1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: So sánh các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Pháp, Trung Quốc, Nga về vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài

24 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Pháp, Trung Quốc, Nga về vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài
Trường học University of Social Sciences and Humanities - Vietnam National University Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 51,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia thực hiện việc ký kết các điều ước quốc tế trong đó thừa nhận và điều chỉnh sự hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai bên về các vấn đề: xác đị

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày mộtlớn mạnh giữa các quốc gia, đòi hỏi sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc giatrên mọi lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau Sự hợp tác này làm phát sinh ngày một nhiều các vấn đề DS, hình sự, hành chính, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Sự hợp tác giữa các quốc gia trên thực tế có thể tiến hành theo nguyên tắc có đi có lại hoặc trên cơ sở điều ước quốc tế với mục đích chính là đảm bảo sự thừa nhận về quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân vàpháp nhân của quốc gia này trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia khác

Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia thực hiện việc ký kết các điều ước quốc tế trong đó thừa nhận và điều chỉnh sự hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai bên về các vấn đề: xác định thẩm quyền của các Toà án, áp dụng PL, đảm bảo các quyền tố tụng của cá nhân và pháp nhân nước ngoài, thực hiện các uỷ thác tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài

về các vấn đề DS, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự

Trong tất cả các vấn đề được nêu ở trên, hoạt động tương trợ tư pháp có vị trí

vô cùng quan trọng trong việc thực hiện công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn

độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự Để các hoạt động tương trợ

tư pháp đạt hiệu quả và giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, hoạt động tương trợ

tư pháp phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Hoạt động này có ý nghĩa quantrọng về mặt pháp lý giữa các quốc gia, vì nếu không có sự trợ giúp này các cơ quan tư pháp của các quốc gia rất khó có thể thực hiện việc điều chỉnh cũng như thi hành PL đối với cá nhân và pháp nhân của quốc gia mình

Trang 3

Bảng: Thống kê của Bộ tư pháp trang thông tin tương trợ tư pháp về “Giới thiệu sơ lược kết quả tổng kết 6 năm thi hành luật Tương trợ tư pháp” ngày 31-3-

Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh

vực DS giữa CHXHCHVN với Vương

quốc Campuchia

- Kí: 21-01-2013

- Hiệu lực: 9-10-2014

Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh

vực DS và thương mại giữa

CHXHCHVN với Cộng hòa Angieri

dân chủ nhân dân

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Triều Tiên

- Kí: 4-5-2002

- Hiệu lực:24-2-2004

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Ucraina

- Kí: 6-4-2000

- Hiệu lực: 19-8-2002

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Trang 4

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Lào

- Kí: 6-7-1998

- Hiệu lực: 19-02-2000

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Trung Quốc

- Kí: 19-10-1998

- Hiệu lực:25-12-1999

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí

về các vấn đề DS giữa Việt Nam với

Trang 5

Điều này đã thu hút rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Đây

là một tin đáng mừng cho nước ta Tuy nhiên từ đây hệ thống tư pháp của nhà nước ta cũng thêm gánh nặng khi vừa phải đáp ứng các yêu cầu về công nhận, thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam vừa phải có giải pháphoàn thiện qui định PL trong nước cho phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế

PHẦN NỘI DUNG

Trang 6

Chương 1

Những vấn đề lý luận chung về các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài 2.1 Vấn đề công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài

2.1.1 Khái niệm

Theo định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt thì công nhận là việc thừa nhận trước mọi người là hợp với sự thật,với lẽ phải hoặc hợp với thể lệ luật pháp và “ thi hành” là làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định Nhưng khiđặt trong lĩnh vực pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết DS của tòa

án nước ngoài thì khái niệm này đã có sự thay đổi

Theo định nghĩa trong từ điển Luật học thì việc “ công nhận và cho thi hành bản

án, quyết định của tòa án nước ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt, là hành vi của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia thừa nhận hiệu lực pháp lí của bản án, quyết định dân sự của một quốc gia khác và làm cho nó có hiệu lực cưỡng chế thi hành trên thực tế trên lãnh thổ của quốc gia đó ”

