gửi của tổ chức nhận tiền gửi, tất cả các khoản tiền gửi tronggiới hạn và phạm vi bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểmtiền gửi đều tự động đợc bảo hiểm.- Bảo hiểm tiền gửi là loại dịch
Trang 1Lời mở đầu
Việt nam là quốc gia thuộc nhóm các nớc đang pháttriển, trong quá trình hội nhập quốc tế Nền kinh tế nóichung và hệ thống ngân hàng nói riêng cũng đứng trớcnhững thời cơ và thách thức Cũng nh các quốc gia trên Thếgiới, trong quá trình thực hiện mở cửa và hội nhập quốc tế,lĩnh vực tài chính ngân hàng thờng đi trớc một bớc vì thế
mà những hạn chế của lĩnh vực này cũng bộc lộ sớm nhất.Việt nam cũng không nằm ngoài quy luật này Hơn nữa,
điểm yếu nhất của hệ thống ngân hàng Việt nam là quymô vốn nhỏ, năng lực và khả năng cạnh tranh còn hạn chế,trong khi hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải đối mặt vớinhững cạnh tranh khốc liệt, thị trờng mở rộng ra phạm vitoàn cầu Đứng trớc thách thức trên Chính phủ đã tăng cờngcác biện pháp phòng ngừa rủi ro cho hệ thống ngân hàng,một trong những biện pháp đó là Chính sách về Bảo hiểmtiền gửi Hầu hết các nền kinh tế trên Thế giới, đặc biệt lànhững nền kinh tế phát triển cao nh Mỹ, Canada, Đức…vàmột số nền kinh tế điển hình của Châu á nh Đài Loan, NhậtBản, Trung Quốc… đều xây dựng cho mình một tổ chứcBảo hiểm tiền gửi hoạt động có hiệu quả Việt nam thời gianqua, chính sách Bảo hiểm tiền gửi đã bộc lộ một số tồn tại,hạn chế nh về cơ sở pháp lý điều chỉnh; sức ỳ, độ nhờn
Trang 2trong các công cụ của chính sách, tính hiệu quả của cáccông cụ…
Nếu các vấn đề trên không đợc khắc phục, chỉnh sửa,
bổ sung kịp thời, chính sách Bảo hiểm tiền gửi không thểtiếp tục đi vào cuộc sống, khi đó sẽ thành lực cản đối vớinền kinh tế và đặc biệt là quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế trong lĩnh vực ngân hàng, Bảo hiểm tiền gửi Vì vậy vấn
đề đặt ra cho hớng lựa chọn đề tài là nghiên cứu chínhsách Bảo hiểm tiền gửi của một số nớc và từ đó rút ra bài họckinh nghiệm cho Bảo hiểm tiền gửi Việt nam
Khóa luận vận dụng các phơng pháp duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và các ph-
ơng pháp nghiên cứu khoa học khác nh phân tích, tổng hợp,thống kê, so sánh… dựa trên các tài liệu thu thập đợc để mộtmặt phân tích thực trạng hoạt động Bảo hiểm tiền gửi củaViệt nam, mặt khác cũng tìm hiểu một số vấn đề trong quátrình hoạt động của các tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ và
Đài Loan Đây là hai tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tiêu biểu trênThế giới và của khu vực Châu á mà có nhiều kinh nghiệm đểViệt nam có thể học hỏi, áp dụng vào quá trình hoàn thiệnchính sách Bảo hiểm tiền gửi của mình
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mụctài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm ba chơng cơ bản:
Chơng 1: Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi
Chơng 2: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Trang 3nam và một số nớc trên thế giới, bài học kinh nghiệm
Chơng 3: Giải pháp và kiến nghị
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hớng dẫn ThS HồHồng Hải và các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Kinhdoanh quốc tế đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bàikhóa luận này
Chơng I Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi
1 Sự ra đời, khái niệm, đặc điểm bảo hiểm tiền gửi
Trang 4hiểm tiền gửi hay còn gọi là Chính sách Bảo hiểm tiền gửicủa Quốc gia
1.2.Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi
“ Thị trờng đối phó với rủi ro bằng cách phân tán rủi ro
Đó là quá trình mang rủi ro vốn rất lớn đối với một ngời rồiphân tán nó cho nhiều ngời sao cho nó chỉ còn là rủi ro nhỏ
đối với số đông Hình thức phân tán rủi ro chính là bảohiểm” (Fredic S.Mishkin (2001)- Tiền tệ, ngân hàng và thịtrờng tài chính, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội,tái bản lần thứ 3)
John Black định nghĩa bảo hiểm tiền gửi trong từ
điển kinh tế Oxford phát hành năm 1997, New York nh sau: “Bảo hiểm tiền gửi là dịch vụ bảo hiểm rủi ro các ngân hànghoặc các trung gian tài chính bị phá sản cho ngời có tiền gửitại các ngân hàng hoặc trung gian tài chính đó” Địnhnghĩa này đã phản ánh tơng đối rõ ràng nội dung của bảohiểm tiền gửi Thực tế bảo hiểm tiền gửi là bảo hiểm tráchnhiệm dân sự của tổ chức huy động tiền gửi đối với ngờigửi tiền
Rủi ro trong bảo hiểm tiền gửi là trờng hợp các ngânhàng hoặc tổ chức huy động tiền gửi khác bị phá sản.Thông thờng trong các trờng hợp nh vậy mức đền bù cho ngời
có tiền gửi tại tổ chức bị phá sản phụ thuộc vào giá trị tàisản còn lại và ngời gửi tiền có thể mất trắng số tiền gửi củamình Tuy nhiên khi tồn tại cơ chế bảo hiểm tiền gửi thì tổ
Trang 5chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ thực hiện cam kết bảo hiểm đó làthanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền gốc và lãi của cáckhoản tiền gửi cho ngời gửi tiền Ngời hởng lợi từ dịch vụ bảohiểm tiền gửi là những ngời có tiền gửi tại các ngân hàng và
tổ chức huy động tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Theo tài liệu “Xây dựng hệ thống Bảo hiểm tiền gửihiệu quả” của Diễn đàn ổn định tài chính (FinancialStability Forum) tháng 9 năm 2001, “Bảo hiểm tiền gửi đợchiểu là một sự đảm bảo rằng số d gốc và lãi cộng dồn của cáctài khoản tiền gửi nhất định sẽ đợc thanh toán đến một giớihạn nhất định” Định nghĩa này của Diễn đàn ổn định tàichính có thể đợc hiểu rằng có một giới hạn nhất định trongviệc chi trả tiền bồi thờng và chỉ những khoản tiền gửi nhất
định mới đợc bảo hiểm Điều này cho thấy sự khác biệt cơbản giữa bảo hiểm tiền gửi và cơ chế bảo lãnh trọn gói.Trong cơ chế bảo lãnh trọn gói, khi tổ chức huy động tiềngửi bị phá sản, Chính phủ đứng ra thanh toán toàn bộ sốtiền gửi cho ngời nhận tiền gửi
Để hiểu rõ thêm, chúng ta có thể tham khảo quy chếbảo hiểm của Công ty bảo hiểm tiền gửi Canada, trong đóquy định: “Bảo hiểm tiền gửi bảo vệ những khoản tiền gửiquy định tại các tổ chức thành viên của hệ thống bảo hiểmtiền gửi trong trờng hợp tổ chức thành viên bị phá sản Nếumột tổ chức thành viên bị phá sản, công ty bảo hiểm tiền
Trang 6đợc bảo hiểm tại tổ chức nhận tiền gửi.
