Tuy nhiên,cho đến nay, ngôn ngữ phỏng vấn mới chỉ được nghiên cứu với tư cáchnhư một thể loại báo chí, như một phương pháp tác nghiệp phổ biến củanhà báo hay dưới góc độ đặc trưng ngôn n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHẠM THỊ MAI HƯƠNG
NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG THỂ LOẠI PHỎNG VẤN
(TRÊN TƯ LIỆU BÁO IN TIẾNG VIỆT HIỆN NAY)
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 62 22 02 40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2Hà Nội - 2016
Trang 3Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 4DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Phạm Thị Mai Hương (2013), “Lập luận trong hội thoại của
Thúy Kiều”, Kỉ yếu Ngữ học trẻ 2013, tr.709-715.
2 Phạm Thị Mai Hương (2015), “Định kiến giới trong ngôn ngữ
phỏng vấn trên báo in”, Nữ quyền-Những vấn đề lí luận và thực tiễn (Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc gia), NXB Đại học Sư
phạm, tr.392-398
3 Phạm Thị Mai Hương (2016), “Cặp thoại trong hội thoại phỏng
vấn báo in”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học 2016 – Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, tập
1, NXB Dân trí, tr.819-824
4 Phạm Thị Mai Hương (2016), “Hành động hỏi trong phỏng vấn
báo in”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 3 (41), tháng
5/2016, tr.96-102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong cuộc cạnh tranh thông tin hiện nay, phỏng vấn được xem
là vũ khí lợi hại trong việc nâng cao uy tín của tờ báo và hấp dẫn bạnđọc Trên thực tế, phỏng vấn là một cuộc giao tiếp giữa nhà báo với mộthay nhiều đối tượng khác nhau Bên cạnh những tính chất đặc thù, xétdưới góc độ ngôn ngữ học, cuộc giao tiếp này vẫn mang những đặc điểmchung của hoạt động giao tiếp thông thường, vẫn chịu sự tác động củacác quy tắc hội thoại, các nhân vật giao tiếp vẫn phải vạch ra cho mìnhnhững chiến lược hội thoại nhằm làm cho cuộc phỏng vấn đạt hiệu quảcao nhất Có thể nói, phỏng vấn là một hoạt động giao tiếp đặc biệt, córất nhiều vấn đề cần quan tâm từ góc độ của Ngữ dụng học Tuy nhiên,cho đến nay, ngôn ngữ phỏng vấn mới chỉ được nghiên cứu với tư cáchnhư một thể loại báo chí, như một phương pháp tác nghiệp phổ biến củanhà báo hay dưới góc độ đặc trưng ngôn ngữ phỏng vấn của nhà báo…Việc tìm hiểu, nghiên cứu phỏng vấn với tư cách là một cuộc hội thoạichưa được các nhà ngôn ngữ học chú ý nhiều Chính vì vậy, chúng tôichọn đề tài Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo
in tiếng Việt hiện nay) làm đề tài nghiên cứu luận án của mình với mongmuốn mang đến những kiến giải mới cho lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữhội thoại nói chung và ngôn ngữ hội thoại báo chí nói riêng
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các cuộc phỏng vấn với tưcách là một thể loại báo chí
Phạm vi tư liệu mà chúng tôi khảo sát là 500 bài phỏng vấn trêncác tờ báo uy tín từ năm 2013 đến nay, đó là: báo Tiền phong, báo Anninh thế giới, báo Gia đình và Xã hội, báo Thanh niên, báo Lao động,báo Tuổi trẻ, báo Hà Nội mới, báo Nông thôn Ngày nay, báo Giáo dục vàThời đại…
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết hội thoại, mục đích của luận án là nghiên cứungôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn trên báo in từ các bình diện
Trang 6cấu trúc, chức năng, sự tương tác của các thành tố trong cuộc thoại phỏngvấn Qua đó góp phần hướng tới xây dựng các cuộc thoại phỏng vấn hay,sáng tạo, khai thác thông tin tối đa nhằm thu hút độc giả.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của cặp thoại phỏng vấn
- Nghiên cứu đặc điểm chức năng của cặp thoại phỏng vấn
- Nghiên cứu chiến lược phỏng vấn và một số đề tài hỏi có khảnăng vi phạm nguyên tắc lịch sự
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu đối tượng dựa trên một số phươngpháp thường gặp trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữhọc ứng dụng nói riêng, đó là:
- Phương pháp phân tích hội thoại (PTDN) là phương phápnghiên cứu chính
- Phương pháp phân tích diễn ngôn; phương pháp điển mẫu;phương pháp phân tích – miêu tả
Ngoài ra, luận án còn vận dụng một số thủ pháp: mô hình hóa, thống kê,…có tính chất hỗ trợ.
