Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận về công tác quản lý tài chính công đoàn của liên đoàn
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
Quản lý nhà nước hiện nay được hiểu qua nhiều quan điểm khác nhau, nhưng một định nghĩa chung nhất từ các nhà điều khiển học là: “quản lý là sự tác động định hướng lên bất kỳ một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những qui luật nhất định” (Nguyễn Văn Quang, 2016).
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể lên đối tượng nhằm chỉ huy và hướng dẫn các quá trình xã hội, hướng đến mục tiêu chung Quản lý bao gồm các khâu như lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra và giám sát Hoạt động này phát sinh từ sự phân công và hợp tác lao động, cần thiết cho nỗ lực tập thể thực hiện mục tiêu chung Quản lý hiện diện ở mọi tổ chức, từ nhỏ đến lớn, và từ đơn giản đến phức tạp Khi trình độ xã hội hóa tăng cao, yêu cầu và vai trò của quản lý cũng gia tăng.
Chủ thể quản lý xã hội có thể là con người hoặc tổ chức, trong khi đối tượng của quản lý xã hội là các quan hệ xã hội mà chủ thể tác động tới Mục tiêu chính của quản lý xã hội là quản lý hành vi của con người, nhằm duy trì trật tự xã hội Để đạt được điều này, chủ thể quản lý cần đảm bảo rằng hành vi và không hành vi của đối tượng bị quản lý thực hiện theo ý chí của mình Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý được thể hiện qua sự tương tác giữa hai bên.
“quyền uy - phục tùng” (Nguyễn Văn Quang, 2016)
Tài chính công đoàn là một phần quan trọng trong hệ thống tài chính chung, đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo quyền và trách nhiệm của công đoàn, cũng như duy trì hoạt động của hệ thống công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn.
Tài chính công đoàn bao gồm các nguồn thu từ đoàn phí mà các đoàn viên công đoàn đóng góp, theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, 2014).
Kinh phí công đoàn được đóng góp bởi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp với tỷ lệ 2% trên quỹ tiền lương dùng làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động Quỹ tiền lương này bao gồm tổng mức tiền lương của những người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH theo quy định của pháp luật.
Ngân sách Nhà nước cấp hỗ trợ;
Nguồn thu từ hoạt động văn hóa, thể thao và kinh tế của công đoàn bao gồm các khoản từ đề án, dự án do Nhà nước giao, cũng như viện trợ và tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Quản lý tài chính hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng bản chất của nó trong mọi tổ chức vẫn giống nhau Sự khác biệt chủ yếu đến từ đặc thù của từng ngành, tạo nên những nét riêng trong quản lý tài chính.
Quản lý tài chính là quá trình có chủ đích nhằm quản lý quỹ tiền của tổ chức để đạt được các mục tiêu đề ra Hoạt động này bao gồm hai khía cạnh chính: cách thức tạo ra nguồn tiền và cách phân bổ số tiền đó cho các khoản chi tiêu hợp lý.
Quản lý tài chính là quá trình sử dụng thông tin chính xác về tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh và điểm yếu, từ đó lập kế hoạch hành động và sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định (TSCĐ) cũng như nhu cầu nhân công trong tương lai, nhằm đạt được mục tiêu tăng giá trị cho đơn vị (Nguyễn Hưng, 2012).
Quản lý tài chính là quá trình quản lý các nguồn tài chính và quỹ tiền tệ, bao gồm việc phân phối, tạo lập và sử dụng các quỹ một cách hợp lý và hiệu quả Mục tiêu của quản lý tài chính là tác động tích cực đến các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính trong xã hội (Nguyễn Hưng, 2012).
Công đoàn Việt Nam, theo Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (2014), là tổ chức chính trị - xã hội lớn mạnh của giai cấp công nhân, cán bộ, công chức, viên chức và những người lao động khác Tổ chức này được thành lập tự nguyện với mục tiêu tập hợp và đoàn kết lực lượng, góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh.