1.3 Đặc diểm của Bảo hiểm tiền gửi
Nói chung bảo hiểm tiền gửi tại tất cả các nớc đều cóchung một số đặc điểm nh sau:
- Chỉ bảo hiểm các khoản tiền gửi Nhiều quốc gia loạitrừ không bảo hiểm các khoản tiền đầu t, tiền gửi liên ngânhàng và các khoản tiền gửi của ban lãnh đạo, các cổ đông lớncủa tổ chức huy động tiền gửi Lý do loại trừ đó là các nhà
đầu t, các nhà kinh doanh ngân hàng là những ngời nắmvững quy luật thị trờng, do vậy trớc khi đầu t họ đã cânnhắc mức độ rủi ro, ban lãnh đạo và các cổ đông lớn của các
tổ chức huy động tiền gửi là những ngời nắm vững và chịutrách nhiệm về tình hình tài chính của tổ chức này, do vậy
họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình mà không phải dựa vàobảo hiểm tiền gửi
- Ngời mua bảo hiểm là các ngân hàng, các tổ chức huy
động tiền gửi khác Ngời hởng lợi từ bảo hiểm tiền gửi lànhững ngời gửi tiền tại tổ chức đợc bảo hiểm
Ngời gửi tiền không phải làm thủ tục đăng kí mua bảohiểm tiền gửi Bằng việc tham gia hệ thống Bảo hiểm tiền
Trang 7gửi của tổ chức nhận tiền gửi, tất cả các khoản tiền gửi tronggiới hạn và phạm vi bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểmtiền gửi đều tự động đợc bảo hiểm.
- Bảo hiểm tiền gửi là loại dịch vụ (hàng hoá) mang tínhxã hội cao, xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt
động bảo hiểm tiền gửi là góp phần đảm bảo tính ổn
định của hệ thống tài chính quốc gia, ngời thụ hởng dịch vụ
là toàn xã hội Theo cách phân loại của nhà kinh tế họcStiglitz, bảo hiểm tiền gửi là hàng hoá công cộng (hàng hoácông) không thuần tuý
Xuất phát từ mục đích của chính sách bảo hiểm tiềngửi mà dịch vụ Bảo hiểm tiền gửi đợc coi là hàng hoá công.Tính chất công cộng của dịch vụ Bảo hiểm tiền gửi là ở chỗBảo hiểm tiền gửi đáp ứng nhu cầu chung của toàn xã hội,tức là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngời gửitiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tíndụng và bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt độngngân hàng Ai cũng có quyền bình đẳng đợc tiếp cận đếnloại hàng hoá dịch vụ này, và việc ngời này sử dụng không
ảnh hởng nhiều đến ngời khác sử dụng chúng
Dù muốn hay không, ta cũng không thể loại trừ sự thụ ởng dịch vụ Bảo hiểm tiền gửi một cách tuyệt đối Mặc dùngời hởng lợi trực tiếp từ Bảo hiểm tiền gửi là ngời gửi tiền vàcác tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi thì những đối tác
Trang 8Ngời gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tợng đợc bảo hiểm
đợc hởng lợi trực tiếp khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Khi córủi ro ngân hàng, tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanhtoán, bị đóng cửa, ngời gửi tiền sẽ đợc tổ chức Bảo hiểmtiền gửi thanh toán tiền bảo hiểm Đây chính là số tiền mà
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi cam kết với tổ chức tham gia Bảohiểm tiền gửi khi thực hiện bảo hiểm
Các tổ chức huy động tiền gửi cũng đợc hởng lợi Hơn
ai hết, ngời sản xuất thờng biết rõ hơn ngời tiêu dùng về sảnphẩm mà họ bán Các chủ ngân hàng và giám đốc ngânhàng biết rõ về tình hình tài chính của họ hơn là kháchhàng Do thiếu khả năng tiếp cận thông tin nên trong điềukiện vốn nhàn rỗi có hạn, khách hàng đắn đo khi quyết
định đem tiền gửi vào tổ chức huy động tiền gửi hay lựachọn một kênh đầu t sinh lời khác và cũng đắn đo khiquyết định lựa chọn ngân hàng để gửi tiền Khi tiền gửi
đợc bảo hiểm, khách hàng an tâm hơn khi lựa chọn tổ chứcnhận tiền gửi Các tổ chức huy động tiền gửi, nhờ vậy sẽ thuhút thêm đợc nhiều khách hàng và huy động đợc nhiều tiềngửi hơn
Trên thực tế khi ngân hàng đợc bảo hiểm đã góp phầnlàm cho kinh tế ít biến động, ổn định hơn, rủi ro sẽ giảmbớt đối với các doanh nghiệp Mặt khác các đối tợng vay tiền
sẽ sử dụng tiền vay an toàn và hiệu quả hơn, các dự án đầu
t cũng hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho phát triển các ngành
Trang 9nghề kinh tế khác Xã hội bình ổn, các ngành nghề kinh tếphát triển, tạo ra công ăn việc làm cho ngời lao động, giảmthất nghiệp,…đời sống nhân dân đợc nâng cao.
Nh vậy trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta đều dợc hởng lợi
từ Bảo hiểm tiền gửi, và thật sự là không thể loại trừ sự thụ ởng một cách tuyệt đối một cá nhân, hoặc một tổ chứctrong xã hội, hoặc việc loại trừ này rất khó khăn và tốn kém.Chính vì đặc tính này mà Bảo hiểm tiền gửi đợc xếp vàoloại hàng hoá công không thuần tuý
h Bằng chứng của hoạt động Bảo hiểm tiền gửi là giấychứng nhận Bảo hiểm tiền gửi do tổ chức Bảo hiểm tiền gửicấp cho tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
- Tất cả các tổ chức bảo hiểm đều quy định phạm vi
và giới hạn bảo hiểm một cách áp đặt Ngời gửi tiền khôngthể mua thêm bảo hiểm cho các khoản tiền gửi của mình
để đợc các tổ chức bảo hiểm chi trả nhiều hơn giới hạn bảohiểm Các khoản tiền gửi ngoài giới hạn bảo hiểm sẽ không đ-
ợc các tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thanh toán mà đợc xử lý nhcác món nợ khác của tổ chức tài chính bị phá sản Giới hạnbảo hiểm này bao gồm cả tiền gửi gốc và lãi cộng dồn từngày gửi tiền đến thời điểm tổ chức tham gia bảo hiểm bịphá sản Tuy nhiên các khoản tiền gửi có tính chất khác nhau
có thể đợc bảo hiểm khác nhau
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có quyền chủ nợ thế quyền
Trang 10tất cả các quốc gia đều không chi trả cho các khoản tiền gửi
đợc chi trả ở nớc ngoài do không kiểm soát đợc mức độ rủi rocho các khoản tiền gửi đó
2 Mục tiêu, đối tợng của chính sách Bảo hiểm tiền gửi
2.1 Mục tiêu
Chính sách Bảo hiểm ở mỗi quốc gia khác nhau là khácnhau: phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận Nhng dù là có mục tiêunào thì cũng hớng tới một số nội dung cơ bản nh sau:
- Bảo vệ quyền lợi ngời gửi tiền: thể hiện ở việc hạn chếrủi ro đến mức thấp nhất và có một cơ chế bồi thờng nhanhchóng
