BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NGUYỄN ĐỨC TOÀN VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE THÔNG QUA MÔ HÌNH DẠY NHẢY FLASHMOB CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÔN XÂM XU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUYỄN ĐỨC TOÀN
VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC
SỨC KHỎE THÔNG QUA MÔ HÌNH DẠY NHẢY FLASHMOB CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÔN XÂM XUYÊN, XÃ HỒNG VÂN,
HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
DANH MỤC VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 3
3.2 Các nghiên cứu trong nước 6
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12
4.1 Ý nghĩa khoa học 12
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
5 Đối tượng nghiên cứu 12
6 Khách thể nghiên cứu 13
7 Câu hỏi nghiên cứu 13
8 Giả thuyết nghiên cứu 13
9 Phạm vi nghiên cứu 13
10 Phương pháp nghiên cứu 13
10.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp các nguồn thông tin tư liệu 13
10.2 Phương pháp điều tra xã hội học 14
10.3 Phương pháp CTXH nhóm 14
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE THÔNG QUA MÔ HÌNH DẠY NHẢY FLASHMOB CHO NGƯỜI CAO TUỔI 16
Trang 31.1 Người cao tuổi 16
1.2 Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi 17
1.3 Công tác xã hội 19
1.4 Công tác xã hội nhóm 20
1.5 Tiến trình công tác xã hội nhóm 21
1.6 Nhảy Flashmob 21
2 Phương pháp luận 22
2.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng 22
2.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử 22
2.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu 23
3 Lý thuyết áp dụng trong luận văn 24
3.1 Lý thuyết nhu cầu 24
3.3 Thuyết nhận thức - hành vi 26
4 Thể chế về công tác xã hội đối với người cao tuổi 27
4.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng 27
4.2 Văn bản pháp luật của Nhà nước 28
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI 34
TẠI THÔN XÂM XUYÊN, XÃ HỒNG VÂN, THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI 34
1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 34
1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội 34
1.2 Đặc điểm người cao tuổi tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội 36
2 Thực trạng CSSK người cao tuổi tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội 42
2.1 Tình hình sức khỏe của người cao tuổi tại thôn Xâm Xuyên 42
2.2 Thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại thôn Xâm Xuyên hiện nay 42 2.3 Những khó khăn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại thôn
Trang 42.4 Nhu cầu hoạt động công tác xã hội 47
Tiểu kết chương 2 49
Chương 3 51
VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE THÔNG QUA MÔ HÌNH DẠY NHẢY FLASHMOB CHO NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÔN XÂM XUYÊN, XÃ HỒNG VÂN, THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI 51
1 Giai đoạn chuẩn bị việc thành lập nhóm 51
1.1 Chọn nhóm viên 51
1.2 Chuẩn bị môi trường hoạt động nhóm 52
1.3 Xác định mục đích, mục tiêu hỗ trợ nhóm 53
1.4 Lập kế hoạch cụ thể cho các buổi hoạt động nhóm 53
2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động 54
2.1 Mục đích của nhóm 54
2.2 Nguyên tắc hoạt động của nhóm 55
3 Giai đoạn tổ chức thực hiện 56
4 Giai đoạn kết thúc 72
4.1 Lượng giá 72
4.2 Kết thúc 72
Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Kiến nghị 76
2.1 Đối với NCT 76
2.2 Đối với nhân viên Công tác xã hội 76
2.3 Đối với gia đình 78
2.4 Đối với địa phương 78
2.5 Đối với cộng đồng 79
2.6 Đối với Đảng và Nhà nước 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Vai trò công tác xã hội trong CSSK thông qua mô hình dạy nhảy Flashmob cho NCT tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đặng Cảnh Khanh và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Nguyễn Đức Toàn
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình cao học Công tác xã hội khóa 4 - Trường Đại học Thăng Long, những người đã giúp tôi có nhiều kiến thức về Công tác xã hội làm nền tảng cho tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Đặng Cảnh Khanh đã quan tâm, nhiệt tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân, Hội NCT thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội đã thu xếp thời gian cung cấp thông tin và hợp tác với tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót Học viên rất mong nhận được những góp ý của quý thầy cô và các anh chị học viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Đức Toàn
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đặc điểm của NCT theo giới tính và độ tuổi 36
Bảng 2.2: Đặc điểm của NCT theo trình độ học vấn 37
Bảng 2.3: Đặc điểm NCT theo tình trạng hôn nhân 38
Bảng 2.5 Tình hình sức khỏe của NCT tại thôn Xâm Xuyên chia theo nhóm bệnh 42
Bảng 2.6: Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ Người cao tuổi 43
Bảng 2.7: Tỷ lệ người cao tuổi đi khám sức khỏe định kỳ và nguồn chi trả 44
Bảng 2.8: Các hoạt động vui chơi, giải trí của NCT 46
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Sơ đồ 1.1: Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow 24
Hình 2.1 Tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động tạo thu nhập 41
Hình 3.1: Cuộc họp nhóm Dân vũ 55
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, NCT trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có
xu hướng gia tăng nhanh Theo dự báo của Tổng cục Thống kê năm 2010 (GSO, 2010) cho thấy tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm 2017, tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập
kỷ nữa dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng
từ 35,5 năm 2009 lên hơn 100 vào năm 2032 Già hóa dân số sẽ có những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện chính sách, đảm bảo các nhu cầu trong cuộc sống, đặc biệt là nhu cầu CSSK
Vấn đề CSSK cho NCT ở thành thị và nông thôn khác nhau do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất Mô hình gia đình hạt nhân ngày một phổ biến ở nông thôn Ở nhiều gia đình, con cái trưởng thành đi làm ăn xa không thường xuyên đóng góp hay chăm sóc cho cha mẹ đã già Nhiều người cao tuổi không cùng sống với con cái trong một mái nhà, họ tự lo từng bữa cơm, tự chăm sóc Ở nông thôn, những gia đình làm nông nghiệp, sau thời gian vào vụ mùa những người nông dân thường nhàn rỗi ít có công việc làm thêm tại địa phương lực lượng lao động chính (là thanh niên; trung niên) ở nông thôn di cư
ra những thành phố lớn tìm việc làm để tăng thu nhập, dẫn đến tình trạng hiện nay ở nông thôn chủ yếu chỉ có người già và trẻ em Họ là hai đối tượng cần được chăm sóc thì ngược lại, họ tự chăm sóc lẫn nhau Nhiều NCT đã đến lúc cần được nghỉ ngơi, phụng dưỡng nhưng vẫn phải làm việc như chăm cháu, làm việc nhà, thậm chí cả những công việc nặng nhọc của đồng ruộng
Người dân ở nông thôn thường chú trọng làm kinh tế để đáp ứng các nhu cầu kinh tế thiết yếu của gia đình hơn là CSSK cho người già Nếu có, họ mới chỉ chú ý đến chăm sóc về điều kiện vật chất, mà lơ là trong việc chăm sóc đời sống tinh thần cho NCT, NCT khi sức yếu chỉ quanh quẩn trong nhà, ít có cơ hội giao lưu tình cảm, nên thường thấy cô đơn, lạc lõng, thèm được giao tiếp xã hội
Trang 10Điều đó, cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe về thể chất và tinh thần, cũng như việc CSSK cho NCT
Ở Việt Nam, việc CSSK cho NCT vừa mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội vừa mang tính nhân văn sâu sắc Từ xưa nhân dân ta đã có câu ca dao, tục
ngữ như: “uống nước nhớ nguồn” NCT là tầng lớp đã có nhiều cống hiến cho
xã hội, vì vậy cần phải có những chính sách phù hợp CSSK NCT Nhà nước ta
đã có những chính sách, sự quan tâm đến đời sống, sức khỏe của NCT Chính sự quan tâm của xã hội, Nhà nước và các tổ chức đã giúp NCT có cuộc sống tốt hơn khi về già, đặc biệt là với những NCT không nơi nương tựa, giúp họ phát huy vai trò, kinh nghiệm của mình để tiếp tục xây dựng và đóng góp cho xã hội Ngoài ra, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho NCT còn là vấn đề quyền con người mà Nhà nước phải có trách nhiệm, đó là quyền được chăm sóc Vấn đề CSSK cho NCT ở nông thôn còn nhiều khía cạnh chưa được nghiên cứu, đặc biệt là CSSK tinh thần, mở rộng cơ hội giao lưu, giúp NCT sống vui, sống khỏe Thực tế cho thấy, khi NCT có các hoạt động sống vui vẻ lạc quan họ sẽ khỏe mạnh và đóng góp tích cực hơn cho gia đình và xã hội Bởi vậy, việc đưa các hoạt động văn hóa, văn nghệ kết hợp với công tác xã hội vào trợ giúp NCT đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này còn
khá mới mẻ Do đó, tôi chọn đề tài: “Vai trò công tác xã hội trong chăm sóc
sức khỏe thông qua mô hình dạy nhảy Flashmob cho người cao tuổi tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội” để tìm
hiểu thêm về CSSK cho NCT ở nông thôn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về CSSK cho NCT
- Khái quát cơ sở lý luận về vai trò CTXH trong CSSK thông qua mô hình
dạy nhảy Flashmob cho NCT
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động CSSK cho NCT, thuận lợi và khó khăn trong công tác CSSK cho NCT nhu cầu đưa hoạt động CTXH vào việc
Trang 11CSSK cho NCT tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội hiện nay
- Đề xuất giải pháp, kết nối, triển khai hoạt động CTXH thông qua mô hình nhảy Flashmod để tăng cường hiệu quả CSSK cho NCT tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội dưới góc độ CTXH
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, thu thập, phân tích các tài liệu liên quan tới NCT tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội
- Thu thập và phân tích tài liệu để tìm hiểu những khó khăn trong CSSK cho NCT tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội
- Tiến hành các hoạt động CTXH nhóm thông qua mô hình dạy nhảy Flashmod với NCT trong hoạt động hỗ trợ CSSK cho NCT Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm đưa mô hình dạy nhảy Flashmod vào CSSK cho NCT nhằm đạt hiệu quả cao tại thôn Xâm Xuyên, xã Hồng Vân, Thường Tín, Hà Nội
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Có thể nói rằng vấn đề về NCT luôn được quan tâm, chú ý Chính vì thế các nghiên cứu về NCT cũng xuất hiện rất sớm
Ở Châu Âu, những nghiên cứu về NCT được tiến hành từ những năm 1800
với những đề tài như: “Quà tặng các cụ già, bàn về vấn đề kéo dài cuộc sống” của M.J.Tenon (1815); “Bàn về tuổi thọ loài người và về chất lượng sống trên thế giới” của P.Fluorons (1860); “Tuổi già xanh tươi” của Alexando (1919)
Những nghiên cứu này, đã điều tra thực trạng sống của NCT cũng như tình trạng sức khỏe của họ, từ đó đưa ra những giải pháp CSSK cho NCT để kéo dài tuổi thọ cũng như giúp cho NCT có được cuộc sống thoải mái hơn
Xã hội ngày càng phát triển thì đời sống của NCT ngày càng được quan tâm và những công trình nghiên cứu về NCT cũng được triển khai rộng rãi và dưới nhiều góc độ khác nhau
Nghiên cứu: “Khảo sát quốc gia về tự chăm sóc và tuổi già” – “The
Trang 12Hill năm 1990-1991 với 3.485 người 65 tuổi trở lên đã được lựa chọn từ các hồ
sơ mô tả những thói quen tự chăm sóc ở cộng đồng NCT Phân tích đầu tiên của những dữ liệu được tập trung vào một phạm vi cụ thể của các hoạt động có mục đích, trong đó NCT tham gia và thông qua đó họ bù đắp cho suy giảm thể chất, chức năng nhận thức hoặc tâm hồn có thể làm giảm chất lượng cuộc sống Nội dung thứ hai của cuộc điều tra quốc tế về tự chăm sóc và tuổi già là các loại hành
