1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng phương pháp định tính trong nghiên cứu nông nghiệp và phát triển nông thôn

109 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng phương pháp định tính trong nghiên cứu nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả Nguyễn Phượng Lê
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Nghiên Cứu Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói tóm lại, nghiên cứu định tính là việc sử dụng các phương pháp khác nhau nh ằm có được những hiểu biết đầy đủ về quan điểm và hành vi của nhóm đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh sốn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN PHƯỢNG LÊ

BÀI GIẢNG

PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÍNH

TRONG NGHIÊN CỨU NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa học Kết quả từ NCKH là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự

vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới có giá trị cao Trong nhiều năm qua, học viên và sinh viên khối ngành nông nghiệp - nông thôn ở các trường đại học trong nước được trang bị chủ yếu phương pháp

luận theo hướng tiếp cận của khoa học tự nhiên và phương pháp nghiên cứu định lượng Trong khi đó, phương pháp nghiên cứu định tính đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu nông nghiệp - nông thôn nói chung và các ngành Marketing, Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Khuyến nông và Xã hội học nông thôn Vì vậy, môn học phương pháp nghiên cứu định tính được xem là một bộ phận không thể thiếu nhằm trang bị cho học viên và sinh viên tiếp cận và thực hiện các đề tài NCKH theo hướng

kết hợp giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, giữa định lượng và định tính

Tài liệu này được biên soạn nhằm mục đích phục vụ cho học viên cao học và sinh viên đại học thuộc khối ngành Kinh tế - xã hội, Phát triển nông thôn và Khuyến nông và các ngành khác của Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói riêng và các trường Đại học khác nói chung với thời lượng 2 tín chỉ

Nội dung tài liệu bao gồm các khái niệm và trình tự thực hiện một nghiên cứu khoa học theo hướng định tính và cách thức kết hợp giữa nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng Tài liệu được xây dựng theo hướng cô đọng để đáp ứng hoạt động học tập trên lớp, vì vậy để hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan, người học cần

đọc thêm các tài liệu được giới thiệu trong mục Tài liệu tham khảo

Bài giảng được thiết kế thành 5 chương với nội dung cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về phương pháp nghiên cứu định tính

Chương 2 Thiết kế nghiên cứu định tính

Chương 3 Phương pháp thu thập thông tin định tính

Chương 4 Phân tích thông tin định tính

Chương 5 Viết báo cáo nghiên cứu định tính

Rất mong nhận được góp ý của độc giả để tài liệu này ngày càng được hoàn thiện hơn Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỊNH TÍNH 1

1.1 KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của nghiên cứu định tính 2

1.1.3 Quan tâm của các nhà nghiên cứu định tính 2

1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 3

1.2.1 Quá trình phát triển của chủ nghĩa thực nghiệm và chủ nghĩa thực chứng 3

1.2.2 Quá trình phát triển của chủ nghĩa “giải thích” 4

1.2.3 Quá trình phát triển của phương pháp nghiên cứu định tính và thách thức đối với phương pháp nghiên cứu khoa học 6

1.3 TRIẾT LÝ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHỦ YẾU TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 7

1.3.1 Triết lý về nghiên cứu định tính 7

1.3.2 Phương pháp luận chủ yếu trong nghiên cứu định tính 8

1.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 9

1.4.1 Phân loại nghiên cứu định tính 9

1.4.2 Phân biệt nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng 10

1.4.3 Kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng 12

1.5 NGUYÊN TẮC LÀM VIỆC CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 15

1.5.1 Có óc tò mò và kinh ngạc 15

1.5.2 Thấu hiểu và cảm thông 15

1.5.3 Tinh thần hoài nghi khoa học 16

1.5.4 Trung lập và khách quan 16

1.6 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 17

CÂU HỎI ÔN TẬP 19

Chương 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 20

2.1 XÁC ĐỊNH CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 20

2.2 LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu so sánh 21

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu điểm (nghiên cứu điển hình) 21

2.3 LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 22

2.3.1 Tài liệu độc lập hay tài liệu phụ thuộc vào ý muốn của nhà nghiên cứu? 22

Trang 5

2.3.2 Lựa chọn giữa phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm 23

2.4 LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÔNG TIN 25

2.5 LẬP KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 25

2.5.1 Kế hoạch về thời gian 25

2.5.2 Kế hoạch về nguồn lực 26

CÂU HỎI ÔN TẬP 28

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN ĐỊNH TÍNH 29

3.1 CHỌN MẪU CHO NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 29

3.1.1 Phương pháp chọn mẫu 29

3.1.2 Xác định mẫu nghiên cứu từ tổng thể 30

3.1.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu có chủ đích 31

3.2 TRÌNH TỰ THU THẬP THÔNG TIN 32

3.2.1 Lập kế hoạch thu thập thông tin 32

3.2.2 Chuẩn bị các công cụ thu thập thông tin 33

3.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU SỬ DỤNG TRONG THU THẬP THÔNG TIN 35

3.3.1 Phương pháp thực địa (Ethnographic fieldwork) 35

3.3.2 Phương pháp phỏng vấn (Interviews) 37

3.3.3 Phương pháp thảo luận nhóm (Focus groups hoặc Group discussion) 39

3.3.4 Phương pháp quan sát có sự tham gia (Participant observation) 43

3.3.5 Phương pháp ghi chép (Fieldnotes) 48

3.3.6 Một số công cụ của PRA sử dụng trong thu thập thông tin định tính 56

CÂU HỎI ÔN TẬP 63

Chương 4 PHÂN TÍCH THÔNG TIN ĐỊNH TÍNH 64

4.1 DỮ LIỆU CHO PHÂN TÍCH THÔNG TIN ĐỊNH TÍNH 64

4.1.1 Nguồn dữ liệu 64

4.1.2 Phân loại dữ liệu 65

4.1.3 Quản lý thông tin định tính 66

4.2 CHIẾN LƯỢC TỔNG QUÁT TRONG PHÂN TÍCH THÔNG TIN ĐỊNH TÍNH 69

4.2.1 Phân tích quy nạp 69

4.2.2 Phân tích lý thuyết dựa trên cơ sở dữ kiện thực địa 70

4.3 CÁC PHẦN MỀM CHO PHÂN TÍCH THÔNG TIN ĐỊNH TÍNH 72

CÂU HỎI ÔN TẬP 75

Chương 5 VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 76

5.1 CÁC DẠNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 76

5.2 NGUYÊN TẮC VÀ TIÊU CHUẨN BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 76

5.2.1 Nguyên tắc chung 77

Trang 6

5.2.2 Phương pháp trình bày kết quả nghiên cứu 79

5.3 VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 80

5.3.1 Bố cục báo cáo 80

5.3.2 Nội dung phần đầu báo cáo 80

5.3.3 Nội dung phần chính báo cáo 81

5.3.4 Nội dung phần cuối báo cáo 83

CÂU HỎI ÔN TẬP 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

C hương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Chương này nhằm cung cấp cho người học nội dung cơ bản nhất về phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm khái niệm nghiên cứu định tính, lịch sử phát triển và ý nghĩa của nghiên cứu định tính, triết lý và phương pháp luận chủ yếu trong nghiên cứu định tính, đặc điểm của nghiên cứu định tính, nguyên tắc làm việc của nhà nghiên cứu định tính và những hạn chế của nghiên cứu định tính

Phần lớn các tài liệu về nghiên cứu định tính đều bắt đầu bằng việc đưa ra định nghĩa “nghiên cứu định tính là gì?” về khía cạnh lý thuyết, thực hành hoặc cả hai Tuy nhiên, việc đưa ra một định nghĩa chính xác về nghiên cứu định tính khó có thể vì nghiên cứu định tính bao trùm các lĩnh vực rộng lớn, bao gồm các phương pháp nghiên

cứu và các cách tiếp cận khác nhau

Mặc dù các lĩnh vực của nghiên cứu định tính rất đa dạng, song tựu chung lại phương pháp nghiên cứu định tính được định nghĩa như sau:

“Nghiên cứu định tính là hoạt động quan sát thế giới, bao gồm tập hợp các

phương pháp giải thích và sử dụng tư liệu nhằm nhận dạng thế giới Các hoạt động nghiên cứu định tính giúp nhân dạng thế giới thông qua rất nhiều cách khác nhau như ghi chép, phỏng vấn, thảo luận, tranh ảnh, ghi âm,… Theo cách hiểu này, nghiên cứu định tính có thể được xem là cách tiếp cận giải thích thế giới Điều đó có nghĩa là các nhà nghiên cứu định tính cố gắng tìm ra ý nghĩa và giải thích ý nghĩa của hiện tượng

mà con người đặt ra cho các hiện tượng đó.” (Denzin & Lincoln, 2000)

Bên cạnh định nghĩa của Denzin & Lincoln, một số khái niệm khác ngắn gọn và

dễ hiểu hơn như khái niệm của Bryman (1988): “Nghiên cứu định tính là phương pháp

ti ếp cận giải thích nhằm tìm hiểu ý nghĩa mà con người đặt ra cho các hiện tượng trong

th ế giới xã hội như hành động, quyết định, lòng tin, giá trị,…” Nói cách khác, nghiên

cứu định tính là “cách mà con người tìm hiểu và giải thích thực tế xã hội”

Các đặc trưng chủ yếu của phương pháp nghiên cứu định tính gồm:

+ Tư tưởng khái quát và tầm quan trọng của người thiết lập khung nghiên cứu + Bản chất linh hoạt trong thiết kế nghiên cứu

+ Số lượng và sự phong phú của tài liệu định tính

+ Các phương pháp tiếp cận riêng biệt trong phân tích và giải thích

+ Các dạng kết quả/kết luận được rút ra từ nghiên cứu định tính

Trang 8

Từ các đặc trưng trên, phương pháp nghiên cứu định tính được định nghĩa như sau:

“Nghiên cứu định tính là phương pháp nghiên cứu mà kết quả tìm được không dựa vào phân tích thống kê hoặc các phương pháp định lượng khác” (Strauss & Corbin, 1998)

Các đặc trưng cơ bản của nghiên cứu định tính bao gồm:

+ Cung cấp hiểu biết sâu sắc về thế giới xã hội của nhóm người tham gia nghiên

cứu thông qua quá trình tìm hiểu về đời sống vật chất, kinh nghiệm, quan điểm và lịch

sử của họ

+ Mẫu nghiên cứu nhỏ

+ Phương pháp thu thập tài liệu liên quan đến mối quan hệ mật thiết giữa cán bộ nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

+ Tài liệu chi tiết, thông tin phong phú và sâu sắc

+ Phân tích thường chỉ ra những phát hiện mới về khái niệm và ý tưởng hơn mô tả đơn thuần

+ Kết quả nghiên cứu có xu hướng tập trung vào giải thích ý nghĩa xã hội thông qua sơ đồ hóa các hiện tượng xã hội nghiên cứu

Trong những nghiên cứu định tính, người nghiên cứu phải xem xét vấn đề bằng cách nhìn của đối tượng nghiên cứu bên cạnh cái nhìn của nhà nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu định tính là cố gắng khám phá những điều còn ẩn chứa bên dưới bề mặt của

của hệ thống xã hội (giá trị, niềm tin, hành vi) tương tác với nhau

Tính linh hoạt và không cấu trúc là ưu điểm trong chiến lược làm việc của các nhà

nghiên cứu định tính Nhà nghiên cứu theo hướng định tính có thể thay đổi hướng nghiên

cứu trong quá trình nghiên cứu một cách dễ dàng hơn so với nghiên cứu định lượng

Trang 9

1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Trong những thập niên gần đây, nghiên cứu định tính phát triển và được ứng

dụng rộng rãi ở các ngành xã hội học, tâm lý học, nhân học, lịch sử và cả những ngành mang tính ứng dụng nhiều như công tác xã hội, khoa học sức khoẻ Thuật ngữ nghiên

cứu định tính xuất hiện trong xã hội học Mỹ vào thập niên 1960, và ở Đức những năm

1970, trong cuộc tranh luận mà người ta thường đối lập nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng dễ xác định vì nó liên quan trực tiếp đến các biến định lượng, các đo lường toán học, trong khi nghiên cứu định tính bao gồm

một không gian rộng hơn và khó xác định

Thật ra sự tranh luận giữa nghiên cứu định lượng và định tính bắt nguồn từ lâu, đặc biệt ở Đức, trong cuộc tranh cãi triết học về nhận thức luận, giữa hai quan điểm về khoa học xã hội và nhân văn: một quan điểm cho rằng khoa học xã hội nhân văn phải đi theo các nguyên tắc và khuôn mẫu của khoa học tự nhiên và quan điểm kia, ngược lại,

nhấn mạnh tính đặc thù của sự kiện xã hội và không giản lược vào mô hình thực chứng

W Dilthey đã nhấn mạnh tính lịch sử và M Weber đặt vấn đề “ý nghĩa”, thông hiểu (verstehen) các sự kiện xã hội (Bùi Thế Cường, 2006) Do truyền thống xã hội học chịu ảnh hưởng của É Durkheim, nghiên cứu định tính ở Pháp phát triển chậm so với Đức

và Mỹ

Có thể nói phương pháp nghiên cứu định tính xuất hiện để khắc phục những điểm

yếu của phương pháp nghiên cứu định lượng Mặc dù được xây dựng trên những giả định khác nhau, cả phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính đều có những đóng góp đáng kể trong nghiên cứu khoa học xã hội Lịch sử phát triển của phương pháp nghiên cứu định tính trải qua 3 giai đoạn chủ yếu đó là: (i) chủ nghĩa thực nghiệm và chủ nghĩa thực chứng; (ii) chủ nghĩa giải thích; và (iii) phương pháp nghiên

cứu định tính (xuất hiện trước những thách thức với phương pháp nghiên cứu khoa học

tự nhiên)

