Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh lở cổ rễ hại một số cây trồng trong điều kiện chậu vại .... Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trich
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật đối kháng phòng trừ nấm Rhizoctonia solani gây bệnh lở cổ rễ hại một số cây trồng cạn
- Các giống cây trồng: cải canh, đậu xanh, đậu đen, đậu cove
Các dụng cụ trong phòng thí nghiệm rất đa dạng và cần thiết, bao gồm tủ lạnh, tủ định ôn, buồng cấy, nồi hấp, kính hiển vi quang học, bếp điện, lò vi sóng, cân điện tử, cân bàn, đĩa petri, bình tam giác, bình định mức, ống đong, dao cắt và đèn cồn Những thiết bị này hỗ trợ hiệu quả cho các thí nghiệm và nghiên cứu khoa học.
-Nguyên liệu: đường glucose, sacarose, agar, khoai tây, nước cất, cồn và một số hóa chất thiết yếu dùng để điều chế môi trường nuôi cấy vi sinh vật
- Môi trường nuôi cấy nấm: PGA
Nguồn vi sinh vật đối kháng bao gồm nấm Trichoderma viride và vi khuẩn Bacillus subtilis, được cung cấp bởi bộ môn bệnh cây thuộc khoa Nông học của Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
* Danh mục các isolate nấm đối kháng Trichoderma viride sử dụng trong thí nghiệm
STT Isolate nấm đối kháng Trichoderma viride Kí hiệu
1 Nấm T viride gốc – Bộ môn Bệnh cây TV-G
2 Nấm T viride 1 – Bộ môn Bệnh cây TV-1
3 Nấm T viride 2 – Bộ môn Bệnh cây TV-2
4 Nấm T viride 3 – Bô môn Bệnh cây TV-3
Hình 3.1 Danh mục các isolate nấm đối kháng Trichoderma viride sử dụng trong thí nghiệm
* Danh mục các isolate vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis sử dụng trong thí nghiệm
STT Isolate vi khuẩn đối kháng Bacillus cubtilis Kí hiệu
1 Vi khuẩn B.subtilis – Bộ môn Bệnh cây BS-G
2 Vi khuẩn B Subtilis phân lập từ đất trồng ớt – Bộ môn Bệnh cây BS-O
3 Vi khuẩn B Subtilis phân lập từ đất trồng cà chua – Bộ môn Bệnh cây
4 Vi khuẩn B.subtilis – Bộ môn Bệnh cây HT-7
Hình 3.2 Danh mục các isolate vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis sử dụng trong thí nghiệm
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu:
- Đề tài được thực hiện tại phòng thí nghiệm P111 bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam - Hà Nội
- Một số vùng trồng cải canh, cải ngọt mồng tơi, đậu cô ve, đậu tương, đậu xanh, đậu đen ở Hà Nội
- Nhà lưới sau nhà B, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam -
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021
- Điều tra diễn biến bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kühn) hại một số cây trồng cạn
- Thu thập phân ly nuôi cấy, nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của các isolate nấm Rhizoctonia solani
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vi sinh vật đối kháng với Isolate nấm trên môi trường PGA
- Nghiên cứu tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani Kühn trên một số cây trồng cạn trong điều kiện chậu vại
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride và vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis đối với các isolate nấm Rhizoctonia solani trong môi trường PGA Kết quả cho thấy Trichoderma viride và Bacillus subtilis có khả năng ức chế sự phát triển của Rhizoctonia solani, mở ra triển vọng ứng dụng trong quản lý bệnh hại cây trồng.
- Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với bệnh lở cổ rễ (R solani) trong điều kiện chậu vại
3.5.1 Phương pháp điều tra bệnh lở cổ rễ Điều tra tình hình bệnh lở cổ rễ ở ngoài đồng ruộng theo quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng Chọn ruộng, chọn loại cây trồng, điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc, cố định điểm điều tra, mỗi điểm điều tra 50 cây, điểm điều tra cách bờ ít nhất 2m, đếm số cây bị bệnh, tính tỷ lệ bệnh (%), điều tra định kỳ 7 ngày một lần
3.5.2 Phương pháp phân ly nuôi cấy nấm Rhizoctonia solani
Mẫu bệnh lở cổ rễ cần được rửa sạch dưới vòi nước, sau đó rửa lại bằng nước cất vô trùng ba lần và lau khô bằng giấy thấm vô trùng Cắt mô bệnh với kích thước 1-2 x 1-2mm, chú ý cắt phần ranh giới giữa mô bệnh và mô khỏe, sau đó sát trùng bằng cồn 70 độ trong 15 giây và nhúng vào nước cất vô trùng Tiếp theo, thấm khô bằng giấy thấm vô trùng và dùng que cấy đã khử trùng để cấy mô bệnh vào đĩa môi trường WA, giữ ở nhiệt độ 25 độ C Khi sợi nấm mọc cách mô bệnh khoảng 1cm, dùng que cấy cắt phần đầu sợi nấm và chuyển sang môi trường PGA, tiếp tục cấy chuyển cho đến khi thu được nấm thuần phục vụ cho các thí nghiệm trong phòng và nhà lưới.
3.5.3 Phương pháp điều chế môi trường
Khử trùng dụng cụ thủy tinh bằng cách rửa sạch với xà phòng, để ráo nước, sau đó lau lại bằng cồn 70% Tiếp theo, đóng gói dụng cụ bằng giấy bạc bọc thực phẩm và đặt vào tủ sấy ở nhiệt độ 160°C để đảm bảo vệ sinh.
* Môi trường PGA (Potato Glucose Agar)
Thành phần môi trường bao gồm 200g khoai tây, 20g glucose, 20g agar và 1000ml nước cất Để điều chế, chọn khoai tây không bệnh, gọt vỏ và rửa sạch, sau đó thái lát mỏng và nấu với 1000ml nước trong 15-20 phút Lọc qua vải lọc và bổ sung nước cất đủ 1000ml Tiếp theo, cho từ từ 20g agar và 20g glucose vào, khuấy đều và đun sôi Đổ hỗn hợp vào các bình tam giác thủy tinh và hấp khử trùng ở 121°C (1,5 atm) Để nguội ở 50°C – 60°C trước khi rót vào đĩa petri đã được khử trùng, sau đó bọc kỹ và bảo quản trong tủ lạnh, ghi rõ tên môi trường và ngày nấu.
3.5.4 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển của nấm Rhizoctonia solani
Nghiên cứu hình thái của nấm Rhizoctonia solani Kühn được thực hiện bằng cách nuôi cấy trên môi trường PGA Qua quá trình này, chúng tôi đã quan sát sự hình thành và phát triển của tản nấm, bao gồm màu sắc, đường kính và khả năng hình thành hạch.
*Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm Rhizoctonia solani
- Tiến hành nghiên cứu, đánh giá sự phát triển của các isolate nấm
Rhizoctonia solani Kühn trên 3 môi trường dinh dưỡng: PGA
Mỗi môi trường tiến hành cấy nhắc lại 3 lần, mỗi lần 1 đĩa petri
- Chỉ tiêu theo dõi: Quan sát đặc điểm hình thái và màu sắc tản nấm Đo đường kính tản nấm sau 1, 2, 3 ngày nuôi cấy
3.5.5 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm vi sinh vật đối kháng với nấm Rhizoctonia solani trên môi trường nhân tạo
* Phương pháp khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với nấm Rhizoctonia solani trên môi trường PGA
Thí nghiệm tiến hành trên môi trường PGA, gồm 4 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần 1 đĩa petri (cấy nấm cách mép đĩa 15mm) :
+ Công thức 1(đối chứng): Cấy nấm Rhizoctonia solani Kühn riêng rẽ trên môi trường PGA
+ Công thức 2: Cấy isolate nấm đối kháng Trichoderma viride trước, sau 24h cấy isolate nấm Rhizoctonia solani
+ Công thức 3: Cấy isolate nấm đối kháng T viride và isolate nấm R solani đồng thời
+ Công thức 4: Cấy isolate nấm Rhizoctonia solani trước, sau 24h cấy isolate nấm đối kháng Trichoderma viride
Hình 3.3 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát hiệu lực ức chế của các isolates nấm đôi kháng
Trichoderma viride với nấm Rhizoctonia solani
* Phương pháp khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng
Bacillus subtilis với nấm Rhizoctonia solani Kühn
Thí nghiệm được thực hiện trong môi trường PGA với 4 công thức, mỗi công thức được lặp lại 3 lần, sử dụng 1 đĩa petri cho mỗi lần Nấm và vi khuẩn được cấy cách mép đĩa 15mm.
