối với lò đứng, việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều vì khi hoàn tất khâu chồng lò cũng có nghĩa là đã kết thúc việc nạp nhiên liệu Thế nhưng do đặc điểm của lò, người thợ đốt lò dù có dầy dạn kinh nghiệm cũng rất khó có thể làm chủ được ngọn lửa, đây thực sự
là vấn ra khó khăn nhất trong khâu kỹ thuật ở làng Bát Tràng Người
ta dùng gạch chịu lửa bịt cửa lò lại rồi nhóm lò bằng củi Lửa cháy bén vào than và bốc từ dưới lên Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc công việc đốt lò Thời gian đốt lò kể từ lúc nhóm lửa đến khi hoàn toàn tắt lửa kéo dài khoảng 3 ngày 3 đêm Sau khi lò nguội, sản phẩm ra lò được đánh giá phân loại và sửa chữa lại các khuyết tật (nếu có thể được) trước khi đem ra phân phối sử dụng
Một số loại lò nung ở các làng nghề:
Trang 282.2 Tình hình tiêu thụ các sản phẩm gốm, sứ ở Việt Nam
Như chúng ta đã biết cái bát, cái đĩa, bộ ấm chén là một trong những vật dụng phổ biến và thiếu yếu nhất trong các gia đình người Việt Tuy nhiên,
từ nhiều năm nay, trong rất nhiều gia đình những đồ dùng gia đình ấy không phải là gốm sứ Hải Dương, Bát Tràng hay Minh Long - những thương hiệu Việt nổi tiếng Thay vào đó, một bộ phận người dân Việt đang dùng những sản phẩm không nguồn gốc
Hà Nội hiện có ba khu lớn tập trung nhiều đồ sành sứ, thủy tinh là Hàm Long, Cầu Gỗ và phố Hàng Khoai với hàng trăm cửa hàng lớn, nhỏ khác nhau Tuy nhiên, theo chân một bà nội trợ sắm đồ bát, đĩa, cốc, chén mới thấy, ngay tại Hà Nội, nếu không sang Bát Tràng, để mua gốm sứ “nội” là không dễ dàng Lâu nay hầu hết người dân Việt vẫn dùng đồ ngoại nhưng thực chất đều là hàng Trung Quốc, giá rẻ, hoa văn đẹp nhưng lại mỏng, giòn nên dễ mẻ, sứt và vỡ
Ít ai biết rằng, từ hơn 10 năm nay, ngay tại trung tâm Hà Nội, hơn 20 chục cửa hàng chuyên kinh doanh đồ gốm sứ trong nước tồn tại và phát triển khá sầm uất ngay trong khu chợ Hàng Da (nay tất cả đều chuyển sang chợ tạm Phùng Hưng) So với các cửa hàng bát đĩa tại phố Hàng Khoai, Gầm Cầu, chủng loại hàng hóa phong phú hơn rất nhiều, đặc biệt cái ấm, cái tích chỉ cần nhìn qua là biết ngay đồ Việt Trong đó, hàng Bát Tràng đang áp đảo, chỉ
có ba cửa hàng bán sản phẩm Trung Quốc, gốm sứ Hải Dương - cái tên “lừng lẫy” một thời cũng có xuất hiện tại chợ nhưng đó là chuyện của dăm năm trước Hàng tại chợ trước phục vụ cho khách du lịch, chuyển ra chợ tạm thì chủ yếu đổ buôn Các nhà hàng, khách sạn với đơn hàng lớn còn bán dễ hơn cho khách mua lẻ
Đồ sành sứ Việt Nam chỉ được cái bền, còn lại từ hình thức đến giá cả, phân phối đều thua xa “Chỉ cần ra chợ là mua ngay được cái bát, cái đĩa trong khi hàng Việt tuyên bố ầm ầm là sẽ mở rộng thị trường nội địa nhưng
Trang 29chẳng đâu xa, ngay tại Hà Nội, hoặc phải lượn vòng cả buổi hoặc phải sang tận “lò” Bát Tràng cách vài chục km”
Cái bát, cái đĩa, bộ ấm chén là một trong những vật dụng phổ biến và thiếu yếu nhất trong các gia đình người Việt Nói như vậy để thấy, chỉ cần đáp ứng đủ nhu cầu trong nước cũng đã mang lại nguồn thu lớn cho gốm sứ Tuy nhiên, đó chỉ là tính toán cơ học còn trên thực tế, hàng nhập khẩu đang
“làm mưa làm gió” trên thị trường Vậy các thương hiệu gốm sứ Việt Nam đi đâu ? Họ không đủ năng lực để sản xuất mặt hàng đang được đòi hỏi chất lượng ngày càng cao từ người tiêu dùng hay đã bỏ quên đối tượng khách hàng bình dân ?
Giám đốc một Doanh nghiệp lớn tại Bát Tràng thừa nhận: năng lực sản xuất hiện nay đã cho phép Việt Nam có được những sản phẩm đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhưng những lô hàng đó chỉ dành cho xuất khẩu Phát triển thị trường trong nước cũng đồng nghĩa với việc đa dạng hóa sản phẩm, giảm giá thành, mở rộng quảng bá và thị trường tiêu thụ Đây đang là những khó khăn mà không phải năng lực của Doanh nghiệp nào cũng đáp ứng
và thực hiện được Vì vậy, nhiều năm nay ngành gốm sứ vẫn dè dặt, thậm chí đôi khi còn bỏ qua, không đề cập đến tiêu thụ nội địa
Trong khi đó, khó có thể nói là tất cả người Việt đều quay lưng với gốm sứ trong nước Chỉ có điều, đó chỉ như “tình cảm đơn phương” Người tiêu dùng sẽ không đủ kiên nhẫn để yêu hàng Việt nếu cứ phải chật vật tìm sản phẩm trong nước trong khi ra đến cửa là đụng ngay hàng nhập khẩu nhiều lợi thế về giá cả, hình thức
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh
mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn
Gốm Bát Tràng xưa nay vốn nổi tiếng khắp cả nước Tuy nhiên loại mặt hàng này không đến được tay người tiêu dùng nhiều bởi lẽ giá cả đắt đỏ,
Trang 30mẫu mã không đa dạng như các mặt hàng Trung Quốc Chính vì thế, việc tiêu thụ, sử dụng gốm sứ Bát Tràng vẫn còn những hạn chế
Trong sự suy sụp chung của phong trào hợp tác hoá thời đổi mới 1994), ngành thủ công gốm sứ Bát Tràng đã hướng nhanh sang cơ cấu kinh tế mới, đứng vững trong thị trường cạnh tranh gay gắt Năm 1994, 62% của tổng
(1991-số 2.803 hộ gia đình (khoảng 1.700 hộ) sản xuất đạt doanh thu ổn định, bình quân 30.000.000 đồng hộ/năm Triển lãm hàng mỹ nghệ các nước ASEAN ở Thái Lan, hàng gốm sứ Bát Tràng với màu men phong phú, được nhiều người
ưa thích
Các mặt hàng có tính nghệ thuật cao thì cũng được xuất khẩu, thị trường chủ yếu là các nước EU, Italia Còn trong nước thì tình hình sử dụng gốm sứ vẫn còn hạn chế và chưa có vị thế đứng trên thị trường
Làng gốm Bát Tràng cũng đang dần mờ nhạt vì giả phong cách và trộn
hàng nước ngoài Chẳng riêng nghề sơn mài chạy theo hiện đại xoá nhoà ranh
giới của bản sắc mà gốm Bát Tràng cũng đang dần mờ nhạt vì giả phong cách và trộn hàng nước ngoài
Những năm gần đây, gốm sứ Bát Tràng có một sự chuyển mình mạnh
mẽ Bên cạnh sự đa dạng về kiểu dáng, màu men, gốm sứ Bát Tràng còn chú
ý nhiều tới thị hiếu của các lứa tuổi
Triển vọng ấy rất sáng sủa Nhân dân Bát Tràng chắc sẽ không bỏ lỡ cơ hội để cải thiện đời sống của mình, góp phần đưa ngành gốm sứ Việt Nam tiến lên
Bát Tràng có tiềm năng là một địa chỉ du lịch, hấp dẫn trong và ngoài nước với nghề cổ truyền tạo ra nhiều hàng gốm sứ đẹp, với khu làng cổ toàn nhà gạch kiên cố chống đỡ với lũ lụt hàng thế kỷ, với mạng đường nhỏ hẹp ngoằn nghèo gấp khúc thẳng góc mỗi chỗ ngoặt; cả với di tích cũ để lại vết tích mái nhà và đồ cổ ở sâu 5 - 10m dưới mặt đất
Trang 31Chương 3
CƠ SỞ THỰC TIỄN
3.1 Vài nét về Làng nghề Bát Tràng
3.1.1 Vài nét về Làng gốm Bát Tràng
Làng Bát Tràng nằm về phía đông nam thành phố, Cuối thế kỷ 14, làng