Người phát minh ra phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên có thể nói là nhà triết học Rene Descartes Descartes tập trung vào tính chất khách quan và những bằng

chứng trong việc tìm ra sự thật Theo Descartes (1637), để tìm ra sự thật cần phải giới hạn tối đa ảnh hưởng của ý kiến chủ quan của cán bộ nghiên cứu đến hiện tượng nghiên cứu

Cùng chung tư tưởng với Descart, ở thế kỷ 17, Isaac Newton & Francis Bacon cũng khẳng định rằng, phải thông qua quan sát thực tế mới có được hiểu biết về thế giới Tương tự, David Hume (1711-1776), một trong những sáng lập viên của trường phái nghiên cứu thực nghiệm cho rằng: tất cả những hiểu biết về thế giới đều được tạo

ra từ những trải nghiệm của con người và được sinh ra thông qua cảm giác Do vậy,

đặc điểm nổi bật của trường phái “thực nghiệm” là nghiên cứu dựa trên những bằng

ch ứng có được từ quan sát trực tiếp và thu thập được từ đối tượng nghiên cứu một cách khách quan

Trang 10

Tiếp theo ý tưởng của những người tiền nhiệm, Auguste Comte (1798-1857)

khẳng định rằng, nghiên cứu các hiện tượng xã hội cũng có thể dựa trên những quy

lu ật, định luật bất biến giống như nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên Tư tưởng của

Comte đã đặt nền móng cho một trường phái nghiên cứu mới - “chủ nghĩa thực chứng” Trường phái này đã có ảnh hưởng đến phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội trong

suốt thế kỷ 20 Mặc dù trường phái “thực chứng” được giải thích theo nhiều cách khác nhau, nhưng theo Bryman (1988), nó bao gồm những đặc trưng chủ yếu sau:

+ Các phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu các hiện tượng xã hội

+ Chỉ những hiện tượng có thể quan sát được mới được xem là “hiểu biết”

+ Kiến thức được sản sinh thông qua sự tích lũy các sự kiện

+ Các giả thuyết khoa học cần phải được kiểm định thông qua thực nghiệm

+ Quan sát trực tiếp là phán quyết cuối cùng trong những tranh luận lý thuyết + Các sự việc và giá trị rất khác nhau, bởi vậy chúng cần được xem xét một cách khách quan

Immanuel Kant được xem là người sáng lập ra phương pháp nghiên cứu định tính

sơ khai nhất Kant cho rằng ngoài quan sát trực tiếp, có nhiều cách khác nhau để tìm

hiểu hiện tượng và sự vật vì các lý do sau:

+ Nhận thức của con người không chỉ do cảm giác mang lại mà trái lại con người còn giải thích được những điều mà cảm giác mang đến cho họ

+ Kiến thức của con người về thế giới được sản sinh từ suy nghĩ về những gì xảy

ra chứ không chỉ đơn giản từ sự trải nghiệm

+ Hiểu biết và kiến thức luôn vượt qua những yêu cầu thực nghiệm đơn thuần + Sự khác biệt luôn tồn tại giữa “nguyên nhân khoa học” và “nguyên nhân thực tiễn” Xuất phát từ quan điểm của Kant, người ta cho rằng nghiên cứu định tính thường

nhấn mạnh và đề cao giá trị của con người, các khía cạnh hiểu biết về hiện tượng xã hội

và tầm quan trọng của những hiểu biết cũng như ý tưởng của cán bộ nghiên cứu về hiện tượng nghiên cứu

Người tiếp tục phát triển trường phái nghiên cứu kiểu “giải thích” sau Kant là Wilhelm Dilthey Dilthey nhấn mạnh tầm quan trọng của hiểu biết (understanding) và kinh nghiệm sống của con người trong từng bối cảnh xã hội và lịch sử cụ thể trong nghiên cứu các hiện tượng xã hội Theo Dilthey, tính tự quyết và khả năng sáng tạo của con người đóng vai trò rất quan trọng trong việc dẫn dắt hành vi của họ, bởi vậy nghiên

cứu các hiện tượng xã hội nên tập trung khám phá kinh nghiệm sống của nhóm đối tượng nghiên cứu nhằm phát hiện ra các mối quan hệ giữa các khía cạnh xã hội - văn hóa và lịch

sử và từ đó thấy được bối cảnh và lý do giải thích cho hành vi của con người

Trang 11

H ộp 1.1 Mô tả một nghiên cứu định tính

Max Weber là người chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi Dilthey, đặc biệt là trong việc nhấn mạnh vai trò của hiểu biết (understanding) trong quá trình nghiên cứu.Weber cho rằng phân tích các yếu tố vật chất của tiếp cận thực chứng là quan trọng nhưng nó chưa

đủ để nói lên được những hiểu biết về cuộc sống phức tạp của con người Do vậy, cán

bộ nghiên cứu cần phải hiểu được ý nghĩa của những hành vi xã hội trong điều kiện vật

chất cụ thể mà nhóm đối tượng nghiên cứu đang sống

Weber khẳng định có 2 loại hiểu biết: (i) hiểu biết có được do quan sát trực tiếp;

và (ii) hiểu biết có được do giải thích động cơ/hành vi Vì thế, sự khác nhau cơ bản trong hiểu biết của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là: mục đích của khoa học tư nhiên là tìm ra các quy luật trong khi đó mục đích của khoa học xã hội là tìm hiểu được

ý nghĩa của các hoạt động của con người

Nói tóm lại, nghiên cứu định tính là việc sử dụng các phương pháp khác nhau

nh ằm có được những hiểu biết đầy đủ về quan điểm và hành vi của nhóm đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh sống cụ thể

1 Quan điểm nghiên cứu

- Dựa trên quan điểm từ “bên trong” cộng đồng, tức là quan điểm của nhóm người được nghiên cứu

- Nhìn nhận cuộc sống xã hội như là một quá trình chứ không phải ở trạng thái tĩnh

- Cung cấp cách nhìn tổng thể trong những bối cảnh cụ thể

2 Thiết kế nghiên cứu

- Áp dụng phương pháp nghiên cứu linh hoạt

- Ti ến hành nghiên cứu trong thế giới thực chứ không phải trong môi trưởng thử nghiệm

3 Thu thập tài liệu

- Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu linh hoạt, phù hợp với từng bối cảnh xã hội cụ thể

- Sử dụng phương pháp thể hiện được mối quan hệ gần gũi giữa cán bộ nghiên cứu với nhóm người được nghiên cứu, trong đó cán bộ nghiên cứu chỉ là “chất xúc tác”

4 Phương pháp sử dụng

Các phương pháp định tính chủ yếu bao gồm: quan sát, phỏng vấn sâu cá nhân, thảo luận nhóm, ghi chép câu chuyện đường đời, kể chuyện, và phương pháp phân tích tài liệu, văn bản

5 Phân tích và giải thích

- Dựa trên các phương pháp phân tích và giải thích, nghiên cứu định tính phản ánh được tính phức tạp, chi

ti ết và bối cảnh hóa tài liệu

- Phát hiện được lý thuyết mới từ tài liệu nghiên cứu

- Tôn trọng tính riêng biệt của các nghiên cứu điển hình, đồng thời đề cao những phân tích có tính so sánh

- Đưa ra những giải thích mang tính “ý nghĩa” chứ không phải nguyên nhân của hiện tượng

6 Kết quả nghiên cứu

- Đưa ra những mô tả mang tính chi tiết và giải thích về hiện tượng xã hội dựa trên quan điểm của nhóm người được nghiên cứu

- Sơ đồ hóa các quá trình và bối cảnh

- Trả lời các câu hỏi “là cái gì?”, “thế nào”, và “tại sao?”

- Xem xét, đánh giá ảnh hưởng của quan điểm của cán bộ nghiên cứu đến kết quả

Trang 12

1.2.3 Quá trình phát triển của phương pháp nghiên cứu định tính và thách thức đối với phương pháp nghiên cứu khoa học

Từ cuối thế kỷ 19 và trong suốt thế kỷ 20, phương pháp nghiên cứu định tính đã phát triển và ngày càng được áp dụng rộng rãi Trong phạm vi khoa học xã hội (xã hội

học và nhân học), nghiên cứu định tính ban đầu được thực hiện dưới dạng nghiên cứu dân tộc học (ethnographic work) Những người áp dụng phương pháp nghiên cứu dân

tộc học đầu tiên có thể kể đến là Malinowski, Radcliffe, Brown, Margret Mead và Franz Boas Nghiên cứu định tính của các học giả thời kỳ này thường tập trung vào khía cạnh văn hóa và đời sống của một nhóm người nông thôn/dân tộc thiểu số đang sống tại các thành phố

Đến giữa thế kỷ 20, nghiên cứu định tính đã tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu

cộng đồng Nghiên cứu trong thời kỳ này đi sâu tìm hiểu và giải thích ý nghĩa của các hành vi xã hội của nhóm đối tượng nghiên cứu

Ngoài phương pháp nghiên cứu dân tộc học, trong thời kỳ này phương pháp nghiên cứu dựa vào điều tra ngày càng được áp dụng rộng rãi Các nhà nghiên cứu định lượng ngày càng bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi cách tiếp cận thực chứng, mô hình hóa trong nghiên cứu khoa học tự nhiên Sự phát triển và ứng dụng rộng rãi của tiếp cận thực chứng đã khiến cho nghiên cứu định tính thường bị phê phán là “mềm yếu” và “phi khoa học” Mặc dù vậy, nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã cố gắng chỉ ra tính không phù hợp của phương pháp khoa học tự nhiên trong nghiên cứu các hiện tượng xã

hội, cụ thể:

+ Các nhà khoa học không thể kiểm soát được tất cả các biến trong các nghiên

cứu thử nghiệm liên quan đến hành vi của con người

+ Việc loại bỏ các biến có liên quan đến bối cảnh sống trong nghiên cứu thử nghiệm không phù hợp trong nghiên cứu hành vi của con người

+ Không phù hợp nếu các nhà khoa học không quan tâm đến ý nghĩa và mục đích của các hành vi của con người trong các nghiên cứu thử nghiệm

+ Các lý thuyết tổng quát và bộ số liệu tổng hợp không phù hợp và áp dụng trong phân tích đời sống của từng cá nhân trong xã hội

+ Những phân tích nhấn mạnh vào việc kiểm định giả thuyết bỏ qua tầm quan

trọng của những phát hiện thông qua nghiên cứu tình huống

Bằng việc chỉ ra những thách thức của ứng dụng phương pháp nghiên cứu khoa học

tự nhiên, các nghiên cứu khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng: + Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là biện pháp để khắc phục những

hạn chế của phương pháp nghiên cứu định lượng

Trang 13

+ Áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính khắc phục được hạn chế của cách

tiếp cận thực chứng trong nghiên cứu khoa học xã hội với lý do: không có ý nghĩa cố định và tổng quát phù hợp với từng bối cảnh thời gian và không gian nhất định

+ Nghiên cứu định tính sẽ đề cập đến các yếu tố vật chất, xã hội, chính trị, giới và văn hóa - những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhóm đối tượng nghiên cứu

Có thể nói rằng phương pháp nghiên cứu định tính đã ra đời và phát triển trong

suốt thế kỷ 20 mặc dù nó cũng vấp phải những rào cản nhất định Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu định tính, cụ thể được mô tả trong bảng 1.1

ĐỊNH TÍNH

Các triết lý cơ bản của nghiên cứu định tính nhằm tìm ra bản chất của các hiện

tượng xã hội và chúng ta có thể biết gì về các hiện tượng đó (ontology) Triết lý cơ bản của

phương pháp nghiên cứu định tính được chia thành các trường phái khác nhau như sau:

a, Ch ủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực có 2 đặc điểm chủ yếu: (i) hiện thực khách quan tồn tại độc

lập với lòng tin và hiểu biết của con người; (ii) có sự phân biệt rõ ràng giữa lòng tin và quan niệm về thế giới với cách thức mà thế giới tồn tại

c, Ch ủ nghĩa hiện thực phê phán

Chủ nghĩa hiện thực phê phán là sự biến tướng của chủ nghĩa hiện thực nhưng

chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa hiện thực phê phán có đặc điểm chính là: (i) hiện thực khách quan tồn tại độc lập với lòng tin và hiểu biết của con người; (ii) hiện thực chỉ có thể được nhận biết thông qua trí óc của con người và thông qua ý nghĩa mà xã hội gán cho nó

d, Chủ nghĩa duy tâm

Khác với quan điểm của 3 trường phái trên, chủ nghĩa duy tâm không thừa nhận rằng hiện thực có thể tồn tại độc lập với lòng tin và hiểu biết của con người Tuy nhiên, tương tự với chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa duy tâm cho rằng hiện thực chỉ có

thể được nhận biết thông qua trí óc của con người và thông qua ý nghĩa mà xã hội gán cho nó

Trang 14

1.3.2 Phương pháp luận chủ yếu trong nghiên cứu định tính

Hầu hết các phương pháp luận trong nghiên cứu định tính đều cố gắng chỉ ra cách mà chúng ta có thể nhận biết về thế giới Nói cách khác, phương pháp luận nhằm

trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để nhận biết về thế giới? Các nhà khoa học xã hội thừa

nhận có 2 phương pháp luận chủ yếu trong nghiên cứu định tính là cách tiếp cận thực

+ Các sự việc và giá trị tồn tại tách biệt nhau, vì vậy các nhà nghiên cứu có thể

thực hiện nghiên cứu một cách khách quan

+ Quan sát là phán quyết cuối cùng để đưa ra các tranh luận lý thuyết

+ Các phương pháp của khoa học tự nhiên (kiểm định giả thuyết, giải thích nguyên nhân, mô hình hóa) phù hợp với nghiên cứu các hiện tượng xã hội vì hành vi

của con người cũng được quy định bởi các quy luật

Trường phái nghiên cứu Nguyên lý M ục đích

- Tìm hiểu cách mà con người xây dựng nên thế giới của

họ thông qua các hoạt động sống hàng ngày

- Phát hiện ý nghĩa của các cuộc giao tiếp cũng như ý nghĩa chứa đựng trong các văn bản của nhóm đối tượng nghiên cứu

Ý nghĩa của biểu tượng Xã hội học

Tâm lý học Phát hiện hành vi và vai trò xã hội nhằm hiểu được cách mà con người giải thích và ứng xử với môi trường sống Trường phái lý thuyết

phê phán (Critical theory) Xã hội học Xác định cách mà các điều kiện vật chất, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ảnh hưởng đến lòng tin, hành vi và kinh

nghiệm của nhóm đối tượng nghiên cứu

b, Ti ếp cận giải thích

Khác với phương pháp tiếp cận thực chứng, tiếp cận giải thích cho rằng:

+ Cán bộ nghiên cứu và hiện tượng xã hội mà họ nghiên cứu có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

+ Các sự kiện và giá trị không tồn tại độc lập, vì thế kết quả nghiên cứu ít nhiều bị chi phối bởi ý tưởng và quan điểm của cán bộ nghiên cứu, do đó khó có thể tiến hành nghiên cứu một cách hoàn toàn khách quan ngay cả khi cán bộ nghiên cứu tuyên bố công khai các giả định nghiên cứu của họ

Trang 15

+ Các phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên không phù hợp với nghiên

cứu các hiện tượng xã hội vì xã hội không bị quy định bởi các định luật, quy luật, trái lại

nó được dàn xếp thông qua ý niệm và quan niệm xã hội Chính vì vậy, các nhà nghiên

cứu khoa học xã hội cần phải phát hiện và tìm hiểu các hiện tượng xã hội bằng cách sử

dụng hiểu biết của chính bản thân và cả những hiểu biết của đối tượng nghiên cứu Phân tích đặc điểm của từng triết lý và phương pháp tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu định tính cho thấy rằng, mỗi phương pháp và trường phái đều có những ưu

thế và hạn chế nhất định Do đó, nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội cho rằng cách

ti ếp cận đa ngành và đa phương pháp nên được áp dụng trong nghiên cứu định tính

Tuy nhiên, lựa chọn phương pháp nào, cách tiếp cận nào để thiết kế một nghiên cứu đa phương pháp là một thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu vì việc kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau có thể làm cho tranh luận chính của nghiên cứu trở nên không rõ ràng, do mỗi phương pháp đều dựa trên những giả định nghiên cứu khác nhau, các cách thu thập tài liệu khác nhau, cách phân tích tài liệu khác nhau và dẫn đến cách đưa ra kết luận cũng khác nhau

Có 4 phương pháp chủ yếu được các nhà nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu định tính đó là: quan sát, phân tích tài liệu, phỏng vấn, ghi âm và sao chép

Trên thực tế, các phương pháp này được sử dụng kết hợp với nhau trong nghiên cứu Thí dụ, nhiều nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp quan sát với phỏng vấn Tuy nhiên, mỗi phương pháp có thể được sử dụng hoặc trong nghiên cứu định lượng

hoặc là trong nghiên cứu định tính

(1) Nghiên cứu dựa vào quan sát

Nghiên cứu dựa trên quan sát là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu định tính Phương pháp quan sát lần đầu tiên được sử dụng bởi các nhà nhân học ở đầu thế kỷ 20

và được tiếp nối bởi các nhà xã hội học từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 Phương pháp nghiên cứu dựa vào quan sát thường được áp dụng nhằm tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau

(2) Nghiên cứu trên cơ sở phân tích thông tin

Trong nghiên cứu định tính, một số lượng nhỏ tài liệu và văn bản sẽ được phân tích phục vụ cho những mục đích rất khác nhau Mục tiêu của phân tích tài liệu là để tìm

hiểu các đối tượng khác nhau tham gia nghiên cứu và để thấy được các đối tượng này sử

dụng các hoạt động cụ thể như kể chuyện hay mô tả về cuộc sống gia đình họ Độ tin

cậy của thông tin phân tích ít được chú ý Các nhà nghiên cứu định tính thường chỉ quan tâm đến việc họ phát hiện được gì từ những hoạt động của đối tượng nghiên cứu như những câu chuyện họ kể hay cách mà họ mô tả vấn đề

Trang 16

(3) Nghiên cứu dựa vào phỏng vấn

Nghiên cứu định tính thường quan tâm đến tính xác thực hơn là độ tin cậy của vấn

đề Mục tiêu của nghiên cứu định tính là tập trung thu thập những hiểu biết xác thực về những gì mà nhóm đối tượng nghiên cứu đã trải qua Các nhà nghiên cứu tin rằng cách đặt câu hỏi “mở đầu – kết thúc” là cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu định tính dựa vào phỏng vấn thường được thực hiện với số lượng mẫu

nhỏ Mối quan hệ giữa người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn có thể được xác định dựa trên quan hệ chính trị, xã hội hơn là quan hệ nghiên cứu khoa học

(4) Nghiên cứu dựa vào ghi âm và sao chép tài liệu

Phương pháp ghi âm và sao chép tài liệu rất hiếm khi được sử dụng trong nghiên

cứu định lượng, nhưng đó là một bộ phận vô cùng quan trọng trong nghiên cứu định tính Phương pháp ghi chép, đặc biệt là ghi lại những cuộc hội thoại, thường cung cấp

những thông tin trung thực nhất về mối quan hệ tác động qua lại giữa các đối tượng nghiên cứu So với các phương pháp nghiên cứu dựa vào quan sát, ghi âm và sao chép

có độ tin cậy cao hơn, do đó các nhà nghiên cứu có thể dựa vào đó để phát triển những

giả thuyết mới

Các nhà nghiên cứu định tính thường sử dụng từ ngữ trong việc diễn tả những phân tích xã hội, trong khi các nhà nghiên cứu định lượng thường quan tâm đến việc áp dụng các công cụ đo lường vào cuộc sống xã hội

Trong nghiên cứu định tính, quan điểm của đối tượng nghiên cứu - những gì mà nhà nghiên cứu thấy quan trọng và có ý nghĩa - cung cấp định hướng cho nghiên cứu Trong nghiên cứu định lượng, nhà nghiên cứu cầm lái hệ thống các mối quan tâm

để đưa vào quá trình nghiên cứu, quyết định các cấu trúc nghiên cứu

Nhà nghiên cứu định tính cố gắng thâm nhập gần gũi với những đối tượng nghiên

cứu, có thể hiểu cặn kẽ thế giới bằng nhãn quan của những đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng không thâm nhập vào đối tượng nghiên cứu, nhà nghiên

cứu có thể sử dụng các biện pháp như gửi bảng hỏi, thuê nhân viên phỏng vấn hoặc tự

đi phỏng vấn vì họ cho rằng tính khách quan của nhà nghiên cứu sẽ bị mất đi khi thâm

nhập vào đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu định tính, các khái niệm và phân tích lý thuyết nảy sinh từ việc thu thập dữ liệu Các nhà nghiên cứu định lượng thường xây dựng hệ thống các khái

niệm thành công cụ nghiên cứu để lý thuyết đi trước việc thu thập dữ liệu

Nghiên cứu định tính thường miêu tả các sự kiện theo thời gian và những mối liên

hệ qua lại giữa các đối tượng, hành động trong bối cảnh xã hội Nghiên cứu định lượng thường miêu tả những hình ảnh tĩnh của hiện thực xã hội, trong đó nhấn mạnh mối quan

hệ giữa các biến số

Trang 17

B ảng 1.2 Sự khác nhau giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu bao gồm thảo luận

nhóm, phỏng vấn sâu, và tổng hợp tài liệu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là điều tra Dựa trên thông tin thực tế để xây dựng lý thuyết Thông tin thực tế được sử dụng để kiểm định các

khái niệm và các giả thuyết Mang tính chủ quan hơn: các vấn đề và điều kiện

nghiên cứu được mô tả dưới quan điểm của những

người đã từng trải qua

Mang tinh khách quan hơn: nhà nghiên cứu giải thích vấn đề hoặc điều kiện dựa trên những quan sát Dựa vào lời mô tả Dựa vào con số

Thông tin sâu sắc hơn, tập trung vào một số trường

hợp điển hình Thông tin không sâu sắc nhưng rộng hơn và tập trung vào hiện tượng số lớn Các lựa chọn trả lời bán cấu trúc hoặc không cấu trúc Các lựa chọn trả lời thường theo cấu trúc, cố định Không có kiểm định thống kê Kiểm định thống kê được sử dụng trong phân tích

Độ tin cậy: phần lớn phụ thuộc vào kỹ năng và sự

chắc chắn của người nghiên cứu Độ tin cậy: phần lớn phụ thuộc vào công cụ đo lường Phân bố thời gian: nhẹ hơn ở giai đoạn lập kế

hoạch và nặng hơn ở giai đoạn phân tích Phân bố thời gian: nặng hơn ở giai đoạn lập kế hoạch và nhẹ hơn ở giai đoạn phân tích Không mang tính tổng quát hóa Mang tính tổng quát hóa

Phân tích định tính nhằm khám phá thái độ, hành vi

và kinh nghiệm thông qua các phương pháp như

phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm Nghiên cứu định

tính nhằm phát hiện những ý tưởng sâu sắc từ đối

tượng nghiên cứu Mặc dù, đối tượng nghiên cứu

không nhiều nhưng thời gian tham gia và thực hiện

nghiên cứu thường rất dài

Phân tích định lượng nhằm đưa ra những quy luật thống kê thông qua số liệu điều tra quy mô lớn Phương pháp thường được sử dụng là điều tra dựa vào bản câu hỏi và phỏng vấn cấu trúc Nghiên cứu định lượng thường liên quan tới số lượng lớn đối tượng nghiên cứu nhưng thời gian thực hiện không dài

Cách tiếp cận trong nghiên cứu định tính thường không có cấu trúc để nhà nghiên

cứu có nhiều khả năng tiếp cận ý nghĩa của hành động và những khái niệm nảy sinh từ

việc thu thập tư liệu Tiếp cận định lượng có tính cấu trúc cao để các nhà nghiên cứu có

thể đề ra các khái niệm và các vấn đề chính xác là trọng tâm của nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu định tính cố gắng hiểu hành vi, giá trị, đức tin… trong bối

cảnh nghiên cứu được tiến hành Các nhà nghiên cứu định lượng cố gắng phát hiện

những điều có tính khái quát đối với toàn bộ mẫu nhất định

Số liệu định lượng thường được miêu tả thô, có ý nghĩa rõ ràng, mang tính chính xác nhờ đo lường Ngược lại, các nhà nghiên cứu định tính tiếp cận bối cảnh lâu dài nên

dữ liệu phong phú, sâu sắc

Các nhà nghiên cứu định lượng thường tham gia vào việc khám phá những xu hướng xã hội có quy mô lớn và mối quan hệ giữa các biến Các nhà nghiên cứu định tính quan tâm đến những khía cạnh vi mô của hiện thực xã hội

Các nhà nghiên cứu định lượng thường quan tâm đến hành vi con người Các nhà nghiên cứu định tính quan tâm đến ý nghĩa của hành vi

Các nhà nghiên cứu định tính quan tâm nghiên cứu con người trong bối cảnh tự nhiên Các nhà nghiên cứu định lượng tiến hành nghiên cứu trong bối cảnh nhân tạo

Trang 18

1.4.3 Kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Cho đến nay vẫn còn rất nhiều tranh luận khác nhau về việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính trong nghiên cứu khoa học xã hội Một số nhà nghiên cứu cho

rằng định lượng và định tính là 2 cách tiếp cận dựa trên những triết lý và phương pháp

luận khác nhau, do đó không thể kết hợp với nhau một cách có hiệu quả Trong khi đó, các học giả khác lại cho rằng việc áp dụng 2 phương pháp này kết hợp với nhau sẽ mang

lại kết quả khác nhau về mặt kiến thức chứ không chỉ đơn thuần là kết quả rút ra từ phương pháp định tính hay định lượng

Nghiên cứu định tính thường được xem là một đoạn tuyệt hay đối lập với nghiên

cứu định lượng Nghiên cứu định lượng bị đặt thành vấn đề vì có một lối nhìn đồng nhất

về các nhu cầu và có nhận thức mang tính quan liêu về các vấn đề xã hội: nó thường xếp

loại các đối tượng nghiên cứu vào các phân loại mang tính hành chính và thống kê, cùng vào một “số phận xã hội” Lối nhìn đa dạng về các quan điểm, tác nhân xã hội của nghiên

cứu định tính đặt lại vấn đề sự đồng nhất giả tạo của các phân loại hành chính, thống kê

và cho thấy sự đa dạng của các tình huống, các tác nhân, nguồn lực được vận động Nhiều nhà nghiên cứu thuộc thuyết tương tác biểu tượng, thuyết kiến tạo (Constructivisme) đã phê bình việc sử dụng nghiên cứu thống kê trong nghiên cứu định lượng Việc sử dụng thống kê được xem như tương đồng với một lối nhìn quan liêu, bởi

lẽ chỉ nắm bắt các sự kiện có thể phân loại, “thao tác hoá” và quản lý được Trong khi, nghiên cứu định tính quan tâm đến tính đa dạng của ý nghĩa, đòi hỏi phải có một lối nhìn toàn diện hơn về các vấn đề xã hội và đòi hỏi phải đặt đối tượng nghiên cứu trong

một khuôn khổ “xã hộ i- nhân học”, để có thể nắm bắt được bối cảnh văn hóa - xã hội của tình huống để thông hiểu tính độc đáo và đa dạng của quá trình xã hội đang xảy ra Người ta đã phê bình tính giá trị (Validité) và tính đại diện của các dữ kiện thống kê trong các nghiên cứu định lượng Theo Cicourel, những thống kê về tâm thần, phạm pháp, tự tử, không thích ứng xã hội chỉ là “những hành động thực hiện bởi những tác nhân đã xác định, phân loại và ghi nhận một số ứng xử là lệch lạc”

Trong thực tế, để xác định hành vi mang tính lệch lạc, đòi hỏi tìm hiểu lâu dài các

mối tương tác, các tình huống mà chỉ có lối tiếp cận định tính mới thích hợp Người ta nghi ngờ các nhận thức, xác định và giải thích những vấn đề xã hội của nghiên cứu định lượng vì dựa trên những định nghĩa tuy khách quan nhưng đơn điệu về các hiện tượng

xã hội Các xử lý thống kê thường nhằm nêu lên quy mô của vấn đề, biện minh cho các

cải cách đang thực hiện hoặc phân loại các đối tượng theo những chương trình, dịch vụ

xã hội đang tồn tại Ngược lại, nghiên cứu định tính, thay vì đi tìm những yếu tố chi

phối, lại tìm sự thông hiểu các ý nghĩa Nó chuyển hướng nghiên cứu từ tổ chức sang

cộng đồng, từ người chuyên nghiệp sang người sử dụng, thụ hưởng dịch vụ Như vậy,

nó đặt lại vấn đề nhận thức và phân tích của tổ chức, người chuyên nghiệp và thay vào

đó là những quan niệm, phân tích liên quan đến những mạng lưới xã hội, các chiến lược, biểu trưng, trải nghiệm của các tác nhân xã hội Có nghĩa là nhắm đến sự đa dạng

Trang 19

của đời sống xã hội mà các đối tượng chỉ là một bộ phận Đặt quan tâm vào những đặc thù văn hóa xã hội của khách hàng, người sử dụng, nghiên cứu định tính buộc phải suy

tư lại các nhu cầu không theo những chỉ báo được đo lường mà theo những đặc thù văn hóa xã hội của môi trường sống

Nghiên cứu định tính không chỉ đưa lại một quan điểm mới mà còn đề nghị một cách thức can thiệp, quản lý mới Nó nhắm đến giải quyết vấn đề “bằng cách khác”,

bằng cách chú trọng đến cơ sở, đến cộng đồng, đến phi tập trung những vấn đề và dịch

vụ xã hội Từ quan điểm định tính, các chủ thể xã hội lý giải tình huống của mình, hình dung các sách lược và vận động tài nguyên Như Goffman nghiên cứu các sách lược thích nghi của các bệnh nhân trong các bệnh viện tâm thần Nghiên cứu định tính cố

gắng khám phá sự đa dạng trong xác định tình huống, làm rõ những điểm thương lượng, tranh chấp, đặt lại các tiền đề đã định hướng một số chương trình và biện pháp can thiệp Nghiên cứu định tính như vậy đã chỉ ra những quá trình mà nghiên cứu định lượng không xác định được hay bỏ qua Nhiều nghiên cứu định tính đã nói lên vấn đề quyền lực trong nghiên cứu những vấn đề xã hội bằng cách nghiên cứu việc thiết kế các

biểu trưng xã hội về những vấn đề hay những quá trình mà người ta đã áp đặt, xem như

là hợp pháp Nhiều nghiên cứu định tính có quan điểm và đứng về phía những người bị

loại trừ (Exclus) ra khỏi các cuộc tranh luận Như Goffman đứng trên quan điểm của bệnh nhân, hay như Glaser và Strauss đã ghi nhận trong một bệnh viện: “Bệnh nhân càng có vai vế về địa vị xã hội, càng nhận được những dịch vụ chất lượng cao từ các chuyên viên”

Ch ức năng

nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính nh ằm phát hiện/tìm hiểu Phương pháp nghiên cứu định lượng nh ằm đưa ra quyết định

Tìm hiểu bối cảnh - Bản chất các dạng khác nhau của tình

trạng vô gia cư

- Nh ững trải nghiệm và ý nghĩa của cuộc sống vô gia cư

- Quy mô của các dạng vô gia cư

- Đặc tính của nhóm người vô gia cư

Gi ải thích - Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô

đã được thực hiện

- Các yếu tố chủ yếu xảy ra trong thời kỳ từ khi bắt đầu đến khi kết thúc tình trạng vô gia cư

- Quy mô của các dạng dịch vụ khác nhau cho người vô gia cư đã được áp dụng

- Quy mô của những can thiệp đã đạt được kết quả đề ra

Suy lu ận t ừ

nghiên cứu Các đề xuất/chiến lược nhằm hỗ trợ cho người vô gia cư/giúp họ tránh được tình

trạng vô gia cư

D ự báo về tình trạng vô gia cư trong tương lai Mức độ yêu cầu của các can thiệp/hỗ trợ khác nhau

Một thí dụ, nghiên cứu về nghèo đói Nghiên cứu về nghèo đói ở Việt Nam chỉ

mới bắt đầu những năm 90 của thế kỷ trước Ở Tây phương, loại nghiên cứu này bắt đầu

từ cuối thế kỷ XIX Đây là những nghiên cứu định lượng, phân loại cá nhân theo các

Trang 20

tầng lớp với các tiêu chí kinh tế, các ngưỡng thu nhập Phải đợi đến những năm 1980 xu hướng nghiên cứu định tính về nghèo đói mới bắt đầu và đặt lại vấn đề về những định nghĩa hành chính về nghèo đói Nhưng trước đó, ta đã biết đến nghiên cứu nổi tiếng của Lewis về văn hóa nghèo đói ở Mêhicô với lối tiếp cận nhân học Điều trớ trêu là nghiên

cứu định tính này đã bị phi bối cảnh hóa và được giới chức hành chính sử dụng để lên

án cái “văn hoá” của tầng lớp cư dân bị xem là nghèo Ở Mỹ, các nghiên cứu định tính

của Katz (1989), của Williams và Korblum (1985) cho thấy một bức tranh về nghèo đói khác với các báo cáo hành chính và thống kê Trên cơ sở quan điểm chủ thể là người nghèo, các nghiên cứu này quan tâm đến sự đa dạng của các lối đi, trải nghiệm, những cách thức thích ứng khác nhau của cái thế giới nghèo đói thường bị xem là đồng nhất Ở Pháp, báo cáo của Ủy ban liên bộ về nghiên cứu (1992) để đánh giá chương trình hỗ trợ

“Thu nhập tối thiểu để hội nhập” trong cuộc chiến chống nghèo đói, đã không thỏa mãn

với các dữ kiện thống kê và đưa ra nhận định rằng những dữ kiện thống kê chỉ quan tâm đến những phân tổ lớn của tổng thể nghiên cứu này và chỉ quan tâm đến những vấn đề đồng đại và cho thấy cần bổ sung bằng nghiên cứu định tính để tìm ra các động thái xã

hội bên trong chương trình hỗ trợ này Nghiên cứu định tính cũng cho thấy sự đa dạng

của các tình huống, các ngưỡng nghèo đói, các cơ chế, các quá trình đa dạng của quá trình nghèo hóa, các chiến lược để sống còn và khoảng cách giữa những tuyên bố của các đại diện hành chính và những điều kiện của những người thụ hưởng

Tóm lại, nghiên cứu định tính tinh tế hơn, sâu hơn, nó nhằm khám phá đằng sau những phân loại hành chính và thống kê, những tác nhân, những chủ thể có tài nguyên riêng, có sáng kiến, dự phóng và chiến lược riêng Cái nhìn mới này buộc phải đặt lại

vấn đề nghèo đói Ưu tiên không phải là xác định ai nghèo, yếu tố ảnh hưởng mà đúng hơn là tìm hiểu các quá trình hơn là nguyên nhân của nghèo đói, tìm hiểu các chiến lược hơn là các biến số, tìm hiểu các biểu tượng hơn là các yếu tố chi phối, tìm hiểu vai trò

của các cơ chế tổ chức và nghề nghiệp trong sự biến đổi của hiện tượng nghèo đói này (Groulx, 1997)

Trong nghiên cứu chính sách xã hội, việc kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng là cần thiết do mỗi phương pháp nghiên cứu cung cấp những bằng chứng khác nhau và vì thế khi kết hợp với nhau chúng ta sẽ có những kết quả chính xác cho đề xuất

và thực thi chính sách Bảng 1.3 cho thấy những đóng góp tích cực của việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong nghiên cứu về tình trạng vô gia cư Phương pháp định tính đưa ra những câu hỏi xung quanh bản chất của tình trạng vô gia cư như

tại sao tình trạng vô gia cư xuất hiện hoặc nó xuất hiện như thế nào và cách đánh giá các

dạng can thiệp khác nhau, từ đó có thể tìm ra biện pháp can thiệp có hiệu quả nhất Trong khi đó, phương pháp định lượng được sử dụng để đo lường quy mô của tình trạng

vô gia cư, sự phân bố của những người vô gia cư trong các nhóm dân số khác nhau, quy

mô của các dịch vụ hỗ trợ người vô gia cư và mức độ yêu cầu của các dịch vụ đó trong tương lai Nói tóm lại, cả 2 loại mục tiêu và kết quả có bản chất hoàn toàn khác nhau nhưng chúng có thể kết hợp với nhau một cách có hiệu quả

Trang 21

Tóm lại, trong nghiên cứu khoa học không có phương pháp nào - định tính hay định lượng - tốt hơn nhau một cách tuyệt đối Nghiên cứu định tính hay định lượng chỉ

là các phương pháp tiếp cận khác nhau, cả hai đều có những điểm mạnh và yếu Vì vậy,

để tiến hành nghiên cứu có hiệu quả, các nhà nghiên cứu cần lựa chọn sự kết hợp giữa các phương pháp một cách hợp lý

Nhà nghiên cứu định tính làm việc dựa trên các nguyên tắc cụ thể như: Phải có óc

tò mò và biết kinh ngạc, thấu hiểu và cảm thông, có tinh thần hoài nghi khoa học, trung

lập khách quan

Một trong những tố chất quan trọng đối với người làm công tác khoa học là phải

có óc tò mò, biết kinh ngạc với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh cuộc sống của mình

Thực tế, có nhiều người quá tin vào kinh nghiệm sống của mình khi xét đoán các hiện tượng xã hội Việc sử dụng vốn sống cuộc đời vào công việc nghiên cứu, nhất là nghiên cứu định tính rất cần thiết Vì vậy, người không có óc tò mò, kinh nghiệm của chúng ta đặt ra Vì vậy, người không có óc tò mò, kinh ngạc về các hiện tượng xã hội sẽ gặp khó khăn trong việc đọc ra ý nghĩa của xã hội

Tóm lại, người làm nghiên cứu định tính cần thiết phải phân biệt được định tính

với cảm tính chủ quan, thay vào đó họ phải có óc tò mò, ham tìm hiểu ngay từ khi người

đó có khả năng nhận thức nhưng thói quen này dường như bị giảm dần, thay vào đó là

những tư duy được lập trình theo thói quen thường nhật Người nghiên cứu phải biết tránh những định kiến xã hội với cách lập luận thông thường khi tiếp cận và giải thích các hiện tượng xã hội

Người nghiên cứu định tính không thể thu thập thông tin một cách hiệu quả nếu như họ không “dấn thân” và chia sẻ những quan niệm, giá trị của cộng đồng dân cư mà

họ nghiên cứu “Dấn thân” được hiểu là cách thức thực hiện nghiên cứu của nhà nghiên

cứu theo trường phái định tính, tức là phải gắn bó và thiết lập được mối quan hệ thân thiết với cộng đồng, với cá nhân người cung cấp thông tin trên cơ sở tôn trọng, tin tưởng, thấu hiểu và cảm thông

Nhà nghiên cứu định tính không thể thu thập thông tin tốt nếu như chỉ dừng lại ở các cuộc thăm viếng ngắn ngủi, ít gây thiện cảm Khách thể của nghiên cứu định tính là con người với những thân phận và quan niệm sống khác nhau, do vậy họ không dễ dàng

thổ lộ cho nhà nghiên cứu “xa lạ” những câu chuyện về cuộc đời, thân phận và quan

niệm sống của họ Sự xuất hiện của người nghiên cứu gây ra sự xáo trộn trong cuộc

sống của các khách thể nghiên cứu, vì thế họ cũng tò mò và thận trọng với sự có mặt của các nhà nghiên cứu

Trang 22

Một nguyên tắc quan trọng nữa là người nghiên cứu cần phải lắng nghe thông điệp “bị tắt tiếng” Nói cách khác, người nghiên cứu phải quan tâm đến những cá nhân

mờ nhạt trong những cấu trúc xã hội của cộng đồng, chẳng hạn như một người vợ lặng

lẽ trong gia đình với những công việc nội trợ, người nông dân nghèo thường thu mình ít

tiếp xúc với mọi người xung quanh… Dù họ là ai thì họ cũng là một nhân vị trong xã

hội, tiếng nói của họ cũng có giá trị như tiếng nói của những cá nhân khác

Tùy theo hoàn cảnh của từng cá nhân mà người nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau Người nghiên cứu phải đặt mình vào hoàn cảnh của khách thể nghiên cứu để hiểu những quan niệm, ý nghĩa, giá trị sống cá nhân của họ Đằng sau những quan niệm

và giá trị sống cá nhân là sự phản ánh cấu trúc xã hội mà khách thể nghiên cứu đang

sống Chính vì các cá nhân khác nhau có quan niệm và giá trị sống khác nhau nên nhà nghiên cứu không được đưa ra những nhận xét đúng/sai mà chỉ là phản ánh cách nghĩ hay cách làm của khách thể nghiên cứu

Sự thấu hiểu và cảm thông đối với khách thể nghiên cứu là cần thiết nhưng chưa

đủ Nhà nghiên cứu còn phải luôn tỉnh táo và hoài nghi về mọi thông tin mà mình thu

nhận được, nghĩa là người nghiên cứu phải luôn luôn tồn tại với tư cách là người đối thoại (đối thoại với người đi trước, đối thoại với cá nhân trong cộng đồng) Với cách làm như vậy người nghiên cứu sẽ thu nhận được nhiều quan điểm, nhiều tiếng nói và tránh bỏ sót những “tiếng nói bị tắt” Người làm nghiên cứu không thể xem mọi thứ tồn

tại là đương nhiên như chân lý mà không nghi vấn, tìm hiểu những ý nghĩa khác nhau

của sự vật chúng ta đang quan sát

Khi thực hiện nghiên cứu định tính, người nghiên cứu có nhiều thuận lợi vì sống trong cộng đồng với khoảng thời gian dài và được mọi người xác định vị thế xã hội của người nghiên cứu là “trí thức”, đến từ trường đại học, viện nghiên cứu ở những khu đô

thị lớn Tuy nhiên, chính những thuận lợi này lại ẩn chứa những trở ngại trong quá trình nghiên cứu Ví dụ, khi người dân xác định người nghiên cứu là những trí thức đã gây ra khoảng cách khá lớn giữa nhà nghiên cứu và người dân Vì vậy, người nghiên cứu phải

cố gắng hòa nhập với cộng đồng để “xóa mờ” khoảng cách giữa người nghiên cứu và người dân địa phương, để hai bên tồn tại với tư cách bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Nhiều khi sự cố gắng xóa mờ khoảng cách lại lôi kéo nhà nghiên cứu và những mối quan hệ rắc rối khác trong cộng đồng Chính vì vậy, người làm nghiên cứu sẽ rất khó trung lập, khó làm cho nghiên cứu không có tính thiên vị, không ảnh hưởng đến lợi ích

xã hội và những cá nhân trong cộng đồng Ví dụ, việc trích dẫn tên người cung cấp thông tin trong các nghiên cứu định tính

Trang 23

Trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và nông nghiệp - phát triển nông thôn nói riêng, người nghiên cứu phải giữ khoảng cách với quan điểm của khách thể

nghiên cứu Một nghiên cứu thường sử dụng hai loại dữ kiện đó là emic và etic, trong

đó emic là dữ kiện ngôn từ dẫn đến nhận thức của các tác nhân bản địa và etic là dữ kiện

được xây dựng bằng công cụ quan sát hoặc đo lường Hai loại dữ kiện này thường tạo ra

dạng đối lập giữa tư duy bản địa và tư duy của nhà khoa học, giúp giữ được tính khách quan khi giải thích một vấn đề dưới quan điểm của các nhà nghiên cứu

H.S Becker chủ trương nhà nghiên cứu phải đứng về phía những kẻ yếu đuối, những kẻ bị loại trừ Nhưng những nhà xã hội học khác như Gouldner, Silverman lại không đồng tình với chủ trương này Theo Gouldner, những người không có quyền lực cũng không có những “đức tính” để được đề cao Cũng theo ông, giọng điệu mỉa mai phê bình tổ chức của các nghiên cứu định tính chỉ phản ánh sự tranh quyền lực giữa nhóm ưu tú cũ và mới trong việc kiểm soát các dịch vụ xã hội Hơn nữa, quan tâm của nghiên cứu định tính với các nhóm, các cộng đồng bên lề xã hội, việc nhấn mạnh đến

lối sống, tính chủ quan của các đối tượng xã hội cũng là một dạng “hiếu kỳ xã hội” Khi quá nhấn mạnh đến những người bị loại trừ, những người lệch lạc, những người thất nghiệp, các phụ nữ đơn thân, những người trong hoàn cảnh khó khăn trong xã hội, nghiên cứu định tính ít đề cập đến từng lớp ưu tú, những tầng lớp trên, tầng lớp thống

trị Tập trung phê bình những viên chức hành chính ở cơ sở, nghiên cứu định tính bỏ qua những cơ chế vĩ mô của sự thống trị Silverman cho rằng khi đứng trên lập trường

của những kẻ bị loại trừ, nghiên cứu định tính biến thành một loại công cụ và với chủ trương thâu thập thông tin, mô tả kinh nghiệm của những người yếu thế, nghiên cứu định tính cũng là một loại chủ nghĩa lãng mạn, dân túy

Thái độ đứng về phía những người yếu thế cũng bị xem là thái độ ưu tuyển, nhà nghiên cứu tự cho mình sứ mạng là người phát ngôn của các tầng lớp bị thống trị và rút

ra từ đó lợi ích biểu trưng Mặt khác, khi muốn bảo vệ và đặt định một lối nghiên cứu,

những nhà nghiên cứu định tính không thấy giới hạn của loại nghiên cứu này Theo Hammersley, người ta đã quá đề cao tính giá trị của các dữ kiện dân tộc học so với các

loại dữ kiện khác Theo ông, phải thấy giới hạn của nghiên cứu định tính trong việc khái quát hóa các kết quả, làm bật lên các mối liên hệ nhân quả và phải thấy “tính giá trị không chắc chắn” của loại nghiên cứu này, bởi lẽ việc nhấn mạnh kinh nghiệm của chủ

thể, sự đồng cảm, sự dấn thân của người nghiên cứu không thể thay thế thao tác các khái niệm, giải thích các dữ kiện Nét đặc trưng của một phương pháp không phải là đối tượng của nó, mà là các bước thực hiện phải được công khai hóa và được cộng đồng khoa học thẩm định, bởi lẽ việc tiếp cận kinh nghiệm sống của chủ thể, tính chủ quan, tính trung thực của các chủ thể có thể che dấu những vấn đề phương pháp luận Do đó nghiên cứu định tính không thể tự cho mình ở cấp độ nhận thức luận cao hơn các loại hình nghiên cứu khác

Trang 24

Nhấn mạnh quan điểm của đối tượng nghiên cứu cũng có hạn chế của nó, bởi lẽ nhà nghiên cứu muốn thiết lập quan hệ tin cẩn, lâu dài với các đối tượng, điều này có thể dẫn đến những định kiến, thiên lệch trong việc thu thập và giải thích thông tin Nhà nghiên cứu định tính có khuynh hướng bảo vệ, biện hộ những đối tượng nghiên cứu Trong các nghiên cứu về phong trào xã hội, khó phân biệt đâu là ranh giới giữa nghiên

cứu và tinh thần chiến đấu (Militance) Và như vậy, tính giá trị của nghiên cứu bị đặt thành vấn đề

Xa hơn, người ta đặt lại tính thích hợp (Pertinence) của nghiên cứu định tính trên bình diện xã hội Đối với một số nhà xã hội học, có thể có bổ sung giữa nghiên cứu định tính và định lượng, nhưng một số nhà xã hội học khác như Hammersley, Silverman, đặt

lại vấn đề đóng góp của nghiên cứu định tính trên bình diện thực tiễn Theo họ, nghiên

cứu định tính thường lâu dài và không chắc chắn, do đó không đáp ứng những đòi hỏi

khẩn trương, tức thời của những người ra quyết định Nghiên cứu định tính tự cho mình vai trò soi sáng (Enlightenment), điều này có nghĩa là những người làm việc thực tiễn (Praticiens) là sai lầm, mò mẫm Theo các tác giả này, công tác thực tiễn có logic của riêng và ít dựa vào nghiên cứu mà là kinh nghiệm Nghiên cứu không thể thay thế kinh nghiệm Nói cách khác, nghiên cứu và công tác thực tiễn tuân theo nhịp độ và những quy luật khác nhau Hơn thế nữa, những kết quả của nghiên cứu định tính thường không

rõ ràng, phức tạp và không có tác dụng với lĩnh vực hành động và quản lý là những lĩnh

vực cần những thông tin rõ ràng, chính xác để có thể sử dụng trực tiếp Tính chất thông

diễn học (Herméneutique) của nghiên cứu định tính luôn muốn đẩy lùi mọi ý định hành động Như vậy, nghiên cứu định tính càng phức tạp hóa tình huống xã hội và làm khó khăn các chọn lựa hành động Silverman chống lại việc lấy các vấn đề xã hội làm đối tượng nghiên cứu, vì như vậy nhà nghiên cứu phải thỏa hiệp với cách đặt vấn đề, với

những nhận thức về vấn đề được đưa ra Nói cách khác, đi vào lĩnh vực nghiên cứu

những vấn đề xã hội, nghiên cứu định tính bị buộc phải từ bỏ những đòi hỏi phương pháp luận của mình (ví dụ tính phê phán triệt để) để tuân theo các mục tiêu của nghiên

cứu xã hội nói chung là tìm ra những giải đáp cho những vấn đề xã hội Thật ra, đặt vấn

đề như vậy, Silverman không chỉ phê phán nghiên cứu định tính mà nghiên cứu xã hội nói chung

Đối với một số nhà xã hội học khác như Bourdieu, Mauger, việc đề cao phương pháp định tính ở một số tác giả và việc phê bình sử dụng thống kê trong nghiên cứu xã

hội là nhằm che dấu “một số khiếm khuyết trong đào tạo” của các tác giả này và họ

muốn thay thế cái “vốn liếng trường ốc” đó bằng cái vốn văn hóa Theo Mauger, việc chủ trương trở về với cơ sở, cái thường ngày, chống lại duy lý công cụ, chống lại hệ

thống quan liêu, chống định chế, khám phá lại tính chủ thể và sự độc lập cá nhân biểu

hiện ý thức xã hội của những nhóm, tầng lớp xã hội Hay nói cách khác, nghiên cứu định tính có tương quan với mô hình văn hóa của tầng lớp tiểu tư sản mới hay các tầng

lớp trung lưu có xu hướng giản lược cơ cấu xã hội vào các quan hệ liên cá nhân trong

Trang 25

đó mỗi người làm chủ chính đời sống của mình trong một xã hội đa nguyên, luôn thay đổi mà quy tắc chủ đạo vẫn là chiến lược thích ứng với các tình huống (Bourdieu, 1989; Mauger, 1989)

Tóm lại, nếu nhà nghiên cứu không có khả năng tiết chế các quan điểm cá nhân, đồng thời không có khả năng kết hợp nghiên cứu định tính với định lượng thì khi áp

dụng phương pháp nghiên cứu định tính sẽ gặp phải một số hạn chế sau đây:

- Có quá nhiều tính chủ quan: Các nhà nghiên cứu định tính thường bắt đầu với phương thức tương đối mở và đòi hỏi sự cụ thể hóa dần các câu hỏi hay vấn đề nghiên cứu nên khó xác định vấn đề nghiên cứu trong hệ thống tổng thể Đôi khi, người nghiên

cứu định tính dựa vào các quan điểm không có hệ thống của những nhà nghiên cứu về

những điều cho là quan trọng và dựa vào nhiều mối quan hệ cá nhân gần gũi giữa người nghiên cứu với khách thể nghiên cứu

- Khó khăn trong việc tái tạo lại: Nghiên cứu định tính có tính không cấu trúc và dựa vào quyết định của người nghiên cứu nên hầu như không thể tiến hành sự tái tạo đúng đắn

-Vấn đề khái quát hóa bị hạn chế: Đa số các nghiên cứu định tính thường chỉ giới

hạn trong phạm vi không gian và thời gian nhất định nên không thể khái quát cho các

bối cảnh xã hội khác Hơn nữa, cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp điển hình không

thể chắc chắn rằng các trường hợp được chọn để nghiên cứu có thể đại diện cho các trường hợp khác

- Thiếu sự minh bạch: Nghiên cứu định tính đôi khi làm cho người đọc khó hiểu

về cách mà nhà nghiên cứu thực hiện hay cách để nhà nghiên cứu đi đến kết luận của mình Việc lựa chọn người quan sát hay đối tượng phỏng vấn phải phù hợp với tính đại diện cho đối tượng nghiên cứu

Những thiếu sót nêu trên của nghiên cứu định tính có thể được khắc phục Cách thiết kế nghiên cứu so sánh, kỹ thuật phân tích, gia tăng việc sử dụng các phần mềm máy tính trong xử lý thông tin… sẽ làm tăng tính minh bạch và tính hệ thống của nghiên

cứu định tính

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Nghiên cứu định tính là gì? Những quan tâm chính của nhà nghiên cứu định tính?

2 Nguyên tắc làm việc của nhà nghiên cứu định tính?

3 Nêu ưu/nhược điểm của phương pháp nghiên cứu định tính?

4 Phân biệt phương pháp nghiên cứu định tính với phương pháp nghiên cứu định lượng?

5 Làm thế nào để kết hợp phương pháp nghiên cứu với phương pháp nghiên cứu định lượng?

Trang 26

C hương 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Chương này nhằm cung cấp cho người học 4 kỹ năng cơ bản trong thiết kế một nghiên cứu định tính, bao gồm xác định câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn địa điểm và đối tượng nghiên cứu, lựa chọn phương pháp thu thập và phân tích thông tin và lập kế

ho ạch thực hiện nghiên cứu

Các nghiên cứu định lượng và định tính đều bắt nguồn từ ý tưởng của chính nhà nghiên cứu Tuy nhiên, ý tưởng thường được hình thành và phát triển thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, thực tiễn và các nghiên cứu có liên quan Sau khi hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn, ý tưởng được thiết lập và các câu hỏi nghiên cứu sẽ hình thành một cách rõ ràng hơn

Nhà nghiên cứu cần phải cân nhắc kỹ lưỡng xem câu hỏi nghiên cứu đã đủ rõ ràng chưa? Có giá trị thực tiễn không? Liên quan như thế nào với các nghiên cứu và trường phái lý thuyết hiện hành?

Trong nghiên cứu định tính, các nghiên cứu và trường phái lý thuyết hiện hành đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu định tính không dựa trên những lý thuyết sẵn có để xây dựng và kiểm định giả thuyết thông qua thu thập số liệu, trái lại việc xây dựng và thăm dò một lý thuyết mới sẽ rất quan trọng trong thiết kế nghiên cứu Mặc dù, ý tưởng ban đầu sẽ quy định đến việc thiết kế nghiên

cứu và phương pháp thu thập tài liệu, song mối quan hệ giữa hoạt động thiết kế, thu

thập tài liệu và xây dựng khung lý thuyết không phải một chiều mà mang tính đa chiều Tóm lại, để thiết kế được một nghiên cứu định tính có chất lượng và hiệu quả, câu

hỏi nghiên cứu cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Rõ ràng, dễ hiểu và không mập mờ

- Tập trung nhưng không quá hẹp

- Có khả năng trả lời thông qua thu thập tài liệu (không trừu tượng), câu hỏi thiên

về áp dụng lý thuyết hơn sử dụng tài liệu

- Phù hợp và hữu ích đối với chính sách hoặc là thực tế hoặc là phát triển lý thuyết

xã hội

- Thích hợp với các nghiên cứu và lý thuyết hiện tại nhưng phải có những đóng góp mới về lý thuyết

- Khả thi và phù hợp với điều kiện nguồn lực hiện có

- Thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Trang 27

2.2 LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Địa điểm và đối tượng nghiên cứu được lựa chọn sao cho phù hợp với câu hỏi

nghiên cứu, đồng thời nhằm thu được thông tin phù hợp, sâu sắc và phong phú Trong thiết kế nghiên cứu, việc lựa chọn địa điểm và đối tượng nghiên cứu cần giải quyết được

2 vấn đề quan trọng, đó là: nghiên cứu so sánh và nghiên cứu điểm

Nghiên cứu so sánh được thiết kế nhằm phát hiện ra sự khác nhau của những can thiệp, hành vi và cách ứng xử của những nhóm đối tượng Tuy nhiên, khi thực hiện một nghiên cứu so sánh, yêu cầu nhà nghiên cứu phải xác định được phương pháp thu thập thông tin phù hợp để có thể so sánh được các hiện tượng xảy ra ở các địa điểm khác nhau Trong nghiên cứu định tính, nghiên cứu so sánh không được ủng hộ tích cực do

một số nhà khoa học lập luận rằng: tập trung vào so sánh rất có thể sẽ làm mất đi tính

“sâu sắc” trong mô tả và phân tích các trường hợp riêng rẽ Do vậy, bản chất của so sánh trong nghiên cứu định tính rất khác so với trong nghiên cứu định lượng Nếu như nghiên cứu định lượng cố gắng đo lường sự khác nhau thì nghiên cứu định tính tập trung đưa ra những hiểu biết khác nhau trong từng bối cảnh

Đóng góp của so sánh trong nghiên cứu định tính là:

- Xác định sự xuất hiện của một hiện tượng cụ thể trong các nhóm xã hội khác nhau

- Phát hiện biểu hiện khác nhau của các hiện tượng giữa các nhóm

- Phát hiện nguyên nhân của hiện tượng, tác động và kết quả tác động của các hiện tượng giữa các nhóm

- Tìm hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa các hiện tượng trong các bối cảnh khác nhau

- Tìm ra sự khác biệt về bối cảnh trong đó các hiện tượng nghiên cứu xuất hiện hoặc trong đó nghiên cứu được thực hiện

Mẫu cho nghiên cứu so sánh định tính phải bảo đảm tương đối lớn Mỗi nhóm so sánh phải đủ lớn để có thể phản ánh tính đa dạng và phức tạp của bản thân nhóm, đồng

thời để có thể so sánh được các nhóm Nghiên cứu so sánh yêu cầu cách tiếp cận tài liệu mang tính “cấu trúc” nhằm phát hiện ra những vấn đề nghiên cứu tương tự nhau ở các nhóm khác nhau

Bản thân cụm từ “nghiên cứu điểm” hay “nghiên cứu điển hình” có liên quan chặt

chẽ đến nghiên cứu định tính, mặc dù trên thực tế nó được sử dụng trong nhiều trường

hợp khác nhau Trong nghiên cứu khoa học, đôi khi người ta còn dùng cụm từ “nghiên

cứu điểm” như từ đồng nghĩa với nghiên cứu định tính

Trang 28

Những đặc điểm của nghiên cứu điển hình:

- Chỉ có một trường hợp nghiên cứu được lựa chọn

- Nghiên cứu sâu và chi tiết

- Hiện tượng nghiên cứu được tiến hành trong một hoàn cảnh cụ thể

- Sử dụng đồng thời nhiều phương pháp thu thập tài liệu khác nhau

Mặc dù những đặc điểm trên rất quan trọng trong việc phân biệt nghiên cứu điển hình với các dạng nghiên cứu khác, song một đặc điểm nổi bật hơn cả là nghiên cứu chỉ

ra sự đa dạng trong một hoàn cảnh cụ thể Sự đa dạng có thể được phát hiện do áp dụng các phương pháp thu thập tài liệu khác nhau Tuy nhiên, sự đa dạng trong kết quả nghiên cứu cũng có thể do người nghiên cứu áp dụng một phương pháp thu thập tài liệu nhưng thu thập từ các nhóm đối tượng khác nhau - những người có quan điểm khác nhau về cùng một hiện tượng

Để tổng hợp được các quan điểm khác nhau trong cùng một bối cảnh, nghiên cứu điển hình cần phải được thiết kế dựa trên những hiểu biết rất sâu sắc và chi tiết Nghiên

cứu điển hình được thực hiện trong các điều kiện mà quan điểm riêng lẻ không thể đưa

ra được những giải thích đầy đủ cho vấn đề nghiên cứu, và trong các điều kiện, người nghiên cứu cần tìm hiều vấn đề một cách tổng thể, sâu sắc và phù hợp với từng hoàn

cảnh cụ thể

Yêu cầu cần đạt được khi thiết kế nghiên cứu điển hình:

- Hiểu biết ban đầu về bối cảnh nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc

chọn điểm nghiên cứu

- Lựa chọn nhóm đối tượng chủ chốt để nghiên cứu

- Mô tả sơ lược tất cả các nhóm đối tượng nghiên cứu và những người cung cấp thông tin chủ chốt

- Lựa chọn phương pháp tổ chức và phân tích tài liệu sao cho ý tưởng và đóng góp

của các đối tượng khác nhau trong từng trường hợp cụ thể, có thể so sánh được với nhau

Phương pháp thu thập thông tin được lựa chọn chủ yếu dựa vào câu hỏi nghiên cứu, song việc quyết định sử dụng những phương pháp cũng chịu sự chi phối của bối

cảnh cũng như thời gian thực hiện nghiên cứu Như đã thảo luận ở chương 1, có rất nhiều phương pháp thu thập tài liệu khác nhau được sử dụng trong nghiên cứu định tính,

việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả nghiên cứu

Phương pháp thu thập tài liệu tồn tại độc lập với ý muốn của nhà nghiên cứu bao

gồm quan sát, phân tích tài liệu và phân tích hội thoại Phương pháp thu thập tài liệu

Trang 29

theo ý muốn của nhà nghiên cứu thường bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Lựa chọn phương pháp thu thập phù hợp với chủ đề nghiên cứu cũng như chuyên môn

của người thực hiện nghiên cứu rất quan trọng

Nói một cách tổng quát, nhà nghiên cứu cần xem xét kỹ lưỡng các vấn đề sau trước khi quyết định lựa chọn phương pháp thu thập tài liệu

a, T ầm quan trọng của bối cảnh nghiên cứu

Bối cảnh là khía cạnh tương đối quan trọng trong nghiên cứu định tính cho dù có

sử dụng phương pháp nào đi nữa Tuy nhiên, phương pháp thu thập tài liệu dựa vào ý

muốn chủ quan của nhà nghiên cứu cho phép các đối tượng nghiên cứu mô tả một cách

kỹ lưỡng các điều kiện trong đó tác giả tiến hành nghiên cứu Nếu bối cảnh nghiên cứu

là khía cạnh cơ bản của hiện tượng nghiên cứu thì phương pháp thu thập tài liệu độc lập nên được ưu tiên

b, Mô tả đầy đủ, chi tiết và chính xác hiện tượng nghiên cứu

Trong các trường hợp khó khai thác thông tin từ đối tượng nghiên cứu thông qua

phỏng vấn và thảo luận trực tiếp, phương pháp thu thập tài liệu thông qua các hoạt động độc lập với nhà nghiên cứu như quan sát hay phân tích hội thoại sẽ có hiệu quả hơn

c, Vai trò của người giải thích tài liệu

Sự khác biệt cơ bản giữa thu thập tài liệu độc lập với thu thập tài liệu theo ý muốn

của nhà nghiên cứu có vai trò giải thích tài liệu của người thực hiện nghiên cứu và đối tượng tham gia nghiên cứu Những tài liệu thu thập từ nguồn độc lập với ý muốn của nhà nghiên cứu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự giải thích của họ về những gì họ quan sát

và đọc được Trong khi đó, phương pháp thu thập tài liệu qua phỏng vấn và thảo luận nhóm cho phép đối tượng tham gia nghiên cứu giải thích và thể hiện được ý tưởng của mình một cách trực tiếp thông qua trả lời câu hỏi của người nghiên cứu Mặc dù, tài liệu phỏng vấn sẽ được các nhà nghiên cứu giải thích, song giải thích của các đối tượng tham gia trực tiếp được xem là rất quan trọng trong nghiên cứu định tính

Phương pháp thu thập tài liệu chủ yếu xuất phát từ ý muốn của nhà nghiên cứu trong nghiên cứu định tính là phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Tuy nhiên, việc lựa

chọn một trong 2 phương pháp trong nghiên cứu cần phải căn cứ vào 3 yếu tố: loại số liệu thu thập, chủ đề nghiên cứu và bản chất của nhóm đối tượng nghiên cứu

a, B ản chất của số liệu thu thập

Đặc điểm của phương pháp phỏng vấn sâu là tập trung vào cá nhân Phương pháp

phỏng vấn sâu cho phép phát hiện quan điểm của từng cá nhân hiểu được bối cảnh trong

tổng thể hiện tượng nghiên cứu Do vậy, phương pháp phỏng vấn sâu sẽ phù hợp với những nghiên cứu có xu hướng tìm hiểu cuộc sống và kinh nghiệm của từng cá nhân cũng như phát hiện các vấn đề khác nhau liên quan đến từng đối tượng nghiên cứu

Trang 30

Thảo luận nhóm là phương pháp sử dụng thảo luận, trao đổi và lắng nghe lẫn nhau

giữa các đối tượng nghiên cứu Thông qua thảo luận nhóm, các đối tượng tham gia có thể trau chuốt câu trả lời của mình Sự trao đổi và thảo luận giữa các cá nhân tham gia

thảo luận nhóm sẽ cung cấp cho người nghiên cứu những thông tin có ích, đặc biệt những thông tin liên quan đến tính tư duy sáng tạo, đến các giải pháp hoặc các chiến lược

b, Ch ủ đề nghiên cứu

Đối với những nghiên cứu phức tạp, nghiên cứu về quá trình và kinh nghiệm, cách tốt nhất là sử dụng phương pháp thu thập tài liệu bằng phỏng vấn sâu Tương tự, phỏng vấn sâu cũng hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu nhằm tìm hiểu động cơ và quá trình

ra quyết định cũng như các nghiên cứu nhằm phát hiện những tác động và kết quả của

những tác động đó

Khác với phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm cho phép người nghiên

cứu thu thập những thông tin mang tính chất trừu tượng, khó nắm bắt và mang tính khái

niệm Thảo luận nhóm cũng phù hợp với những nghiên cứu tập trung vào phát hiện thái

độ và quan điểm, hoặc những chủ đề khó mang tính kỹ thuật mà yêu cầu các loại thông tin khác nhau

Những chủ đề nhạy cảm cũng có thể được thực hiện thông qua thảo luận nhóm

nhưng trong trường hợp này, yêu cầu người nghiên cứu phải xác định được thành phần các đối tượng tham gia Trái lại, những chủ đề trong đó tôn trọng sự tự tin của mỗi cá nhân cũng như các chủ đề liên quan đến phong tục tập quán dường như không phù hợp

với thảo luận nhóm

c, Đối tượng nghiên cứu

Tùy theo đặc điểm của đối tượng nghiên cứu mà người nghiên cứu lựa chọn phương pháp thu thập thông tin cho phù hợp Nếu đối tượng nghiên cứu là những người

bận rộn, sống không tập trung và không có đặc điểm chung, phương pháp phỏng vấn sâu sẽ giúp người nghiên cứu có thể tiếp cận được đối tượng nghiên cứu dễ dàng hơn Phương pháp thảo luận nhóm phù hợp với nhóm đối tượng có chung một đặc điểm, chẳng hạn như có cùng mối quan tâm đến chủ đề nghiên cứu hoặc có chung đặc điểm xã hội và văn hóa

d, K ết hợp phương pháp phỏng vấn sâu với thảo luận nhóm

Trên thực tế, phương pháp thu thập tài liệu bằng phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

có thể kết hợp với nhau một cách có hiệu quả

Ví dụ: thảo luận nhóm có thể được sử dụng để tìm hiểu và phát hiện vấn đề nghiên cứu, sau đó phỏng vấn sâu sẽ được áp dụng để nghiên cứu sâu hơn Thảo luận nhóm cũng có thể được sử dụng sau phỏng vấn sâu để trao đổi những vấn đề mang tính

chất chiến lược hoặc tìm ra giải pháp

Trang 31

B ảng 2.1 Khả năng áp dụng của phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Ph ỏng vấn sâu Th ảo luận nhóm

Bản chất của tài

liệu - Cung cấp thông tin mô tả sâu sắc về từng cá nhân

- Tìm hiểu hoàn cảnh của cá nhân

- Phát hiện vấn đề sâu sắc và chi tiết

- Cung cấp thông tin thông qua trao đối, thảo luận

- Thể hiện bối cảnh xã hội nhằm phát hiện vấn đề thông qua thảo luận

- Có được các giải pháp nhờ phương pháp tư duy tập thể

- Phát hiện những ý kiến khác nhau trong nhóm

Chủ đề nghiên

cứu - phức tạp như: động cơ, quyết định, tác Tìm hiểu các quá trình và vấn đề

động, kết quả

- Tìm hiểu các chủ đề mang tính riêng

tư hoặc các vấn đề về tập tục xã hội

- Áp dụng cho các chủ đề nhạy cảm

- Giải quyết những chủ để mang tính khái niệm, trừu tượng

- Cho phép áp dụng với những chủ đề mang tính kỹ thuật, phức tạp

- Có thể áp dụng cho một số chủ đề nhạy cảm nhưng yêu cầu lựa chọn kỹ lưỡng thành phần tham dự thảo luận Đối tượng nghiên

cứu - hoặc khó có thể di chuyển Áp dụng cho những đối tượng không

- Đối tượng nghiên cứu sống rải rác và

- Áp dụng với nhóm đối tượng sẵn sang

di chuyển để tham gia thảo luận nhóm

- Áp dụng với những đối tượng có cùng mối quan tâm đến chủ đề nghiên cứu

- Áp dụng với những đối tượng không bị hạn chế/ngăn cấm khi tham gia hoạt động theo nhóm

Trong chương 1, thông tin định tính bao gồm các dạng văn bản, tư liệu, biểu tượng, hoạt động và các sự kiện trong đời sống xã hội Thông tin định tính có thể được phân tích bằng phương pháp định lượng hoặc định tính Trong quá trình phát triển, phương pháp phân tích thông tin định tính ngày càng trở nên rõ ràng và mang tính hệ thống hơn Tuy nhiên, không có phương pháp nào được coi là tốt nhất vì các phương pháp khác nhau cần phải được sử dụng kết hợp để mang lại hiệu quả cao nhất

Phương pháp phân tích thông tin định tính bao gồm:

- Phân tích định lượng: mô hình toán, xử lý thống kê,…

- Phân tích định tính: phân tích lặp, minh họa, so sánh, phân tích theo chủ đề,…

Mặc dù, có rất nhiều phương pháp phân tích thông tin khác nhau nhưng việc lựa

chọn phương pháp hoặc lựa chọn kết hợp những phương pháp với nhau sẽ tùy thuộc vào

chủ đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và kết quả trông đợi của nghiên cứu

Kế hoạch thời gian đóng vai trò quan trọng trong thành công của nghiên cứu kể cả định lượng và định tính Nguyên nhân chủ yếu do: (i) hầu hết các nghiên cứu đều được thực hiện trong khoảng thời gian nhất định; (ii) nghiên cứu thường liên quan đến nhiều

Trang 32

người/nhóm người khác nhau - những người có kế hoạch khác nhau về thời gian và công

việc; (iii) các nguồn lực khác, đặc biệt là tài chính, phục vụ cho nghiên cứu có hạn

Kế hoạch về thời gian nghiên cứu cần phải được mô tả rõ:

- Tổng thời gian dự kiến để hoàn thành nghiên cứu là bao lâu?

- Từng công việc cụ thể được thực hiện vào thời điểm nào? Trong thời gian bao lâu?

Bên cạnh nguồn lực thời gian và tài chính, nguồn lực con người giữ vai trò quan

trọng trong thực hiện thành công một nghiên cứu định tính Thông thường, một nghiên cứu đòi hỏi có sự tham gia của các nhóm/cá nhân khác nhau với vai trò là người nghiên cứu, nhà tài trợ, cán bộ hỗ trợ nghiên cứu, cán bộ địa phương và các nhóm đối tượng nghiên cứu… Chính vì thế, lựa chọn người tham gia, vai trò của từng cá nhân/tổ chức trong nghiên cứu, những đóng góp và nhiệm vụ quan trọng của người thực hiện nghiên cứu chính

Xây dựng đề cương

Nghiên cứu tổng quan

Thiết kế bản câu hỏi

Chu ẩn bị cho nghiên cứu thực địa

Kho ản mục chi phí Thành tiền (USD)

1 Chi thuê nhà và đi lại 2.700

- Thuê xe từ Hà Nội tới điểm nghiên cứu 750

- Thuê xe máy đi lại ở điểm nghiên cứu 450

2 Thu th ập thông tin thứ cấp 1.600

- Mua sách, báo, tạp chí, các báo cáo có liên quan 400

- Chi phí thu thập số liệu thứ cấp 1.200

3 Thu th ập tài liệu sơ cấp 3.500

Trang 33

Kho ản mục chi phí Thành tiền (USD)

- Chi phí công bố kết quả nghiên cứu 300

1 Thi ết lập câu hỏi nghiên cứu

- Tổng quan tài liệu

- Tham kh ảo ý kiến của các chuyên gia

2 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu

- Lựa chọn phương pháp thu thập và phân tích thông tin

- Kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau

- Sự cần thiết của các nghiên cứu điển hình và các liên kết mang tính cấu trúc của mẫu nghiên cứu: thực hiện nghiên cứu thực địa và phân tích thông tin

3 L ựa chọn đối tượng, mẫu và địa điểm nghiên cứu

- Lựa chọn tổ chức và nhóm đối tượng

- Các nhóm nghiên cứu chủ yếu trong chọn mẫu

- Lựa chọn tiêu chí

- Lựa chọn nguồn thông tin về các biến nghiên cứu

4 Liên hệ với các đối tượng nghiên cứu tiềm tàng

- Tổ chức liên hệ

- T ổ chức thực hiện nghiên cứu

5 Thiết kế công cụ nghiên cứu

- Công cụ cần thiết: công cụ nghe nhìn, thư giới thiệu, thư mời các thành viên tham gia, các tài liệu hướng dẫn

- Nhóm tư vấn và nhà tài trợ

- Các tài liệu có liên quan

6 Chuẩn bị nghiên cứu thực địa

- Đánh giá rủi ro đối với các thành viên tham gia nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu và nghiên cứu viên

- Mô tả tóm tắt hoạt động thực địa: mục tiêu, kế hoạch, chiến lược

7 Th ực hiện nghiên cứu thực địa

- Thời gian cần thiết để chọn mẫu, phỏng vấn, thảo luận nhóm…

- Yêu cầu cần thiết cho làm việc theo nhóm

- Nghiên cứu thử

- Điều chỉnh phương pháp nghiên cứu thực địa

- Phân tích ban đầu về kết quả thực địa

- Chuẩn bị cho giai đoạn nghiên cứu sau

- Ghi chép lại

8 Phân tích

- Phân tích khung lý thuyết của nghiên cứu

- Kiểm tra và điều chỉnh khung lý thuyết

- Sơ đồ hóa, sắp xếp và tóm tắt tài liệu

- Giải thích tài liệu thu thập được

- Logic hóa tài liệu nghiên cứu

- Các dạng kết luận rút ra từ đề tài, những gợi ý giúp ra từ phân tích

9 Vi ết báo cáo

- Xác định nhóm người sử dụng kết quả của nghiên cứu

- Lập kế hoạch viết báo cáo, chỉnh sửa, trả lời các phản biện

- Trình bày báo cáo

10 Qu ản lý chương trình nghiên cứu

- Liên hệ với nhà tài trợ, nhóm chủ chốt, nhóm tư vấn

- Họp nhóm nghiên cứu

- Các nguồn lực cho hợp tác

Trang 34

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Thiết kế nghiên cứu là gì? Tại sao phải thiết kế nghiên cứu?

2 Các bước thiết kế một nghiên cứu theo hướng định tính?

3 Nêu những ưu/nhược điểm của nghiên cứu so sánh?

4 Nêu những ưu/nhược điểm của nghiên cứu điển hình?

5 Lập kế hoạch thời gian cho một nghiên cứu cụ thể?

6 Lập kế hoạch ngân sách cho một nghiên cứu cụ thể?

Trang 35

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN ĐỊNH TÍNH

M ục đích của chương này nhằm cung cấp cho sinh viên kiến thức về kỹ thuật chọn

m ẫu, lập kế hoạch thu thập thông tin, lựa chọn công cụ thu thập thông tin và các phương pháp thu thập thông tin định tính

Phương pháp chọn mẫu phổ biến được các nhà nghiên cứu sử dụng là chọn mẫu mang tính chất đại diện (có xác suất/tỷ lệ) và chọn mẫu mang tính chất điển hình (không xác suất/không theo tỷ lệ) Phương pháp chọn mẫu đại diện thường được xem là phù hợp nhất đối với các nghiên cứu mang tính thống kê nhưng lại không phù hợp với các nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính chủ yếu sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình Trong

chọn mẫu điển hình, mẫu được lựa chọn nhằm phản ánh tính chất điển hình của nhóm trong phạm vi tổng thể Mẫu không nhất thiết phải mang tính đại diện theo quan niệm

thống kê, tuy nhiên, các đặc trưng của tổng thể được sử dụng làm cơ sở để chọn mẫu Chính vì đặc điểm này mà nghiên cứu định tính phù hợp với những nghiên cứu quy mô

nhỏ và chuyên sâu

Cách chọn mẫu được xác định dựa trên mục tiêu nghiên cứu Thông thường

chọn mẫu có chủ đích được tiến hành theo các phương pháp sau:

- Chọn mẫu đồng nhất: được áp dụng khi người nghiên cứu cần nắm được bức tranh chi tiết về một hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này cho phép người nghiên

cứu có những phát hiện sâu sắc quá trình xã hội trong một bối cảnh cụ thể

- Chọn mẫu không đồng nhất: nhằm nghiên cứu một chủ đề nhưng diễn ra giữa các hoàn cảnh và nhóm đối tượng khác nhau

- Chọn mẫu cá biệt: những trường hợp cá biệt được lựa chọn vì tính chất bất thường của chúng Mục tiêu của cách chọn mẫu này để làm nổi bật và rút ra bài học từ

những trường hợp cá biệt

- Chọn mẫu có tính chất nổi trội: mục tiêu của phương pháp này tương tự như phương pháp chọn mẫu cá biệt, nhưng tập trung vào các hiện tượng mang tính đại diện hơn là những trường hợp cá biệt

- Chọn mẫu điển hình: các trường hợp được xem là “bình thường” hoặc “trung bình” sẽ được lựa chọn

- Chọn mẫu phân tầng: đây là cách tiếp cận hỗn hợp với mục tiêu để chọn ra các nhóm thể hiện được sự biến động của tổng thể nhưng mỗi nhóm lại tương đối đồng nhất

Trang 36

Tóm lại, các phương pháp chọn mẫu có chủ đích thường được lựa chọn ở giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu Ngoài ra, các phương pháp chọn mẫu khác cũng được áp dụng như chọn mẫu lý thuyết, chọn mẫu dựa vào những cơ hội thuận lợi… Chọn mẫu định tính có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Sử dụng các tiêu chí lựa chọn bắt buộc vì các lý do: (i) mục tiêu của nghiên

cứu định tính là tìm hiểu bản chất và ý nghĩa của hiện tượng nhằm đưa ra các ý tưởng, khái niệm và lý thuyết mới, vì thế các mẫu được lựa chọn cần mang tính điển hình; (ii) mẫu trong nghiên cứu định tính yêu cầu phải đa dạng như chính sự đa dạng của tổng thể

- Quy mô mẫu: mẫu trong nghiên cứu định tính có quy mô nhỏ vì các lý do: (i) nghiên cứu định tính cần phát hiện ra điểm đặc biệt; (ii) nghiên cứu định tính không quan tâm đến ước lượng và ý nghĩa thống kê; (iii) dạng thông tin cho nghiên cứu định tính phong phú và chi tiết; (iv) bên cạnh những thông tin thu thập bằng phỏng vấn, thảo

luận nhóm và quan sát, sự tham gia của chính người nghiên cứu trong thời gian dài là yếu tố quan trọng của nghiên cứu định tính

- Mẫu bổ sung: Trong nghiên cứu định lượng, việc bổ sung mẫu vào bộ số liệu

gốc khó khăn vì bị ảnh hưởng bởi tiêu chuẩn “đại diện” của mẫu, trong nghiên cứu định tính, mẫu bổ sung có thể hoàn toàn được chấp nhận và bảo đảm độ tin cậy Nguyên nhân là do các hiện tượng được bổ sung sẽ góp phần hoàn thiện vấn đề cần giải thích, hơn nữa “tần suất” xuất hiện của hiện tượng không phải là vấn đề lớn trong nghiên cứu định tính

Trong bất kỳ nghiên cứu định tính hay định lượng, việc chọn mẫu thường được bắt đầu với 2 câu hỏi lớn đó là: “Ai hay cái gì sẽ được chọn?” và “Nguồn thông tin nào

là phù hợp hay nguồn thông tin nào sẽ được chọn?”

Để xác định tổng thể nghiên cứu, có 3 vấn đề cần phải được giải quyết:

- Nhóm nào sẽ được tập trung trong chủ đề nghiên cứu? Điều này liên quan chặt

chẽ đến việc lựa chọn tổng thể để nhằm thu được thông tin phong phú nhất Tổng thể được coi là phù hợp khi nó có khả năng chỉ ra những khía cạnh khác nhau của câu hỏi nghiên cứu

- Có bộ phận nào trong tổng thể bị loại ra khỏi nghiên cứu hay không? Nếu trong tổng thể có những bộ phận không phù hợp, người nghiên cứu nên loại bỏ bộ phận

đó ra khỏi phạm vi nghiên cứu

- Có bộ phận nào hay nhóm nào cần bổ sung thêm vào tổng thể nghiên cứu hay không? Trong một số trường hợp cần thiết, người nghiên cứu có thể bổ sung thêm mẫu,

thậm chí là những mẫu không thuộc trong vùng nghiên cứu

Nhìn chung, để lựa chọn được tổng thể nghiên cứu phù hợp, quá trình lựa chọn

phải được thực hiện qua nhiều bước khác nhau

Trang 37

3.1.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu có chủ đích

Chọn mẫu có chủ đích là một trong các phương pháp chọn mẫu phổ biến nhất, trong đó các nhóm đối tượng nghiên cứu được lựa chọn theo những tiêu chí đã chuẩn bị

sẵn sao cho phù hợp với câu hỏi nghiên cứu

a, Xác định tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí được sử dụng có thể là đặc tính dân số, hoàn cảnh, kinh nghiệm hoặc thái độ - tùy theo từng hiện tượng nghiên cứu Các tiêu chí phức tạp sẽ khiến cho việc chọn mẫu khó khăn hơn do thông tin cần phải được thu thập trước khi quyết định đưa thêm hay loại trừ mẫu trong nghiên cứu

Tiêu chí chọn mẫu chủ yếu được xác định dựa trên mục tiêu nghiên cứu Tuy nhiên, những khía cạnh sau cũng cần được xem xét:

- Tổng quan tài liệu nghiên cứu hoặc các nghiên cứu có liên quan để tìm ra các tiêu chí ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu mà những nghiên cứu trước đã chỉ ra

- Các giả thuyết nghiên cứu có thể dùng làm cơ sở để xác định từng nhóm nghiên

cứu cụ thể

- Những quan điểm cụ thể của từng nhóm và các hoàn cảnh cụ thể cũng được xem xét khi chọn mẫu

b, Ưu tiên trong xác định tiêu chí chọn mẫu

Bước đầu tiên trong ưu tiên chọn mẫu là xác định cơ cấu mẫu của tổng thể nghiên

cứu, cơ cấu đó phải đủ đa dạng cho phân tích so sánh Cách làm tốt nhất là xây dựng

một bảng có 2 đến 3 cột, trong đó các biến cần thu thập có thể sắp xếp theo một trình tự nhất định, kể cả thông tin sơ cấp và thứ cấp

Thông tin sơ cấp được xem là loại thông tin quan trọng nhất trong nghiên cứu, do

vậy thông tin sơ cấp cần được ưu tiên trong xác định cấu trúc mẫu Thông tin thứ cấp thường được xếp ở mức kém quan trọng hơn trong tổng thể mẫu Nếu có bộ tiêu chí thứ

3 trong xác định ưu tiên thì tiêu chí đó cần được chỉ rõ và bổ sung trong quá trình nghiên cứu

Các tiêu chí cần xem xét khi lựa chọn mẫu nghiên cứu theo chủ đích:

- Tuổi: Bảo đảm sự cân bằng trong chọn mẫu theo dân số

- Giới: Tránh sự bất bình đẳng và tìm hiểu được ý tưởng khác nhau của phụ nữ và nam giới

- Thành phần gia đình: Sự có mặt của những người khác trong gia đình sẽ gây ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của các cá nhân khác

- Ngu ồn gốc dân tộc: Bảo đảm tính công bằng trong tiêu chí dân số

- Nghề nghiệp: Đối tượng tham gia nghiên cứu bị ràng buộc về thời gian trong thời gian làm việc

- Mức thu nhập: Ảnh hưởng đến sự sẵn sàng chi trả của bệnh nhân

- Địa phương: Ảnh hưởng đến lượng bệnh nhân giữa các vùng trong nước

- Chế độ chăm sóc răng miệng: Cho thấy thái độ chăm sóc răng của các đối tượng khác nhau

Trang 38

c, Quy mô mẫu

Khi quyết định số lượng mẫu nghiên cứu, cần phải trả lời các câu hỏi sau:

- Nên chọn bao nhiêu mẫu?

- Có nên đưa nhiều biến vào nghiên cứu hay không?

- Có nên sắp xếp các biến theo thứ tự ưu tiên hay không?

- Liệu có đủ nguồn lực để thu thập được những thông tin có chất lượng cao trong

phạm vi số mẫu dự kiến hay không?

Do mục tiêu của nghiên cứu định tính là cần những thông tin sâu hơn, do vậy mẫu nghiên cứu chỉ cần chọn từ một số phần trong tổng thể, không cần đủ rộng mang tính đại diện Quy mô mẫu không nhất thiết phải ấn định trước khi thu thập mà thường được xác định tùy theo thời gian và nguồn lực cho phép, nhưng vẫn phải đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu

Cho dù nghiên cứu viên thực hiện đề tài nghiên cứu một mình hay một nhóm, thiết lập trình tự thu thập thông tin đóng vai trò quan trọng trong thành công của nghiên cứu Để thiết lập trình tự tốt, nhiệm vụ đầu tiên là phải xây dựng được kế hoạch thu thập thông tin

Trong kế hoạch thu thập thông tin, công cụ và phương pháp thu thập cần được mô

tả rõ ràng Hơn nữa, trong kế hoạch người nghiên cứu cần liệt kê ra các loại thông tin

cần thu thập, mục đích thu thập, nguồn thông tin cần thu thập, công cụ được sử dụng và

những yếu tố cần thiết khác cho quá trình thu thập thông tin

1 lãnh đạo NGO; 1 nhân viên NGO; 2 cán

bộ cộng đồng; 3 người hưởng lợi

Hướng dẫn phỏng vấn các đại diện NGO; Hướng dẫn phỏng vấn cán bộ cộng đồng; Hướng dẫn phỏng

v ấn người hưởng lợi Kết quả dự án Các hoạt động; nguồn tài

chính; tỷ lệ người hưởng lợi phân loại theo tiêu chí tốt, trung bình, không tốt, không được hưởng; tác động xã hội của dự án (công bằng giới);

Đặc điểm chung

của cộng đồng Điều kiện vật chất: địa lý, địa hình, quan hệ với các cộng

đồng khác; Dân số: đặc điểm dân số, các hoạt động tạo thu nhập, quyền sở hữu và

sử dụng đất

Lãnh đạo xã; người dân địa phương; báo cáo tổng kết của xã, huyện

Bảng tóm tắt tình hình cơ bản của địa phương; Hướng dẫn thu thập tình hình cơ bản; Hướng dẫn tóm tắt báo cáo

Trang 39

B ảng 3.2 Phương pháp thu thập thông tin (đề tài tiến sỹ, thạc sỹ)

c ấu kinh tế nông thôn

- Sự thay đổi phương thức sản xuất ở nông thôn

- Các chính sách về thương mại, phát triển nông thôn

Các tài liệu đã xuất bản, sách, báo cáo, tạp chí, thông tin trên các website, lãnh đạo cấp trung ương

- Thời kỳ đổi mới

Các tài liệu đã xuất bản, báo cáo của xã, huyện, chuyện kể, điều tra hộ, người cung cấp thông tin chủ chốt

Tham khảo tài liệu, phóng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu, quan sát có sự tham gia

- Kinh nghiệm sản xuất

Các hộ và cá nhân điển hình Phỏng vấn sâu và phỏng v ấn nhắc lại; Quan sát có

sự tham gia

Kế hoạch thu thập thông tin thường được viết trong đề cương nghiên cứu Tuy nhiên, trong một số trường hợp, kế hoạch đó được người/nhóm nghiên cứu xây dựng riêng trước khi họ tiến hành nghiên cứu thực địa Đối với các cán bộ nghiên cứu dày

dạn kinh nghiệm, họ có thể xây dựng kế hoạch thu thập thông tin trong đầu bằng cách ghi nhớ các công cụ cần thiết và các bước phải tiến hành Một số người chuẩn bị không

cầu kỳ bằng cách ghi những công việc cần làm ra giấy Nhưng thực tế cho thấy, nghiên

cứu càng yêu cầu khắt khe, việc chuẩn bị kế hoạch thu thập thông tin càng phải cẩn thận

và chu đáo

Phương pháp phổ biến trong lập kế hoạch thu thập thông tin là lập bảng, trong

đó thể hiện rõ mục tiêu nghiên cứu, loại thông tin cần thu thập, nguồn thông tin và phương pháp thu thập thông tin

Xây dựng các hướng dẫn cũng là hoạt động quan trọng trong công tác thu thập thông tin, trong phần này, các hướng dẫn về phỏng vấn, quan sát, ghi chép quan sát và

thảo luận nhóm sẽ được thảo luận một cách kỹ lưỡng

Trang 40

a, Hướng dẫn phỏng vấn

Trong hướng dẫn phỏng vấn cần liệt kê các chủ đề, vấn đề và câu hỏi nghiên cứu

để thảo luận với những người cung cấp thông tin về một chủ đề cụ thể Người làm nghiên cứu cần xây dựng các hướng dẫn khác nhau cho từng đối tượng cung cấp thông tin Ví dụ trong bảng 3.1, hướng dẫn phỏng vấn cần xây dựng riêng cho cán bộ NGO, cán bộ tín dụng, lãnh đạo địa phương và những người hưởng lợi

Trong trường hợp nghiên cứu được tiến hành theo nhóm, người phỏng vấn không

chỉ có nghiên cứu viên chính mà còn có sự tham gia của nhiều thành viên khác, hướng

dẫn phỏng vấn phải được xây dựng càng chi tiết càng tốt Với những trường hợp như

vậy, thay vì liệt kê các chủ đề và câu hỏi, nghiên cứu viên chính cần giải thích ý nghĩa của từng câu hỏi trong bảng hướng dẫn

b, Hướng dẫn thảo luận nhóm

Tương tự như hướng dẫn phỏng vấn, hướng dẫn thảo luận nhóm cũng cần liệt kê những chủ đề và câu hỏi nghiên cứu cần phải thảo luận Khi làm việc với nhóm, nghiên

cứu viên cần phải tuân theo các bước sau:

- Giới thiệu khái quát về mục tiêu và chủ đề nghiên cứu

- Bắt đầu bằng những câu hỏi dễ hiểu mang tính chất gợi mở để tìm hiểu về bối cảnh nghiên cứu

- Đặt những câu hỏi đi sâu vào chủ để nghiên cứu cho nhóm thảo luận: thường nghiên cứu viên phải tuân theo nguyên tắc từ dễ đến khó; từ mô tả thực trạng tình hình đến giải thích; từ khái quát (chung chung) đến cụ thể

- Cuối cùng, nghiên cứu viên hướng dẫn nhóm thảo luận những câu hỏi nhằm mô

tả tình trạng trong tương lai; giải pháp; hoặc những kiến nghị

c, Hướng dẫn quan sát

Hướng dẫn quan sát cần liệt kê các loại thông tin mà nghiên cứu viên cần phải thu

thập và ghi chép Thông tin quan sát được chia thành 2 nhóm: (i) những thông tin thu thập thông qua hành vi của người khác, thông tin có liên quan đến các hiện tượng và sự vật

hoặc quá trình; (ii) những thông tin thu thập qua bản đồ, đồ thị hoặc vật dụng khác

Ví dụ: trong hướng dẫn quan sát và ghi chép một cuộc họp, cán bộ nghiên cứu cần

phải chuẩn bị những câu hỏi như: Lịch họp có chính xác không? Cuộc họp được tổ chức

có hiệu quả không? Ý kiến/thái độ của những người tham dự thế nào? Cuộc họp có cho phép những người tham dự thể hiện ý kiến khác nhau của họ không?

Đối với những dụng cụ không thể mang theo như tranh ảnh, bản đồ, đồ thị và vật

phẩm,… nghiên cứu viên cũng nên chuẩn bị những câu hỏi hướng dẫn tương tự

d, Hướng dẫn ghi chép tài liệu thứ cấp

Mặc dù, phần lớn thông tin cần thiết cho nghiên cứu được thu thập từ nguồn sơ

cấp (thông tin ban đầu), song thông tin từ nguồn thứ cấp cũng đóng vai trò quan trọng

Ngày đăng: 14/07/2023, 22:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w