vi hạn chế suy giảm sức khỏe phòng ngừa và tăng cường sức khỏe, thực hành lối sống lành mạnh Một trong những tính năng độc đáo của nghiên cứu quốc gia này là các hạng mục mô tả mô hình hành vi tự chăm sóc y tế
Trong ấn phẩm: “Người già và sức khỏe: NCT Mỹ đến từ Châu Á và Thái Bình Dương”- “Aging and health: Asian and Pacific Islander American Elders”
của các tác giả Melen R.Mc Bride, Nancy Morioka, Douglas và Gwen Veo Trong cuốn sách này, nhóm tác giả đã chỉ ra sự đa dạng văn hóa, hệ thống niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến việc CSSK của những NCT đến từ những nước khác nhau thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dương hiện đang sinh sống tại Mỹ Từ đó, các tác giả đánh giá nhu cầu, xác định những thuận lợi, rào cản trong việc CSSK tạo điều kiện để những NCT có thể thể hiện được mong muốn, nhu cầu của bản thân một cách tự nhiên nhất
Ở khía cạnh về sức khỏe của NCT, Annette L Fitzpatrick, Neil R.Powe, Lawton S.Cooper, Diane G Ives và John A.Robbins (Đại học Washington, Đại học Johns Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California – Davis và Đại học Wake Forest) đã có nghiên cứu: “Barriers to Health Care Acces Among the Elderly an Who Perceives Them” (Những rào cản CSSK NCT và nhận thức về chúng) Đề tài này được tiến hành từ năm 1993 đến 1994 tại Viện nghiên cứu sức khỏe tim mạch Việc nghiên cứu đã được thực hiện bằng phương pháp định lượng với 5888 đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ danh sách những người đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: Quận Forsyth, Sacramento, Washington và Allegheny Nghiên cứu cho thấy các rào cản chủ yếu là sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, các
Trang 13CSSK đối với NCT, những rào cản tác động tới việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc tại nước Mỹ Chính những điều được chỉ ra từ nghiên cứu này
có thể được liên hệ tới những rào cản trong hệ thống CSSK NCT ở Việt Nam Điều đó đặt ra sự quan tâm và những kinh nghiệp tốt đối với những người làm nghiên cứu nói riêng và những nhà hoạch định chính sách của nước ta nói chung
Tiếp đó, Dean Blevins, Bridget Morton và Rene McGovern cũng có nghiên cứu: “Evaluating a community – based participatory research project for elderly mental healthcare in rural America” (Đánh giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về CSSK tâm thần cho người cao tuổi nông thôn Mỹ), được công bố 2008 Nghiên cứu này nhằm vào nhóm đối tượng được chăm sóc sức khỏe tâm thần trong chương trình CSSK tâm thần cho NCT ở nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết mọi người hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chương trình Từ đó, các tác giả cũng đề xuất những phương pháp để cải thiện hơn nữa các dịch vụ CSSK tâm thần cho NCT tại nông thôn Mô hình CSSK tâm thần tại cộng đồng của Hoa Kỳ là điều chúng
ta cần quan tâm nghiên cứu để có thể góp phần xây dựng các mô hình cho NCT phù hợp với nước ta [3]
Một công trình trong khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu về mô hình CSSK NCT cũng cần được nhắc đến, do Chanitta Soommaht, Songkoon Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen thực hiện là: “Developing Model of Health Care Management for the Elderly by Community Participaton in Isan” (Xây dựng mô hình quản lý CSSK cho NCT có sự tham gia của cộng đồng tại Isan) Nghiên cứu được tiến hành từ 2/8/2008 tại 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan là Mahasarakham, Roi – et, Sakon Nakhon, Nakhon Ratchasima, Buriram, Surin
và Khon Kaen Nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu định tính Các tác giả đã tiến hành phân tích các vấn đề liên quan đến việc quản lý CSSK NCT về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời, cũng phân tích sự phát triển của việc CSSK NCT có sự tham gia của cộng đồng ở Isan Kết quả nghiên cứu