Bồ Bát (Ninh Bình) và làng Ninh Tràng (Thanh Hoá) cùng di dân nghề gốm
về đây và hợp tên thành Bát Tràng Năm 1958, để lại một phần diện tích cho kênh đào Bắc Hưng Hải mở cửa ra sông Hồng, làng rời đi khoảng 1/3 dân số sang ở đất làng Giang Cao láng giềng Xã Bát Tràng hợp thành từ đó
Làng có nhiều công trình văn hoá: đình, chùa, miếu nổi tiếng Nhất là ngôi đình bề thế xây theo kiến trúc cổ, tu tạo lại đã hơn 300 năm, còn lưu được danh sắc dụ phong thành hoàng Nhà văn chỉ lưu được danh sách 364 vị
đỗ đạt khoa bảng từ tam trường trở lên Qua sử sách và gia phả họ hàng, có 9
vị đỗ tiến sĩ, trong đó có một vị đỗ trạng nguyên
Từ năm 1945 trở về trước, chỉ một số ít hộ gia đình làm gốm sứ và gạch Trong thời chiến (1946-1954), một phần thợ chuyển ra vùng tự do tiếp tục sản xuất Nghề gốm sứ được khôi phục nhanh khi hoà bình lập lại và có những bước phát triển ban đầu khi thành phố lập xí nghiệp nhà nước ở xã từ cuối năm 1959 Ban quản lý xí nghiệp tập trung động viên các nghệ nhân giỏi cải tiến kỹ thuật, sáng tác mẫu mã và phục hồi loại men truyền thống bị mai một lâu ngày Xí nghiệp còn cung ứng nguyên liệu, giao nhiệm vụ cho sản xuất cho các hợp tác xã, hộ gia đình và quảng cáo bán hàng ở trong và ngoài nước
Ngày nay, phụ nữ Bát Tràng không phải còn đi chợ xa xôi như trước Rất nhiều chị đã cùng nam giới sản xuất và buôn bán hàng sành sứ Nhiều người có cửa hàng bán buôn và làm dịch vụ phục vụ đông đảo người lao động Con gái đã đi học Nhiều nữ sinh đã học hết bậc phổ thông cơ sở và trung học Một số đã bước vào ngưỡng cửa đại học
Trang 32Một số hình ảnh về làng nghề Bát Tràng:
Trang 33Làng gốm Bát Tràng có truyền thống và nổi tiếng từ xưa với những sản phẩm đẹp, nghệ thuật cao cùng các nghệ nhân giỏi Tương truyền, gần 6
Trang 34thế kỷ trước, có một nghệ nhân cao tuổi, râu tóc đã bạc trắng, từ làng Bồ Bát trong Thanh Hóa đến Bát Tràng hành nghề, dựng nghiệp, rồi truyền lại nghề gốm bàn xoay cho dân làng (Gọi là gốm bàn xoay, bởi cách nặn, chuốt đồ gốm trên một cái mâm luôn luôn được đạp cho quay tròn) Câu chuyện về cụ nghệ nhân tóc bạc trắng chỉ là truyền khẩu Còn theo những gì được ghi lại trong sử sách thì làng nghề Bát Tràng cũng đã có đến 500 năm tuổi Một số thư tịch cổ có ghi việc thời Lê sơ, thế kỷ 15, các cống phẩm triều đình cống nạp cho nhà Minh bên Trung Quốc gồm các sản vật quý như gấm, vóc, lụa là, châu ngọc , và có cả đồ gốm Bát Tràng Nhưng có thể nói, nghề gốm ở Bát Tràng cực thịnh là vào thế kỷ 16, thế kỷ 17 Nhiều đồ thờ quý giá ở những đình, đền, chùa, miếu còn đến nay, thấy có ghi tên tuổi những người cúng tiền
và thời gian chế tác, thì biết những đồ gốm Bát Tràng cực kỳ đẹp cả cốt, dáng, nét và men đã ra đời vào thời Mạc Mậu Hợp và thời Lê trung hưng
Từ xưa, dân Bát Tràng đã sống và phát triển bằng nghề gốm sứ Đất sét
để làm đồ gốm, người Bát Tràng phải mua từ làng Cổ Điển bên Vĩnh Phú, hoặc mua từ làng Dâu bên Bắc Ninh Hàng gốm Bát Tràng thời kỳ đầu là đồ gốm trắng, mãi sau mới chuyển sang làm đồ đàn Gốm đàn là loại gốm
"xương" đỏ, miệng loe, mỏng và thấp Nghĩa là người thợ làm "xương" gốm bằng đất đỏ, rồi mới lót một lượt đất trắng mỏng ra ngoài Quy trình gia công này có công đoạn phải đàn cho "xương" và "da" gốm mỏng ra, do vậy mới gọi là đồ đàn Đất đỏ làm đồ đàn phải mua từ Hồ Lao, Hồ Lễ bên Hải Dương hoặc mua của Thổ Hà bên Bắc Ninh Lò đàn của Bát Tràng truyền thống làm theo cấu trúc dưới vuông trên cuốn Khi đưa đồ vào nung phải xếp trong những bao thơi Bao thơi là 4 viện gạch vuông cỡ lớn, rộng chừng 33cm, dày
8 đến 9cm, ghép lại thành hình hộp, trong lòng vừa đặt 4 cọc bát hoặc những
đồ khác tương đương Các bao thơi chứa đồ gốm bên trong được xếp vào lò, chồng lên nhau từ thấp lên cao Mỗi mẻ lò nung được hàng trăm ngàn bát đĩa Gạch làm bao thơi sau mỗi lần dùng, nếu không vỡ, sẽ được dùng tiếp cho lần sau Bởi thế mà độ già, độ rắn chắc của gạch này rất cao, chất lượng tuyệt tốt,
Trang 35nên người tứ xứ ưa mua loại gạch này về để xây cất Người xưa hay dùng nó
để xây nhà, lát sân, xây mộ, xây giếng Từ đó mà có câu ca : Anh mua về gạch Bát Tràng - Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Ngoài bát đĩa, ấm chén thông dụng, Bát Tràng còn làm nhiều hàng khác, như các đồ thờ tự và các đồ cho trang trí nội, ngoại thất : độc bình, lư, đỉnh, đèn thờ, các bộ tượng tam đa, tam thánh, chậu hoa, con giống, gạch trang trí cao cấp Hàng Bát Tràng từ xa xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong, loại men này sắc độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong vào sâu Đặc biệt là Bát Tràng đã có men lý, men nho, men này màu gần như màu ngọc thạch, nên được gọi là men ngọc Tiếc thay, đến nay loại men quý này đã bị thất truyền Câu nói truyền miệng của người Bát Tràng "nhất nho, nhì lý" không chỉ nhằm ca ngợi thứ đặc sản của quá khứ vinh quang, mà còn như một lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay gắng sức tìm lại giá trị ông cha đã đạt được Riêng hai loại men rạn, là rạn xương đất đen và rạn xương đất trắng rất có giá trị từ xưa, thì ngày nay các nghệ nhân chế tác rất thành công
Nói đến làng nghề Bát Tràng, không thể không nêu những linh hồn của làng, đó là các nghệ nhân Thời nay, Bát Tràng có những nghệ nhân xứng đáng với truyền thống của mình, như các ông Trần Văn Giàng, Nguyễn Văn Cổn, Lê Văn Cam, hoặc nghệ nhân rất trẻ như Lê Xuân Phổ Các nghệ nhân,
có người chú trọng về men, nói cách khác là giỏi độc đáo về men; có nghệ nhân chuyên sâu về tạo dáng; có nghệ nhân tài về vẽ Nói đến gốm sứ, giá trị của nó đã được gói gọn trong câu nhất dáng, nhì men, sau đó mới đến nét khắc, vẽ Giờ đây, gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng đã và đang tiếp tục chinh phục người tiêu dùng, bởi các nghệ nhân Bát Tràng chú ý đến tất cả các mặt tạo nên cái đẹp của đồ gốm sứ Dáng gốm thì thoáng, nhìn mát mắt Men màu thì
tự nhiên, phóng khoáng, tạo được độ trong và sâu Về trang trí, nếu dùng nét khắc chìm thì loại men có độ chảy cao sẽ làm nổi bật hình vẽ Bởi vậy, thị
Trang 36trường ăn hàng Bát Tràng đã rộng khắp nước, và có một lượng không nhỏ