- Bảo vệ các trung gian thanh toán có hoạt động ngânhàng: phòng ngừa nguy cơ đổ vỡ, hiệu ứng dây chuyền
- Bảo vệ tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, góp phần làmminh bạch thị trờng tiền tệ, đảm bảo an ninh kinh tế, chínhtrị và trật tự an toàn xã hội
Chính sách Bảo hiểm tiền gửi có vai trò vị trí quantrọng trong hệ thống chính sách của Nhà nớc, nó biểu hiệnkhông chỉ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ mà cả trong lĩnhvực đảm bảo an ninh chính trị và xã hội, nhất là trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế Khi có một ngân hàng bị đổ
vỡ sẽ dẫn đến sự mất lòng tin của ngời gửi tiền vào hệ thốngngân hàng Đặc biệt khi có khủng hoảng ngân hàng, ngờigửi tiền sẽ đổ xô cùng lúc để rút tiền gốc bỏ qua cả lãi Và có
Trang 11thể sẽ ảnh hởng đến chính trị an ninh xã hội Ví dụ: khủnghoảng ngân hàng tại Anbani năm 1987 làm sụp đổ hệ thốngquỹ tiết kiệm, dẫn đến nội chiến gây sụp đổ chính phủ
và hệ thống chính trị
2.2 Đối tợng
Bao gồm: tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi (gọi tắt
là tổ chức tham gia), tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, ngời gửitiền, loại tiền gửi đợc bảo hiểm
2.2.1.Tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Là các ngân hàng, trung gian tài chính đợc phép thựchiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của phápluật có nhận tiền gửi Tuỳ mục tiêu và chính sách của mỗiquốc gia mà cơ chế tham gia đợc quy định cho phù hợp, nh-
ng nhìn chung là một trong hai hình thức: tự nguyện hoặcbắt buộc
Hình thức tự nguyện: tổ chức có nhận tiền gửi cóquyền lựa chọn có tham gia hay không
Hình thức bắt buộc: các tổ chức có nhận tiền gửi phảitham gia bắt buộc Bảo hiểm bắt buộc là hình thức bảohiểm mà bên đợc bảo hiểm và bên bảo hiểm có nghĩa vụphải thực hiện đúng đắn các quy định không đợc tự ý thay
đổi
Mỗi hình thức đều có những hạn chế nhng hiện nayhình thức bảo hiểm bắt buộc có ít hạn chế hơn, đang đợc
Trang 12dụng
2.2.2.Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
Là tổ chức đợc nhà nớc cho phép nhận đóng góp tiềngửi từ phía tổ chức tham gia và thực hiện trách nhiệm chi trảtiền bảo hiểm cho ngời gửi tiền đợc bảo hiểm tại tổ chứctham gia, khi tổ chức đó mất khả năng thanh toán nợ đếnhạn và bị phá sản, phải chi trả tiền bảo hiểm
Các loại hình tổ chức Bảo hiểm tiền gửi:
+ Theo mục tiêu hoạt động: Mục tiêu vì lợi nhuận là các
tổ chức thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm tiềngửi, mục tiêu lấy thu bù chi sao có lợi nhuận để tồn tại và pháttriển Mục tiêu phi lợi nhuận là các tổ chức hoạt động chính
là bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí
+ Theo quy mô chức năng: gồm loại hình tổ chức Bảohiểm tiền gửi đa chức năng- là các tổ chức với chức năngthực hiện các nội dung hoạt động theo hầu hết các công cụcủa chính sách Bảo hiểm tiền gửi Và loại hình đơn năng- lànhững tổ chức chỉ thực hiện một hoặc một số ít chức năngvới nội dung vận hành một số công cụ của chính sách Bảohiểm tiền gửi, cũng có khi chỉ nh một bộ phận quản lý tiềnquỹ bảo hiểm
+ Theo loại hình doanh nghiệp: gồm loại hình đahình thức sở hữu, hoạt động đợc điều chỉnh theo LuậtDoanh nghiệp; và loại hình tổ chức tài chính Nhà nớc chỉ
Trang 13thuộc sở hữu Nhà nớc, hoạt động theo sự điều chỉnh củapháp luật về lĩnh vực Bảo hiểm tiền gửi.
2.2.3.Ngời gửi tiền thuộc đối tợng đợc bảo hiểm
Là đối tợng có các loại tiền gửi đợc bảo hiểm (chỉ nội tệhay cả ngoại tệ) gửi tại tổ chức tham gia Tuỳ theo mục tiêu,chính sách của quốc gia mà đối tợng đợc bảo hiểm là cánhân hay tổ chức
Ngời gửi tiền đợc bảo hiểm nhng không phải nộp phí.Ngời gửi tiền thuộc đối tợng đợc bảo hiểm, nhận tiềnbảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm tại tổ chức tham gia
đến một hạn mức chi trả nhất định hoặc nhận toàn bộ sốtiền đợc bảo hiểm mà họ đã gửi các tổ chức tham gia khi các
tổ chức đó bị đổ vỡ Số tiền bảo hiểm tuỳ thuộc chínhsách Bảo hiểm tiền gửi ở mỗi quốc gia quy định
2.2.4.Các loại tiền gửi thuộc đối tợng đợc bảo hiểm
Tiền gửi đợc bảo hiểm là tiền gửi đợc pháp luật bảo vệ
và chịu sự điều chỉnh của chính sách Bảo hiểm tiền gửi,ngợc lại là loại tiền gửi không đợc bảo hiểm Trong nhiều hệthống Bảo hiểm tiền gửi đang quy định một số hay toàn bộcác loại tiền gửi sau không thuộc diện bảo hiểm: tiền gửi ở n-
ớc ngoài của các ngân hàng trong nớc, tiền gửi bằng bản tệcủa các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, tiền gửi là ngoại tệ,tiền gửi liên ngân hàng.Các khoản tiền gửi trên thờng là cáckhoản lớn, nên với cơ chế Bảo hiểm tiền gửi có hạn chế, các
Trang 14không có khác biệt đáng kể Một số nớc không bảo hiểm chocác khoản tiền gửi của ngời làm trong ngân hàng (lãnh đạongân hàng), điển hình là hệ thống tiền gửi của Pháp
3 Các công cụ của Bảo hiểm tiền gửi
3.1.Cấp vốn, hỗ trợ tài chính cho hệ thống Bảo hiểm tiền gửi
3.1.1.Cấp vốn hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia
Vấn đề duy trì tỷ lệ vốn tự có của mỗi thành viên vànguồn vốn đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đếnhạn của mỗi thành viên cũng nh các tổ chức tham gia luôn làmục tiêu phải đạt tới của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Đây luôn
là những vấn đề khó khăn đối với hoạt động bảo hiểm tiềngửi các quốc gia, đặc biệt trong thời điểm hệ thống ngânhàng gặp khó khăn hoặc nền kinh tế trong nớc cũng nh trênthế giới đang đứng trớc nguy cơ bùng nổ cuộc khủng hoảng
Vốn tự có của các ngân hàng luôn là mối quan tâmhàng đầu của cả hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Vì khi hoạt
động của ngân hàng có biểu hiện bất ổn sẽ làm nảy sinhtâm lý nghi ngờ và tâm lý này sẽ đợc lan truyền trongnhững ngời có tiền gửi ở ngân hàng Vì vậy việc tăng cờngnăng lực tài chính của tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửiluôn đợc mỗi hệ thống Bảo hiểm tiền gửi quan tâm, đa ranhững cảnh báo cho tổ chức cha duy trì đủ tỷ lệ này