5.2 Về mặt thực tiễn
- Chỉ ra những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ hội thoại phỏng vấntrên báo in, đưa ra được hệ thống các thành tố dùng để cấu trúc nên cuộcthoại phỏng vấn Thông qua đó, luận án góp phần xây dựng nên mô hìnhcuộc thoại phỏng vấn chuẩn mực về nghi thức văn hóa giao tiếp
Trang 7- Hệ thống hóa các chiến lược giao tiếp có bản chất lịch sự cũng
như sự thể hiện đa diện, đa chiều của hành vi hỏi – đáp trong phỏng vấn
Từ đó, luận án góp thêm một số kinh nghiệm trong khai thác thông tinqua hoạt động đặt câu hỏi cũng như khai thác triệt để chiến lược giaotiếp, nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong hoạt động phỏng vấn
- Giúp người làm báo có thêm kinh nghiệm khai thác thông tin cũngnhư kinh nghiệm thực hiện các cuộc phỏng vấn thông qua các hành độngngôn từ và các chiến lược giao tiếp khi tác nghiệp
- Kết quả của luận án có thể là tài liệu tham khảo cho việc nghiêncứu và giảng dạy môn Ngôn ngữ báo chí nói chung và Ngôn ngữ phỏngvấn nói riêng
6 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án gồm 4chương:
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí thuyết
Chương 2 Đặc điểm cấu trúc của cặp thoại trong hội thoại phỏng vấnChương 3 Đặc điểm chức năng của cặp thoại trong hội thoại phỏng vấnChương 4 Chiến lược phỏng vấn và sự vi phạm nguyên tắc lịch sự tronghội thoại phỏng vấn
Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Bức tranh nghiên cứu về hội thoại cũng như ngôn ngữ phỏngvấn rất phong phú, đa dạng Mặc dù vậy, những nghiên cứu chuyên sâu
về ngôn ngữ phỏng vấn vẫn còn rất ít, đặc biệt là hướng nghiên cứu theođường hướng phân tích hội thoại Với ngôn ngữ hội thoại phỏng vấn trênbáo in, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu
Trang 8theo đường hướng này Đây là lần đầu tiên, vấn đề này được nghiên cứu
của các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước, đặc biệt chúng tôinhấn mạnh thể loại phỏng vấn trên báo in là “hình thức đăng tải tác phẩm
dưới dạng đối thoại (hỏi – trả lời)” (Lê Thị Nhã, Giáo trình Phỏng vấn Báo chí, NXB Thông tấn, tr.18).