Theo Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (2014), công đoàn Việt Nam có chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, tham gia quản lý Nhà nước và kinh tế - xã hội, cũng như thực hiện thanh tra, kiểm tra và giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp Ngoài ra, công đoàn còn tuyên truyền và vận động người lao động nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, đồng thời xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Công đoàn Việt Nam, theo Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (2014), mang tính chất giai cấp của công nhân và tính quần chúng Là thành viên của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, công đoàn có mối quan hệ hợp tác với Nhà nước và phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội khác Hoạt động của công đoàn diễn ra trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (2014), công đoàn Việt Nam được thành lập dựa trên nguyên tắc tự nguyện và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Tổ chức và hoạt động của công đoàn phải tuân thủ Điều lệ Công đoàn Việt Nam, đồng thời phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Theo Tổng liên đoàn lao động Việt Nam nêu rõ cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp:
Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn
Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý tài chính công đoàn của liên đoàn
2.2.1 Kinh nghiệm về công tác quản lý tài chính ở một số liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố
2.2.1.1 Kinh nghiệm về công tác quản lý tài chính tại Liên đoàn Lao động tỉnh Sơn La
LĐLĐ tỉnh Sơn La đã nỗ lực cải thiện chất lượng quản lý tài chính, với sự chú trọng ngày càng tăng vào công tác này và kỷ luật tài chính được thắt chặt Để đạt được kết quả tích cực, LĐLĐ tỉnh Sơn La đã áp dụng nhiều biện pháp đồng thời.
Đơn vị đã tuân thủ đúng các quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Tổng LĐLĐ Việt Nam trong quản lý tài chính Họ đã nỗ lực tận dụng mọi nguồn lực tài chính hiện có để phát triển hoạt động của đơn vị, góp phần vào sự lớn mạnh chung của tổ chức Công đoàn.
LĐLĐ tỉnh Sơn La đã chủ động xây dựng quy trình và quy chế quản lý tài chính nội bộ, bao gồm quy chế chi tiêu và quy chế thi đua khen thưởng, mang lại nhiều tác dụng thiết thực trong công tác quản lý tài chính.
LĐLĐ tỉnh Sơn La đã nỗ lực tăng cường khai thác các nguồn thu ngân sách Công đoàn qua nhiều hình thức, dẫn đến sự gia tăng ổn định qua các năm Công tác quản lý và theo dõi các nguồn thu được thực hiện đầy đủ, chi tiết, đảm bảo không có sự thất thoát nào trong khoản thu.
Các khoản chi được quản lý chi tiết theo từng mục và nguồn, với sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tỷ trọng chi tiêu theo quy định Quy trình kiểm soát nội bộ đã được thiết lập, và hóa đơn chứng từ được tập hợp, lưu trữ đầy đủ, đảm bảo tính pháp lý.
Quy trình quản lý tài chính của LĐLĐ tỉnh Sơn La được thực hiện đúng trình tự và có căn cứ rõ ràng, đảm bảo công tác lập dự toán và quyết toán tuân thủ quy định của Nhà nước và Tổng LĐLĐ Việt Nam Điều này giúp cân đối thu chi hàng năm, ngăn chặn tình trạng nguồn thu ngân sách không đủ để chi trả các khoản của đơn vị.
Công tác kiểm tra kế hoạch tài chính được thực hiện thường xuyên và đột xuất, từ cấp đồng cấp đến cấp trên kiểm tra cấp dưới, đã giúp nâng cao tính minh bạch và lành mạnh tài chính của đơn vị (Nguyễn Văn Minh, 2015).
2.2.1.2 Kinh nghiệm về công tác quản lý tài chính tại Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định
Công tác quản lý tài chính trong hệ thống Công đoàn Việt Nam phải tuân thủ các quy chế của Nhà nước và Tổng Liên đoàn Tuy nhiên, LĐLĐ tỉnh Bình Định có những đặc điểm và kinh nghiệm riêng trong quản lý tài chính công đoàn, cần được nhân rộng.
Tại LĐLĐ tỉnh Bình Định, công tác lập và duyệt dự toán được thực hiện từ quý 4 năm trước, với các công đoàn trực thuộc gửi dự toán lên công đoàn cấp trên vào tháng 11 Việc duyệt và giao dự toán diễn ra vào tháng 12 Tuy nhiên, việc lập và duyệt dự toán sớm giúp đơn vị chủ động trong việc tổ chức thực hiện, nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả ước thực hiện của năm trước và không đủ cơ sở để dự báo những thay đổi tác động đến kế hoạch năm dự toán.