2.1.2 Ý nghĩa

Trong thời đại toàn cầu hóa, sự hợp tác giữa các quốc gia là một đòi hỏi tất yếu

và sẽ không tránh khỏi trường hợp phát sinh những tranh chấp và nhu cầu giải quyết các tranh chấp Để việc giải quyết các tranh chấp mang tính chất quốc tế có hiệu quả đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành hợp tác với nhau về nhiều lĩnh vực Trong đó lĩnh vực công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự là một phương thức hiệu quả để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp và hơn thế nữa là đem lại ý nghĩa nhiều mặt như: chính trị, kinh tế và pháp lí Cụ thể là:

Trang 7

- Về chính trị: sự công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài ở một quốc gia vừa khẳng định chủ quyền về mặt tài phán của quốc gia

đó, vừa thể hiện thiện chí của quốc gia đó với quốc gia khác Bên cạnh đó, việc công nhận và cho thi hành còn thể hiện chính sách bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp không chỉ của các cá nhân, tổ chức nước mình mà cả lợi ích của cá nhân, tổ chức nước ngoài Đối với Việt Nam, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân

sự của tòa án thể hiện chủ trương hợp tác của nhà nước ta trong lĩnh vực tư pháp Việc ban hành BLTTDS là việc làm cần thiết để tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động này đồng thời tạo tâm lí an toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong quan hệ kinh doanh với Việt Nam

- Về phương diện pháp luật: góp phần khắc phục các chỗ hỗng của pháp luật quốc gia về vấn đề này vì việc công nhận và cho thi hành bản án là một giai đoạn của quá trình tố tụng nếu các phán quyết của tòa án không được thực thi thì kết quả

ở giai đoạn trước đó sẽ không còn ý nghĩa

- Về mặt kinh tế : việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài đồng nghĩa với việc quyền lợi của cá nhân, tổ chức nước ngoài sẽ được bảo đảm ở nơi đất khách khi họ đến với Việt Nam Hơn thế, đây chính là cơ chế hiệu quả để tạo niềm tin, cảm giác an toàn thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

2.2 Qui định của pháp luật Việt Nam về vấn đề công nhận, cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài

2.2.1 Khái niệm

Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài được qui định tại chương XXXV BLTTDS 2015, theo đó tại điều 423 Bộ luật này có quy định :

Trang 8

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận tại Việt Nam

là bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động; Quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài

và quyết định về nhân thân, hôn nhân gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và thi hành tại Việt Nam

2.2.2 Nguyên tắc công nhận và thi hành

- Nguyên tắc 1: Một bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài sẽ được xem xétcông nhận tại Việt Nam dựa trên các căn cứ :

+ Theo qui định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó là thành viên: nguyên tắc này xuất pháp từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia về tài phán

và nguyên tắc hợp tác cùng có lợi của pháp luật quốc tế

+ Theo nguyên tắc có đi có lại đối với trường hợp Việt Nam và nước đó không cùng là thành viên của điều ước quốc tế: có đi có lại là một nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau trong hoạt động tố tụng Tuy nhiên kể từ khi BLTTDS được ban hành thì cơ sở pháp lí của việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế vẫn chưa được đảm bảo Bởi theo qui định của luật Tương trợ tư pháp thì cơ sở để tòa án áp dụng nguyên tắc có

đi có lại là công bố của Bộ ngoại giao Việt Nam (điều 66 Luật Tương trợ tư pháp) Tuy nhiên , cơ chế để bộ ngoại giao chứng minh bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam cho đến nay vẫn chưa được xây dựng

- Nguyên tắc 2: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước

Trang 9

ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam trừ trường hợp đương nhiên được công nhận.