1.2.2 Phân loại phỏng vấn
Luận án tập trung khảo sát ba loại phỏng vấn:
- Phỏng vấn chân dung là loại phỏng vấn chỉ tập trung vào một
nhân vật, nhà báo đưa ra câu hỏi để đối tượng phỏng vấn (ĐTPV) tự bộc
lộ về mình (quan điểm, tâm tư, thành tích, kế hoạch tương lai…) ĐTPVthường là những người nổi tiếng, người có thành tích nổi bật ở các lĩnhvực hoạt động như văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế…, đặc biệt họ phải
là người “thu hút được sự quan tâm của công chúng”
- Phỏng vấn điều tra nhằm phân tích, nghiên cứu sâu về một sự
kiện, vấn đề có tính phức tạp, cấp bách, phát sinh nhiều luồng dư luận màcông chúng đang đòi hỏi cần làm sáng tỏ ĐTPV là những nhân chứngliên quan đến sự việc, sự kiện
- Phỏng vấn thông tin là dạng phỏng vấn mà nội dung gắn liền
với những tin tức, sự kiện mang tính thời sự được công chúng quan tâm.Đối tượng phỏng vấn khá rộng: từ những người có thẩm quyền đến người
có uy tín, nhân chứng có liên quan (là người bình thường)…
1.2.3 Đặc điểm nổi bật của thể loại phỏng vấn
- Bản chất của phỏng vấn không phải là trao đổi, trò chuyện haytranh luận mà chủ yếu là hình thức đối thoại: hỏi và trả lời
Trang 9- Nhà báo luôn là người đưa ra hành động hỏi, ĐTPV là ngườiđưa ra hành động hồi đáp trả lời Trong cuộc giao tiếp này, gần như
không có hiện tượng luân phiên đổi vai như các cuộc thoại thông thường.
- Việc sử dụng ngôn từ được coi như chiến lược giao tiếp củanhững nhà báo và người được phỏng vấn
- Mục đích phỏng vấn không phải để cho những người tham gia
mà nhằm phục vụ “người thứ ba”, đó là đông đảo độc giả
1.3 Lí thuyết hội thoại
1.3.1 Vận động hội thoại
Vận động hội thoại giữa hai nhân vật gồm ba vận động chủ yếu: traolời, trao đáp và sự tương tác hội thoại
1.3.2 Các đơn vị hội thoại
Cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác địnhcấu trúc hội thoại Trong luận án, chúng tôi kế thừa quan điểm cũng nhưtên gọi các thuật ngữ của trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ –Pháp.Trường phái này cho rằng hội thoại là một tổ chức có tôn ti với các đơn
vị cấu trúc từ lớn đến bé là: cuộc thoại (còn gọi là cuộc tương tác,conversation, interaction), đoạn thoại (sequence), cặp trao đáp (cặp thoại– exchange), tham thoại (intervention) và hành động nói (speech act).Trong cấu trúc này, ba đơn vị đầu nằm trong sự vận động trao đáp nên cótính chất lưỡng thoại, hai đơn vị sau có tính chất đơn thoại
1.3.3 Các quy tắc hội thoại
Khi nghiên cứu cuộc thoại phỏng vấn trên báo in, luận án chúng
tôi quan tâm chủ yếu đến nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự. Đây
là hai nguyên tắc tác động, chi phối mạnh mẽ đến cuộc thoại phỏng vấn
Nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) đã được một số nhà
nghiên cứu cụ thể hóa dưới dạng một số quy tắc, H.P.Grice gọi đó lànhững phương châm hội thoại (maxims) Theo ông, để một cuộc thoại cóthể diễn ra bình thường, các bên tham thoại cần tuân thủ bốn phươngchâm hội thoại sau: phương châm về lượng, phương châm về chất,phương châm quan hệ và phương châm cách thức Khi nghiên cứu cặpthoại phỏng vấn, cần phải xem xét sự tác động, điều chỉnh của cácphương châm này đối với cặp câu hỏi – câu trả lời
Trang 101.4 Lí thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech act theory)
Searle phân loại theo hành vi ngôn ngữ (HVNN) với 4 tiêu chí cơ
bản: đích tại lời (illocutionary point), hướng khớp lời – hiện thực (direction of fit), trạng thái tâm lí của người nói (S’psychological state) khi thực hiện hành động và nội dung mệnh đề (propositional content) Theo đó, các HVNN được chia thành 5 nhóm như sau: 1/ Tái hiện
(Representatives); 2/ Điều khiển (Directive); 3/ Cam kết (Commissive); 4/ Biểu cảm (Expressive); 5/ Tuyên bố (Declaratives).