được bán đi các nước Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan
3.1.2 Lịch sử nghề gốm Bát Tràng
Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại
làng Bát Tràng - một làng gốm cổ truyền và nổi tiếng của Việt Nam Theo
nghĩa Hán Việt, chữ Bát là bát ăn của nhà sư (tiếng Phạn là Patra), chữ Tràng
(còn đọc là Trường) nghĩa là "cái sân lớn", là mảnh đất dành riêng cho chuyên
môn Theo các cụ già trong làng kể lại, chữ Bát bên trái là bộ "Kim- " ví với
sự giàu có, " bản" có nghĩa là cội nguồn, nguồn gốc Dùng chữ Bát như vậy
để khuyên răn con cháu "có nghề có nghiệp thì cũng không được quên gốc"
Hiện nay, tại các đình, đền và chùa ở Bát Tràng đều vẫn còn các chữ Bát
Tràng được viết bằng chữ Hán
Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng
gốm Bát Tràng
* Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng
kinh tế thị trường Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty
cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản
xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình Từ thôn Bát
Tràng, nghề gốm nhanh chóng lan sang thôn Giang Cao và đến nay, cả xã Bát
Tràng (gồm hai thôn Bát Tràng, Giang Cao) trở thành một trung tâm gốm lớn
Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều
sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm
chén, bát đĩa, lọ hoa kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện
và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài Sản phẩm Bát
Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu
Á, châu Âu Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu
mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất Một số nghệ nhân đã bước đầu thành
Trang 37công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc
3.2 Các loại sản phẩm gốm sứ và khả năng tiêu thụ
Làng nghề Bát Tràng có rất nhiều các mặt hàng với nhiều mẫu mã khác nhau từ đồ dùng sinh hoạt, đồ thờ cúng đến các vật liệu trang trí trong nội ngoại thất
Gốm sứ với đa dạng các chủng loại sản phẩm là những tinh hoa của các làng gốm trong nước, của các nghệ nhân với lòng yêu nghề và đôi bàn tay khéo léo Chúng ta lướt qua một vòng các đại diện tiêu biểu của nghề gốm Việt Nam để có thể cảm nhận một phần nào đó nét đẹp rất Việt trong từng sản phẩm gốm
Men kết tinh, một dòng men mới của gốm Việt Nam chỉ vừa xuất hiện vài năm trở lại đây đã nhanh chóng chinh phục được nhiều người yêu gốm Sản phẩm men kết tinh đạt chất lượng cao phải trổ hoa đều, hoa văn lấp lánh ánh sáng như tinh tú Loại men này còn được so sánh như vỏ ốc sà cừ nhờ tính bắt sáng của nó Trưng bày trang trí sản phẩm gốm men kết tinh trong không gian nội thất ở những vị trí có ánh sáng tốt sẽ làm tăng thêm vẻ sang trọng cho không gian
Men kết tinh được phủ lên bình hoa, bình trang trí, đèn bàn v…v… với các màu trắng, đỏ cam, xanh ngọc, xanh dương, vàng Sản phẩm không cần trang trí hoạ tiết cầu kỳ nhưng vẫn toát lên nét độc đáo và riêng biệt cho từng sản phẩm vì men được kết hoa sau quá trình nung rất ngẫu nhiên với nhiều khúc biến tấu hoa sao rất lạ mắt