- Nguyên tắc 3: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật

- Nguyên tắc 4: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài sẽ được đương nhiên công nhận tại Việt Nam khi không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam theo Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên

2.3 Quyền yêu cầu công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

2.3.1 Chủ thể có quyền yêu cầu

- Theo qui định tại khoản 1 điều 425 BLTTDS 2015 : “Người được thi hành

hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu tòa án Việt Nam công nhận

và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài”

- Điều kiện để chủ thể thực hiện được quyền yêu cầu của mình:

+ Cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam

+ Cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam

+ Tài sản liên quan tới việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nướcngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu

2.3.2 Thời hiệu yêu cầu

Trang 10

Trong thời hạn 3 năm kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật thì người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đến Tòa án Việt Nam thông qua Bộ tư pháp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó.

2.3.3 Phương thức yêu cầu:

Có thể gửi trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi thông qua cơ quan trung gian là Bộ tư pháp

2.4 Các trường hợp không được công nhận và thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

- Theo qui định tại điều 439 BLTTDS 2015 thì những bản án, quyết định dân

sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Đó là :

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại Điều ước Quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

- Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó : vi phạm thủ tục tố tụng,thẩm quyền xét xử hoặc không đảm bảo được tính công bằng khi người phải thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc không được tống đạt theo quy định của

PL nước đó

- Vụ việc DS này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực PL của Tòa ánViệt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa án

Trang 11

Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân

sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành

- Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định DS đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam

- Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước

có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó

- Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.5 Trình tự thủ tục

Gồm 4 bước :

- Bước 1: Nhận đơn, thụ lí đơn

+ Theo qui định tại khoản 1 điều 432 BLTTDS 2015 “ Trong thời hạn 03 năm,

kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt nam theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó là thành viên”

+ Theo qui định tại điều 435 BLTTDS 2015 “ trong thời hạn 5 ngày kể từ ngàynhận được đơn yêu cầu, các giấy tờ tài liệu kèm theo, Bộ Tư Pháp phải chuyển hồ

sơ đến Tòa án có thẩm quyền ”

+ Theo qui định tại điều 436 BLTTDS 2015 : “ trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ có tài liệu kèm theo của Bộ Tư Pháp, Tòa án sẽ xem xét và

Trang 12

tiến hành thụ lí hồ sơ và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành

và Viện kiểm sát cùng cấp”

Theo qui định tại điểm b khoản 1 điều 37 BLTTDS 2015, về thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự củaToà án nước ngoài là Tòa án nhân dân cấp Tỉnh

- Bước 2: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Theo qui định tại điều 437 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 4 tháng (có thể kéo dài 6 tháng đối với trường hợp cần giải thích từ người nộp đơn hay Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định đó) kể từ ngày thụ lí vụ án Trong thời gian này Tòa án phải ra một trong ba quyết định :

+Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu ( Khoản 4 điều 437 BLTTDS 2015 )

+ Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu ( Khoản 5 điều 437 BLTTDS 2015)

+ Mở phiên họp xét đơn yêu cầu

- Bước 3: Phiên họp xét đơn yêu cầu ( Điều 438 BLTTDS 2015)

+ Thành phần hội đồng xét đơn yêu cầu: 3 Thẩm phán, trong đó có 1 Thẩm phán do Chánh án Tòa án phân công làm chủ tọa

+ Thành phần tham dự: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; Người được thi hành; Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ

+ Tại phiên họp hội đồng xét xử có thể ra các quyết định: công nhận và cho thi hành bản án, quyết định yêu cầu công nhận, không công nhận thi hành đối với bản

án, quyết định đó; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trang 13

+ Nguyên tắc: Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.

- Bước 4: Gửi quyết định của Tòa án

- Theo qui định tại điều 441 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định tại hộ đồng xét đơn yêu cầu thì quyết định này cần được gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp, nếu đương sự ở nước ngoài thì quyết định được gửi thông qua Bộ Tư Pháp

- Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thì các bên nhận được có quyền kháng cáo, kháng nghị lên Tòa án

- Bước 5: thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật, tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó phải chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành bản án cùng cấp với tòa án đã xét xử sơ thẩm để thi hành

Chương 2.

Ngày đăng: 16/07/2023, 06:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w