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp (direct illocutionary speech acts) lànhững HVNN “có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt vớihiệu lực của nó gây nên” Nói cách khác, HVNN được thực hiện đúngvới điều kiện sử dụng, đúng với đích ở lời của chúng
Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp cũng như phỏng vấn, vì những
lí do khác nhau, người nói sử dụng HVNN này nhưng lại nhằm đến hiệulực ở lời của HVNN khác Đó là hành vi ngôn ngữ gián tiếp (indirectillocutionary speech acts)
1.5 Lí thuyết lịch sự và vấn đề nghiên cứu lịch sự trong phỏng vấn
1.5.1 Các lí thuyết về lịch sự
1.5.1.1 Lí thuyết về lịch sự chiến lược
Đại diện tiêu biểu là các tác giả R Lakoff, J.N Leech, P.Brown
và S Levinson, trong đó quan điểm của P Brown và S Levinson đượcxem là nhất quán, có ảnh hưởng rộng rãi và có hiệu quả nhất đối với việcnghiên cứu về phép lịch sự Nhìn chung, các lí thuyết lịch sự chiến lượcđều có điểm chung: coi lịch sự là chiến lược tránh đụng độ trong giaotiếp Chiến lược ấy thuộc về cái Tôi, do cái Tôi tự tạo ra trong quá trìnhtương tác xã hội, nó là kết quả của nền văn hóa phương Tây, tôn trọng và
đề cao cái tôi cá nhân
Trang 11Lịch sự trong tiếng Việt bao hàm cả hai bình diện: lịch sự chiếnlược theo kiểu phương Tây và lịch sự chuẩn mực theo kiểu phươngĐông Người Việt Nam trong giao tiếp luôn chú trọng sự tế nhị, khéo léo,khiêm nhường (biểu hiện của lịch sự chiến lược) vừa nhằm đạt hiệu quảcao nhất trong giao tiếp vừa giúp đối tác giao tiếp giữ được mối thântình Mặt khác, người Việt còn chú trọng sự lễ độ, đúng mực (cách ứng
xử phù hợp với lịch sự chuẩn mực), thể hiện sự tôn trọng các giá trị xãhội như tuổi tác, vị thế, tôn ti, thứ bậc…
- Do nhà báo luôn là người chủ động về đề tài, câu hỏi, kịch bản,
là người áp đặt, chi phối, định hướng ngay cả đối với các hành vi củaĐTPV nên nếu không khéo léo, nhà báo rất dễ vi phạm nguyên tắc lịch
sự khi tác nghiệp
- Phỏng vấn là cuộc trò chuyện giữa nhà báo và ĐTPV đượccông bố trên các phương tiện thông tin đại chúng Điều này đặt ra yêucầu rất cao về tính lịch sự đối với nhà báo và đối tượng phỏng vấn Họkhông những chỉ giữ thể diện cho mình mà quan trọng là phải giữ thểdiện trước công chúng bạn đọc
1.6 Tiểu kết
Chương 1 đã trình bày một số vấn đề cơ bản nhất về lí luận làm
cơ sở cho việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong phỏng vấnbáo chí
Thứ nhất, dựa vào, lí thuyết hội thoại, lí thuyết hành vi ngôn ngữ,luận án đưa ra cái nhìn tổng quan về giao tiếp trên báo in và hội thoạiphỏng vấn
Từ điểm nhìn của lí thuyết hội thoại, phỏng vấn là một cuộcthoại điển hình Tuy nhiên, phỏng vấn báo chí là dạng hội thoại đặc biệt,
nó vừa mang đặc điểm của cuộc thoại thông thường vừa có những nét
Trang 12đặc thù Trên cơ sở kế thừa các tác giả đi trước, chúng tôi chọn một sốkhái niệm tác nghiệp phù hợp để làm công cụ nghiên cứu của luận án ởcác chương sau: giới hạn khái niệm cặp thoại, xác định vị trí cặp thoạitrong cuộc thoại phỏng vấn, chỉ ra đơn vị cơ sở cấu tạo nên cặp thoại, cácđặc điểm, tính chất cơ bản của cặp thoại; đặc điểm của một số HVVNthường dùng và tính tương tác trong hội thoại phỏng vấn.
Từ điểm nhìn của lí thuyết hành vi ngôn ngữ, các nguyên tắc hộithoại và lí thuyết lịch sự, luận án đã trình bày các lí thuyết lịch sự vàquan niệm về lịch sự của người Việt để làm cơ sở để khảo sát hành vihỏi, hành vi chủ hướng trong hầu hết các TTDN của nhà báo nhưng lại
có khả năng cao vi phạm yếu tố lịch sự trong phỏng vấn
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CẶP THOẠI
TRONG HỘI THOẠI PHỎNG VẤN 2.1 Cấu trúc của tham thoại trong hội thoại phỏng vấn
- Trong tổ chức cặp thoại (CT), tham thoại (TT) vừa là đơn vịtrực tiếp cấu tạo nên CT, vừa là đơn vị có cấu trúc nội bộ riêng, thể hiệnquan hệ giữa các HVNN Việc nghiên cứu CT vì vậy phải xem xét, xuấtphát từ những đơn vị bậc dưới của nó, đó là TT và HVNN
- Cuộc thoại phỏng vấn là một dạng hội thoại đặc thù trong đó
CT được hiện thực hóa qua TT trao đáp có cấu trúc hình thức khá ổnđịnh: Tham thoại dẫn nhập (initiative move): câu hỏi; Tham thoại hồi đáp(reactive move): câu trả lời
2.1.1 Tham thoại dẫn nhập (TTDN) trong phỏng vấn
Cấu trúc nòng cốt của một TT nói chung cũng như của TTDNđều gồm hai phần: hành vi chủ hướng (HVCH) (head) và hành vi phụthuộc (HVPT) (pre-head, post-head)
2.1.1.1 Hành vi chủ hướng
Trong các cuộc thoại phỏng vấn, đảm nhận vị trí HVCH củaTTDN có thể là: Hành vi chào, hành vi hỏi, hành vi trần thuật, hành vi
Trang 13cám ơn và chúc tụng Kết quả khảo sát cho thấy trong số những HVCHtrong TTDN, hành vi hỏi vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất (60,2%) bởi vì bản chấtcủa phỏng vấn là hỏi – trả lời Hành vi trần thuật chỉ chiếm tỉ lệ thấp(22,9%) Điều này giúp phân biệt phỏng vấn với các thể loại báo chí khác
có hình thức giống với phỏng vấn như tọa đàm, giao lưu (hành vi trầnthuật chiếm số lượng lớn)
2.1.1.2 Hành vi phụ thuộc
Trong TTDN của nhà báo, các HVNN đóng vai trò HVPTthường là hành vi khen, hành vi chê và hành vi trần thuật Hành vi trầnthuật là hành vi vừa có khả năng đảm nhiệm vai trò là HVCH, vừa làHVPT trong TTDN Tuy nhiên, hành vi này thường xuất hiện với tư cách
là HVPT với tỉ lệ cao hơn HVCH (60,4 % và 22,9 %) Nếu như hành vihỏi là hành vi được sử dụng phổ biến trong HVCH của TTDN phỏng vấnthì hành vi trần thuật lại được sử dụng thường xuyên trong HVPT củaTTDN Chúng thường giữ chức năng giải thích, bổ sung luận cứ để nhàbáo thực hiện hành vi hỏi
2.1.2 Mô hình hình thức của TTDN trong cặp thoại phỏng vấn
Qua khảo sát tư liệu phỏng vấn báo in, có thể mô hình hóa cáckiểu cấu trúc TTDN mà nhà báo thường sử dụng khi tác nghiệp thành 10loại mô hình Đặc biệt, kiểu mô hình (PT CH) mà hành vi phụ thuộc đitrước đảm nhiệm vai trò “dọn đường” cho hành vi chủ hướng hỏi ở phíasau thường được nhà báo sử dụng nhiều hơn cả
2.1.3 Tham thoại hồi đáp trong phỏng vấn
Trong phỏng vấn, TTHĐ có vị trí vô cùng quan trọng TTDNtrong phỏng vấn mới chỉ làm thành một bộ phận nêu vấn đề chứ chưamang thông tin, còn TTHĐ (khẳng định hay phủ định) mới làm chothông tin được sáng tỏ, tạo thành một chu trình giao tiếp khép kín TTHĐquyết định tới diễn tiến, kết quả cuộc hội thoại Đồng thời, thông quaTTHĐ, người đọc mới thấu rõ tâm lí, quan điểm… của ĐTPV cũng nhưđích của cuộc thoại
Trang 14Về vị trí, TTHĐ luôn nằm ngay sau TTDN, có mối quan hệ
tương tác với TTDN Hướng hồi đáp của TTHĐ phụ thuộc chặt chẽ vàoTTDN
Về cấu trúc, TTHĐ cũng giống với TTDN trong phỏng vấn gồm
hai thành phần là HVCH và HVPT Tuy nhiên, việc xác định HVCHtrong TTHĐ phụ thuộc vào TTDN Theo đó, hành vi nào hồi đáp trựctiếp vào HVCH của nhà báo trong TTDN thì hành vi đó sẽ giữ vai tròchủ hướng trong TTHĐ
2.2 Cấu trúc của cặp thoại phỏng vấn
Điểm khác biệt của CT phỏng vấn so với các CT ở các dạnghành chức khác như CT dạy học, CT trong hội thoại thông thường hay
CT trong tác phẩm văn học thể hiện ở chỗ cặp hỏi - đáp chính là CT chủhướng, trong phỏng vấn không có sự xuất hiện của những cặp phụ thuộc,chêm xen Mỗi CT là một cặp kế cận khép kín, tạo thành một CT hoànchỉnh trình bày những chủ đề nhỏ, nhiều CT có sự liên kết về nội dungtạo thành chủ đề lớn của cuộc thoại phỏng vấn
2.2.1 Cặp thoại một tham thoại
Là những CT bất thường về mặt cấu tạo “Nó tạo ra cấu trúchẫng của CT (gọi là CT hẫng) Trong phỏng vấn báo chí, CT hẫng là cặpthoại chỉ có TTDN mà không có TTHĐ CT hẫng thường xuất hiện khinhà báo sử dụng những TTDN mang tính nghi thức như TTDN có hành
vi chào, cảm ơn, chúc… Hoặc khi nhà báo sử dụng những TTDN có nộidung vi phạm nguyên tắc lịch sự, đe dọa thể diện của họ Trong nhữngtrường hợp này, trên báo in, ĐTPV thường không hồi đáp những kiểutham thoại như vậy
2.2.2 Cặp thoại hai tham thoại
Đây là dạng phổ biến nhất trong hội thoại phỏng vấn, trong đómỗi TT ứng với một chức năng ổn định: TT thứ nhất của nhà báo cóchức năng dẫn nhập, TT thứ hai của ĐTPV có chức năng hồi đáp
2.2.3 Mô hình hình thức của cặp thoại phỏng vấn
Qua khảo sát ngữ liệu đồng thời dựa trên cách phân chia HVCHtrong TT mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên, trong phỏng vấn có thểgặp 5 mô hình CT thường gặp: cặp Hỏi – Trần thuật; cặp Trần thuật –