+ Công thức 1 (đối chứng): Cấy nấm Rhizoctonia solani Kühn riêng rẽ trên môi trường PGA
+ Công thức 2: Cấy vi khuẩn đối kháng Bacillus subtili trước, sau 24h cấy nấm Rhizoctonia solani Kühn
+ Công thức 3: Cấy đồng thời isolate nấm Rhizoctonia solani Kühn và isolate vi khuẩn đối kháng Bacillus subtili
+ Công thức 4: Cấy isolate nấm Rhizoctonia solani Kühn trước, sau 24h cấy vi khuẩn đối kháng Bacillus subtili
Hình 3.5 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát hiệu lực ức chế của các isolate vi khuẩn đối kháng
Bacillus subtilis với nấm Rhizoctonia solani Kühn
3.5.6 Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh lở cổ rễ hại một số cây trồng trong điều kiện chậu vại
Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 2 lần, mỗi lần 1 chậu, mỗi chậu gieo 30 Các công thức được bố trí như sau:
+ Công thức 1: Ngâm hạt giống vào nước sạch trong 15 phút rồi đem gieo + Công thức 2: Ngâm hạt giống vào dịch nấm Rhizoctonia solani trong 15 phút rồi đem gieo
Ngâm hạt giống vào dịch nấm đối kháng Trichoderma viride trong 15 phút trước khi gieo, sau đó xử lý với nấm Rhizoctonia solani khi cây phát triển được 2 lá mầm.
+ Công thức 4: Ngâm hạt giống vào hỗn hợp dịch nấm Rhizoctonia solani và Trichoderma viride trong 15 phút rồi đem gieo
+ Công thức 5: Ngâm hạt giống vào dịch nấm Rhizoctonia solani trước, trong
15 phút rồi đem gieo, khi cây được 2 lá mầm thì xử lý nấm đối kháng Trichoderma viride
Lượng dùng: mỗi công thức sử dụng 1 đĩa petri nấm Rhizoctonia solani hòa với 40ml nước và 1 đĩa petri nấm đối kháng Trichoderma viride hòa với 40ml
Chỉ tiêu theo dõi: Quan sát và đo đường kính tản nấm sau 1, 2, 3 ngày cấy Tính hiệu lực ức chế của isolate nấm Trichoderma viride với các isolate nấm
Rhizoctonia solani Kühn theo công thức Abbott
3.6 Phương pháp tính toán và sử lý số liệu
A: Tổng số cây bị bệnh B: Tổng số cây điều tra
Hiệu lực ức chế (HLƯC) của nấm Trichoderma viride với nấm
Rhizoctonia solani Kühn theo công thức Abbott
HLƯC (%) Trong đó: C: Đường kính tản nấm ở công thức đối chứng
T: Đường kính tản nấm ở các công thức có xử lý T.viride
Hiệu lực phòng trừ (HLPT) của nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh lở cổ rễ theo công thức Abbott
HLPT (%) Trong đó: C: Tỷ lệ bệnh ở công thức 2
T: Tỷ lệ bệnh ở công thức thí nghiệm
Nghiên cứu đã phân cấp mức độ hiệu lực ức chế của nấm đối kháng T viride và vi khuẩn đối kháng B subtilis đối với nấm gây bệnh trong môi trường nhân tạo, sử dụng công thức PIRG (Percent Inhibition of Radial Growth) Kết quả cho thấy khả năng ức chế của các tác nhân này có thể được đánh giá một cách chính xác, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc kiểm soát nấm bệnh.
3.7 Xử lý số liệu thống kê
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm IRRISTART 5.0 và Excel 2010 Các giá trị trung bình của các nghiệm thức được so sánh thông qua các phương pháp F, t, LSD, và Dulcan với mức xác suất P = 0.95 (α = 0.05) Các giá trị a, b, c,… được ghi nhận có ký hiệu chữ giống nhau cho thấy chúng có giá trị tương đương theo trắc nghiệm Duncan.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện tại phòng thí nghiệm P111 bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam - Hà Nội
- Một số vùng trồng cải canh, cải ngọt mồng tơi, đậu cô ve, đậu tương, đậu xanh, đậu đen ở Hà Nội
- Nhà lưới sau nhà B, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam -
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021.
Nội dung nghiên cứu
- Điều tra diễn biến bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kühn) hại một số cây trồng cạn
- Thu thập phân ly nuôi cấy, nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của các isolate nấm Rhizoctonia solani
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vi sinh vật đối kháng với Isolate nấm trên môi trường PGA
- Nghiên cứu tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani Kühn trên một số cây trồng cạn trong điều kiện chậu vại
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride và vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis đối với các isolate nấm Rhizoctonia solani trong môi trường PGA Kết quả cho thấy cả Trichoderma viride và Bacillus subtilis đều có khả năng ức chế sự phát triển của Rhizoctonia solani, mở ra triển vọng ứng dụng trong quản lý bệnh hại cây trồng.
- Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với bệnh lở cổ rễ (R solani) trong điều kiện chậu vại.
Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp điều tra bệnh lở cổ rễ Điều tra tình hình bệnh lở cổ rễ ở ngoài đồng ruộng theo quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng Chọn ruộng, chọn loại cây trồng, điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc, cố định điểm điều tra, mỗi điểm điều tra 50 cây, điểm điều tra cách bờ ít nhất 2m, đếm số cây bị bệnh, tính tỷ lệ bệnh (%), điều tra định kỳ 7 ngày một lần
3.5.2 Phương pháp phân ly nuôi cấy nấm Rhizoctonia solani
Mẫu bệnh lở cổ rễ cần được rửa sạch dưới vòi nước, sau đó rửa lại bằng nước cất vô trùng ba lần và lau khô bằng giấy thấm vô trùng Cắt mô bệnh có kích thước 1-2 x 1-2mm, chú ý cắt phần ranh giới giữa mô bệnh và mô khỏe, sau đó sát trùng bằng cồn 70 độ trong 15 giây và nhúng vào nước cất vô trùng Thấm khô bằng giấy thấm vô trùng, rồi dùng que cấy đã khử trùng để cấy mô bệnh vào đĩa môi trường WA, để ở nhiệt độ 25 độ C Khi sợi nấm mọc cách mô bệnh khoảng 1cm, dùng que cấy cắt phần đầu sợi nấm và chuyển sang môi trường PGA, tiếp tục cấy chuyển cho đến khi thu được nấm thuần phục vụ cho các thí nghiệm trong phòng và nhà lưới.
3.5.3 Phương pháp điều chế môi trường
Khử trùng dụng cụ thủy tinh bằng cách rửa sạch với xà phòng, để ráo nước và lau lại bằng cồn 70% Sau đó, đóng gói dụng cụ bằng giấy bạc bọc thực phẩm và đặt vào tủ sấy ở nhiệt độ 160°C để đảm bảo an toàn vệ sinh.
* Môi trường PGA (Potato Glucose Agar)
Thành phần môi trường bao gồm 200g khoai tây, 20g glucose, 20g agar và 1000ml nước cất Để điều chế, chọn khoai tây không bệnh, gọt vỏ và rửa sạch, sau đó thái lát mỏng và nấu với 1000ml nước trong 15-20 phút Lọc qua vải lọc và bổ sung nước cất đủ 1000ml Tiếp theo, cho từ từ 20g agar và 20g glucose vào, khuấy đều và đun sôi Đổ hỗn hợp vào các bình tam giác thủy tinh và hấp khử trùng ở 121°C (1,5 atm) Để nguội ở 50°C – 60°C trước khi đổ vào đĩa petri đã được khử trùng, sau khi đổ xong, bọc kỹ và bảo quản trong tủ lạnh, ghi rõ tên môi trường và ngày nấu.
3.5.4 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển của nấm Rhizoctonia solani
Nghiên cứu hình thái của nấm Rhizoctonia solani Kühn được thực hiện bằng cách nuôi cấy trên môi trường PGA Qua quá trình này, chúng tôi đã quan sát sự hình thành và phát triển của tản nấm, bao gồm màu sắc, đường kính và khả năng hình thành hạch.
*Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm Rhizoctonia solani
- Tiến hành nghiên cứu, đánh giá sự phát triển của các isolate nấm
Rhizoctonia solani Kühn trên 3 môi trường dinh dưỡng: PGA
Mỗi môi trường tiến hành cấy nhắc lại 3 lần, mỗi lần 1 đĩa petri
- Chỉ tiêu theo dõi: Quan sát đặc điểm hình thái và màu sắc tản nấm Đo đường kính tản nấm sau 1, 2, 3 ngày nuôi cấy
3.5.5 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm vi sinh vật đối kháng với nấm Rhizoctonia solani trên môi trường nhân tạo
* Phương pháp khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với nấm Rhizoctonia solani trên môi trường PGA
Thí nghiệm tiến hành trên môi trường PGA, gồm 4 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần 1 đĩa petri (cấy nấm cách mép đĩa 15mm) :
+ Công thức 1(đối chứng): Cấy nấm Rhizoctonia solani Kühn riêng rẽ trên môi trường PGA
+ Công thức 2: Cấy isolate nấm đối kháng Trichoderma viride trước, sau 24h cấy isolate nấm Rhizoctonia solani
+ Công thức 3: Cấy isolate nấm đối kháng T viride và isolate nấm R solani đồng thời
+ Công thức 4: Cấy isolate nấm Rhizoctonia solani trước, sau 24h cấy isolate nấm đối kháng Trichoderma viride
Hình 3.3 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát hiệu lực ức chế của các isolates nấm đôi kháng
Trichoderma viride với nấm Rhizoctonia solani
* Phương pháp khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng
Bacillus subtilis với nấm Rhizoctonia solani Kühn
Thí nghiệm được thực hiện trong môi trường PGA với 4 công thức, mỗi công thức được lặp lại 3 lần, sử dụng 1 đĩa petri cho mỗi lần Nấm và vi khuẩn được cấy cách mép đĩa 15mm.
+ Công thức 1 (đối chứng): Cấy nấm Rhizoctonia solani Kühn riêng rẽ trên môi trường PGA
+ Công thức 2: Cấy vi khuẩn đối kháng Bacillus subtili trước, sau 24h cấy nấm Rhizoctonia solani Kühn
+ Công thức 3: Cấy đồng thời isolate nấm Rhizoctonia solani Kühn và isolate vi khuẩn đối kháng Bacillus subtili
+ Công thức 4: Cấy isolate nấm Rhizoctonia solani Kühn trước, sau 24h cấy vi khuẩn đối kháng Bacillus subtili
Hình 3.5 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát hiệu lực ức chế của các isolate vi khuẩn đối kháng
Bacillus subtilis với nấm Rhizoctonia solani Kühn
3.5.6 Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh lở cổ rễ hại một số cây trồng trong điều kiện chậu vại
Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 2 lần, mỗi lần 1 chậu, mỗi chậu gieo 30 Các công thức được bố trí như sau:
+ Công thức 1: Ngâm hạt giống vào nước sạch trong 15 phút rồi đem gieo + Công thức 2: Ngâm hạt giống vào dịch nấm Rhizoctonia solani trong 15 phút rồi đem gieo
Ngâm hạt giống vào dịch nấm đối kháng Trichoderma viride trong 15 phút trước khi gieo Khi cây phát triển đến giai đoạn 2 lá mầm, tiến hành xử lý với nấm Rhizoctonia solani.
+ Công thức 4: Ngâm hạt giống vào hỗn hợp dịch nấm Rhizoctonia solani và Trichoderma viride trong 15 phút rồi đem gieo
+ Công thức 5: Ngâm hạt giống vào dịch nấm Rhizoctonia solani trước, trong
15 phút rồi đem gieo, khi cây được 2 lá mầm thì xử lý nấm đối kháng Trichoderma viride
Lượng dùng: mỗi công thức sử dụng 1 đĩa petri nấm Rhizoctonia solani hòa với 40ml nước và 1 đĩa petri nấm đối kháng Trichoderma viride hòa với 40ml
Chỉ tiêu theo dõi: Quan sát và đo đường kính tản nấm sau 1, 2, 3 ngày cấy Tính hiệu lực ức chế của isolate nấm Trichoderma viride với các isolate nấm
Rhizoctonia solani Kühn theo công thức Abbott.
Phương pháp tính toán và sử lý số liệu
A: Tổng số cây bị bệnh B: Tổng số cây điều tra
Hiệu lực ức chế (HLƯC) của nấm Trichoderma viride với nấm
Rhizoctonia solani Kühn theo công thức Abbott
HLƯC (%) Trong đó: C: Đường kính tản nấm ở công thức đối chứng
T: Đường kính tản nấm ở các công thức có xử lý T.viride
Hiệu lực phòng trừ (HLPT) của nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh lở cổ rễ theo công thức Abbott
HLPT (%) Trong đó: C: Tỷ lệ bệnh ở công thức 2
T: Tỷ lệ bệnh ở công thức thí nghiệm
Nghiên cứu đã phân cấp mức độ hiệu lực ức chế của nấm đối kháng T viride và vi khuẩn đối kháng B subtilis đối với nấm gây bệnh trên môi trường nhân tạo, sử dụng công thức PIRG (Percent Inhibition of Radial Growth) Kết quả cho thấy khả năng ức chế của các tác nhân này có sự khác biệt rõ rệt, góp phần quan trọng trong việc phát triển các biện pháp kiểm soát sinh học hiệu quả.
Xử lý số liệu thống kê
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm IRRISTART 5.0 và Excel 2010 Các giá trị trung bình của các nghiệm thức được so sánh thông qua các phương pháp F, t, LSD, và Dulcan với mức xác suất P = 0.95 (α = 0.05) Những giá trị a, b, c,… có ký hiệu chữ giống nhau cho thấy chúng có giá trị tương đương theo trắc nghiệm Duncan.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điều tra diễn biến bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kühn) hại một số cây trồng cạn
Nghiên cứu diễn biến bệnh lở cổ rễ trên đồng ruộng nhằm xác định thời điểm bệnh gây hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Từ đó, đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả để giảm thiệt hại do nấm R solani gây ra.
Chúng tôi đã tiến hành điều tra sự phát triển của bệnh lở cổ rễ trên các loại cây như cải canh, cải ngọt, cải cúc, đậu tương, đậu đen, mùng tơi và đậu cove tại các xã Cổ Bi, Đặng Xá, Như Quỳnh và Kim Sơn.
Kết quả điều tra diễn biến bệnh lở cổ rễ trên các cây trông được thực hiện ở bảng 4.1; 4.2; 4.3; 4.4; 4.5; 4.6; 4.7 và đồ thị 4.1; 4.2; 4.3; 4.4; 4.5; 4.6; 4.7
Bảng 4.1 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây cải canh tại xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệ bệnh (%)
16/01/2021 Trước thu hoạch 2,53 Đồ thị 4.1 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây cải canh tại xã Cổ Bi,
2 lá mầm Cây con Cây con Cây con Thu hoạch
Bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn 2 lá mầm đến trước thu hoạch, với tỷ lệ gây hại cao nhất là 6,13% ở giai đoạn cây con Tại Cổ Bi, tỷ lệ bệnh ở giai đoạn 2 lá mầm là 3,2%, và giảm xuống còn 2,53% trước thu hoạch.
Bảng 4.2 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây cải cúc tại Cổ
Bi, Gia Lâm, Hà Nội
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệ bệnh (%)
16/01/2021 Trước thu hoạch 2,20 Đồ thị 4.2 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây cải cúc tại Cổ Bi, Gia
Bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn 2 lá mầm đến trước thu hoạch, với tỷ lệ gây hại tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội là 2,4% ở giai đoạn 2 lá mầm Giai đoạn cây con ghi nhận tỷ lệ bệnh cao nhất là 4,8% Tỷ lệ bệnh giảm dần trong quá trình điều tra, và ở giai đoạn trước thu hoạch, tỷ lệ gây hại còn 2,2%.
2 lá mầm Cây con Cây con Cây con Thu hoạch
Bảng 4.3 Diễn biến bệnh lở cổ rễ( Rhizoctonia solani ) hại cây mồng tơi tại Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệ bệnh (%)
05/02/2021 Trước thu hoạch 0,13 Đồ thị 4.3 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây mồng tơi tại Đặng Xá,
Bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn 2 lá mầm cho đến trước thu hoạch, như thể hiện trong bảng 4.3 và đồ thị 4.3, đặc biệt tại Đặng Xá Gia Lâm.
Tại Hà Nội, tỷ lệ bệnh gây hại là 3,07%, với mức độ nghiêm trọng nhất xảy ra ở giai đoạn cây con, đạt 4,13% Tỷ lệ bệnh giảm dần trong suốt quá trình điều tra, và ở giai đoạn trước thu hoạch, bệnh lở cổ rễ chỉ gây hại với tỷ lệ 0,13%.