Tổ chức thu kinh phí công đoàn tại LĐLĐ tỉnh Bình Định chưa phân cấp toàn diện cho Công đoàn Viên chức tỉnh, dẫn đến việc các CĐCS trực thuộc vẫn chuyển 2% kinh phí CĐ trực tiếp về LĐLĐ tỉnh Phương pháp này giúp LĐLĐ tỉnh có nguồn thu ổn định và kịp thời, nhờ vào việc các đơn vị thuộc CĐ Viên chức tỉnh là đơn vị Hành chính sự nghiệp, đảm bảo việc trích chuyển kinh phí CĐ được thực hiện nghiêm túc Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra gánh nặng trong việc theo dõi quản lý thu tại LĐLĐ tỉnh và không khuyến khích sự chủ động cho CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở.
Khi xem xét dự toán cho các công đoàn cấp dưới, LĐLĐ tỉnh thường cho phép các công đoàn tự quản lý, nhưng lại kiểm soát chặt chẽ trong quá trình quyết toán, sử dụng số liệu quyết toán làm căn cứ cho việc thu nộp tài chính.
Kinh nghiệm quản lý tài chính công đoàn tại LĐLĐ tỉnh Bình Định đã mang lại kết quả tích cực, với thu tài chính công đoàn hàng năm luôn vượt kế hoạch Mỗi năm, số thu đều cao hơn năm trước, đảm bảo đủ kinh phí cho các hoạt động công đoàn trên toàn tỉnh.
2.2.1.3 Kinh nghiệm của Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh
Vào tháng 10 năm trước, LĐLĐ tỉnh đã chỉ đạo tất cả các công đoàn cơ sở thực hiện tốt công tác báo cáo dự toán lên công đoàn cấp trên Đối với các công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp nhỏ lẻ, LĐLĐ tỉnh đã mời cán bộ quản lý tài chính đến trực tiếp hướng dẫn và xây dựng dự toán.
Trước năm 2017, việc thu kinh phí công đoàn từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước gặp nhiều khó khăn do một số doanh nghiệp không thực hiện trích chuyển đầy đủ 2% kinh phí công đoàn theo Thông tư liên tịch 119/2004/TTLT/BTC-TLĐLĐVN Một số doanh nghiệp có trích kinh phí công đoàn trong bảng cân đối tài khoản nhưng không chuyển lên công đoàn cấp trên theo quy định, mà giữ lại để tự tổ chức chi tiêu tại đơn vị.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc quản lý tài chính công đoàn, đặc biệt là chống thất thu kinh phí, năm 2017, LĐLĐ tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai kế hoạch thu kinh phí công đoàn từ các doanh nghiệp, chú trọng vào doanh nghiệp ngoài nhà nước UBND tỉnh được đề nghị đối chiếu quỹ lương và chỉ tiêu thu kinh phí công đoàn tại các cơ quan hành chính, nhằm đảm bảo nguồn thu cho hoạt động công đoàn LĐLĐ tỉnh đã tăng cường hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc việc trích nộp kinh phí công đoàn và thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra tình hình thu 2% kinh phí công đoàn tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước Qua kiểm tra, nhiều doanh nghiệp đã có chuyển biến tích cực trong việc trích nộp kinh phí, hỗ trợ cho các hoạt động phong trào của công đoàn cơ sở Cuối năm tài chính, các công đoàn cơ sở đã chấp hành tốt công tác quyết toán, đảm bảo thời gian cho việc tổng hợp quyết toán tại LĐLĐ tỉnh Bắc Ninh.
2.2.2 Các bài học kinh nghiệm với Liên đoàn Lao động tỉnh Ninh Bình
Từ những kinh nghiệm về quản lý ngân sách công đoàn của một số địa phương, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, quán triệt, triển khai kịp thời các chủ trương của Tổng LĐLĐ Việt Nam về quản lý ngân sách công đoàn
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, có diện tích 139.173,36 ha và dân số đạt 926.995 người vào năm 2013, với mật độ dân số là 673 người/km² Tỉnh có ranh giới hành chính rõ ràng.
Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam
Phía Đông và Đông bắc giáp với tỉnh Nam Định
Phía Đông Nam giáp biển Đông
Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hoá
Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Hoà Bình
Tỉnh Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, nằm trong vùng ảnh hưởng của thủ đô và tam giác tăng trưởng Bắc Bộ, với trục giao lưu Bắc - Nam Vị trí địa lý thuận lợi của Ninh Bình đã mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.
Ninh Bình có thành phố Ninh Bình là trung tâm, 1 thị xã và 6 huyện với
Ninh Bình có 145 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 122 xã, 16 phường và 7 thị trấn Với quy mô hành chính nhỏ gọn và địa hình đa dạng, Ninh Bình có đủ điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng thế mạnh của từng tiểu vùng (UBND tỉnh Ninh Bình, 2020).
3.1.1.2 Địa hình Địa hình Ninh Bình có 3 vùng rõ rệt:
Vùng đồng bằng Ninh Bình bao gồm thành phố Ninh Bình, huyện Yên Khánh và huyện Kim Sơn Khu vực đồi núi và bán sơn địa nằm ở phía Tây Nam huyện Nho Quan, thị xã Tam Điệp, phía tây huyện Gia Viễn, phía Tây Nam huyện Hoa Lư và Tây Nam huyện Yên Mô Vùng ven biển có 4 xã thuộc huyện Kim Sơn: Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông và Kim Tân (UBND tỉnh Ninh Bình, 2020).
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.386,77 km2 với các loại đất phù sa, đất Feralitic
Tài nguyên nước: Bao gồm tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm
Ninh Bình là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất trong khu vực đồng bằng sông Hồng, với khoảng 19.033 ha, chiếm 23,5% tổng diện tích rừng của vùng và 13,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Bờ biển Ninh Bình dài hơn 15km và có hàng nghìn ha bãi bồi, mang lại tiềm năng lớn cho nuôi trồng, khai thác và đánh bắt hải sản, với sản lượng đạt từ 2000 đến 2500 tấn mỗi năm (UBND tỉnh Ninh Bình, 2020).
Tài nguyên đá vôi: Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của
Ninh Bình, là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng và một số hóa chất khác
Tài nguyên đất sét: Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên
Sơn, Yên Bình (thị xã Tam Điệp), huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu ngành đúc
Nước khoáng Ninh Bình, với chất lượng tốt, chủ yếu tập trung tại Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn), có trữ lượng lớn, có thể được khai thác phục vụ cho sinh hoạt và du lịch.
Tài nguyên than bùn tại khu vực này có trữ lượng nhỏ, khoảng trên 2 triệu tấn, chủ yếu phân bố ở các xã Gia Sơn, Sơn Hà (huyện Nho Quan) và Quang Sơn (thị xã Tam Điệp) Than bùn có thể được sử dụng để sản xuất phân vi sinh, góp phần phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số, lao động và việc làm
Tỉnh Ninh Bình có quy mô dân số gần 1 triệu người với mật độ dân số khoảng 648 người/km² Nguồn lao động chiếm 57,1% tổng dân số, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đô thị chỉ ở mức 3,7% Chất lượng nguồn nhân lực tại đây được đánh giá là khá, tương đương với các tỉnh trong vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước (UBND tỉnh Ninh Bình, 2020).
Theo tài liệu bản đồ đất, tỷ lệ 1/100.000, đất đai của Ninh Bình được chia thành 8 nhóm với 19 loại đất, cụ thể như sau:
Bảng 3.1 Diện tích các loại đất tỉnh Ninh Bình năm 2020
1 Đất mặn sú, vẹt, đước 2780 2,00
5 Đất phèn tiềm tàng nông 192 0,10
III Nhóm đất phù sa 75006 53,90
6 Đất phù sa được bồi trung tính, ít chua 456 0,30
7 Đất phù sa không được bồi trung tính, ít chua 23548 17,00
9 Đất phù sa có tầng loang lổ 7978 5,70
10 Đất phù sa úng nước 8540 6,10
IV Đất lầy và than bùn 192 0,10
12 Đất xám bạc màu trên phù sa cổ 2884 2,10
13 Đất đen trên SP bồi tụ của cacbonat 1695 1,20
VII Nhóm đất đỏ vàng 24621 17,70
14 Đất đỏ nâu trên đá vôi 2610 1,90
15 Đất nâu vàng trên đá vôi 11207 8,10
16 Đất đỏ vàng trên đá sét 8670 6,30
17 Đất nâu vàng trên phù sa cổ 628 0,40
18 Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước 1506 1,10
VIII Nhóm đất thung lũng 161 0,10
19 Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ 161 0,10
Nguồn: UBND tỉnh Ninh Bình (2020)
Hệ thống giao thông Ninh Bình bao gồm các tuyến quốc lộ như Quốc lộ 1, Quốc lộ 10, Quốc lộ 12B và Quốc lộ 45, cùng với 19 tuyến đường nội tỉnh và hệ thống đường nội thị của hai thành phố Ninh Bình và Tam Điệp Đường nội huyện phân bố trên 8 huyện, thị xã và thành phố, trong khi hệ thống đường xã, liên xã dài 911,5 km, phủ kín 146 xã, phường, đảm bảo xe có thể đến trung tâm 100% số xã, phường Hầu hết các đường xã có thể đi lại được quanh năm, ngoại trừ 19 xã thuộc vùng xả lũ của hai huyện Nho Quan và Gia Viễn, thường bị ngập vào mùa mưa Với mạng lưới đường bộ phát triển và phân bố hợp lý, Ninh Bình đảm bảo kết nối hiệu quả giữa các huyện, thị và các vùng kinh tế trong tỉnh.
3.1.3 Khái quát về Liên đoàn Lao động tỉnh Ninh Bình
3.1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tổ chức Công đoàn đầu tiên ở Việt Nam ra đời từ năm 1919 đến 1925 tại xưởng Ba Son - Sài Gòn, do Tôn Đức Thắng sáng lập Để đáp ứng nhu cầu vận động công nhân và củng cố sức mạnh cho tổ chức Công hội đỏ, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đã quyết định triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929, tại số 15 phố Hàng Nón.
Hà Nội Đại hội đã bầu Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội đỏ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu, đánh dấu sự ra đời chính thức của tổ chức Công hội đỏ đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản sáng lập Tổ chức này có nhiệm vụ tập hợp và tổ chức phong trào công nhân công đoàn viên trên toàn quốc, nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động cách mạng trong từng thời kỳ, từ năm 1929.
Vào năm 1946, Công hội Đỏ đã trải qua bốn lần đổi tên, bao gồm: Công hội đỏ (1929-1935), Nghiệp đoàn Ái hữu (1935-1939), Hội Công nhân Phản đế (1939-1941) và Hội Công nhân Cứu quốc (1941-1946) Ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được thành lập nhằm thống nhất "Hội công nhân cứu quốc" từ ba miền và ra mắt công nhân lao động cả nước tại Nhà Hát Lớn Hà Nội Dưới sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, vào tháng 12 năm 1946, hội nghị thành lập Công đoàn tỉnh Ninh Bình đã được tổ chức, và Hội công nhân cứu quốc ở cơ sở được đổi tên thành công đoàn cơ sở.
Công đoàn tỉnh Ninh Bình đã trải qua 17 kỳ đại hội từ khi thành lập, phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Tổ chức Công đoàn và CNVCLĐ tỉnh đã có những đóng góp quan trọng trong các phong trào cách mạng, đạt nhiều thành tích xuất sắc và được Đảng, Nhà nước ghi nhận với Huân chương Độc lập hạng Ba cùng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý khác.
3.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của liên đoàn Lao động tỉnh Ninh Bình a Chức năng
Cơ quan Liên đoàn Lao động tỉnh đóng vai trò là đơn vị tư vấn cho Ban Chấp hành và Ban Thường vụ về các chủ trương, nghị quyết và kế hoạch công tác của Công đoàn, đảm bảo phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chức năng của tổ chức Công đoàn Đồng thời, cơ quan này cũng hỗ trợ Ban Chấp hành và Ban Thường vụ trong việc hướng dẫn, kiểm tra và tổng kết phong trào công nhân cũng như các hoạt động của Công đoàn.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu Để thực hiện đề tài quản lý tài chính công đoàn của LĐLĐ tỉnh Ninh Bình tác giả đã tiến hành lựa chọn 06 CĐCS đại diện cho 02 loại hình CĐCS chủ yếu là CĐCS khối Doanh nghiệp, CĐCS khối Hành chính sự nghiệp
Ba CĐCS trong khối doanh nghiệp có những đặc điểm chung đại diện cho chín CĐCS khác trong toàn tỉnh Các công đoàn này được lựa chọn để đại diện cho ba nhóm: nhóm công đoàn quản lý tài chính xếp loại Tốt, nhóm xếp loại Khá và nhóm xếp loại Trung bình, nhằm phục vụ cho nghiên cứu.
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.2.1 Phương pháp thu thập nguồn tài liệu và số liệu thứ cấp
Tác giả đã thu thập thông tin từ tài liệu thứ cấp về lý luận và thực tiễn quản lý tài chính công đoàn của LĐLĐ tỉnh Ninh Bình, bao gồm các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, cũng như kinh nghiệm từ các địa phương khác Nguồn tài liệu được lấy từ các báo cáo phát triển kinh tế hàng năm, số liệu niên giám thống kê từ năm 2018-2020, và các văn bản chỉ đạo của Trung ương Tác giả tìm kiếm tài liệu qua internet, sách, báo, thư viện Học viện Nông nghiệp, và từ các phòng, ban chuyên môn của Liên đoàn Lao động tỉnh Ninh Bình.
Bảng 3.2 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin thứ cấp
Thông tin Loại tài liệu Nguồn thu thập
Cơ sở lý luận của đề tài, các số liệu, dẫn chứng,
Các nghiên cứu gần đây có liên quan
Các loại sách và bài giảng;
Các bài báo, tạp chí có liên quan tới đề tài; từ các website;
Các luận văn liên quan đến đề tài nghiên cứu;
Thư viện HV Nông nghiệp
VN, thư viện khoa Kinh tế & PTNT;
Số liệu về hoạt động thu, chi tài chính công đoàn của LĐLĐ tỉnh Ninh
Báo cáo quyết toán tài chính hàng năm và đánh giá công tác quản lý tài chính của Ban Tài chính LĐLĐ tỉnh Ninh Bình, bao gồm tổng quỹ lương và số lao động tham gia BHXH.
UBND tỉnh Ninh Bình, Chi cục Thống kê tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Bình, Chi cục Thuế tỉnh Ninh Bình cùng các đơn vị liên quan khác đang phối hợp chặt chẽ để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3.2.2.2 Phương pháp thu thập nguồn tài liệu và số liệu sơ cấp Đối với đoàn viên công đoàn: Tác giả tiến hành điều tra tại 06 công đoàn cơ sở đại diện cho 2 khối là Khối Doanh nghiệp và khối Hành chính sự nghiệp; 03 công đoàn Đại diện khối Doanh nghiệp; 03 công đoàn Đại diện khối Hành chính sự nghiệp: Công đoàn cơ quan Đảng - Đoàn thể, Công đoàn cơ quan Chính quyền, để điều tra bằng bảng hỏi đã chuẩn bị sẵn (Lựa 100 đoàn viên có nghĩa vụ nộp đoàn phí và được được hưởng thụ các hoạt động phúc lợi từ tổ chức công đoàn) Đối với cán bộ công đoàn: Dùng bảng hỏi trao đổi thông tin đối với cán bộ công đoàn thuộc bộ máy quản lý tài chính (25 đồng chí là chủ tài khoản; 25 đồng chí là kế toán công đoàn cơ sở) Đối với lãnh đạo đơn vị, chủ doanh nghiệp: Dùng bảng hỏi trao đổi thông tin đối với lãnh đạo các cơ quan, đơn vị hoặc chủ doanh nghiệp
Bảng 3.3 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin sơ cấp Đối tượng Số mẫu Nội dung thu thập Phương pháp
1 Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, chủ doanh nghiệp
10 đồng chí lãnh đạo cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp
10 chủ doanh nghiệp trên địa bàn
Thông tin về chính sách quản lý tài chính công đoàn
Nhận định về tình hình thực hiện và hiệu quả của các giải pháp quản lý tài chính công đoàn được thực hiện thông qua việc điều tra và phỏng vấn trực tiếp, dựa trên bảng hỏi đã được thiết kế.
2 Cán bộ công đoàn cơ sở
25 cán bộ là chủ tài khoản công đoàn
25 cán bộ làm kế toán công đoàn cơ sở
Nắm bắt tình hình thu kinh phí và đoàn phí công đoàn là rất quan trọng để tạo lập nguồn thu tài chính cho công đoàn cơ sở Việc điều tra và phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng hỏi đã được thiết kế sẽ giúp thu thập thông tin chính xác và hiệu quả.
3.Đoàn viên ở các công đoàn cơ sở
Chọn 6 công đoàn cơ sở Mỗi công đoàn 20 mẫu Tổng 120 mẫu
Tình hình quản lý quản lý tài chính công đoàn;
Thông tin về sự hỗ trợ về chính sách về quản lý tài chính công đoàn Điều tra phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng hỏi đã thiết kế
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích tài liệu, số liệu
3.2.3.1 Phương pháp xử lý thông tin
Tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý và thống kê số liệu một cách chính xác, cho phép tự động cập nhật kết quả khi có sự thay đổi trong hàng hoặc cột Phần mềm cũng hỗ trợ phân tích số liệu theo nhóm thông qua các thao tác rút, trích và sử dụng các hàm.
Tài liệu tham khảo được tổng hợp và phân tích nhằm đánh giá các kết quả nghiên cứu liên quan đến quá trình nghiên cứu của đề tài.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp biểu đồ để phân tích đánh giá một cách khách quan, khoa học về các nội dung nghiên cứu
3.2.3.2 Phương pháp phân tích thông tin a Phương pháp thống kê mô tả
Dữ liệu thống kê về nguồn lực và điều kiện kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu, cùng với các kết quả nghiên cứu đã được kế thừa, là thông tin cơ sở quan trọng cho việc thực hiện đề tài Các nguồn dữ liệu này bao gồm tài liệu và báo cáo qua các năm, được thống kê và tính toán thành các chỉ tiêu nhằm đánh giá cơ chế quản lý tài chính tại Liên đoàn Lao động tỉnh Ninh Bình Phương pháp thống kê so sánh sẽ được áp dụng để phân tích dữ liệu.
So sánh là một phương pháp phổ biến trong phân tích kinh tế, giúp xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu và hiện tượng kinh tế có cùng nội dung và tính chất.
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu và xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, đồng thời so sánh số liệu của kỳ này với các kỳ trước nhằm nhận diện xu hướng tăng trưởng của các chỉ tiêu.
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.4.1 Các tiêu chí định lượng
Về công tác quản lý khai thác nguồn thu:
Tiêu đánh giá quản lý khai thác nguồn thu gồm có:
Tiêu chí đánh giá khai thác nguồn thu kinh phí Công đoàn:
Dự toán thu kinh phí Công đoàn = (Tổng quỹ lương phải đóng BHXH của đơn vị) x (Tỷ lệ % thu kinh phí Công đoàn)
Kinh phí Công đoàn tại khu vực doanh nghiệp được coi là đạt yêu cầu khi tỷ lệ thực hiện dự toán thu kinh phí đạt từ 80% trở lên.
Thu kinh phí Công đoàn ở khu vực Nhà nước phải đạt yêu cầu thực hiện dự toán thu đạt 100%
Tiêu chí đánh giá khai thác nguồn thu đoàn phí Công đoàn:
Dự toán thu đoàn phí Công đoàn = (Tổng quỹ lương đóng BHXH của đoàn viên trong CĐCS) x (Tỷ lệ % thu đoàn phí Công đoàn)
Thu đoàn phí Công đoàn cho là đạt yêu cầu nếu tỷ lệ thực hiện dự toán thu của tất cả các khu vực đạt từ 95% trở lên
Về công tác quản lý chi tiêu tài chính Công đoàn: Để đánh giá quá trình chi tiêu cần dựa vào các tiêu chí đánh giá cụ thể:
M = (Nội dung chi)/(Tổng nguồn chi tài chính Công đoàn)
Khi nội dung chi chỉ bao gồm lương, phụ cấp lương và các khoản đóng góp theo lương, quá trình quản lý chi tiêu được coi là đạt yêu cầu nếu tuân thủ công thức đã đề ra.
Khi nội dung chi là chi hành chính thì quá trình quản lý chi tiêu được cho là đạt yêu cầu nếu: M nằm ở mức 10% trở xuống
Khi nội dung chi là chi cho hoạt động phong trào thì quá trình quản lý chi tiêu được cho là đạt yêu cầu nếu: M đạt từ 60% trở lên
3.2.4.2 Các tiêu chí định tính
Tính công khai, minh bạch: