150 cm che phủ trước 10 ngày và thời gian che sáng chè trước khi thu hái 10 ngày thì tốc độ sinh trưởng, các chỉ tiêu như năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất, sâu bệnh hại, một số
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành báo cáo thực tập, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, được
sự giúp đỡ của đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Giảng viên hướng dẫn TS Vũ Ngọc Lan Học viện Nông nghiệp Việt Nam và
TS Trần Xuân Hoàng - Trưởng bộ môn Kỹ thuật Canh tác Chè - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành báo cáo thực tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè, các thầy cô, anh chị trong Bộ môn Kỹ thuật Canh tác Chè đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên tôi khích lệ để tôi có thể hoàn thành báo cáo thực tập này
Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2021
Sinh viên
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN vii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè trên thế giới và Việt Nam 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè ở Việt Nam 7
2.3 Đặc điểm sinh vật học và đặc tính sinh hóa ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây chè 12
2.3.1 Đặc điểm sinh vật học của cây chè 12
2.3.2 Đặc tính sinh hóa của cây chè 18
2.4 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài 23
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 28
Trang 43.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 32
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Ảnh hưởng của chiều cao che phủ đến năng suất, chất lượng và sâu bệnh hại của giống chè LCT1 33
4.1.1 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến tốc độ sinh trưởng búp của giống chè LCT1 33
4.1.2 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống chè LCT1 36
4.1.4 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến chất lượng nguyên liệu búp tươi giống chè LCT1 43
4.1.5 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số thành phần sinh hóa của búp giống chè LCT1 45
4.2 Ảnh hưởng thời gian chè phủ trước khi hái đến năng suất, chất lượng nguyên liệu giống chè LCT1 50
4.2.1 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến tốc độ sinh trưởng của búp chè 50
4.2.2 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè 53
4.2.4 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến chất lượng nguyên liệu búp tươi giống chè LCT1 60
4.2.5 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến một số thành phần sinh hóa của búp giống chè LCT1 62
4.2.6 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến kết quả thử nếm cảm quan giống chè LCT1 65
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 1 74
PHỤ LỤC 2 78
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU
BNN BNN & PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
BVTV : Bảo vệ thực vật
Cs : Cộng sự
Đ/c : Đối chứng
EGCG : Một loại polyphenol trong tự nhiên
LSD 0,05 : Sai khác nhỏ nhất với mức ý nghĩa 95%
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
SPAD : Chỉ số hàm lượng Chlorophyll
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
VRTMH : Vật rẻ tiền mau hỏng
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến tốc độ sinh trưởng búp của giống
chè LCT1 ở vụ xuân và vụ hè 33
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè vụ xuân và vụ hè 37
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số sâu hại chính trên giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 40
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến chất lượng nguyên liệu búp tươi của giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 44
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số thành phần sinh hóa của búp giống chè LCT1 ở vụ xuân và vụ hè 46
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến kết quả thử nếm cảm quan giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 49
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến tốc độ sinh trưởng búp chè vụ xuân và vụ hè 51
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè vụ xuân và vụ hè 54
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến một số sâu hại chính trên giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 57
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của thời gian che sáng 61
đến chất lượng nguyên liệu búp tươi giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 61
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của thời gian che sáng 63
đến một số thành phần sinh hóa của búp giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 63
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến kết quả thử nếm cảm quan giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 66
Trang 7DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Lưới màu đen được sử dụng trong thí nghiệm 27 Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến tốc độ sinh trưởng búp của giống chè LCT1 ở vụ xuân và vụ hè 34 Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến năng suất của giống 37 chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 37 Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến tốc độ sinh trưởng búp chè vụ xuân và vụ hè 51 Biểu đồ 4.4 Ảnh hưởng của thời gian che sáng đến năng suất của giống chè LCT1 vụ xuân và vụ hè 56
Trang 8
150 cm (che phủ trước 10 ngày) và thời gian che sáng chè trước khi thu hái 10 ngày thì tốc độ sinh trưởng, các chỉ tiêu như năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất, sâu bệnh hại, một số thành phần sinh hoá và kết quả thử nếm cảm quan của giống chè LCT1 cho chất lượng tốt nhất để sản xuất nguyên liệu chế biến Matcha
Trang 9PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có
lịch sử phát triển từ rất lâu đời (khoảng 5000 năm), nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Tuy nhiên, nhờ những đặc tính hữu ích và có giá trị lớn đối với sức khỏe con người mà cây chè đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới
Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nước nhà, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam Sản xuất chè cho thu nhập, ổn định, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Sản xuất chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng và phong phú về nguồn giống, đất đai, khí hậu phù hợp, có nhiều mô hình năng suất cao, nhiều vùng chè có chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng) Các giống chè Shan bản địa năng suất cao, chất lượng tốt có thể chế biến chè vàng, chè Phổ Nhĩ và sản xuất chè hữu cơ giá trị cao
Có một nghịch lý là sản lượng chè của Việt Nam đứng thứ 5 thế giới nhưng giá trị xuất khẩu lại đứng thứ 10 Tuy có nhiều tiềm năng nhưng ngành chè của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Thứ nhất, khoảng 90% sản lượng chè xuất khẩu của nước ta vẫn ở dạng bán thành phẩm nên giá trị tăng thấp Thứ hai, chất lượng của sản phẩm chè chưa cao, mặt hàng chưa đa dạng,
do đó giá trị xuất khẩu thấp hơn so với mặt bằng chung của thế giới Thứ ba, thời
kỳ hội nhập kinh tế thế giới có thể giúp cho việc xuất khẩu trở nên dễ dàng hơn do các hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ, nhưng việc xuất khẩu phải tuân thủ theo
Trang 10những yêu cầu khắt khe hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là tính đa dạng và chất lượng cao của sản phẩm chè
Đến nay, năng suất chè Việt Nam tương đương năng suất chè thế giới Tuy nhiên, sản xuất chè chưa phát huy tiềm năng cây chè Việt Nam, giá bán bình quân sản phẩm chè Việt Nam chỉ bằng 70% giá bán bình quân của sản phẩm chè thế giới, do sản phẩm chè Việt Nam chưa đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã sản phẩm chưa thu hút và sức cạnh tranh thấp, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn an toàn
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho ngành chè Việt Nam để sản xuất ra các mặt hàng chè chất lượng cao, đa dạng hóa sản phẩm và có cạnh tranh với các mặt hàng chè khác của các nước trên thế giới thì sản xuất nguyên liệu là một trong các khâu có vai trò rất quan trọng Để giải quyết vấn đề đó ngoài việc nghiên cứu để tạo ra các giống chè mới có chất lượng cao thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt tạo nên năng suất cao và nâng cao chất lượng nguyên liệu là cần thiết Xuất phát từ thực tiễn trên,
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật che phủ vườn chè trước
khi hái để sản xuất nguyên liêụ chế biến chè Matcha chất lượng cao ở vụ Xuân và vụ Hè từ giống chè LCT1 tại Phú Hộ - Phú Thọ.”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu kỹ thuật che phủ vườn chè trước khi hái để sản xuất nguyên liêụ chế biến chè Matcha chất lượng cao ở vụ Xuân và vụ Hè từ giống chè LCT1 tại Phú Hộ - Phú Thọ từ đó góp phần xây dựng quy trình canh tác chè đạt năng suất cao và chất lượng tốt
1.3 Yêu cầu của đề tài
Theo dõi và nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao che phủ và thời gian che phủ trước khi hái đến năng suất, chất lượng và sâu bệnh hại của giống chè
LCT1
Trang 111.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài xác định biện pháp kỹ thuật che phủ vườn chè thích hợp cho giống chè LCT1 làm cơ sở để nghiên cứu đối với những giống chè khác, góp phần làm tăng chất lượng nguyên liệu và tăng giá trị sản phẩm chè
- Góp phần làm tài liệu cho cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học về chè
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái trong điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á
Hiện nay, do diễn biến bất thường của thời tiết, có những thời điểm nhiệt
độ thường xuyên lên đến 38-40oC, nắng nóng kéo dài nhiều ngày ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng
Nhiệt độ không khí có lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây chè là 22-28oC, cây chè sinh trưởng chậm ở 15-18oC, dưới 10oC cây chè ngừng sinh trưởng Trên 30oC cây chè mọc chậm và trên 40oC cây chè sẽ bị khô xám nắng ở bộ phận non
Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm, lớn lên ưa ánh sáng Ở Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản trong kỹ thuật trồng chè không nói đến cây che bóng Trái lại Ấn Độ, Srilanka, Đông Phi đều trồng cây bóng mát cho chè ở những vùng thấp nắng nóng Trong một thí nghiệm nhỏ của Ấn Độ trồng cây che bóng giảm 30% ánh sáng, tăng sản lượng chè được 34% Ở Việt Nam, cây che bóng cho chè vùng Bảo Lộc - Lâm Đồng nhất là Pleiku là cây muồng đen, ở Phú Thọ - Tuyên Quang - Yên Bái là cây tràm lá nhọn (Nguyễn Văn Hùng & Nguyễn Văn Tạo, 2006)
Bên cạnh đó, do chè là cây ưa ánh sáng tán xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp nên nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ khiến chè khó phát triển Vì vậy để giảm bớt tác hại do thời tiết ở các nương chè nên trồng các loại cây che bóng, thường lựa chọn các loại cây có độ che phủ rộng, lá nhỏ như muồng lá kim, xoan vừa tạo độ râm mát đồng thời vẫn đảm bảo ánh sáng cho cây chè sinh trưởng
Cây che bóng có tác dụng tốt nhằm tạo ánh sáng tán xa giúp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt hơn và cho vùng tiểu sinh thái Ngoài việc che một
Trang 13phần ánh sáng, cây che bóng còn có tác dụng cải tạo đất, làm giàu dinh dưỡng cho đất, đồng thời có tác dụng kéo lượng nước ở tầng sâu lên tầng mặt nơi bộ rễ chè hoạt động
Việc trồng cây che bóng cho chè mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề như tranh chấp chất dinh dưỡng và nước với cây chè, vấn
đề bất tiện khi thu hoạch bằng máy, hoặc lá cây che bóng rụng xuống sẽ lẫn với chè Vì vậy vấn đề trồng cây che bóng cho nương chè vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết
Che sáng là một biện pháp làm giảm cường độ ánh sáng cho nương chè bằng hình thức dùng lưới che để giúp cho cây chè sinh trưởng tốt Cường độ ánh sáng trên nương chè khi che nắng phụ thuộc vào độ cao che nắng và mức độ che khác nhau Thời gian che nắng dài hay ngắn cho nương chè sẽ tạo khả năng quang hợp tốt hơn, tạo năng suất và chất lượng sản phẩm tốt sẽ là vấn đề cần giải quyết khi nghiên cứu về che bớt ánh sáng cho nương chè Vì vậy, việc che sáng bằng hình thức dùng lưới cũng tác đông trực tiếp cho việc tao ra nguyên liệu chất lượng để phục vụ cho quá trình chế biến tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao và đa dạng hóa sản phẩm chè
2.2 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè trên thế giới
Che sáng cây chè là biện pháp được sử dụng để sản xuất chè chất lượng cao Có ba loại chè được trồng trong điều kiện che sáng, trong đó có sự khác nhau về thời gian che và phương pháp sản xuất: Matcha, Gyokuro, và Kabusecha Ban đầu, che sáng được xem như là giải pháp xử lý để bảo vệ cây chè khỏi tác hại của sương giá Người nông dân nhận ra rằng cây chè trồng trong điều kiện che sáng và không che là khác nhau và sự khác biệt giữa 2 loại chè này là chè trồng trong điều kiện che sáng và không che là ở hương vị độc đáo,
màu xanh tươi, và mềm mại của lá chè
Trang 14Che sáng là là biện pháp kỹ thuật trong canh tác cây chè trước thời điểm thu hoạch búp chè Theo nhóm tác giả Kito & cs (1968) cho rằng: Cơ sở khoa học của biện pháp che sáng là điều tiết quá trình quang hợp ở mức độ chiếu sáng thích hợp để cây chè tăng cường sự tích lũy thành phần các chất hóa học
Theo Carr-Squir (1979) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng với sinh trưởng chè, đã chỉ ra rằng: Ở một số vùng chè trên thế giới, nhiệt
độ không khí tối thiểu là 13-14oC, nhiệt độ tối thích là 18- 25oC, nhiệt độ tối cao
là 30oC, nhiệt độ bề mặt lá chè tối thiểu là 21oC, nếu nhiệt độ trên 30oC sẽ có hiện tượng quang hợp và sinh trưởng của cây chè sẽ giảm nhanh
Cllander & Woodhear dẫn theo Carr (1997) khi nghiên cứu ảnh hưởng của cây che bóng đến sinh trưởng và năng suất chè, cho biết nếu ở điều kiện nương chè có trồng che bóng có thể ngăn chặn được nhiệt độ cao ở lá và sự thiếu hụt bão hoà hơi nước của không khí, do đó năng suất cao hơn Tuy nhiên theo tác giả việc trồng cây che bóng cho cây chè phải chú ý đến ảnh hưởng trở lại của cây che bóng đối với cây chè
Theo Barbora (1994) Trạm thí nghiệm Chè Tocklai (Ấn Độ) ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, khi tán chè còn thưa nên trồng các cây trồng xen và cây che bóng là cần thiết Chè không được che bóng có hại về mặt quang hợp, cây che bóng sẽ làm giảm nhiệt độ mặt lá, làm cho chè không bị cháy nắng Đồng thời cây che bóng và cây trồng xen sẽ làm tăng chất hữu cơ vì thế cây chè sinh trưởng, phát triển tốt hơn, năng suất cao hơn
Tác giả Obaga & Othieno (1987) khi nghiên cứu tác dụng chống xói mòn của một số loại cây phân xanh đã kết luận: Đất trồng chè sau 4 năm nếu không được trồng cây phân xanh, lượng đất bị mất 143 tấn/ha do bị xói mòn, nếu trồng xen cây Crolataria lượng đất bị mất 39 tấn/ha, nếu trồng cây Weeds lượng đất bị mất là 15 tấn/ha và trồng cây Cymbopogon lượng đất bị mất 10 tấn/ha
Tác giả Kulasegaram & Kathiravetpillai (1980) khi nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ che bóng của cây bóng mát đến năng suất chè đã kết luận; ở
Trang 153 mức độ che phủ 10%, 30% và 60% diện tích đất, so với không trồng cây bóng mát, năng suất chè tăng tương ứng là: 10, 50 và 30%
Tác giả Song, R., et al, (2012) cho rằng: Nghiên cứu này cho thấy mối tương quan giữa tuổi lá chè, búp 1 tôm 2 lá và mức độ che bóng đối với nồng độ tương đối của sáu hợp chất chính có trong lá chè, đó là l-theanine, caffein và các catechins chủ yếu như (-) - epigallocatechin (EGC), (-) - epicatechin (EC), và (-)
- epicatechin gallate (ECG) Tất cả các chất này đều có ảnh hưởng tích cực đối với sức khỏe con người, cũng như sự chống oxy hóa của dịch chiết xuất từ tôm
và lá Nồng độ l-theanine và caffein giảm khi tuổi của lá tăng và giảm theo thứ
tự từ tôm đến lá thứ nhất và thứ hai, trong khi đó nồng độ của bốn loại catechins tăng dần từ tôm đến lá thứ nhất và thứ hai Trong hầu hết các trường hợp, sự gia tăng này nói chung tương đối nhỏ, nhưng riêng đối với EGC có nồng độ tăng gấp 7 đến 10 lần Một số thành phần hoá học của chè tươi, ít được chế biến (sơ chế) và không bị oxy hoá về tiềm năng có thể được sử dụng làm chỉ thị cho việc xác định tuổi, chất lượng, tính xác thực và diện tích tăng trưởng
Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên cho thấy che sáng cây chè có ảnh hưởng đến đặc điểm hình thái và hàm lượng các thành phần hóa học của búp chè, cụ thể là thành phần tanin, axit amin và các chất tiền tạo hương Các vùng sinh thái khác nhau, cường độ ánh sáng cũng khác nhau
2.2.2 Tình hình nghiên cứu che sáng của cây chè ở Việt Nam
Việt Nam hiện nay rất ít các công trình nghiên cứu công bố về cường độ ánh sáng theo các mức độ che sáng khác nhau, quy trình sản xuất nguyên liệu và công nghệ sản xuất chè Sencha, bột chè xanh dạng Matcha từ nguyên liệu các giống chè mới được quan tâm những năm gần đây Những năm gần đây ở Việt Nam chỉ có những nghiên cứu về trồng cây che bóng, cây phân xanh làm tăng năng suất, chất lượng và giảm sâu bệnh hại cho cây chè
Trang 16Theo nhóm tác giả Đỗ Ngọc Quỹ & Đỗ Thị Kim Oanh (2006) ở Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản không trồng cây bóng mát cho nương chè Ngược lại ở
Ấn Độ, Srilanka và Đông Phi đều trồng cây che bóng cho chè ở vùng thấp
Theo tác giả Hùng Cường (2015) cho biết: Từ nhiệt độ 35oC trở lên, cây chè sẽ ngừng sinh trưởng Bên cạnh đó, do chè là cây ưa ánh sáng tán xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp nên nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ khiến chè khó phát triển Giải pháp tốt nhất là trồng các loại cây che bóng cho cây chè, đặc biệt là lựa chọn các loại cây có độ che phủ rộng, lá nhỏ như muồng lá kim, xoan vừa tạo độ râm mát đồng thời vẫn đảm bảo ánh sáng cho cây chè sinh trưởng Qua khảo nghiệm, đánh giá thì những đồi chè có trồng cây che bóng thường cho năng suất cao hơn từ 10% đến 15% so với những đồi chè không có cây che bóng và mang lại hiệu quả kinh tế khá rõ ràng
Theo Nguyễn Xuân Cường (2018) khi nghiên cứu ảnh hưởng mức độ giảm cường độ ánh sáng trước khi hái đến năng suất, chất lượng chè xanh cho giống Kim cho rằng: Che ánh sáng 14 ngày trước khi thu hoạch và chiều cao che lưới 1,5m Khi giảm cường độ ánh sáng thích hợp (50 - 70%), tốc độ tăng trưởng búp tương đương như để ánh sáng tự nhiên Khi giảm cường độ ánh sáng nhiều (90%), búp chè sẽ bị hạn chế sinh trưởng, dẫn đến tốc độ tăng trưởng búp giảm Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: ở công thức giảm cường độ chiếu sáng 70% có mật độ búp, khối lượng búp, chiều dài búp lớn nhất Công thức giảm cường độ chiếu sáng 70% đạt năng suất cao nhất 8,61 tấn/ha, tăng 5,6% tiếp đến là công thức giảm cường độ chiếu sáng 50% đạt 8,38 tấn/ha tăng 2,86% Công thức giảm cường độ chiếu sáng 90% đạt năng suất (7,85 tấn/ha) giảm so với công thức để ánh sáng tự nhiên (8,15 tấn/ha) Nguyên liệu búp tươi
ở các công thức giảm cường độ chiếu sáng 70% có hàm lượng tanin, chất hòa tan có xu hướng giảm dần trong khi đó axit amin lại có xu hướng tăng dần, axit amin cao rất có lợi trong sản xuất chè xanh chất lượng cao Các công thức thí nghiệm ít bị ảnh hưởng của các loại sâu hại đều ở dưới ngưỡng cho phép
Trang 17Tác giả Dương Trung Dũng & Phan Thị Thu Hằng (2017) khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của giống chè Trung du búp tím, cho thấy: Cường độ ánh sáng phụ thuộc vào vùng sinh thái như độ cao và vĩ độ, cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng búp chè Với nguyên liệu sản xuất chè xanh thì hàm lượng diệp lục a, b có ảnh hưởng lớn đến chất lượng chè, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giảm bớt cường độ chiếu sáng búp chè ở giai đoạn chuẩn bị thu hoạch chè có ý nghĩa nâng cao chất lượng chè thành phẩm do giảm bớt hàm lượng diệp lục a vì lý do trên mà các vùng sản xuất nguyên liệu chè xanh ở Trung Quốc, Nhật Bản vẫn áp dụng kỹ thuật che bớt ánh sáng cho búp chè trước khi thu hoạch
Kết quả nghiên cứu của Hà Ngọc Ngô (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ 1980) khi trồng chè có trồng xen cốt khí đã làm giảm lượng nước chảy trên bề mặt từ 10 -12%, tăng lượng nước thấm vào đất 6 - 15%, lượng đất bị rửa trôi giảm từ 31 - 57%
Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) trồng cây phân xanh vừa có tác dụng che phủ đất, chống xói mòn, vừa có tác dụng làm cho đất tốt hơn, giảm bớt cỏ dại, cung cấp chất hữu cơ nâng cao độ phì của đất
Tác giả Nguyễn Văn Thiệp (2006) khi nghiên cứu về mật độ cây che bóng cho chè, đã kết luận: Nếu thời tiết khô hạn kéo dài, nương chè được trồng cây che bóng với mật độ 170 - 230 cây/ha và độ che phủ cho nương chè 20 - 30%, nương chè sẽ có độ ẩm cao nhất Nhưng nếu tăng mật độ cây che bóng, độ ẩm đất có xu hướng giảm hoặc những nương chè không trồng cây che bóng, độ ẩm đất cũng giảm
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) cho rằng: Ở mật độ cây muồng lá nhọn 170 cây/ha, mức che phủ 35%, năng suất búp giống chè PH1 đạt cao nhất Khi mật độ cây che bóng càng tăng sẽ làm giảm kích thước mô dậu, độ dầy biểu
bì, mật độ khí khổng và số lục lạp trong mô dậu ít, năng suất giảm
Trang 18Theo tác giả Đinh Thị Ngọ (1996) cành lá cây cốt khí khi trồng xen được vùi vào đất làm phân bón có những ưu điểm như khi bón phân chuồng Do có tỷ
lệ C/N trong thân cây thấp (tỷ lệ đạm cao) nên giúp cho quá trình phân giải nhanh, sau thời gian vùi 1-2 tháng có thể cung cấp chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng nói chung và cây chè nói riêng
Theo nhóm tác giả Chu Xuân Ái & cs (1999) khi trồng xen cây phân xanh trên đồi chè kiến thiết cơ bản và tận dụng chất xanh bón cho chè sẽ góp phần tăng năng suất chè và cải thiện được lý tính của đất Theo tác giả với việc
sử dụng phân xanh cho phép thay thế phân chuồng vừa cải tạo tính chất đất vừa tăng năng suất cây chè
Theo tác giả Vũ Thị Thiện (2014) khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của giống chè PH10, cho rằng tủ tế guột với lượng 25tấn/ha cho giống chè PH10 ở tuổi 3 làm tăng sinh trưởng, năng suất, chất lượng nguyên liệu, lý, hóa tính đất và hiệu quả kinh tế là tốt nhất Mật
độ búp là 177,7 búp/cây, năng suất đạt 1.899 kg/ha cao hơn không che phủ 24,8% và đạt hiệu quả kinh tế 4,343 triệu đồng/ha, tỷ lệ bánh tẻ: 9,8%; tổng điểm thử nếm cảm quan: 17,64 điểm Dung trọng đất nhỏ nhất 1,03 g/cm3, tỷ trọng 2,55 g/cm3, độ xốp đất cao nhất đạt 59,60%, độ ẩm đất mùa khô đạt 24,1%, mùa mưa đạt 34,2% Hàm lượng đạm tổng số 0,164%, lân tổng số 0,15%, lân dễ tiêu 6,87 mg/100g, kali tổng số 0,144%, kali dễ tiêu 6,29 mg/100g, hàm lượng mùn 2,52% Thời gian che sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên Che sáng trong 7 ngày trước khi thu hoạch cho giống chè Kim Tuyên sinh trưởng, phát triển tốt nhất
Theo tác giả Lê Thế Tùng (2018) khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên cho rằng: Che sáng trong 7 ngày trước khi thu hoạch cho năng suất cao nhất đạt 9,03 tấn/ha (tăng 12,45% so với không che nắng) Che sáng trong 7 ngày trước khi thu hoạch cho hàm lượng tanin thấp nhất (23,44%), hàm lượng axit amin, chất
Trang 19hòa tan, hợp chất thơm và chlorophyll đều tăng , trên cơ sở đó làm tăng chất lượng của sản phẩm chè Kết quả thử nếm cảm quan cho thấy, che sáng trong 7 ngày trước khi thu hoạch có tổng điểm cao nhất (17,88 điểm), xếp loại khá Lợi nhuận thu được ở công thức 2 (27.896.800đ/ha ) cao nhất, do tổng giá trị thu từ nguyên liệu lớn nhất
Theo Trần Thị Tuyết Thu (2014) cho rằng: Trong điều kiện sản xuất chè ở Phú Hộ để duy trì và cải thiện chất hữu cơ trong đất nên sử dụng tế guột ở mức
25 tấn/ha và chu kỳ lặp lại sau 3 năm được xem là hợp lý nhất Trong điều kiện
sử dụng cành lá chè đốn nên áp dụng ở mức 15 tấn/ha với chu kỳ bón bổ sung hàng năm
Theo nhóm tác giả Võ Quốc Việt & cs (2013) khi nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ đất đến khả năng sinh trưởng và năng suất chè LDP1 xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên cho rằng biện pháp tủ gốc cho cây chè có hiệu quả cao, giúp cây chè sinh trưởng tốt và làm tăng năng suất của cây chè trong điều kiện thời tiết vụ xuân Sử dụng các loại vật liệu che phủ có tác dụng làm tăng năng suất chè trong vụ xuân trong đó vật liệu che phủ tốt nhất là guột, năng suất búp tươi tăng từ 1,3 - 2,2 kg/m2 và tỷ lệ búp mù xòe giảm
Theo nhóm tác giả Vũ Thị Thương & cs (2016) đã chỉ ra rằng cây che bóng tạo ra các yếu tố tiểu khí hậu trong các ruộng chè (làm thay đổi cường độ ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió) và ảnh hưởng không nhỏ đến mật độ của quần thể sâu hại và các loài côn trùng bắt mồi trên chè Ở ruộng có cây che bóng, mật độ rầy xanh và bọ trĩ thấp hơn mật độ rầy xanh, bọ trĩ ở ruộng không
có cây che bóng Ngoài ra, cây che bóng còn có tác dụng chống xói mòn đất, cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất, cải tạo đất đối với cây che bóng họ đậu
Theo nhóm tác giả Hà Thị Thanh Đoàn & cs (2013) cho biết khi sử dụng vật liệu che tủ hữu cơ có tác dụng ngăn ngừa cỏ dại, cải thiện độ ẩm, hàm lượng mùn và vi sinh vật trong đất, tạo nguồn phân hữu cơ tại chỗ cung cấp cho chu kỳ phát triển hàng năm của cây đảm bảo cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, chất lượng chè; Sử dụng vật liệu che tủ hữu cơ làm tăng năng suất chè từ 9-14% so với không che tủ và tỷ lệ chè A+B đạt trên 80%
Trang 20Theo tác giả Nguyễn Hữu La (2012) cho rằng: Biện pháp tủ nương chè đã làm tăng năng suất chè, trong đó lượng vật liệu tủ > 20 tấn/ha làm cho nương chè sinh trưởng tốt, năng suất tăng > 17,82%, đồng thời tăng mật độ vi sinh vật đất, tăng tỷ lệ chất hữu cơ trong đất và sản phẩm chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong những biện pháp giữ ẩm, biện pháp tủ ẩm bằng chất hữu cơ là biện pháp có hiệu quả nhất Vì vậy, với những nương chè khi trồng mới nên tiến hành trồng xen các loại cây phân xanh họ đậu vừa có tác dụng cải tạo đất chống xói mòn và sẽ có một lượng chất hữu cơ đáng kể để tủ gốc chè giữ ẩm khi trồng mới
và suốt thời kỳ kiến thiết cơ bản
Theo Nguyễn Đặng Dung & Lê Như Bích (2006) khi nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện che sáng khác nhau đến hàm lượng L-theaninne, caffeine và các catechin trong lá chè tươi thuộc hai giống chè Nhật (Yabukita và Sayamakaori) trồng tại vùng New South Wales (Úc) cho thấy: Che sáng các cây chè trồng ở Somersby và Narara sẽ làm tăng chất lượng của lá chè Nhật được trồng; vì vậy làm tăng chất lượng sản phẩm chè, vì che sáng đã làm giảm lượng EGCG và catechin tổng số nhưng lại làm tăng hàm lượng L-theanine, caffeine
và tỷ lệ L-theanine/catechin tổng số Che sáng đã có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng lá chè về mặt cân bằng các thành phần hóa học
Từ những vấn đề trên của các nhà khoa học nghiên cứu về hướng sản xuất bột chè xanh Matcha từ nguyên liệu chè trong nước thay cho sản phẩm ngoại nhập và phát triển các sản phẩm mới, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu thụ chè ở trong nước
2.3 Đặc điểm sinh vật học và đặc tính sinh hóa ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển của cây chè
2.3.1 Đặc điểm sinh vật học của cây chè
Nghiên cứu về đặc điển sinh vật học của các giống chè ở Việt Nam cũng
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm: trong điều kiện tự nhiên cây chè có từ
3-5 đợt sinh trưởng trong một năm gọi là sinh trưởng tự nhiên Trong điều kiện có
Trang 21chăm sóc và thu hái búp liên tục, một năm cây chè sẽ có từ 6-7 đợt sinh trưởng gọi là đợt sinh trưởng trong điều kiện có đốn hái Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác
2.3.1.1 Yêu cầu sinh thái của cây chè
* Điều kiện đất đai, địa hình
- Độ chua: Là chỉ tiêu quan trọng quyết định đến đời sống cây chè Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: độ pH < 3,5 cây chè có màu xanh sẫm, chết dần trong điều kiện pH > 7,5 cây chè ít lá, lá vàng, chết
- Tầng dày, kết cấu đất thành phần cơ giới và chế độ nước: Cây chè sinh trưởng tốt ở tầng dày ≥ 1 m, giới hạn cuối cùng về đất trồng chè là 0,5 m Về thành phần cơ giới chè ưa các loại đất từ cát pha đến thịt nặng
Cây chè sinh trưởng tốt trên đất có kết viên, tơi xốp Trên các loại đất này bộ
rễ chè phát triển tốt, hệ sinh vật hoạt động mạnh, cây chè có tuổi thọ cao
Chè là cây cần nước, tuy nhiên không có khả năng chịu úng, chỉ nên trồng chè ở những nơi có mực nước ngầm ở dưới độ sâu 1m
- Độ cao so với mực nước biển của đất trồng chè có ảnh hưởng tới phẩm chất chè; chè trồng trên núi cao thường có chất lượng tốt
* Các yếu tố về điều kiện ngoại cảnh
- Lượng mưa và độ ẩm không khí Hàm lượng nước trong rễ chè là 48 - 54,5%, trong thân cành là 48 - 75%, trong lá là 74 - 76%
Lượng mưa trung bình hàng năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè là
1500 -2000 mm Phân bố mưa trong năm ảnh hưởng đến phân bố lao động trong thu hoạch và chế biến, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cây chè, năng suất búp và
kỹ thuật chế biến
Độ ẩm tương đối của không khí thích hợp là 80 - 85% Ẩm độ cần thiết cho cây chè là 70 - 90% Lượng mưa phân bố đều, xen kẽ ngày mưa, ngày nắng rất phù hợp cho cây chè sinh trưởng, phát triển Lượng mưa tập trung phân bố
Trang 22không đều ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây chè, gây xói mòn đất trồng chè Ẩm độ không khí thấp, chè cằn cỗi, búp chè chóng già, tỷ lệ mù xòe cao, sức chống chịu sâu bệnh giảm
Các loại chè núi cao có chất lượng tốt vì độ ẩm cao và ánh sáng tán xạ và biên độ nhiệt ngày đêm lớn
- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 22 - 28oC Theo các nhà khoa học Trung Quốc, Liên Xô thì cây chè ngừng sinh trưởng ở 10oC, từ
15 - 18oC cây chè sinh trưởng chậm, từ 22 - 25oC cây chè sinh trưởng mạnh, trên 30oC cây chè sinh trưởng chậm lại, ở nhiệt độ 40oC các bộ phận non của chè
ít ánh sáng hơn các giống chè lá nhỏ
Dưới bóng râm cây chè lóng dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, quang hợp kém nên năng suất thấp
Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè Sương
mù nhiều ẩm ướt, nhiệt độ thấp ở vùng núi cao là nơi sản xuất chè có chất lượng cao
- Không khí: Sự lưu thông không khí, gió nhẹ và có mưa rất có lợi cho sinh trưởng của cây chè Gió nhẹ làm cho CO2 phân bố đều, có lợi cho quá trình quang hợp, gió nhẹ có tác dụng điều hòa nước trong cây Để giảm tác hại của gió bão người ta tiến hành trồng các đai rừng chắn gió cho chè
2.3.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây chè
* Thân và cành
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ có
Trang 23một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành Mỗi giống chè có những đặc điểm
và khả năng phân cành khác nhau, có giống phân cành thấp (thân bụi, nửa bụi)
có giống phân cành cao, cành thưa hơn (thân gỗ, bán gỗ) Khả năng phân cành của mỗi giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao, độ rộng tán, mật độ cành, mật độ búp của tán chè và qua đó có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất,
Mầm đỉnh: Loại mầm này ở vị trí trên cùng của cành, tiếp tục phát triển
trên trục chính của các cành năm trước, hoạt động sinh trưởng mạnh và thường
có tác dụng ức chế sinh trưởng của các mầm ở phía dưới nó (ưu thế sinh trưởng ngọn) Trong một năm, mầm đỉnh hình thành búp sớm nhất cùng với thời kỳ bắt đầu sinh trưởng mùa xuân của cây Búp được hình thành từ các mầm đỉnh là các búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Mầm nách: Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, phần lớn chúng ở trạng
thái nghỉ do sự ức chế của mầm đỉnh Khi hái các búp đỉnh, mầm nách phát triển thành búp mới Tùy theo vị trí của lá ở trên cành, khả năng phát triển thành búp và chất lượng búp ở các nách lá rất khác nhau Những mầm ở nách lá phía trên thường hoạt động sinh trưởng mạnh hơn, do đó cho búp có chất lượng tốt hơn các mầm ở nách lá phía dưới Những búp được hình thành từ mầm nách của các lá năm trước gọi là búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Trang 24Mầm ngủ: Là những mầm nằm ở các bộ phận đã hóa gỗ của các cành một
năm hoặc già hơn Những mầm này kém phân hóa và phát triển hơn hai loại mầm trên, cho nên sự hình thành búp sau khi đốn đòi hỏi một thời gian dài hơn Kỹ thuật đốn lửng, đốn đau, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của mầm ngủ, tạo nên những cành chè mới, có giai đoạn phát dục non, sức sinh trưởng mạnh Búp được hình thành từ mầm ngủ có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Mầm bất định: Vị trí của loại mầm này không cố định trên thân chè
thường ở sát cổ rễ Nó chỉ phát triển thành cành lá mới khi cây chè được đốn trẻ lại Trong trường hợp ấy cành chè tựa như mọc ở dưới đất lên Búp được hình thành từ các mầm bất định cũng có hai loại: búp bình thường và búp mù
Mầm sinh thực: Mầm sinh thực nằm ở nách lá Bình thường mỗi nách lá
có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp số mầm sinh thực nhiều hơn và khi đó ở nách lá có một chùm hoa Các mầm sinh thực cùng với mầm dinh dưỡng phát sinh trên cùng một trục, mầm dinh dưỡng ở giữa, mầm sinh thực ở hai bên, vì vậy, quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực thường có những mâu thuẫn nhất định Khi mầm sinh thực phát triển mạnh thì mầm dinh dưỡng yếu đi và ngược lại
* Búp chè
Búp chè là đoạn non của một cành chè Búp được hình thành từ các mầm dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non ở trên đỉnh của cành chưa xòe ra) và hai hoặc ba lá non Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong của nó Kích thước của búp thay đổi tùy theo giống, loại và liều lượng phân bón, các khâu kỹ thuật canh tác khác như đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt
Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy nó quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè
Búp chè gồm có hai loại: búp bình thường (búp đồng, búp nguyên) gồm 1 tôm + 2 - 3 lá non, búp mù không có tôm do sự thay đổi ngoại cảnh và nội chất
Trang 25Búp bình thường bao giờ chất lượng cũng cao hơn búp mù Thông thường tỷ lệ búp bình thường cao hơn búp mù tỷ lệ này phụ thuộc rất lớn vào giống, điểu kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác
Búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian Trên một cành chè, nếu để sinh trưởng tự nhiên, một năm có 4 - 5 đợt sinh trưởng, nếu hái búp liên tục thì có 6 -
7 đợt và trong điều kiện thâm canh có thể đạt 9 - 10 đợt sinh trưởng
* Lá chè
Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá, hình dạng và kích thước lá chè thay đổi tùy giống Lá chè có gân rất rõ, rìa lá có răng cưa Trên một cành chè có các loại lá
- Lá vảy ốc: là những lá vảy rất nhỏ có màu nâu, cứng Lá vảy ốc là bộ phận bảo vệ đỉnh sinh trưởng của mầm khi ở trạng thái ngủ
- Lá cá: lá cá thật thứ nhất nhưng phát triển không hoàn toàn, thường dị hình (hơi tròn) Không có chóp lá nhọn và rất ít hoặc không có răng cưa Trên cành chè thường chỉ có một lá cá
- Lá thật: lá thật rất khác nhau giữa các giống chè về thể lá trên cành, kích thước, số đôi răng cưa, màu sắc
Cấu tạo giải phẫu của lá chè: khi cắt ngang phần lá thì thấy từ trên mặt phiến lá có các mô tế bào
+ Biểu bì trên: gồm các tế bào xếp sát nhau trên có lớp cutin và sáp
+ Mô giậu: (1 - 3 lớp) tế bào dài, xếp sát nhau thẳng góc với biểu bì trên + Thể cứng phân nhánh: làm cho lá cứng rắn
+ Gân lá bao quanh mạch, đi theo đến tận cùng các gân lá lớn
+ Mô xốp: tế bào không đồng đều, xếp thưa, có khoảng gian bào
+ Biểu bì dưới: gồm tế bào lớn, vách mỏng không màu, dự trữ nước
+ Lông tơ che phủ lỗ khí khổng để giảm bớt sự thoát hơi nước
+ lỗ khí phân bố thưa, to nhỏ tùy theo giống chè
Trang 26* Hoa và quả chè
Cây chè sau khi trồng tuỳ điều kiện sinh trưởng mà có khả năng ra hoa đậu quả khác nhau Nếu cây trồng bằng hạt thường sau 2 năm sẽ có hoa và quả lần thứ nhất, cây trồng bằng cành giâm sẽ cho quả sớm hơn
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) hoa chè là loại hoa lưỡng tính, đài hoa có 5-7 cánh Trong một hoa có rất nhiều nhị đực (từ 200 - 400), noãn sào thượng có 3 - 4 ô Phương thức thụ phấn của cây chè chủ yếu là thụ phấn khác hoa, tự thụ phấn chỉ đạt 2 - 3% Khả năng ra nụ, ra hoa của cây chè thường rất lớn nhưng tỷ lệ đậu quả lại rất thấp khoảng 12%
2.3.2 Đặc tính sinh hóa của cây chè
Thành phần sinh hóa của chè biến động rất phức tạp nó phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác, mùa thu hoạch Trên cơ sở nắm được những đặc điểm chủ yếu về mặt sinh hóa của nguyên liệu
sẽ đặt cơ sở cho một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao sản lượng đồng thời giữ vững và nâng cao chất lượng của chè Những thành phần sinh hóa chủ yếu trong búp chè gồm:
Trang 27* Nước
Nước là thành phần chính của lá chè, chiếm 75 - 82%, có liên quan đến quá trình biến đổi sinh hóa trong búp chè và đến sự hoạt động của các men, là chất quan trọng không thể thiếu được để duy trì sự sống của cây Hàm lượng nước trong búp chè thay đổi tùy theo giống, tuổi cây, đất đai, kỹ thuật canh tác, thời gian hái và tiêu chuẩn hái v.v Trong búp chè, hàm lượng nước thường có
từ 75 - 82 % Để tránh khỏi sự hao hụt những vật chất trong búp chè qua quá trình bảo quản và vận chuyển, phải cố gắng tránh sự giảm bớt nước trong búp
chè sau khi hái
* Tanin
Bên cạnh thành phần chính là nước thì thành phần và hàm lượng các chất hòa tan trong chè là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà nghiên cứu về chè xanh Trong đó nhóm chất tanin được xem như thành phần chính, chiếm khoảng 27 - 34 % chất khô trong chè
Tanin còn gọi chung là hợp chất phenol thực vật bao gồm các polyphenol đơn giản và các polyphenol đa phân tử, bên cạnh đó chúng còn kèm theo các hợp chất phenol thực vật phi tanin có màu và vị rất đắng Tỷ lệ các chất trong thành phần hỗn hợp của tanin chè không giống nhau và tùy theo từng giống
Tuy nhiên, người ta đã xác định được trong chè tanin gồm có 3 nhóm chủ yếu là nhóm chất catechin, flavon và alcaloid Trong đó 90% là các dạng catechin
* Protein và amino acid
Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp có chứa nitơ, được tạo thành từ các hợp chất amino axit Phân bố không đều ở các phần của búp chè và thay đổi tùy theo giống, thời vụ, điều kiện canh tác và các yếu tố khác
Khi thuỷ phân nó lại phân giải thành các amino axit khác nhau Đối với quá trình chế biến chè đen thành phẩm, nếu hàm lượng protein trong nguyên liệu chè quá cao, trong khi hàm lượng tanin thấp quá thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè đen thành phẩm vì trong giai đoạn lên men, protein kết hợp
Trang 28với tanin chè và các hợp chất polyphenol khác tạo thành các chất không tan, làm giảm hàm lượng tanin và các chất hoà tan khác, làm cho quá trình lên men khó khăn
Đối với quá trình chế biến chè xanh, do đặc điểm của việc chế biến là diệt men ngay từ đầu nên hàm lượng tanin trong chè ít bị thay đổi và còn quá cao làm cho chè có vị đắng Tuy nhiên, protein trong chè kết hợp với một phần tanin làm cho vị đắng và chát giảm đi Vì vậy, trong một chừng mực nào đó thì protein lại có lợi cho phẩm chất của chè xanh Nguyên liệu chè chứa càng nhiều protein càng có lợi vì góp phần điều hoà vị chè xanh, dễ vò xoăn, làm cho mặt chè càng đẹp, có màu sắc càng tươi
Những amino axit có trong nguyên liệu chè đều có tác dụng tốt đối với chất lượng chè đen và chè xanh Amino axit góp phần tạo nên hương vị màu sắc riêng của chè đen (qua phản ứng kết hợp với tanin tạo thành các andehyd thơm) Đối với chè xanh, chúng góp phần điều hoà vị chè, làm cho vị chè thuần hoá, đượm
Ngày nay, người ta đã tìm thấy trong chè có 17 axit amin, các axit amin này kết hợp với đường và tanin tạo thành aldehyd có mùi thơm của chè đen và làm cho chè xanh có dư vị tốt
* Glucid và pectin
Trong lá chè chứa rất ít glucid hòa tan, trong khi đó các glucid không hòa tan lại chiếm tỷ lệ lớn Cellulose và hemicellulose cũng tăng lên theo tuổi của lá,
vì vậy nguyên liệu càng già chất lượng càng kém Hàm lượng đường hòa tan ở trong chè tuy ít nhưng rất quan trọng đối với hương vị chè Đường tác dụng với protein hoặc axit amin tạo nên các chất thơm, có giá trị lớn trong việc điều hòa
vị chè và tham gia trong quá trình caramen hóa dưới tác dụng của nhiệt độ, để tạo thành hương thơm vị ngọt (mùi mật ong dậy lên trong khi sao chè, hay mùi hương đọng lại trong chén chè khi uống)
Pectin thuộc về nhóm glucid và nó là hỗn hợp của các polysaccharid khác nhau và những chất tương tự chúng Ở trong chè, pectin thường ở 3 dạng: dạng
Trang 29hòa tan trong nước, dạng tan trong acid oxalic và dạng tan trong amon oxalat Pectin là một trong những hợp chất glucid Trong chè hàm lượng pectin không nhiều, chiếm khoảng 2 - 3% hàm lượng chất khô, chè cây non hàm lượng pectin cao
Xanthophyll là sắc tố màu vàng, không tan trong nước ảnh hưởng của nó
sẽ lộ rõ khi chlorophyll trong nguyên liệu chè bị phá hoại: làm cho bã chè hoặc chè khô có màu vàng
Anthocyanin khi bị oxyhoá, tan được vào trong nước, là thành phần chủ yếu của nước sắc chè chè đen Hàm lượng anthophyll trong nguyên liệu chè càng nhiều thì nói chung, màu đồng đỏ của nước chè đen thành phẩm càng đẹp Anthophyll tan trong nước chè xanh làm xấu đi màu nước chè xanh vì màu vàng của nó khá ổn định, thêm nữa làm nước chè xanh có vị đắng (hàm lượng anthophyll trong nước chè xanh chỉ bằng một phần vạn đã đủ làm nước chè xanh
bị đắng), cho nên nguyên liệu chè chứa quá nhiều anthophyll không thích hợp cho chế biến chè xanh Trong chế biến chè đen, do nguyên liệu chè qua vò kĩ và lên men nên có thể làm giảm anthophyll, chè đen không bị anthophyll gây đắng đáng kể
* Dầu thơm
Dầu thơm là một hỗn hợp các chất bay hơi tập trung trong các cơ quan của cây chè, là những thành phần có cấu tạo rất phức tạp, hàm lượng dầu thơm
Trang 30trong lá chè tươi rất nhỏ, phải phân tích bằng sắc kí khí Dầu thơm của chè hình thành trong quá trình sinh trưởng phát dục cây chè và cả trong quá trình chế biến chè Hương thơm là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong đánh giá chất lượng chè, được tạo nên từ 3 nguồn sau đây:
- Dầu thơm có sẵn trong búp chè tươi
- Sản phẩm có mùi trong sự chuyển hóa của catechin và axit amin
- Sản phẩm của sự caramen hóa trong quá trình chế biến chè
Đối với cơ thể con người dầu thơm có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương làm cho thần kinh minh mẫn, thoải mái dễ chịu nâng cao hiệu suât làm việc của các cơ năng trong cơ thể
* Vitamin
Các loại vitamin có trong chè rất nhiều Chính vì vậy giá trị dược liệu cũng như giá trị dinh dưỡng của chè rất cao Trong lá tươi có 2 nhóm vitamin, tan trong chất béo và tan trong nước, bao gồm nhiều loại như: A, D, E, F, K, B,
PP, C… Đáng chú ý nhất là vitamin C nhiều hơn 3 đến 4 lần số lượng trong cam chanh, nhưng qua công đoạn lên men và sấy khô của quá trình làm chè đen, bị phá huỷ nhiều do bị oxi hóa, trong chế biến chè xanh, lượng vitamin C giảm đi không đáng kể
* Enzym
Trong nguyên liệu chè có hầu hết các loại enzym, nhưng chủ yếu là hai loại enzym sau:
Nhóm enzym thủy phân: amilase, glucosidase, protease
Nhóm enzym oxy hóa khử: peroxidase, polyphenoloxidase…
Đối với quá trình chế biến chè đen thì enzym đóng vai trò xúc tác rất quan trọng cho những biến đổi sinh hóa, trong giai đoạn héo, vò, lên men nhờ đó tạo
ra hương vị màu sắc đặc biệt của chè đen
Enzym peroxidase, polyphenoloxidase đóng vai trò quan trọng nhất và có tác dụng khác nhau trong quá trình lên men chè đen, tham gia vào quá trình oxy
Trang 31hóa tanin tạo các sản phẩm tạo màu Các enzym này đều hoạt động mạnh ở 45°C, ở 70°C thì hoạt động yếu hẳn đi và ở nhiệt độ cao hơn sẽ bị vô hoạt hoàn toàn Trong chế biến chè xanh, không cần tạo nên những biến đổi sinh hóa cho tanin, nên enzym không có ích cho quá tŕnh chế biến Vì vậy ngay từ giai đoạn đầu của quá trình chế biến chè xanh người ta phải dùng nhiệt độ cao để vô hoạt enzym bằng cách chần hoặc sao
2.4 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cây chè được coi là cây trung tính, khi mới mọc là cây ưa bóng, lớn lên là cây ưa ánh sáng, nếu nhiệt độ cao trên 35oC cần thiết phải che bóng thích hợp để giảm cường độ ánh sáng và giảm nhiệt độ Hiện nay diện tích chè trồng mới chủ yếu được trồng bằng cây chè giâm hom vì vậy khi trồng nếu cây chè được che bóng sẽ làm tăng tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cây
Các cây chè được sử dụng làm matcha được trồng trong bóng râm từ ba đến bốn tuần trước khi thu hoạch; các thân và gân lá được loại bỏ trong quá trình chế biến Trong quá trình phát triển trong bóng râm, cây Camellia sinensis tạo ra nhiều theanine và caffeine hơn
Nhóm tác giả Hideki Horie Akiko Matsunaga & Yuhei Hirono (2018) có nghiên cứu cường độ che nắng đến các đặc điểm hình thái, màu sắc và các thành phần hóa học của chồi chè mới (Camellia sinensis L.) trong điều kiện canh tác che phủ trực tiếp Độ dày lá, khối lượng lá trên một diện tích và mật độ lá của các lá chè mới trong môi trường nuôi cấy dưới lớp phủ nhỏ hơn so với nuôi cấy ngoài đồng ruộng Giá trị SPAD và hàm lượng chất diệp lục trong môi trường nuôi cấy lớn hơn so với nuôi cấy mở Phương trình hàm mũ rút ra để ước tính hàm lượng diệp lục từ các giá trị SPAD đã được cải thiện bằng cách xem xét độ dày của lá Nuôi cấy che phủ làm giảm hàm lượng epicatechin và epigallocatechin, đồng thời tăng hàm lượng theanine và caffein Phân tích thành phần chính trên chồi và các đặc điểm của lá chỉ ra rằng khối lượng lá trên mỗi diện tích, hàm lượng diệp lục, epicatechin và epigallocatechin có liên quan chặt chẽ đến tác dụng che nắng
Trang 32Các đặc điểm hình thái, tính trạng màu sắc và thành phần hóa học của chồi và lá chè mới thay đổi tùy thuộc vào cường độ bức xạ, sự phát triển của chồi và mùa vụ canh tác Những phát hiện này rất hữu ích cho việc canh tác các vườn chè với chất lượng cao và năng suất cao
Theo nhóm tác giả Akio Morita & cs (2011) nghiên cứu hàm lượng nitrat
và oxalat của cây chè liên quan đến các loại chè xanh và tác dụng che nắng cho thấy rằng bóng râm ảnh hưởng đến hàm lượng nitrat và oxalat trong nước chè Hàm lượng nitrat và oxalat tăng dần trong các lần rửa có bóng râm nhưng hầu như không đổi trong các lần rửa không có bóng râm Vào cuối quá trình xử
lý che bóng, hàm lượng nitrat trên một đơn vị diện tích trường ở các mẫu có bóng râm cao hơn xấp xỉ 4 lần so với trong các xử lý không có bóng râm Mặt khác, số lượng oxalat trên một đơn vị diện tích trường ở cả hai mặt phẳng có và không có bóng tăng với tốc độ như nhau, cho thấy rằng hàm lượng oxalat trên trọng lượng khô giảm cùng với sự tăng trưởng Tỷ lệ giữa hàm lượng oxalat và hàm lượng N giảm trong nước rửa có bóng râm cao hơn so với nước thải không
có bóng râm
Theo Toyomasa Anan & cs (1974) đã chỉ ra rằng che sáng có ảnh hưởng đến hàm lượng các thành phần hóa học trong lá chè Trong giai đoạn phát triển của mầm chè, cây chè đã được che sáng với một số tấm lưới màu đen trong thời gian 1 tuần đến 2 tuần Búp chè được hái để phân tích cách nhau 3-5 ngày Kết quả cho thấy, khi che sáng hàm lượng nitơ tổng số trong lá chè tăng trong khi đó mẫu không che sáng thì hàm lượng nitơ tổng số trong lá chè giảm nhẹ trong giai đoạn đầu của thí nghiệm sau đó tiếp tục giảm Hàm lượng axit amin và hàm lượng caffeine có xu hướng tương tự Hàm lượng theanine bắt đầu tăng và giảm dần sau đó, trong khi đó công thức không che sáng thì hàm lượng theanine trong
lá chè giảm nhanh chóng Hàm lượng axit aspartic trong chè ở công thức không che sáng giảm, trong khi hàm lượng axit aspartic trong lá chè ở công thức che sáng không thay đổi Hàm lượng tanin trong lá chè ở công thức che sáng và không che sáng giảm, nhưng mẫu che sáng giảm lớn hơn Hàm lượng
Trang 33epicatechin và epigallocatechin trong lá chè ở công thức che sáng không thay đổi, nhưng ở công thức không che sáng thì hàm lượng epicatechin và epigallocatechin tăng dần Hàm lượng đường khử trong lá chè giảm cho thấy xu hướng tương tự ở công thức không che sáng
Theo Eiji Kobayashi và cs (2010) về ảnh hưởng của che sáng trực tiếp trên
bề mặt tán chè đến các thành phần hóa học của lá chè Thí nghiệm gồm 4 công thức tương ứng với độ che sáng 0%; 85%; 98%; 100% Kết quả cho thấy: Trong thời gian che sáng, với mức độ che sáng 85% thì lá chè có màu lá xanh đậm Che sáng cây chè với tỷ lệ 98% thì lá chè có màu xanh lá cây nhẹ hơn trong khi che sáng cây chè với tỷ lệ 100% thì lá chè màu trắng Hàm lượng các axit amin trong búp chè tăng theo độ che sáng Đặc biệt, ở công thức che sáng cây chè 100% thì hàm lượng Arginine tăng khoảng 3 lần, serine khoảng 4 lần và asparagine tăng khoảng 50 lần so với không che sáng cây chè
Chè là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, cho thu hoạch ổn định Tiếp tục mở rộng diện tích các giống có năng suất cao, chất lượng tốt nhằm đa dạng các mặt hàng chè có chất lượng cao là một hướng đi thích hợp và là đòi hỏi của sản xuất
Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về việc che bóng cho cây chè, trong
đó che bóng bằng cây trồng là phổ biến nhất Qua khảo nghiệm, đánh giá thì những đồi chè có trồng cây che bóng thường cho năng suất cao hơn từ 10% đến 15% so với những đồi chè không có cây che bóng Tuy nhiên che bóng bằng cây trồng sẽ gặp một số trở ngại như: bất tiện trong việc sử dụng máy hái chè, lá cây che bóng rụng xuống sẽ lẫn với chè, tưới tiêu sẽ khó khăn hơn khi thời tiết khô hạn
Vấn đề nghiên cứu về sử dụng lưới che ánh sáng trước khi thu hoạch đã được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì chưa có nhiều
Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng lưới che ánh sáng trước khi thu hoạch có thể giúp tăng chất lượng sản phẩm chè cũng như giải quyết một số trở ngại khi trồng cây che bóng
Trang 34PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống chè LCT1
* Nguồn gốc
Giống chè LCT1 được sở hữu lai giữa hai giống chè bản địa phương của Việt Nam, mẹ là giống chè Shan Cù Dề Phùng và bố là giống chè Trung Du tại Viện Nghiên cứu Chè trước đây, nay là Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc từ năm 1985 Qua 30 năm theo dõi, đánh giá kết hợp với chọn lọc cả thể đến năm 2019 giống chè LCT1 được công nhận là giống chè sản xuất thử tại quyết định số: 52/QĐ-TT-CCN ngày 28 tháng 2 năm 2019 của Cục trưởng Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
* Đặc điểm của giống chè LCT1
Giống chè LCT1 có diện tích lá đạt 26,8 cm2, lá dạng hình trứng, lá truởng thành của dòng LCT1 có màu xanh sáng khác hẳn so với giống Trung Du chọn lọc có màu xanh vàng Búp non có lông tuyết, màu sắc búp của giống LCT1 có màu xanh đậm khác biệt so với Trung Du Phân cành thấp, thân có dạng bán gỗ
Về sinh trưởng, năng suất, chất lượng Giống chè LCT1 có thời gian bắt đầu sinh trường sớm 15 - 16/2 và kết thúc sinh trưởng muộn vào 10/12, tổng thời gian sinh trưởng dài 294 ngày Có 7 đợt sinh trưởng tự nhiên trong năm Chè tuổi 3 rộng tán đạt 84,3 cm, tuổi 15 chiều rộng tán đạt 1,51 m Năng suất, chất lượng của giống: năng suất trung bình ở tuổi 15 đạt 18,60 tấn/ha; chất lượng của giống, các chỉ tiêu sinh hóa tanin 29,73%, chất hòa tan 41,86%, axit amin 2,84%; catechin 152,20 mg/gck, đường khử 3,00% hàm lượng axit amin
ổn định qua các năm đạt 2,35 - 2,84% có lợi cho chế biến chè xanh chất lượng cao, điểm thử nếm chè xanh đạt 17,81- 18,04 điểm
Trang 35Khả năng chống chịu: Giống LCT1 có khả năng chống chịu sâu bệnh khá, rầy xanh, bọ cánh tơ nhên đỏ, bọ xít muỗi hại ở mức trung bình, có khả năng chịu nóng và chịu rét tốt
Khả năng nhân giống: Dễ nhân giống vô tính, cây chè xuất vườn đạt tỷ lệ cao 89,60%, sau 10 tháng giâm cành
Mức độ phổ biến: Được trồng tại các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc: Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Nghệ An và Lâm Đồng
độ chiếu sáng tùy theo độ mau thưa (số lớp lưới) khác nhau Trong thí nghiệm
sử dụng loại lưới làm giảm 70% cường độ ánh sáng so với ánh sáng tự nhiên
Hình 3.1 Lưới màu đen được sử dụng trong thí nghiệm
* Phân bón
Sử dụng phân bón NPK Lâm Thao tỷ lệ 12:5:10 theo quy trình của Bộ
NN&PTNT
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 3 đến tháng
9 năm 2021
Thời vụ: Vụ Xuân và vụ Hè
Trang 36- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc, khu 9 xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao che phủ đến năng suất, chất lượng
và sâu bệnh hại của giống chè LCT1
- Nghiên cứu ảnh hưởng thời gian che phủ trước khi hái đến năng suất, chất lượng nguyên liệu giống chè LCT1
3.4 Phương pháp nghiên cứu
CT2: Chiều cao che phủ 80 cm
CT3: Chiều cao che phủ 120 cm
CT4: Chiều cao che phủ 150 cm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đẩy đủ trên giống chè LCT1
ở tuổi 5, mỗi công thức 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc 100 m2 Tổng diện tích thí nghiệm: 1 giống x 4 CT x 3 lần nhắc x 100 m2/lần nhắc lại = 1.200 m2 Các công thức được chăm sóc theo quy trình hiện đang áp dụng Che phủ nương chè trước khi hái 10 ngày
- Nền phân bón: Bón 40 N/tấn sản phẩm (tỷ lệ N:P:K= 3:1:2) + 75 kg MgSO4/ha + 1000 kg đậu tương; trong đó: phân ure (1000 kg/ha), phân lân (500 kg/ha), phân kali (1000 kg/ha) Lượng bón được chia làm 4 lần: lần 1 tháng 3 bón 30% tổng lượng bón, lần 2 tháng 5 bón 20% tổng lượng bón, lần 3 bón tháng 7 bón 30% tổng lượng bón, lần 4 bón tháng 9 bón 20% tổng lượng bón Thuốc BVTV (2 kg/ha)
Trang 37- Nguyên vật liệu: phân MgSO4, đậu tương, phân đạm, phân lân, phân kali, thuốc BVTV, lưới đen che ánh sáng, vật rẻ tiền mau hỏng (VRTMH) gồm dao phát, áo bảo hộ lao động, cuốc
* Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng thời gian che phủ trước khi hái đến năng suất, chất lượng nguyên liệu giống chè LCT1
Thí nghiệm gồm 4 công thức:
CT1: Không che trước khi hái (Đ/c)
CT2: Che trước khi hái 5 ngày
CT3: Che trước khi hái 10 ngày
CT4: Che trước khi hái 15 ngày
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đẩy đủ trên giống chè LCT1
ở tuổi 5, mỗi công thức 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc 100 m2 Tổng diện tích thí nghiệm: 1 giống x 4 CT x 3 lần nhắc x 100 m2/lần nhắc lại = 1.200 m2 Các công thức được chăm sóc theo quy trình hiện đang áp dụng Chiều cao che phủ là 150
cm
- Nền phân bón: Bón 40 N/tấn sản phẩm (tỷ lệ N:P:K= 3:1:2) + 75 kg MgSO4/ha + 1000 kg đậu tương; trong đó: phân ure (1000 kg/ha), phân lân (500 kg/ha), phân kali (1000 kg/ha) Lượng bón được chia làm 4 lần: lần 1 tháng 3 bón 30% tổng lượng bón, lần 2 tháng 5 bón 20% tổng lượng bón, lần 3 bón tháng 7 bón 30% tổng lượng bón, lần 4 bón tháng 9 bón 20% tổng lượng bón Thuốc BVTV (2 kg/ha)
- Nguyên vật liệu: phân MgSO4, đậu tương, phân đạm, phân lân, phân kali, thuốc BVTV, lưới đen che ánh sáng, vật rẻ tiền mau hỏng (VRTMH) gồm dao phát, áo bảo hộ lao động, cuốc
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
- Về chỉ tiêu về sinh trưởng
Trang 38+ Tốc độ sinh trưởng búp: Vào các đợt búp, từ khi cây bắt đầu bật mầm
đến khi hái, định kỳ 5 ngày theo dõi một lần.Cố định búp theo dõi, đo từ gốc búp tới đỉnh sinh trưởng búp
- Về chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
+ Năng suất (tấn/ha): Cân khối lượng búp tươi/công thức, quy ra ha
+ Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông kích thước 25 x 25 cm, đếm
số búp đủ tiêu chuẩn trên cây, mật độ búp của công thức được xác định là giá trị trung bình số búp/cây của 30 cây đại diện
+ Khối lượng búp (g/búp): Theo dõi theo phương pháp đường chéo 5 điểm Trên ô thí nghiệm chọn đại diện 3 điểm, mỗi điểm lấy 100 gr búp (1 tôm 3 lá), và tính trung bình
+ Chiều dài búp 1 tôm 3 lá: Đo từ nách lá thứ 3 đến hết đỉnh sinh trưởng Chọn 5 điểm theo phương pháp đường chéo, mỗi điểm đo 20 - 30 búp, búp phát triển bình thường, tôm chưa mở
- Về chỉ tiêu về phẩm cấp nguyên liệu
+ Thành phần cơ giới búp (%): Hái búp chè của từng công thức, trộn
đều, lấy mẫu theo phương pháp 5 điểm, cân 10 búp 1 tôm 3 lá đúng tiêu chuẩn được khối lượng A, sau đó cân riêng từng thành phần và tính tỷ lệ phần trăm, tiến hành 3 lần cho một công thức, thu được:
+ P1, P2, P3, P4, P5lượt là khối lượng lá 1, lá 2, lá 3, tôm và cuộng
- Tỉ lệ búp mù xoè (%): Mỗi công thức chọn 5 cây, hái tổng số búp của
cây, rồi đếm số búp mù có trong tổng số búp của 5 cây
Trang 39Tỷ lệ búp bánh tẻ (%)= (P1 / 50) x 100
Tỷ lệ búp non (%) = (P2 / 50) x 100 Căn cứ vào tỷ lệ bánh tẻ để đánh giá phẩm cấp búp theo từng công thức Tiêu chuẩn chè đọt tươi được quy định như sau (theo TCVN 1053-71):
+Xác định hàm lượng Chlorophyll (a; b) trong lá chè tươi bằng phương
pháp đo độ hoạt động quang học
+ Xác định hàm lượng tanin theo Lewenthal
+ Xác hàm lượng chất hoà tan theo phương pháp Vronxov (1946)
+ Xác định hàm lượng axit amin theo V.R Papova (1966)
+ Xác định hợp chất thơm theo phương pháp Kharepbava(1960)
+ Đánh giá thử nếm cảm quan: Đánh giá chất lượng chè xanh bằng phương pháp thử nếm cảm quan theo TCVN 3218 – 2012
Trang 40- Về chỉ tiêu về sâu bệnh hại
Theo dõi một số loại sâu hại chính trên diện tích thí nghiệm
Dựa theo QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT để đánh giá mức độ gây hại của sâu hại chính
+ Mật độ rầy xanh (con/khay): Dùng khay tôn, kích thước 25 x 25 x 5cm,
có tráng dầu hỏa Điều tra theo phương pháp đường chéo 5 điểm, đặt khay dưới gầm, rìa tán chè nghiêng 450 so với thân cây, dùng tay đập mạnh trên tán chè 3 đập thẳng góc với khay, sau đó đếm số rầy trên khay
Mật độ rầy xanh (con/khay) = Tổng số rầy xanh điều tra
Tổng số khay điều tra
+ Mật độ bọ cánh tơ (con/búp): Điều tra theo phương pháp đường chéo 5
điểm, mỗi điểm theo dõi cố định 5 cây Mỗi điểm hái 25 búp; đếm số bọ cánh tơ
có trên 1 búp, số con/búp của ô thí nghiệm là số liệu trung bình của 125 búp
Mật độ bọ cánh tơ (con/búp) = Tổng số bọ cánh tơ
Tổng số búp điều tra
+ Mật độ nhện đỏ (con/lá): Điều tra theo phương pháp đường chéo 5
điểm, mỗi điểm hái ngẫu nhiên 25 lá (hái lá bánh tẻ) Mật độ nhện hại = tổng số nhện điều tra/ tổng số lá điều tra
Mật độ nhện đỏ (con/lá) = Tổng số nhện đỏ
Tổng số lá điều tra
+ Mật độ bọ xít muỗi (%): Điều tra theo 5 điểm đường chéo, mỗi điểm hái
ngẫu nhiên bất kỳ 25 búp để điều tra, sau đó đếm số búp bị hại
Tỷ lệ búp bị hại (%) = Số búp bị hại x 100
Tổng số búp điều tra
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu được xử lý trên EXCEL và phần mềm IRRSTAT 5