2 lá mầm Cây con Cây con Cây con Cây con Thu hoạch
Bảng 4.4 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây cải ngọt tại
Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệ bệnh (%)
03/04/2021 Trước thu hoạch 2,00 Đồ thị 4.4 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây cải ngọt tại Kim Sơn, Gia
Bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn 2 lá mầm cho đến trước thu hoạch, như được thể hiện trong bảng 4.4 và đồ thị 4.4 Tại Kim Sơn Gia Lâm, giai đoạn 2 lá mầm là thời điểm quan trọng để theo dõi sự phát triển của bệnh này.
Tại Hà Nội, tỷ lệ bệnh gây hại là 3,6%, với mức độ nghiêm trọng cao nhất ở giai đoạn cây con, đạt 5,73% Tỷ lệ bệnh giảm dần trong suốt quá trình điều tra, và ở giai đoạn trước thu hoạch, bệnh lở cổ rễ gây hại với tỷ lệ 2%.
2 lá mầm Cây con Cây con Cây con Thu hoạch
Bảng 4.5 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây đậu đen tại
Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệ bệnh (%)
18/04/2021 Ra hoa 5,33 Đồ thị 4.5 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây đậu đen tại Như Quỳnh,
Bảng 4.5 và đồ thị 4.5 cho thấy bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn cây con đến giai đoạn ra hoa, nhưng không xảy ra trong giai đoạn ra hoa và có quả non cho đến khi thu hoạch Tại xã Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên, tỷ lệ bệnh cao nhất là 14,93% ở giai đoạn cây con Từ giai đoạn lá kép, tỷ lệ bệnh có xu hướng giảm dần, và thấp nhất là 5,33% ở giai đoạn ra hoa.
Cây con 1-2 lá kép 2-3 lá kép 4-5 lá kép 5-6 lá kép Ra hoa
Bảng 4.6 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây đậu cove tại
Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệnh bệnh(%)
07/05/2021 Ra hoa 7,33 Đồ thị 4.6 Diễn biến bệnh lở cổ rễ( Rhizoctonia solani ) hại cây đậu cove tại Kim Sơn,
Bảng 4.6 và đồ thị 4.6 cho thấy bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn cây con đến giai đoạn ra hoa, trong khi từ giai đoạn ra hoa và có quả non đến khi thu hoạch, cây hoàn toàn không bị bệnh Tại xã Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội, giai đoạn cây con ghi nhận tỉ lệ bệnh cao nhất là 16,4% Tuy nhiên, ở giai đoạn lá kép, tỉ lệ bệnh có xu hướng giảm dần, và thấp nhất ở giai đoạn ra hoa với tỉ lệ 7,33%.
Cây con 1-2 lá kép 2-3 lá kép 4-5 lá kép 5-6 lá kép Ra hoa
Bảng 4.7 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây đậu tương Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Ngày điều tra Giao đoạn sinh trưởng Tỷ lệ bệnh (%)
20/05/2021 Ra hoa 5,47 Đồ thị 4.7 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani ) hại cây đậu tương Đặng Xá, Gia
Bảng 4.7 và đồ thị 4.7 cho thấy bệnh lở cổ rễ xuất hiện từ giai đoạn cây con đến giai đoạn ra hoa, nhưng không xảy ra trong giai đoạn ra hoa và có quả non cho đến khi thu hoạch Tại xã Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên, tỷ lệ bệnh cao nhất là 14,13% ở giai đoạn cây con Từ giai đoạn lá kép, tỷ lệ bệnh có xu hướng giảm dần, và ở giai đoạn ra hoa, tỷ lệ bệnh lở cổ rễ thấp nhất chỉ còn 5,47%.
Trong quá trình điều tra bệnh lở cổ rễ trên một số cây trồng cạn tại vùng Hà Nội và phụ cận, chúng tôi đã thành công trong việc nuôi cấy và phân lập 7 chủng nấm.
Rhizoctonia solani Kühn (R solani) trên một số cây kí chủ
Cây con 1-2 lá kép 2-3 lá kép 4-5 lá kép 5-6 lá kép Ra hoa
Bảng 4.8 Danh mục các isolate nấm Rhizoctonia solani Kühn trên một số cây trồng cạn
STT Isolate nấm R.solani phân lập trên các cây ký chủ Ký hiệu
1 R.solani trên cây cải canh – Cổ Bi Rs- Ccanh- CB
2 R.solani trên cây mùng tơi – Đăng xá Rs- MT- ĐX
3 R.solani trên cây cải ngọt – Kim Sơn Rs- Cngọt- KS
4 R.solani trên cây cải cúc - Cổ Bi Rs- Ccúc- CB
5 R.solani trên cây đậu đen – Như Quỳnh Rs- ĐĐ- NQ
6 R.solani trên cây đậu tương – Đặng Xá Rs- ĐT- ĐX
7 R.solani trên cây đậu cove – Kim Sơn Rs- Cove- KS
Hình 4.5 Đặc điểm hình thái màu sắc tản nấm của các isolate nấm Rhizoctonia solani
Kühn trên một số cây trồng cạn
Một số kết quả nghiên cứu nấm Rhizoctonia solani Kühn gây bệnh lở cổ rễ trên một số cây trồng cạn
rễ trên một số cây trồng cạn
4.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, đặc điểm tính sinh học của các isolate nấm Rhizoctonia solani Kühn
Chúng tôi đã tiến hành nhân nuôi và mô tả các đặc điểm hình thái, sinh học của nấm R solani trên môi trường PGA Qua quan sát, các isolates nấm cho thấy sự khác biệt về tản nấm, màu sắc và khả năng hình thành hạch nấm.
Bảng 4.9 Một số đặc điểm hình thái sinh học của các Isolate nấm
Rhizoctonia solani Đặc điểm sợi nấm Đặc điểm tản nấm Khả năng hình thành hạch
1 Rs- Ccanh- CB Nhiều nhân, đa bào, vách mỏng
Màu vàng nâu, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
2 Rs- MT- ĐX Nhiều nhân, nhân lớn, đa bào
Màu trắng đục, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
3 Rs- Cngọt- KS Ít nhân, nhân nhỏ, đa bào vách mỏng
Màu vàng nâu, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
4 Rs- Ccúc- CB Nhiều nhân, nhân lớn, đa bào, vạch mỏng
Màu vàng nhạt, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
5 Rs- ĐĐ- NQ Ít nhân, nhân nhỏ, đa bào
Màu trắng đục, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
6 Rs- ĐT- ĐX Nhiều nhân, nhân lớn, đa bào, vách mỏng
Màu vàng nâu, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
7 Rs- Cove- KS Ít nhân, nhân nhỏ, đa bào
Màu vàng nâu, dẹp, bám chặt trên bề mặt môi trường
Hình 4.6 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-Ccanh- CB
Hình 4.7 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-Ccanh- CB
Hình 4.8 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-MT-ĐX
Hình 4.9 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-MT-ĐX
Hình 4.10 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-Cngọt- KS
Hình 4.11 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-Cngọt- KS
Hình 4.12 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-Ccúc- CB
Hình 4.13 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-Ccúc- CB
Hình 4.14 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-ĐĐ- NQ
Hình 4.15 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-ĐĐ-NQ
Hình 4.16 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-ĐT-ĐX
Hình 4.17 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-ĐT-ĐX
Hình 4.18 Đặc điểm hình thái tản nấm của isolate Rs-Cove- KS
Hình 4.19 Đặc điểm hình thái sợi nấm của isolate Rs-Cove- KS
Bệnh lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani gây ra, với sợi nấm non không màu và khi già có màu vàng nâu Sợi nấm con mọc từ sợi bố mẹ tạo thành góc từ 45° đến 90°, tại vị trí phân nhánh có vách ngăn nhỏ và hơi thắt lại Nấm không sinh bào tử mà chỉ hình thành hạch nấm, ban đầu màu trắng sau chuyển sang màu nâu hoặc vàng nâu, hoặc nâu đậm Nấm phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 28°C đến 30°C, và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ vượt quá 38°C.
Tản nấm ban đầu có màu trắng đục, sau đó chuyển sang màu vàng nâu giống như isolate cải canh, cải ngọt, đậu tương và đậu cove Nấm R.solani làm thay đổi màu sắc môi trường nuôi cấy từ trắng đục sang nâu sẫm.