3.1.2.Cấp vốn và hỗ trợ tài chính cho tổ chức Bảo hiểmtiền gửi
Trang 15Một số cơ sở xác định vốn và nguồn vốn cần thiết cho
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi:
+ Dựa vào tỷ lệ vốn và quỹ dự trữ của tổng tổ chứctham gia trên tiền gửi đợc bảo hiểm hoặc tổng tiền gửi tại
tổ chức đó nhằm xác định số tiền cần có trong quỹ bảohiểm một cách tơng đối phù hợp cho tổ chức Bảo hiểm tiềngửi Vấn đề đặt ra là xác định số tiền (vốn cấp) phải làbao nhiêu cho phù hợp Đây thật sự là một vấn đề khó khănbởi rất khó ớc tính, dự toán số lợng, quy mô của các tổ chứctham gia đổ vỡ trong một kỳ nhất định hay khả năng vỡ nợcủa các ngân hàng Ban đầu khi mới thành lập tổ chức Bảohiểm tiền gửi thì vốn cấp cũng là vốn huy động Sau mộtthời gian thì tổ chức Bảo hiểm tiền gửi mới có thêm thu nhập
từ đóng góp tài chính của tổ chức tham gia và từ nguồnkhác Khi đó vốn cấp không đồng nhất với vốn hoạt động
Nh vậy tỷ lệ vốn hoạt động cần xác định và duy trì phụthuộc vào hai yếu tố: Sự gia tăng vốn hoạt động từ đầu t,phát triển vốn cấp và các quỹ; sự gia tăng của tiền gửi đợcbảo hiểm hay tổng tiền gửi làm tăng thu nhập từ đóng góptài chính
Để giúp tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt vai trò,chức năng của mình, mỗi quốc gia phải xây dựng chính sáchBảo hiểm tiền gửi giải quyết đợc hai vấn đề quan trọng
đặt ra là : Xử lý các khoản tổn thất về tiền gửi; hỗ trợ cho
Trang 16thất có tính thảm hoạ vợt quá năng lực tài chính của tổ chứcBảo hiểm tiền gửi, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho
hệ thống Bảo hiểm tiền gửi
Khi xảy ra tổn thất có tính thảm họa đòi hỏi chính phủphải có vai trò hậu thuẫn quan trọng, trong đó có hỗ trợ tàichính cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Hình thức hỗ trợ cóthể là:
+ Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi đợc vay từ Ngân hàngTrung ơng hoặc Chính phủ để đảm bảo lòng tin của ngờigửi tiền và đẩy tỷ lệ vốn hoạt động trở lại biên độ bình th-ờng Ví dụ: ngày 27 tháng 2 năm 1991, Quốc hội Mỹ thôngqua đạo luật củng cố FDIC( Federal Deposit InsuranceCorporation) cho phép FDIC đợc vay từ kho bạc Mỹ tối đa 30
tỷ USD, hoàn trả trong 15 năm; hoặc đợc Chính phủ bảo lãnhphát hành một lợng trái phiếu hợp lý
+ Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể vay các trung giantín dụng để thực hiện nghĩa vụ của mình Biện pháp này
ít đợc khuyến khích, đặc biệt khi tổ chức Bảo hiểm tiềngửi có vai trò, chức năng giám sát đối với tổ chức tham giaBảo hiểm tiền gửi
3.2.Phí Bảo hiểm tiền gửi
Phí bảo hiểm tiền gửi là một trong những công cụ quantrọng và có tính nhạy cảm của chính sách Bảo hiểm tiền gửi
đối với hệ thống Bảo hiểm tiền gửi ở mỗi quốc gia Tùy theomục tiêu thiết lập hệ thống Bảo hiểm tiền gửi là hoạt động
Trang 17vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở mỗi nớc mà định ra mộtchính sách phí là cao hơn, thấp hơn hay ở điểm cân bằnggiữa các khoản thu nhập so với tổn thất mà tổ chức Bảohiểm tiền gửi phải chi ra, nói cách khác nó chi phối việc định
ra mức phí bảo hiểm công bằng và phù hợp ở mỗi quốc gia
3.2.1.Phơng pháp định phí bảo hiểm
Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của hệ thống Bảohiểm tiền gửi ở các nớc trên Thế giới rất cần hình thànhnhững phơng pháp tính phí bảo hiểm có tính nguyên lý vàchung nhất, nhằm xây dựng một cơ chế Bảo hiểm tiền gửi
có hiệu quả Để đáp ứng những nhu cầu bức thiết này củacác hệ thống Bảo hiểm tiền trên Thế giới một số phơng pháp
định phí đã ra đời Một số hệ thống Bảo hiểm tiền gửi màtiêu biểu là ở các quốc gia nh: Hoa Kỳ, Canada, Đài Loan,Philippin…đã vận dụng thành công một trong các phơng pháp
định phí này vào quốc gia mình Các phơng pháp đó là:
định phí dựa trên cơ sở thông tin thị trờng và định phídựa trên cơ sở thông tin kế toán Mỗi phơng pháp định phí
đợc xây dựng trên một mô hình khác nhau, đã có nhiều môhình đợc xây dựng, cải biến, bổ sung nhằm khắc phục hạnchế của các mô hình trớc đó, nhng tóm lại có hai mô hìnhchủ yếu: mô hình quyền lựa chọn- còn gọi là “mô hìnhquyền chọn của Merton”, và mô hình “tổn thất dự kiến”
+ Phơng pháp định phí dựa trên cơ sở thông tin thị ờng theo mô hình “quyền chọn của Merton” Phơng phápnày xây dựng năm 1977 Theo mô hình này phí bảo hiểm
Trang 18đợc coi nh một quyền chọn bán dựa trên tài sản của ngâmhàng tham gia bảo hiểm tiền gửi Thực chất đây là một hợp
đồng quyền lựa chọn Ngời mua hợp đồng quyền lựa chọnkhông thể loại bỏ rủi ro mà chỉ làm giảm thiểu rủi ro hoặchạn chế rủi ro tới một mức độ nhất định vì ngời ta phải trảphí khi thực hiện hợp đồng quyền lựa chọn Ngời mua loại hợp
đồng này coi hợp đồng là một công cụ để hạn chế rủi ro
Ng-ời bán chấp nhận rủi ro và đổi lại họ đợc hởng một khoảnphí và coi đó nh một công cụ tạo thu nhập từ rủi ro
Nội dung của mô hình là thiết lập mối liên hệ trực tiếpgiữa giá trị của hợp đồng bảo hiểm với giá trị tài sản củangân hàng, trong đó giá trị tài sản của ngân hàng đợc xác
định dựa trên cơ sở đánh giá của thị trờng về vốn và tàisản của ngân hàng chứ không dựa trên cơ sở giá trị kế toán
Mô hình quyền chọn của Merton đã chứng minh đợcviệc trả tiền với sự bảo lãnh đáng tin cậy của bên thứ ba trongviệc thanh toán nợ cho các trái chủ của khách hàng mà khôngchắc chắn có xảy ra và đợc thực hiện hay không, tơng tự
nh một quyền chọn bán
Mô hình “quyền chọn của Merton” đã giúp một số hệthống Bảo hiểm tiền gửi có điều kiện áp dụng có thể vậndụng phơng pháp này định phí cho các tổ chức tham gia đ-
ợc công bằng Tuy nhiên mô hình cũng bộc lộ một số hạn chế
Đó là hạn chế về tính thực tiễn và việc bỏ qua mức độ giớihạn về nguồn vốn huy động tiền gửi theo tỷ lệ tối thiểu chophép Phơng pháp này chỉ áp dụng khi thông tin về giá trịtài sản của ngân hàng có sẵn trên thị trờng, còn tổ chức ch-
Trang 19a niêm yết trên thị trờng thì không áp dụng đợc.
Từ những hạn chế trên đòi hỏi cần có phơng pháp
định phí khác và phơng pháp định phí dựa trên cơ sởthông tin kế toán theo mô hình “tổn thất dự kiến” đã khắcphục đợc hạn chế trên Phơng pháp này ra đời năm 1995, u
điểm là có thể áp dụng cho mọi loại hình ngân hàng chứkhông chỉ các ngân hàng đã niêm yết trên thị trờng chứngkhoán
Tính chất của phơng pháp là đi xác định “tổn thất dựkiến” thông qua ớc lợng giá trị tài sản ròng của một ngânhàng dựa trên các bản báo cáo dòng tiền chu chuyển để
định phí bảo hiểm cho ngân hàng Mô hình đợc xác định:
Tổn thất dự kiến = Xác suất chi trả bảo hiểm dự kiến *Tiền gửi bảo hiểm* Tỷ lệ chi trả bảo hiểm thực tế
Trong đó:
- Tổn thất dự kiến: là mức độ tổn thất đối với tổ chứcBảo hiểm tiền gửi (nhà Bảo hiểm) đợc xác định theo tỷ lệcủa tiền gửi bảo hiểm, từ đó đo lờng đợc chi phí bảo hiểm
để đảm bảo bù đắp đợc khoản chi phí bảo hiểm để đảmbảo bù đắp đợc khoản chi phí của tổ chức Bảo hiểm tiềngửi đã bỏ ra
- Xác suất chi trả bảo hiểm dự kiến hay xác suất vỡ nợ
dự kiến của ngân hàng có thể đợc xác định bằng cách sửdụng các phân tích cơ bản, phân tích thị trờng
Trang 20- Tiền gửi bảo hiểm: có thể là tiền gửi đợc bảo hiểm, cóthể là tổng tiền gửi
- Tỷ lệ chi trả bảo hiểm thực tế: đợc xây dựng theo tỷ
lệ giữa các khoản tiền gửi đã đợc chi trả bảo hiểm trong thực
tế so với tiền gửi bảo hiểm
Nếu thị trờng là hiệu quả, thì giá cả thị trờng phảiphản ánh giá trị thật về tài sản của ngân hàng Điều kiện
để một thị trờng hoạt động hiệu quả là việc cung cấp thôngtin phải luôn sẵn sàng, dễ khai thác, đáng tin cậy Vì thế ởcác nớc có thị trờng vốn (đặc biệt là thị trờng chứng khoán)phát triển, phơng pháp định phí dựa trên dựa trên cơ sởthông tin thị trờng thích hợp hơn phơng pháp định phí bảohiểm trên cơ sở thông tin kế toán Tuy nhiên phơng pháp thứhai lại đơn giản hơn, áp dụng đợc cho mọi hình thức tổchức tham gia Trong thực tế không có một phơng pháp nào
là hoàn toàn phù hợp cho mỗi quốc gia mà cần sự điềuchỉnh, kết hợp hài hoà u điểm của các phơng pháp địnhphí vào đặc thù của mỗi quốc gia
Để đánh giá phí bảo hiểm thờng lựa chọn một trongcác cơ sở sau: tiền gửi bảo hiểm, tổng tiền gửi, tỷ lệ nợ ròngkhó đòi
Sử dụng tiền gửi bảo hiểm làm cơ sở định giá phí bảohiểm công bằng hơn vì cơ sở đánh giá cân bằng với trị giábảo vệ dành cho ngời gửi tiền Dựa vào tổng tiền gửi khôngcông bằng vì trong nhiều trờng hợp cơ sở đánh giá có thể vợt
Trang 21quá giá trị bảo vệ, dẫn đến việc đối xử không công bằnggiữa các ngân hàng, vì một số ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi
đợc bảo hiểm trên tổng tiền gửi lớn hơn so với các ngân hàngkhác và có thể nhận đợc sự bảo vệ lớn hơn tơng quan với cơ
sở đánh giá của họ Tuy nhiên phơng pháp này vẫn đợc sửdụng bởi các ngân hàng dễ dàng biết tổng tiền gửi của họ,còn để xác định khối lợng tiền gửi đợc bảo hiểm sẽ khó khăn
và tốn kém vì các ngân hàng phải kết các tài khoản của
ng-ời gửi tiền riêng lẻ có từ hai tài khoản trở lên tại ngân hàng.Tuy nhiên hệ thống Bảo hiểm tiền gửi không nên lựa chọntổng tiền gửi làm cơ sở đánh giá duy nhất
3.2.2.Các hình thức đóng phí
+ Buộc các tổ chức tham gia gánh chịu các khoản tổnthất sau khi xảy ra đổ vỡ ngân hàng, hình thức này ít đợc
áp dụng
+ Thành lập quỹ bảo hiểm và yêu cầu tổ chức tham gia
định kỳ nộp một khoản phí vào quỹ Đây là hình thức
đóng phí bảo hiểm trớc- là hình thức tốt nhất và đợc ápdụng chủ yếu
Ngoài ra có thể kết hợp cả hai hình thức trên
Xây dựng quỹ bảo hiểm đủ mạnh có thuận lợi là sẽ giúpcủng cố lòng tin của ngời gửi tiền vì đó là sự bảo đảm hữuhình mà ngời gửi tiền đợc bảo hiểm mong đợi Một thuận lợikhác là dần dần quỹ bảo hiểm này phát triển, lớn lên đến
Trang 22dần các khoản đóng góp phí bảo hiểm của tổ chức thamgia
3.2.3.Các loại phí
+ Phí bảo hiểm đồng hạng: Đợc hiểu là tỷ lệ phí bảohiểm theo một mức chung, áp dụng cho mọi tổ chức thamgia hoạt động trong lãnh thổ một quốc gia Phí bảo hiểm
đồng hạng còn gọi là phí “cố định” Hầu hết các hệ thốngBảo hiểm tiền gửi mới thành lập đều áp dụng loại phí này,vì dễ thực hiện, dễ áp dụng, chi phí vận hành hệ thốngthấp
+ Phí bảo hiểm điều chỉnh theo mức độ rủi ro đợcbảo hiểm: Đợc hiểu là tỷ lệ phí xác định trên cơ sở đánh giámức độ rủi ro tơng ứng với các mức phí trong biên độ phíbảo hiểm (có trần và sàn) của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi,còn gọi là phí “linh hoạt” Loại phí này hiện nay đang đợc nhiềuquốc gia nghiên cứu, áp dụng Nó thể hiện tính thị trờng và
sự công bằng hơn Tuy nhiên nó đòi hỏi về công nghệ vàquản trị hệ thống, cơ chế cung cấp thông tin, chi phí cho
hệ thống là tốn kém
Chi trả tiền bảo hiểm là việc nhà bảo hiểm thực hiệntrách nhiệm của mình theo các quy định của pháp luậttrong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi cho đối tợng đợc bảo hiểm
Chi trả tiền bảo hiểm chủ yếu gồm chi trả toàn bộ cáckhoản tiền gửi cho đối tợng đợc bảo hiểm gọi là hình thứcchi trả không giới hạn, chi trả cho đối tợng đợc bảo hiểm đến
Trang 23giới hạn nhất định gọi là chi trả bảo hiểm có giới hạn, hay gọi
là hạn mức chi trả
Hạn mức chi trả là giới hạn chi trả bảo hiểm tối đa mà tổchức Bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm chi trả cho ngời gửitiền có các khoản tiền gửi đợc bảo hiểm tại tổ chức Bảohiểm tiền gửi bị đóng cửa hay phá sản Hạn mức chi trả luôn
là vấn đề nhạy cảm đối với mọi hệ thống Bảo hiểm tiền gửi,
nó đợc hình thành để đáp ứng mục tiêu giữa một bên là sự
ổn dịnh của hệ thống tài chính, ngân hàng và điều tiếthành vi của ngời gửi tiền cũng nh công chúng có liên quantrong xã hội với một bên là sự phát triển bền vững của hệthống Bảo hiểm tiền gửi Cho nên việc xác định, điềuchỉnh hạn mức chi trả cho đối tợng đợc bảo hiểm có ý nghĩaquan trọng trong chính sách Bảo hiểm tiền gửi Nếu hạn mứcchi trả quá cao sẽ làm nảy sinh tâm lý bất cẩn và rủi ro đạo
đức, ngợc lại quá thấp sẽ không bảo vệ đợc số đông ngời gửitiền thuộc đối tợng đợc bảo hiểm và khuyến khích gia tăngtiền gửi Các nhân tố ảnh hởng đến việc xác định hạn mứcchi trả: mức phí bảo hiểm, GDP/ đầu ngời, lạm phát, đặc
điểm hệ thống Bảo hiểm tiền gửi
Hạn mức chi trả có xu hớng cao hơn ở các nớc áp dụng loạiphí điều chỉnh theo mức độ rủi ro, với cơ chế phức tạptrong tính toán, việc áp dụng loại phí này thờng phổ biến ởcác nớc phát triển hơn so với các nớc đang và chậm phát triển
Trang 24Rủi ro trong quá trình hoạt động của tổ chức tham gia
là không thể tránh khỏi Tuy nhiên có nhiều loại rủi ro tổnthất: rủi ro trong biến động vốn, rủi ro trong đầu t vốn, rủi rothanh toán và các rủi ro tổn thất khác nh về đạo đức, thay
đổi thể chế chính trị, bị khủng bố…
Đối với phí linh hoạt, để xác định đợc đúng đắn loạirủi ro và mức độ rủi ro, vấn đề đặt ra phải đảm bảo giữamột bên là yêu cầu phải có đợc những thông tin cần thiết và
đủ để đánh giá mức độ rủi ro nhằm xếp hạng, xếp loại tổchức tham gia vào mức phí phù hợp, một bên là yêu cầu saocho yêu cầu của hệ thống tính phí theo mức độ rủi ro khônggây ra những vớng mắc, khó khăn quá mức cho tổ chứctham gia
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể dựa vào một số môhình nh mô hình CAMELS để giám sát đánh giá và xếphạng các tổ chức tham gia Từ đó có những biện pháp, chínhsách với từng tổ chức tham gia
3.4.Xử lý đổ vỡ hoạt động ngân hàng đối với tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Xử lý đổ vỡ hoạt đông ngân hàng trong cơ chế Bảohiểm tiền gửi là quá trình giải quyết các mối quan hệ về lợiích theo các quy định của pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi,khi một tổ chức tham gia bị mất khả năng thanh toán nợ đếnhạn và tổ chức đó bị giải thể bắt buộc hay bị phá sản phảichi trả tiền bảo hiểm
Trang 25Khi xây dựng hệ thống Bảo hiểm tiền gửi, các quốc gia
đề ra các quy định trong luật Bảo hiểm tiền gửi hoặcnhững quy định của Chính phủ về những vấn đề liên quantới các phơng thức giải quyết, xử lý đổ vỡ hoạt động ngânhàng Các quy định này cần đảm bảo rằng các phơng thức
đợc tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sử dụng phù hợp với đối tợng vàhình thức của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Đây là một trongnhững chức năng quan trọng của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi.Thông thờng tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể sử dụng một
số biện pháp xử lý sau: thứ nhất là liệt kê phơng thức xử lý cụthể mà tổ chức có thể đợc sử dụng Thứ hai là sử dụngkhuôn khổ chung về mặt chính sách mà tổ chức phải sửdụng (chỉ rõ từng phơng thức phù hợp với từng đối tợng vàhình thức của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi) Biện pháp này
có thể tốt hơn vì nó cho phép tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
đợc quyền linh hoạt trong xử lý đổ vỡ ngân hàng
Trong nhiều hệ thống Bảo hiểm tiền gửi, sự cân nhắcduy nhất hoặc tập trung lớn nhất là lựa chọn biện pháp có chiphí thấp Một vài biện pháp giải quyết đổ vỡ ngân hàngtheo xu hớng có chi phí thấp hơn các biện pháp khác vìchúng theo hớng bảo tồn giá trị tài sản của ngân hàng đổ
vỡ Thay vì đa những tài sản đó vào diện quản lý đặc biệt
và sau đó đợc bán với giá “bán tháo” sẽ làm mất đi một phần
đáng kể giá trị của chúng thì chúng đợc chuyển nhợng cho
Trang 26hoặc sáp nhập, nh vậy sẽ bảo tồn đợc phần lớn giá trị củachúng.Tuy nhiên trong một vài trờng hợp việc giảm thiểu chiphí không phải là nhân tố quan trọng nhất, duy nhất đợcxem xét khi xử lý đổ vỡ ngân hàng Đặc biệt nếu việc giảmthiểu chi phí có thể mâu thuẫn với mục tiêu của hệ thốngBảo hiểm tiền gửi là bảo đảm sự ổn định của hệ thốngngân hàng hoặc mâu thuẫn với mục tiêu bảo vệ quyền lợicho những ngời gửi tiền và ngời vay khỏi sự đổ vỡ một cáchtốt hơn Kết quả là, do chức năng của hệ thống ngân hàng làphục vụ công chúng nên cho phép tổ chức Bảo hiểm tiền gửitính tới sự tiện lợi và quyền lợi hợp pháp cho công chúng trongkhi giải quyết
Để tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể chủ động khi một
tổ chức tham gia có dấu hiệu không lành mạnh thì ngoàiquá trình kiểm soát việc gia nhập của các ngân hàng và tổchức trung gian thanh toán vào hệ thống Bảo hiểm tiền gửi,
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi cần đợc giao quyền chấm dứt bảohiểm tiền gửi đối với một tổ chức tham gia có những hoạt
động vi phạm, những vi phạm gây tổn thất lớn cho tổ chứcBảo hiểm tiền gửi Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể chấmdứt bảo hiểm tiền gửi nếu một tổ chức tham gia tiếp tụcthực hiện các hoạt động ngân hàng không đảm bảo an toàn
và lành mạnh sau khi nhận đợc cảnh báo của tổ chức Bảohiểm tiền gửi, thanh tra ngân hàng trung ơng yêu cầu chấmdứt những hoạt động này, hoặc vi phạm nhiều lần luật
Trang 27Ngân hàng, luật Bảo hiểm tiền gửi và các quy chế phòngngừa rủi ro Quá trình xử lý đổ vỡ hoạt động ngân hàng th-ờng tập trung vào một số các biện pháp chủ yếu sau:
+ Tiền gửi đợc bảo hiểm sẽ đợc thanh toán hết: Khingân hàng đổ vỡ, bị đóng cửa Bảo hiểm tiền gửi sẽ hoàntrả cho tất cả ngời gửi tiền đợc bảo hiểm đến một hạn mứcnhất định Những ngời gửi tiền không đợc bảo hiểm và cácchủ nợ khác không nhận đợc bất kỳ một khoản thanh toán nào
từ tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi saukhi chi trả đợc quyền đòi bồi thờng khi thanh lý ngân hàng
+ Chuyển nhợng các giao dịch bán và giao dịch đảmnhiệm: Tơng tự nh trên nhng có một số khác biệt Với tiền gửi
đợc bảo hiểm, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ dàn xếp việcchuyển tất cả các khoản tiền gửi đợc bảo hiểm của tổ chứctham gia bị đóng cửa sang một tổ chức khác hoạt động lànhmạnh đợc đảm nhiệm chịu trách nhiệm thanh toán cáckhoản tiền gửi đợc bảo hiểm Tổ chức chịu trách nhiệm sẽnhận đợc khoản thanh toán tiền mặt theo thống nhất của tổchức Bảo hiểm tiền gửi từ quỹ bảo hiểm
+ Hợp nhất với tổ chức tham gia lớn mạnh khác có sự hỗtrợ tài chính: Trong quá trình dàn xếp, tổ chức Bảo hiểmtiền gửi và tổ chức nhận sáp nhập sẽ đàm phán các điềukiện của giao dịch này, bao gồm cả giá trị, hình thức thanhtoán, điều kiện liên quan khác mà tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
Trang 28với một tổ chức bị đổ vỡ Vấn đề chính là có thể không cómột tổ chức nào hoàn toàn vững mạnh, đủ điều kiện đểthực hiện đảm nhiệm Thậm chí nếu có nhng có thể họ sẽkhông sẵn sàng thực hiện đảm nhiệm, ít nhất là với các
điều kiện có thể chấp nhận đối với tổ chức Bảo hiểm tiềngửi Hơn nữa tổ chức đảm nhiệm sẽ muốn đánh giá thậntrọng tổ chức bị đổ vỡ
+ Biện pháp này hay đợc sử dụng nhất khi ngời gửi tiềncần đợc bảo vệ nhằm đảm bảo lòng tin của công chúng.Trong khi biện pháp thứ hai và thứ ba vừa không khả thi lạivừa không đợc phép thực hiện theo chính sách Bảo hiểmtiền gửi cũng nh các quy định có liên quan Trợ giúp tài chính
là biện pháp mà tổ chức Bảo hiểm tiền gửi cung cấp có thểthực hiện dới nhiều hình thức, tùy tình hình, mức độ cụ thể
và tùy theo quy mô hoạt động của từng tổ chức
Nh vậy, Bảo hiểm tiền gửi là một chính sách, biệnpháp hữu hiệu để Nhà nớc ổn định lòng tin của ngời dân,tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức tín dụng thu hútthêm nguồn vốn nhàn rỗi trong dân Hơn thế nữa, đây làmột trong những chính sách để ổn định và phát triển kinh
tế đất nớc nhất là trong thời kỳ hội nhập, nền kinh tế phải
đối mặt với nhiều rủi ro thách thức nh hiện nay
Chơng 2:
Trang 29Thực trạng hoạt động Bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam và một số nớc trên thế giới, bài học
kinh nghiệm cho Việt nam
1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt nam
Vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trớc, cùng với
sự chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung bao cấp sang cơ chế thị trờng, sự hình thành pháttriển của thị trờng tài chính tiền tệ, đặc biệt là hệ thốngngân hàng cũng đợc chuyển đổi từ một cấp sang hai cấp.Bên cạnh những thay đổi nhanh chóng về cơ chế quản lý vàvận hành nền kinh tế, những quy luật vốn có của nền kinh
tế thị trờng cũng phát huy tác dụng cả hai mặt tích cực vàtiêu cực Đặc biệt trong lĩnh vực về ngân hàng thể hiện rõnhất, đó là cạnh tranh tụt hậu và một số tổ chức đi đến phásản, những tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém bị thị tr-ờng đào thải Nhất là những năm 1988-1991, lạm phát giatăng, tình trạng hoảng loạn hoạt động ngân hàng đã xảy ratrên địa bàn cả nớc, hàng loạt các quỹ tín dụng sụp đổ:
8000 quỹ tín dụng và hợp tác xã tín dụng bị đổ vỡ theo
Trang 30thống kê của Ngân hàng Nhà nớc Trong bối cảnh này, nhữngyêu cầu mới đặt ra là làm thế nào để bảo vệ ngời gửi tiền,
hệ thống ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng trớc mặttrái của quy luật thị trờng Vấn đề ở đây không chỉ là vấn
đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị xã hội sâu sắc, làmkhủng hoảng lòng tin của ngời gửi tiền, của công chúng vàcác chính sách của nhà nớc, trong đó có chính sách ngânhàng Nhận thức rõ vấn đề này, nhà nớc đã thông qua hệthống các Ngân hàng thơng mại Quốc doanh đứng ra nhậntrả thay các khoản tiền gửi của ngời gửi tiền tại một số tổchức bị đổ vỡ này Khoản tổn thất này của các Ngân hàngthơng mại Quốc doanh đợc nhà nớc khoanh nợ, xóa nợ… hoặcnhà nớc dùng biện pháp khác để can thiệp nhằm giảm bớt hậuquả của tình trạng đổ vỡ quỹ tín dụng đối với ngân hàng
đợc giao đứng ra nhận trả thay Nh vậy xét trên phạm vi toàn
bộ nền kinh tế nhà nớc đứng ra chịu toàn bộ tổn thất này,nhng bù lại đã giữ đợc lòng tin của ngời gửi tiền và côngchúng Tuy nhiên những biện pháp bảo vệ này không đợccông khai và đã nảy sinh các vấn đề pháp lý giải quyết cácvấn đề xung đột về quyền lợi hợp pháp của công dân, của
tổ chức trong các quan hệ pháp luật Để giải quyết căn bảnnhững tồn tại vớng mắc đó, đồng thời chia sẻ rủi ro, giảmthiểu hậu quả đổ vỡ ngân hàng, nhà nớc ban hành cơ chếmới về “bảo vệ tiền gửi” Đây chính là nền tảng để hình
Trang 31thành chính sách Bảo hiểm tiền gửi của nhà nớc.
Chính sách Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam là sách lợc và
kế hoạch cụ thể của nhà nớc về Bảo hiểm tiền gửi, để điềuchỉnh các hoạt động Bảo hiểm tiền gửi theo quy định củapháp luật Nó đợc ban hành dựa vào đặc thù của thị trờngtiền tệ và đờng lối chính sách chung của Việt Nam, nhằmbảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đối tợng tham gia hoạt
động bảo hiểm tiền gửi, góp phần giữ ổn định kinh tếchính trị trật tự xã hội Bên cạnh đó Chính phủ cũng xem xét
để xây dựng một mô hình tổ chức Bảo hiểm tiền gửi phùhợp với tình hình của Việt Nam
Trang 322 Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam
*Những văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi
- Chính phủ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam(1999), Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 củaChính phủ về Bảo hiểm tiền gửi
- Chính phủ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam(2005), Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của
về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghi định số89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về Bảo hiểmtiền gửi
- Chính phủ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam(1999), Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999của Thủ tớng về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt nam
Trên đây là 3 văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnhhoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam Theo 3 văn bản trênthì chính sách Bảo hiểm tiền gửi Việt nam có một số đặc
Trang 33đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp t nhân, và công ty hợp danh.
- Bảo vệ tiền gửi là đồng Việt Nam, trừ tiền gửi của cổ
đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10%vốn cổ phần hay thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểmsoát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phógiám đốc) của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó Đây
là điểm mới của Nghị định 109/2005/NĐ-CP so với quy địnhtại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP Việc không bảo hiểm tiềngửi cho những ngời trực tiếp tham gia vào việc quản trị,
điều hành của tổ chức tín dụng mà mình gửi tiền là đúngmục tiêu của chính sách bảo hiểm tiền gửi Những đối tợngnày nắm giữ và quản lý hoạt động của tổ chức tham giabảo hiểm tiền gửi và vì vậy có thể lạm dụng chính sách bảohiểm tiền gửi, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vàonhững quyết sách dẫn đến sự phá sản của ngân hàng.Chính phủ đã bổ sung quy định trên để đề phòng rủi ro
đạo đức của tổ chức nhận tiền gửi Tuy nhiên để phòngchống rủi ro này có hiệu quả cần thiết phải có sự kiểm tra về
an toàn hoạt động ngân hàng của Bảo hiểm tiền gửi và củacác cơ quan chức năng
- Điều tiết chính sách phí đồng hạng bằng hình thức
đóng góp trớc, tích tụ tài chính từ số đông
- Bảo hiểm tiền gửi chi trả bảo hiểm có giới hạn nhằmphân tán rủi ro Tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP quy định số
Trang 34đợc trả cho tất cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) củamột cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tối
đa là 30 triệu đồng Việt nam” Tại nghị định số109/2005/NĐ-CP quy định lại: “Số tiền bảo hiểm đợc trả chotất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một ngờigửi tiền (một cá nhân hoặc ngời đại diện theo pháp luật) tạimột tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thuộc đối tợng quy
định tại Điều 3 Nghị định này, tối đa là 50 triệu đồng”
- Giám sát và điều tiết việc cung cấp phối hợp chia sẻthông tin
- Hỗ trợ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy
định của pháp luật Tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 89quy định Bảo hiểm tiền gửi Việt nam có thể hỗ trợ tài chínhtrong trờng hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguycơ mất khả năng chi trả nhng cha đến mức đặt trong tìnhtrạng kiểm soát đặc biệt Nhng tại Nghị định 109 chỉ quy
định tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ tài chính cho
tổ chức tham gia dới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại
nợ và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật
Nh vậy từ khi có Nghị định 109, tổ chức nhận tiền gửi đợctiếp cận một cách chủ động, thuận lợi và mở rộng hơn đối vớinguồn hỗ trợ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt nam vìviệc xác định “nguy cơ mất khả năng chi trả” là rất phức tạp
và hầu nh không thể thực hiện đợc
- Xử lý đổ vỡ ngân hàng khi tổ chức bị buộc giải thể
Trang 35hay phá sản Các Nghị định cũng quy định: trong mọi trờnghợp giải thể hay phá sản, tổ chức nhận tiền gửi đều phải cónghĩa vụ hoàn trả Bảo hiểm tiền gửi Việt nam số tiền hỗ trợtài chính và số tiền bảo hiểm đã chi trả Nghị định 109 đãquy định sẽ u tiên hoàn trả khoản nợ tài chính của Bảo hiểmtiền gửi việt nam trớc tất cả các khoản nợ khác của tổ chứcnhận tiền gửi là phù hợp với quy định tại điều 96 Luật các tổchức tín dụng Việc xác định Bảo hiểm tiền gửi Việt nam trởthành chủ nợ của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bịgiải thể, phá sản với số tiền bảo hiểm đã chi trả là quy địnhlàm rõ hơn vị thế của chủ nợ của Bảo hiểm tiền gửi Việtnam.
- Hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, Việt nam đãchính thức là thành viên của tổ chức thơng mại thế giới WTO,vì thế chính sách bảo hiểm tiền gửi cũng phải phát triểncho phù hợp với xu thế của thế giới Đây cũng là một nội dungquan trọng và cũng khá mới mẻ của chính sách
- Điều chỉnh mọi hoạt động bảo hiểm tiền gửi trên lãnhthổ Việt nam: Ngoài các nội dung trên, Bảo hiểm tiền gửiViệt nam còn thực hiện giám sát, kiểm tra, phạt… đối với hoạt
động của các công ty tham gia Bảo hiểm tiền gửi Nghị
định 89 quy định: Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi viphạm thời hạn nộp phí bảo hiểm quy định thì ngoài việcnộp đủ số phí còn thiếu, phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm
Trang 36bằng 0,1% số tiền chậm nộp Điều 9: Nếu sau thời hạn nộpphí bảo hiểm tiền gửi 30 ngày, tổ chức tham gia bảo hiểmcha nộp phí kể cả tiền phạt, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cóquyền: (i) yêu cầu Ngân hàng Nhà nớc trích tài khoản tiềngửi của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nớc để chuyểnnộp phí bảo hiểm tiền gửi và tiền phạt nếu là các tổ chứctín dụng (ii) yêu cầu các tổ chức tín dụng, kho bạc nơi tổchức tham gia bảo hiểm tiền gửi mở tài khoản, trích tài khoản
để chuyển nộp phí bảo hiểm và tiền phạt nếu là tổ chức khácđược phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng Điều 10:(i) Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp phí bảohiểm quá thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải nộp, tổ chức bảohiểm quyết định chấm dứt bảo hiểm và thông báo trên phươngtiện thông tin đại chúng; đồng thời yêu cầu cơ quan quản lýnhà nước có thẩm quyền phải ra ngay quyết định ngừng huyđộng tiền gửi của những của tổ chức tham gia bảo hiểm tiềngửi đó (ii) Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm bảo hiểmđối với số tiền gửi đó được bảo hiểm của tổ chức tham gia bảohiểm tiền gửi trong vòng 06 tháng kể từ ngày có quyết địnhchấm dứt bảo hiểm tiền gửi
*Chức năng cơ bản của Bảo hiểm tiền gửi Việt nam:
Chấp thuận bảo hiểm tiền gửi, cấp và thu hồi giấy chứng nhậnbảo hiểm tiền gửi, theo dõi việc tính phí và nộp phí bảohiểm từ tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi, giám sát rủi ro
Trang 37trong hoạt động bảo hiểm tiền gửi, chịu trách nhiệm chi trảtiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, tham gia giám sát
và thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bị phá sản, ban hànhcác quy định mà chính sách Bảo hiểm tiền gửi cho phép
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam là loại hình tổchức tài chính Nhà nớc, hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam đợc lựa chọn mộtcách hài hòa giữa các thông lệ, chuẩn mực quốc tế với đặcthù nền kinh tế Việt nam chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrờng định hớng Xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nớc
*Nguồn tài chính chủ yếu của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt nam
- Vốn do Nhà nớc cấp (vốn điều lệ)
- Tiền phí bảo hiểm do các tổ chức đóng góp
- Các khoản thu nhập từ đầu t phát triển vốn nhàn rỗi
- Các khoản tài trợ, hỗ trợ của Chính phủ
- Các khoản vay và tài trợ, hỗ trợ từ các cá nhân hoặc tổchức nớc ngoài
- Các khoản thu nhập bất thờng và khoản hỗ trợ khác
*Một số các văn bản pháp luật có liên quan
- Chính phủ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam(2000), Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/06/2000 củaThủ tớng Chính phủ về việc phê duyệt điều lệ về tổ chức
Trang 38và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt nam
- Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiềngửi Việt nam do Chính phủ phê chuẩn
- Chính phủ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam(2003), Nghị định số 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 vềviệc phát hành trái phiếu cổ phiếu đợc Chính phủ bảo lãnh
và trái phiếu chính quyền địa phơng
- Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày12/12/1997
Nh vậy, các văn bản điều chỉnh trực tiếp là khungpháp lý cao nhất đảm bảo cho hoạt động của tổ chức Bảohiểm tiền gửi ở Việt nam và quy trình vận hành các công cụcủa chính sách Bảo hiểm tiền gửi đợc trôi chảy Tuy nhiên,các văn bản pháp lý này vẫn chỉ mới là các Nghị định, trongkhi các lĩnh vực liên quan nh ngân hàng, tổ chức tín dụng,ngời gửi tiền,…lại đợc điều chỉnh bởi các Luật Nh vậy sẽ tạo
ra sự mất cân bằng về địa vị pháp lý của chính sách Bảohiểm tiền gửi, gây khó khăn trong việc giải quyết các mâuthuẫn, vớng mắc phát sinh trong quá trình hoạt động
Hơn nữa, giữa các văn bản pháp lý còn thiếu tính đồng
bộ Ví dụ: tính không rõ ràng của pháp luật về trật tự u tiênthanh toán khi tổ chức tín dụng tham gia bị giải thể Theo
nh quy định của Nghị định 109/2005/NĐ-CP và Thông t số03/2006/TT-NHNN: “Khoản hỗ trợ tài chính của Bảo hiểm tiền
Trang 39gửi đợc u tiên trả trớc tất cả khoản nợ khác của tổ chức tíndụng tham gia bảo hiểm tiền gửi” Nhng tại điều 36 Luật phásản 2004 quy định “ Nếu doanh nghiệp đã đợc Nhà nớc ápdụng biện pháp đặc biệt về tài sản để khôi phục hoạt
động kinh doanh nhng vẫn không khôi phục đợc mà phải ápdụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã
đợc áp dụng biện pháp cho Nhà nớc trớc khi thực hiện việcphân chia tài sản” Điều 96 Luật các tổ chức tín dụng năm
1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật các tổchức tín dụng năm 2004 quy định: “Trong trờng hợp cấp bách
để đảm bảo khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng, tổchức tín dụng có thể đợc Ngân hàng Nhà nớc hoặc các tổchức tín dụng khác cho vay đặc biệt, khoản vay đặc biệtnày sẽ đợc u tiên hoàn trả trớc tất cả các khoản nợ khác của tổchức tín dụng” Nh vậy nếu một tổ chức tín dụng có tất cảcác khoản nợ trên thì chúng ta sẽ không biết khoản nào sẽ đợccoi là khoản u tiên trớc nhất
3.Thực trạng tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt nam
3.1.Điều kiện thành lập, địa vị pháp lý và những thành tựu đạt đợc
Trang 40thách thức của cơ chế thị trờng, lạm phát ở mức cao, vì thếnăng lực tài chính của tổ chức còn yếu kém, các tổ chức tíndụng sẵn sàng tham gia và chấp nhận mức phí để giữ lòngtin của ngời gửi tiền, nhng hoạt động của hệ thống này lạitiềm ẩn nhiều rủi ro, quy mô, năng lực tài chính còn nhỏ bé,
dễ đổ vỡ do những biến động của thị trờng Vì vậy cái giáphải trả về những tổn thất của nhà bảo hiểm và mức phíbảo hiểm phải đóng góp của tổ chức đợc bảo hiểm cha đợcxem xét một cách toàn diện Vì thế, ngày càng nảy sinhnhiều mâu thuẫn, vớng mắc trong việc bảo vệ tiền gửi Do
ra đời trong hoàn cảnh khó khăn nh thế, Bảo hiểm tiền gửiViệt nam phải cố gắng nhiều để đảm bảo đợc chức năng,nhiệm vụ của mình
sẽ nảy sinh xung đột về quyền lợi mà vấn đề này lại có liênquan đến sự điều chỉnh của hầu hết các bộ luật hiến pháp.Vì vậy dẫn đến hạn chế tính hiệu quả, nảy sinh độ nhờncủa chính sách mà biểu hiện rõ nhất là việc giải quyết mốiquan hệ về lợi ích của các bên liên quan trong hoạt động bảo