Hạch nấm R solani được hình thành trong môi trường nuôi cấy với màu nâu thô và hình dạng vô định Các hạch nấm thường tập trung lại gần nhau, có kích thước dao động từ 0,5 đến 3,0 mm Ban đầu, hạch nấm có màu trắng đục, sau đó chuyển sang màu nâu và nâu sẫm.
Đánh giá tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani Kühn gây bệnh lở cổ rễ trên cây đậu xanh và đậu cove trong điều kiện chậu vại
cổ rễ trên cây đậu xanh và đậu cove trong điều kiện chậu vại
Nấm Rhizoctonia solani có khả năng lây chéo giữa các cây ký chủ khác nhau, với tỷ lệ phát bệnh khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc của từng isolate Để xác định phạm vi ký chủ của nấm này, chúng tôi đã thực hiện thí nghiệm lây bệnh nhân tạo trong điều kiện chậu vại, sử dụng các isolate nấm R.solani thuần phân lập từ 7 cây ký chủ khác nhau.
Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.10 và biểu diễn bởi đồ thị 4.8
Bảng 4.10 Tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani Kühn gây bệnh lở cổ rễ trên cây đậu xanh và đậu cove
Số hạt, cây nhiễm bệnh
Thời kì tiềm dục (ngày)
Rs- Ccanh- CB Đậu xanh
Rs- Ccanh- CB Đậu cove
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột với các chữ cái khác nhau có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P = 0,95 Đồ thị 4.8 minh họa tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani Kühn đối với bệnh lở cổ rễ trên cây đậu xanh và đậu cove.
Theo bảng 4.10 và đồ thị 4.8, chúng tôi nhận thấy rằng isolate nấm R.solani phân lập từ các cây ký chủ cùng họ khi lây nhiễm đều có tỷ lệ phát bệnh cao (TLB > 80%) Cụ thể, khi tiến hành lây chéo isolate đậu cove trên cây đậu xanh, tỷ lệ bệnh đạt 83,33%, trong khi trên cây đậu cove, tỷ lệ bệnh là 85% Ngoài ra, một số mẫu nấm R.solani phân lập từ ký chủ cây trồng họ hoa thật tự lây trên đậu xanh và đậu cove cũng cho tỷ lệ bệnh cao, trong đó isolate cải ngọt ghi nhận tỷ lệ 85% và 83,33% Đặc biệt, lây chéo isolate nấm mùng tơi trên cây ký chủ đậu xanh cho tỷ lệ bệnh lên đến 85%.
Thời kỳ tiềm dục của bệnh lở cổ rễ thường ngắn, dao động từ 3 đến 5 ngày Khi lây nhiễm, các isolate phân lập cho cây ký chủ cùng họ có thời kỳ tiềm dục ngắn hơn so với các cây ký chủ thuộc họ khác Cụ thể, isolate nấm từ đậu đen và đậu cove lây nhiễm trên cây đậu xanh có thời kỳ tiềm dục chỉ từ 3 đến 4 ngày.
Nấm Rhizoctonia solani là một loại nấm đa thực, có khả năng gây hại cho nhiều loại cây trồng cạn thuộc các họ như họ đậu, họ cúc, họ hoa thật tự và họ bầu bí Cụ thể, nấm này gây hại cho các cây như đậu xanh, đậu cove, cải ngọt và cải canh.
Rs - MT- ĐX Rs - Cng ọ t-
Rs - Ccúc- CB Rs - ĐĐ- NQ Rs - ĐT- ĐX Rs - Cove- Ks Đ ậ u xa nh Đ ậ u cove
Hình 4.20 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại mùng tơi trên cây đậu xanh
Hình 4.21 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại cải cúc trên cây đậu xanh
Hình 4.22 Lây nhiễm isolate nấm R sola ni hại cải ngọt trên cây đậu xanh
Hình 4.23 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại cải canh trên cây đậu xanh
Hình 4.24 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại đậu cove trên cây đậu xanh
Hình 4.25 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại đậu tương trên cây đậu xanh
Hình 4.26 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại đậu đen trên cây đậu xanh
Hình 4.27 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại mùng tơi trên cây đậu cove
Hình 4.28 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại đậu cove trên cây đậu cove
Hình 4.29 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại cải cúc trên cây đậu cove
Hình 4.30 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại đậu tương trên cây đậu cove
Hình 4.31 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại cải canh trên cây đậu cove
Hình 4.32 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại đậu đen trên cây đậu cove
Hình 4.33 Lây nhiễm isolate nấm R solani hại cải ngọt trên cây đậu cove
Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với nấm Rhizoctonia solani trên môi trường PGA
Nghiên cứu này tập trung vào khả năng ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis đối với các isolate nấm Rhizoctonia solani Chúng tôi đã tiến hành nuôi cấy Bacillus subtilis với R solani trên môi trường nhân tạo PGA để đánh giá hiệu lực ức chế của vi khuẩn này đối với nấm gây hại Các chỉ tiêu được theo dõi nhằm xác định mức độ ức chế đối với tản nấm Rhizoctonia solani trong các công thức khác nhau.
Thí nghiệm gồm 4 công thức thí nghiệm được bố trí như sau:
- Công thức 1(đối chứng): Cấy riêng rẽ nấm Rhizoctonia solani
- Công thức 2: Cấy vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis trước, sau 24h cấy nấm Rhizoctonia solani
- Công thức 3: Cấy đồng thời isolate nấm Rhizoctonia solani và vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis
- Công thức 4: Cấy isolate nấm Rhizoctonia solani trước, sau 24h cấy vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis
4.3.1 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng B subtilis với isolate nấm
Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA, kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng
Bảng 4.11 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với Isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm ( ngày)
CT4 - 9,92 33,34 + Đồ thị 4.9 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với Isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Hình 4.34 Hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng B subtilis (isolate BS-O) với isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Ghi chú: A: Cấy nấm R.solani riêng rẽ; B: Cấy vi khuẩn B.subtilis trước, sau 24h cấy nấm
R.solani; C: Cấy đồng thời vi khuẩn B.subtilis và nấm R.sonali; D: Cấy nấm R.solani trước, sau
Theo bảng 4.11 và đồ thị 4.9, sau 3 ngày nuôi cấy, nấm R solani đạt kích thước 60mm Các công thức tiếp theo cho thấy khả năng ức chế của vi khuẩn B subtilis đối với nấm này.
Vi khuẩn B.subtilis được cấy trước 24 giờ có khả năng ức chế và phát triển lấn át nấm R.solani, với hiệu lực ức chế đối với isolate nấm Rs-Ccanh-CB đạt lần lượt 71,42%; 71,19%; 63,5%; và 65,6%.
Khi cấy đồng thời vi khuẩn B subtilis và nấm R solani, khả năng kìm hãm sự phát triển của nấm giảm rõ rệt, với hiệu lực đối kháng đạt 42,52%; 38,98%; 41,67%; 47,31% Ngược lại, khi cấy nấm R solani trước 24h, khả năng kìm hãm của vi khuẩn B subtilis thấp hơn, với hiệu lực đối kháng là 41,14%; 30,51%; 11,53%; 33,34% Quan sát cho thấy vi khuẩn B subtilis làm thay đổi màu sắc (màu nâu) và biến dạng ở dưới tản nấm R solani Điều này cho thấy vi khuẩn B subtilis có khả năng phát triển nhanh, cạnh tranh và ức chế sự phát triển của nấm R solani, đồng thời sinh ra các chất kìm hãm nấm Rhizoctonia solani.
4.3.2 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-MT-ĐX hại cây mùng tơi tại xã Đặng Xá
Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng B subtilis với isolate Rs-
MT-ĐX trên môi trường PGA, kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.12, đồ thị 4.10 và hình 4.35
Bảng 4.12 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm
CT4 - 16,58 26,31 + Đồ thị 4.10 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA
Hình 4.35 Hiệu lực đối kháng của isolate vi khuẩn đối kháng B subtilis (isolate BS-O) với isolate nấm Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA
Ghi chú: A: Cấy nấm R.solani riêng rẽ; B: Cấy vi khuẩn B.subtilis trước, sau 24h cấy nấm
R.solani; C: Cấy đồng thời vi khuẩn B.subtilis và nấm R.sonali; D: Cấy nấm R.solani trước, sau
Theo bảng 4.12 và đồ thị 4.10, sau 3 ngày nuôi cấy, nấm R solani đạt kích thước 60mm Các công thức tiếp theo cho thấy khả năng kìm hãm của vi khuẩn.
B.subtilis đối với nấm R.solani
Vi khuẩn B.subtilis được cấy trước 24 giờ có khả năng ức chế và phát triển lấn áp nấm R.solani, với hiệu lực ức chế đối với isolate nấm Rs-MT-ĐX đạt lần lượt 68,38%; 69,28%; 63,36%; và 64,32%.
Khi cấy đồng thời vi khuẩn B.subtilis và nấm R solani trên môi trường, khả năng kìm hãm sự phát triển của nấm giảm rõ rệt, với hiệu lực đối kháng đạt 39,78%; 36,15%; 33,7%; 40,35% Ngược lại, khi cấy nấm R solani trước 24 giờ, khả năng kìm hãm của vi khuẩn B subtilis thấp hơn so với công thức 2, với hiệu lực đối kháng đạt 35,23%; 34,93%; 20,9%; 26,31%.
Vi khuẩn B Subtilis có khả năng ức chế sự phát triển của nấm R solani, dẫn đến sự thay đổi màu sắc (màu vàng nhạt) và biến dạng ở các khu vực dưới tản nấm.
B Subtilis có khả năng phát triển nhanh, cạnh tranh làm ức chế sự phát triển của nấm R solani, đồng thời sinh ra các chất kìm hãm nấm Rhizoctonia solani
4.3.3 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Cngọt-KS hại cây cải ngọt tại xã Kim Sơn
Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng B subtilis với isolate Rs-
Cngọt-KS trên môi trường PGA, kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.13, đồ thị 4.11 và hình 4.36
Bảng 4.13 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Cngọt-KS trên môi trường PGA
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm
CT4 - 14,4 25,42 + Đồ thị 4.11 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Cngọt-KS trên môi trường PGA
Hình 4.36 Hiệu lực ức chế của isolate vi khuẩn đối kháng B subtilis (isolate BS-C) với isolate nấm Rs-Cngọt-KS trên môi trường PGA
Nghiên cứu này bao gồm bốn phương pháp cấy khác nhau: A là cấy nấm R.solani riêng rẽ; B là cấy vi khuẩn B.subtilis trước, sau 24 giờ cấy nấm R.solani; C là cấy đồng thời vi khuẩn B.subtilis và nấm R.solani; và D là cấy nấm R.solani trước, sau 24 giờ cấy vi khuẩn B.subtilis.
Theo bảng 4.13 và đồ thị 4.11, sau 3 ngày nuôi cấy, nấm R solani đạt kích thước 60mm Các công thức tiếp theo cho thấy khả năng kìm hãm của vi khuẩn.
B.subtilis đối với nấm R.solani
Vi khuẩn B.subtilis được cấy trước 24 giờ có khả năng ức chế và phát triển mạnh mẽ, lấn át nấm R.solani, thể hiện hiệu lực ức chế đối với isolate nấm Rs-Cngọt-KS.
Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ đạt lần lượt là 66,08%; 69,89%; 72,72%; 63,84% Ở công thức 3, khi cấy đồng thời vi khuẩn B.subtilis và nấm R solani, khả năng kìm hãm sự phát triển của nấm giảm rõ rệt với hiệu lực đối kháng đạt 46,19%; 50,53%; 45,45%; 40,67% Trong khi đó, ở công thức 4, khi cấy nấm R solani trước 24 giờ, khả năng kìm hãm của vi khuẩn B subtilis thấp hơn so với công thức 2, với hiệu lực đối kháng đạt 38,84%; 33,34%; 25,5%; 25,42%.
Vi khuẩn B Subtilis có khả năng ức chế sự phát triển của nấm R solani, dẫn đến sự thay đổi màu sắc (trắng đục) và biến dạng ở các khu vực dưới tản nấm.
B Subtilis có khả năng phát triển nhanh, cạnh tranh làm ức chế sự phát triển của nấm R solani, đồng thời sinh ra các chất kìm hãm nấm Rhizoctonia solani
4.3.4 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Ccúc-CB hại cây cải cúc tại xã Cổ Bi
Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng B subtilis với isolate Rs-
Ccúc-CB trên môi trường PGA, kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.14, đồ thị 4.12 và hình 4.37
Bảng 4.14 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Ccúc-CB trên môi trường PGA
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm
CT4 - 10,52 29,82 + Đồ thị 4.12 Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với isolate nấm Rs-Ccúc-CB trên môi trường PGA
Hình 4.37 Hiệu lực ức chế của isolate vi khuẩn đối kháng B subtilis (isolate HT-7) với isolate nấm Rs-Ccúc-CB trên môi trường PGA
Ghi chú: A: Cấy nấm R.solani riêng rẽ; B: Cấy vi khuẩn B.subtilis trước, sau 24h cấy nấm
R.solani; C: Cấy đồng thời vi khuẩn B.subtilis và nấm R.sonali; D: Cấy nấm R.solani trước, sau
Theo bảng 4.14 và đồ thị 4.12, sau 3 ngày nuôi cấy, nấm R solani đạt kích thước 60mm Các công thức tiếp theo cho thấy khả năng kìm hãm của vi khuẩn.
B.subtilis đối với nấm R.solani
Công thức 2: Vi khuẩn B.subtilis được cấy trước 24h đã ức chế và phát triển
C D có khả năng lấn áp nấm R solani với hiệu lực ức chế đối kháng đạt lần lượt 69,14%; 68,35%; 60%; 66,67% Khi cấy đồng thời vi khuẩn B subtilis và nấm R solani, khả năng kìm hãm sự phát triển của nấm giảm rõ rệt, với hiệu lực đối kháng đạt 44%; 49,71%; 34%; 42,10% Nếu cấy nấm R solani trước 24 giờ, khả năng kìm hãm của vi khuẩn B subtilis thấp hơn so với công thức 2, với hiệu lực đối kháng đạt 42,86%; 40,68%; 16%; 29,82%.
Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với nấm
Nghiên cứu về tính đối kháng của nấm Trichoderma viride với các loại nấm bệnh, đặc biệt là Rhizoctonia solani, đã được thực hiện ở nhiều quốc gia Mục tiêu là tìm hiểu khả năng đối kháng của T viride đối với R solani trên cây trồng cạn thông qua thí nghiệm trên môi trường PGA Chỉ tiêu theo dõi là đường kính tản nấm của Trichoderma viride và Rhizoctonia solani ở các công thức thí nghiệm khác nhau, bao gồm 4 công thức được bố trí cụ thể.
Công thức 1( đối chứng) : Cấy riêng rẽ nấm Rhizoctonia solani
Công thức 2: Cấy nấm đối kháng Trichoderma viride trước, sau 24h cấy nấm
Công thức 3: Cấy đồng thời isolate nấm Rhizoctonia solani và nấm đối kháng
Công thức 4: Cấy isolate nấm Rhizoctonia solani trước, sau 24h cấy nấm đối kháng Trichoderma viride
4.4.1 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-Ccanh-CB hại cây cải canh tại xã Cổ Bi
Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng T viride với isolate Rs-Ccanh-
CB trên môi trường PGA, kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.18, đồ thị
Bảng 4.18 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm
1 ngày 2 ngày 3 ngày Mức độ ức chế
CT4 - 8,77 20,94 + Đồ thị 4.16 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Hình 4.41 Hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride ( isolate TV-G) với isolate nấm Rs-Ccanh-CB trên môi trường PGA
Ghi chú: A: Cấy nấm R.solani riêng rẽ; B: Cấy nấm đối kháng T.viride trước, sau 24h cấy nấm R.solani; C: Cấy đồng thời nấm đối kháng T.viride và nấm R.solani; D: Cấy nấm R.solani trước, sau 24h cấy nấm đối kháng T.viride.
Qua kết quả của bảng 4.18 và đồ thị 4.16, chúng tôi nhận thấy:
Tất cả các isolate nấm R solani trong Công thức 1 đều phát triển nhanh chóng, với đường kính tản nấm đạt được sau 3 ngày nuôi cấy Các công thức khác có xử lý nấm đối kháng.
T viride nên tốc độ phát triển của nấm R solani bị ức chế
Công thức 2 sau 72 giờ nuôi cấy nấm T viride cho thấy sự ức chế mạnh nhất đối với nấm R solani, vượt trội hơn so với công thức 3 và công thức 4 Hiệu lực đối kháng của nấm ở công thức 2 đạt mức cao nhất với các tỷ lệ lần lượt là 67,32%; 61,67%; 70,63%; và 71,63%.
Công thức 3 cho thấy hiệu lực ức chế không cao do sự cấy đồng thời cả nấm đối kháng và nấm R solani, dẫn đến thời gian phát triển của nấm R solani Hiệu lực ức chế đạt các mức 41,36%; 45%; 57,14%; và 50,67%.
Công thức 4 hiệu lực đối kháng thấp lần lượt là 35,59%; 25%; 49,21%; 20,94%
Sau 3 ngày phát triển, nấm Trichoderma viride đã lan rộng và bao trùm lên nấm Rhizoctonia solani, cho thấy khả năng ức chế hiệu quả của T viride đối với nấm R solani, tác nhân gây bệnh lở cổ rễ.
4.4.2 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm dối kháng Trichiderma viride với nấm Rs-MT-ĐX hại cây mồng tơi tại xã Đặng Xá
Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng T viride đối với isolate Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA đã được thực hiện, và kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.19 cùng với đồ thị tương ứng.
Bảng 4.19 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA
Isolate nấm đối kháng T viride
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm
1 ngày 2 ngày 3 ngày Mức độ ức chế
CT4 - 10,98 32,38 + Đồ thị 4.17 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA
Hình 4.42 Hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride (isolate TV-3) với isolate nấm Rs-MT-ĐX trên môi trường PGA
Ghi chú: A: Cấy nấm R.solani riêng rẽ; B: Cấy nấm đối kháng T.viride trước, sau 24h cấy nấm R.solani; C: Cấy đồng thời nấm đối kháng T.viride và nấm R.solani; D: Cấy nấm R.solani trước, sau 24h cấy nấm đối kháng T.viride.
Qua kết quả của bảng 4.19 và đồ thị 4.17, chúng tôi nhận thấy:
Công thức 1 không có xử lý nấm đối kháng, cho phép nấm Rhizoctonia solani phát triển bình thường mà không bị ức chế Trong khi đó, các công thức khác có sử dụng nấm đối kháng T viride đã làm giảm tốc độ phát triển của nấm R solani.
Công thức 2 sau 72 giờ nuôi cấy nấm T viride cho thấy sự ức chế mạnh nhất đối với nấm R solani, vượt trội hơn so với công thức 3 và công thức 4 Hiệu lực đối kháng của nấm ở công thức 2 đạt mức cao nhất, lần lượt là 69,75%; 66,3%; và 766,67%.
Công thức 3 cho thấy hiệu lực ức chế không cao do sự cấy đồng thời cả nấm đối kháng và nấm R solani, dẫn đến thời gian phát triển của nấm R solani Các mức hiệu lực ức chế lần lượt là 52,63%; 46,62%; 43,83%; và 48,9%.
Công thức 4 hiệu lực đối kháng thấp lần lượt là 44,74%; 21,91%; 43,83%; 32,38%
Nấm Trichoderma viride phát triển mạnh sau 3 ngày, lan rộng và bao trùm lên nấm Rhizoctonia solani Điều này chứng tỏ T viride có khả năng ức chế hiệu quả nấm R solani, nguyên nhân gây bệnh lở cổ rễ.
4.4.3 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-Cngọt-KS hại cây cải ngọt tại xã Kim Sơn
Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng T viride với isolate Rs-Cngọt-
KS trên môi trường PGA, kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.20, đồ thị
Bảng 4.20 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-Cngọt-KS trên môi trường PGA
Isolate nấm đối kháng T viride
Hiệu lực ức chế (%) sau thí nghiệm
1 ngày 2 ngày 3 ngày Mức độ ức chế
CT4 - 8,53 31,30 + Đồ thị 4.18 Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride với isolate nấm Rs-Cngọt-KS trên môi trường PGA
Hình 4.43 Hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride (isolate TV-1) với isolate nấm Rs-Cngọt-KS trên môi trường PGA
Ghi chú về các phương pháp cấy nấm: A: Cấy nấm R.solani riêng rẽ; B: Cấy nấm đối kháng T.viride trước, sau 24 giờ cấy nấm R.solani; C: Cấy đồng thời nấm đối kháng T.viride và nấm R.solani; D: Cấy nấm R.solani trước, sau 24 giờ cấy nấm đối kháng T.viride.
Qua kết quả của bảng 4.20 và đồ thị 4.18, chúng tôi nhận thấy:
Công thức 1 không sử dụng nấm đối kháng, cho phép nấm Rhizoctonia solani phát triển bình thường mà không bị ức chế Ngược lại, ở các công thức khác có xử lý nấm đối kháng T viride, tốc độ phát triển của nấm R solani bị ức chế rõ rệt.
Công thức 2 sau 72 giờ nuôi cấy nấm T viride cho thấy sự ức chế mạnh nhất đối với nấm R solani, vượt trội hơn so với công thức 3 và công thức 4 Hiệu lực đối kháng của nấm ở công thức 2 đạt mức cao nhất với các tỷ lệ lần lượt là 62,98%; 74,01%; 70,87%; và 65,65%.
Khảo sát hiệu lực của nấm đối kháng Trichoderma viride (isolate TV-1) với các Isolate nấm Rhizoctonia solani Kuhn trong điều kiện chậu vại
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát khả năng phòng trừ của nấm T viride đối với bệnh lở cổ rễ trong điều kiện chậu vại, dựa trên kết quả khảo sát nấm và vi khuẩn đối kháng.
Tiến hành làm thí nghiệm gồm 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 2 lần
Mỗi lần nhắc lại với 30 hạt giống
Công thức 1; Ngâm hạt cải canh (đậu đen, đậu xanh, đậu cove) vào nước sạch trong 15 phút rồi đem gieo
Công thức 2: Ngâm hạt cải canh (đậu đen, đậu xanh, đậu cove) vào dịch nấm
R solani trong 15 phút rồi đem gieo Mỗi lần nhắc lại dùng 1 đĩa petri isolate nấm
Ngâm hạt cải canh (đậu đen, đậu xanh, đậu cove) vào dịch nấm đối kháng T viride trong 15 phút trước khi gieo Khi cây phát triển đến giai đoạn có 2 lá mầm, tiến hành xử lý nấm.
R solani Mỗi lần nhắc lại dùng 1 đĩa petri nấm đối kháng và 1 đĩa petri isolate nấm
Công thức 4: Ngâm hạt cải canh (đậu đen, đậu xanh, đậu cove) trong hỗn hợp dịch nấm đối kháng T viride và nấm R solani trong 15 phút trước khi gieo Mỗi lần thực hiện, sử dụng 1 đĩa petri nấm đối kháng và 1 đĩa petri isolate nấm Công thức 5: Ngâm hạt cải canh (đậu đen, đậu xanh, đậu cove) trong dịch nấm R solani trong 15 phút, sau đó gieo hạt Khi cây phát triển được 2 lá mầm, tiến hành xử lý bằng nấm đối kháng T viride, và mỗi lần thực hiện cũng cần sử dụng 1 đĩa petri nấm đối kháng và 1 đĩa petri isolate nấm.
Kết quả thí nhiệm được trình bày ở bảng 4.25, 4.26, 4.27, 4.28, 4.29, 4.30, 4.31 và đồ thị 4.23; 4.24; 4.25; 4.26, 4.27, 4.28, 4.29
4.5.1 Khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T viride ( isolate TV-1) với bệnh lở cổ rễ hại đậu cove trong điều kiện chậu vại
Bảng 4.25 Khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T viride với
Isolate nấm Rs-Ccanh-ĐX hại đậu cove
Công thức Số hạt gieo Số hạt, cây nhiễm bệnh Tỷ lệ bệnh (%) Hiệu lực phòng trừ (%)
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột với các chữ cái khác nhau có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P = 0,95 Đồ thị 4.23 thể hiện khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T viride đối với Isolate nấm Rs-.
Ccanh-ĐX hại đậu cove
Hình 4.48 Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride (TV-1) với Rs-
Ccanh-ĐX hại đậu cove
Trong nghiên cứu này, các nhóm thí nghiệm được phân chia như sau: CT1 là nhóm đối chứng nước, CT2 là nhóm đối chứng nấm, CT3 là nhóm hạt được ngâm trong dịch nấm đối kháng T viride trước, CT4 là nhóm hạt được ngâm đồng thời trong dịch nấm đối kháng T viride và nấm R solani, và CT5 là nhóm hạt ngâm trong dịch nấm R solani trước và xử lý nấm đối kháng sau.
Qua bảng 4.25 ; đồ thị 4.23 cho thấy hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng
Nghiên cứu về Trichoderma viride (TV - 1) cho thấy hiệu quả phòng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây đậu cove trong điều kiện chậu vại Kết quả cho thấy, ở CT1 (đối chứng), hạt đậu cove ngâm với nước sạch đạt tỷ lệ nảy mầm 95% Ở CT2, khi hạt đậu cove ngâm với nấm R solani mà không xử lý nấm đối kháng T viride, tỷ lệ bệnh lên tới 76,67%, cao nhất trong các công thức Ngược lại, ở CT3, khi nấm T viride có mặt trước và xử lý nấm R solani sau, tỷ lệ bệnh chỉ còn 18,33%, với hiệu lực phòng trừ đạt 76,09% Ở CT4, khi cả hai nấm R solani và T viride đều có mặt đồng thời, tỷ lệ bệnh là 53,33% và hiệu lực phòng trừ chỉ đạt 30,43% Cuối cùng, ở CT5, khi nấm R solani có mặt trước và xử lý nấm T viride sau, tỷ lệ bệnh là 61,67% và hiệu lực phòng trừ chỉ đạt 19,56%.
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT1 CT2
4.5.2 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride với bệnh lở cổ rễ hại đậu cove trong điều kiện chậu vại
Bảng 4.26 Hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride (TV-1) với
Isolate nấm Rs-MT-ĐX hại đậu cove
Công thức Số hạt gieo Số hạt, cây nhiễm bệnh Tỷ lệ bệnh (%) Hiệu lực phòng trừ
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột với các chữ cái khác nhau có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P = 0,95 Đồ thị 4.24 thể hiện khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T viride (isolate TV-1).
Isolate nấm Rs-MT-ĐX hại đậu cove
Hình 4.49 Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride (TV-1) với Rs-
MT-ĐX hại đậu cove
Trong nghiên cứu này, các nhóm đối chứng được xác định như sau: CT1 là nhóm đối chứng nước, CT2 là nhóm đối chứng nấm, CT3 là nhóm hạt được ngâm trong dịch nấm đối kháng T.viride trước, và CT4 là nhóm hạt được ngâm đồng thời trong dịch nấm đối kháng T.viride và nấm.
R.solani; CT5: Hạt ngâm trong dịch nấm R.solani trước và sử lý nấm đối kháng sau
Qua bảng 4.26 ; đồ thị 4.24 cho thấy hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng
Nghiên cứu về Trichoderma viride (TV - 1) cho thấy tác động của nó đối với bệnh lở cổ rễ trên cây đậu cove trong điều kiện chậu vại Kết quả cho thấy, ở nhóm đối chứng (CT1), hạt đậu cove ngâm trong nước sạch đạt tỷ lệ nảy mầm 95% Trong khi đó, ở CT2, hạt đậu cove ngâm với nấm R solani mà không được xử lý bằng nấm đối kháng T viride, tỷ lệ bệnh lên tới 75% Ngược lại, ở CT3, khi nấm T viride có mặt trước và xử lý nấm R solani sau, tỷ lệ bệnh giảm xuống chỉ còn 18,33%, với hiệu lực phòng trừ đạt 75,56% Cuối cùng, ở CT4, khi cả nấm R solani và nấm T viride đều có mặt đồng thời, tỷ lệ bệnh là 36,67% và hiệu lực phòng trừ đạt 51,11%.
Nghiên cứu cho thấy, khi xử lý nấm R solani ở CT5 và nấm T viride sau đó, tỷ lệ cây nhiễm bệnh đạt 51,67% với hiệu lực phòng trừ là 31,11%.
4.5.3 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride với bệnh lở cổ rễ hại đậu xanh trong điều kiện chậu vại
Qua bảng 4.27 ; đồ thị 4.25 cho thấy hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng
Trichoderma viride ( TV - 1 ) với bệnh lở cổ rễ trên cây đậu xanh trong điều kiện chậu vại
Bảng 4.27 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride ( isolate
TV-1) với Isolate nấm Rs-Cngọt-KS hại đậu xanh
Công thức Số hạt gieo Số câ bị bệnh Tỷ lệ bệnh(%) Hiệu lực phòng trừ
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P = 0,95 Đồ thị 4.25 thể hiện khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T viride (isolate TV-1).
Trong nghiên cứu về nấm Rs-Cngọt-KS hại đậu xanh, kết quả cho thấy ở CT1, hạt đậu xanh ngâm với nước sạch đạt tỷ lệ nảy mầm 95% Ở CT2, khi hạt đậu xanh ngâm với nấm R solani mà không xử lý nấm đối kháng T viride, tỷ lệ bệnh cao nhất đạt 81,67% CT3 cho thấy khi nấm T viride có mặt trước và xử lý nấm R solani sau, tỷ lệ bệnh giảm xuống còn 21,67%, với hiệu lực phòng trừ đạt 73,47% Ở CT4, khi cả hai nấm R solani và T viride đều có mặt đồng thời, tỷ lệ bệnh là 36,67% và hiệu lực phòng trừ đạt 55,10% Cuối cùng, ở CT5, nấm R solani có mặt trước và xử lý nấm T viride sau, tỷ lệ bệnh là 46,67% và hiệu lực phòng trừ đạt 42,85%.
Hình 4.50 Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride (TV-1) với Rs-Cngọt-KS hại đậu xanh
Trong nghiên cứu này, các nhóm thí nghiệm được phân chia như sau: CT1 là nhóm đối chứng với nước, CT2 là nhóm đối chứng với nấm, CT3 là nhóm hạt được ngâm trong dịch nấm đối kháng T.viride trước, và CT4 là nhóm hạt được ngâm đồng thời trong dịch nấm đối kháng T.viride và nấm.
R.solani; CT5: Hạt ngâm trong dịch nấm R.solani trước và sử lý nấm đối kháng sau
4.5.4 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride với bệnh lở cổ rễ hại đậu xanh trong điều kiện chậu vại
Bảng 4.28 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride ( isolate
TV-1) với Isolate nấm Rs-Ccúc-CB hại đậu xanh
Công thức Số hạt gieo Số câ bị bệnh Tỷ lệ bệnh(%) Hiệu lực phòng trừ
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT1 CT2
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột với các chữ cái khác nhau có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P = 0,95 Đồ thị 4.26 thể hiện khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T viride (isolate TV-1).
Isolate nấm Rs-Ccúc-CB hại đậu xanh
Hình 4.51 Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride (TV-1) với Rs-
Ccúc-CB hại đậu xanh
Ghi chú: CT1: Đối chứng nước; CT2: Đối chứng nấm; CT3: Hạt được ngâm dịch nấm đối kháng T.viride trước; CT4: Hạt được ngâm đồng thời dịch nấm đối
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT1 CT2 kháng T.viride và nấm R.solani; CT5: Hạt ngâm trong dịch nấm R.solani trước và sử lý nấm đối kháng sau
Qua bảng 4.28 ; đồ thị 4.26 cho thấy hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng
Nghiên cứu về Trichoderma viride (TV - 1) cho thấy hiệu quả phòng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây đậu xanh trong điều kiện chậu vại Kết quả cho thấy, ở CT1 (đối chứng), hạt đậu xanh ngâm với nước sạch đạt tỷ lệ nảy mầm 95% Ở CT2, khi hạt đậu xanh ngâm với nấm R solani mà không xử lý nấm đối kháng T viride, tỷ lệ bệnh lên tới 70% Tuy nhiên, ở CT3, khi nấm T viride có mặt trước và xử lý nấm R solani sau, tỷ lệ bệnh giảm xuống chỉ còn 11,67%, với hiệu lực phòng trừ đạt 83,33% Trong CT4, khi cả hai nấm R solani và T viride đều có mặt đồng thời, tỷ lệ bệnh là 41,67% và hiệu lực phòng trừ đạt 40,47% Cuối cùng, ở CT5, khi nấm R solani có mặt trước và xử lý nấm T viride sau, tỷ lệ bệnh là 58,33% và hiệu lực phòng trừ chỉ đạt 16,67%.
4.5.5 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride với bệnh lở cổ rễ hại cải canh trong điều kiện chậu vại
Bảng 4.29 Khảo sát hiệu lức phòng trừ của nấm đối kháng T viride ( isolate
TV-1) với Isolate nấm Rs-ĐĐ-NQ hại cải canh
Công thức Số hạt gieo Số câ bị bệnh Tỷ lệ bệnh (%) Hiệu lực phòng trừ
Ghi chú: Gía trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P= 0,95
Qua bảng 4.29, đồ thị 4.27 cho thấy hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng