Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân nhanh chồi invitro một số giống cây Dạ yến thảo kép .... Ảnh hưởng của hàm lượng đường Trong môi trường nuôi cấy, các mô không có khả năn
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Ba giống Dạ yến thảo kép (màu hồng, đen, hồng viền trắng) với vật liệu nuôi cấy ban đầu là các mẫu cấy in vitro
Hóa chất trong phòng thí nghiệm pha môi trường: KNO3, KH2PO4,
NH4NO3, MgSO4, CaCl2, inositol, khoáng vi lượng, FeEDTA, vitamin, đường, agas, Javen, Presept 0,5% , BAP, NAA, nước dừa, cồn
Dụng cụ sử dụng trong phòng thí nghiệm: kẹp, dao, que cấy, tấm cấy, găng tay, khẩu trang, áo blouse, cân…
Các thiết bị hỗ trợ nuôi cấy: máy hấp khử trùng, máy sấy, buồng cấy…
Một số dụng cụ, vật tư nông nghiệp khác như giá thể, vỉ ươm cây, bình tưới
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại Phòng nuôi cấy mô- Bộ môn Thực vật- Khoa Nông học- Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng nhân nhanh chồi Dạ yến thảo kép
- Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất bổ sung đến chất lượng chồi Dạ yến thảo kép
- Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng ra rễ của một số giống Dạ yến thảo kép nuôi cấy mô
- Nội dung 4: Đánh giá sinh trưởng của một số giống Dạ yến thảo kép sau khi ra ngôi.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng nhân nhanh chồi một số giống Dạ yến thảo kép
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng BAP đến khả năng nhân chồi của các giống Dạ yến thảo kép
Trong thí nghiệm này, tôi đã sử dụng BAP, một chất điều hòa sinh trưởng thực vật thuộc nhóm cytokinin, để nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến khả năng tạo chồi in vitro của cây hoa Dạ yến thảo.
Tôi bổ sung BAP với hàm lượng thay đổi từ 0– 0,7mg/l BAP vào môi trường ẵ MS để tiến hành thớ nghiệm
Chọn những mẫu cây khỏe mạnh, có thân mập và lá xanh tốt, không bị thủy tinh hóa sau quá trình nhân nhanh Cắt chồi ở vị trí khoảng một nách lá và cấy vào môi trường thí nghiệm, đảm bảo khoảng cách giữa các chồi cấy đều nhau và chiều dài của chúng tương đương.
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 công thức khác nhau, mỗi công thức được lặp lại 3 lần Mỗi lần lặp lại được bố trí trong một bình chứa 15 ml môi trường, trong đó mỗi bình cấy 6 mẫu.
Công thức 2: 1/2MS + 0,3 mg/l BAP
Công thức 3: 1/2MS + 0,5 mg/l BAP
Công thức 4: 1/2MS + 0,7 mg/l BAP
Mẫu cấy vào môi trường là chồi tái sinh từ nguồn vật liệu ban đầu, môi trường chứa 30 g/l đường + 7 g/l agar, pH 5,86
Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất bổ sung đến chất lượng chồi Dạ yến thảo kép
Thí nghiệm 2.1: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng đường đến chất lượng chồi của cây Dạ yến thảo
Thí nghiệm này sử dụng đường để tìm hiểu ảnh hưởng của chúng đến khả năng tạo chồi in vitro cây hoa Dạ yến thảo kép
Tụi bổ sung đường với lượng thay đổi từ 10- 40 g/l vào mụi trường ẵ MS để tiến hành thí nghiệm
Chọn những mẫu cây khỏe mạnh, có thân mập và lá xanh tốt, không bị thủy tinh hóa sau quá trình nhân nhanh Cắt chồi ở vị trí khoảng một nách lá và cấy vào môi trường thí nghiệm, đảm bảo khoảng cách giữa các chồi cấy đều nhau và chiều dài của chúng tương đương.
Thí nghiệm được thực hiện theo cách hoàn toàn ngẫu nhiên, bao gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại Mỗi lần nhắc lại được bố trí trong một bình chứa 15 ml môi trường, với 6 mẫu được cấy trong mỗi bình.
Công thức 3: 1/2MS + 30 g/l đường (ĐC)
Thí nghiệm 2.2: Nghiên cứu ảnh hưởng của nước dừa đến chất lượng chồi của một số giống cây dạ yến thảo kép
Nghiên cứu này sử dụng nước dừa có chứa cytokinin, một chất điều hòa sinh trưởng thực vật, nhằm khảo sát tác động của nó đến khả năng tạo chồi in vitro của cây hoa Dạ yến thảo.
Tôi bổ sung nước dừa với nồng độ thay đổi từ 0 – 20 % vào môi trường 1/2MS để tiến hành thí nghiệm
Chọn những mẫu cây khỏe mạnh, có thân mập và lá xanh tốt, không bị thủy tinh hóa sau quá trình nhân nhanh Cắt chồi ở vị trí khoảng một nách lá và cấy vào môi trường thí nghiệm, đảm bảo khoảng cách giữa các chồi cấy đều nhau và chiều dài của chúng tương đương.
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 công thức khác nhau Mỗi công thức được lặp lại 3 lần, và mỗi lần lặp lại được bố trí trong một bình chứa 15 ml môi trường Mỗi bình cấy chứa 6 mẫu.
Công thức 2: 1/2MS + 5 % nước dừa
Công thức 3: 1/2MS + 10 % nước dừa
Công thức 4: 1/2MS + 20 % nước dừa
Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng ra rễ của một số giống Dạ yến thảo kép nuôi cấy mô
Thí nghiệm 4 : Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng NAA đến khả năng ra rễ của cây Dạ yến thảo kép
Thí nghiệm này áp dụng NAA, một chất điều hoà sinh trưởng thực vật thuộc nhóm auxin, nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến khả năng ra rễ của cây hoa Dạ yến thảo.
NAA được bổ sung với hàm lượng thay đổi từ 0 – 0,5 mg/l NAA vào môi trường 1/2MS để tiến hành thí nghiệm
Chọn những mẫu cây khỏe mạnh, có thân mập và lá xanh tốt, không bị thủy tinh hóa sau 3-4 tuần nuôi cấy trên môi trường cấy chuyển Cắt mẫu ở vị trí khoảng 1,5 cm tính từ ngọn và cấy vào môi trường thí nghiệm với khoảng cách đều giữa các mẫu Đảm bảo chiều dài của các mẫu cấy tương đương nhau Theo dõi sự phát triển của mẫu sau 7-10 ngày thực hiện thí nghiệm.
Thí nghiệm được thực hiện hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 công thức khác nhau, mỗi công thức được lặp lại 3 lần trong bình chứa 15 ml môi trường Mỗi bình cấy chứa 6 mẫu.
Công thức 2: 1/2 MS + 0,1 mg/l NAA
Công thức 3: 1/2 MS + 0,3 mg/l NAA
Công thức 4: 1/2MS + 0,5 mg/l NAA
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Các thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm với điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm ổn định, cụ thể như sau:
Các mẫu được chiếu sáng dưới ánh đèn neon với cường độ chiếu sáng khoảng 2000 lux, thời gian chiếu sáng 16h sáng/8h tối
Nhiệt độ phòng 25- 26 o C, độ ẩm từ 70- 75%
Môi trường được điều chỉnh pH = 5,86 trước khi hấp khử trùng ở 121 o C trong vòng 20 phút, áp suất 1,1 atm
2 Với thí nghiệm nhân chồi
Quan sát trong thời gian sau 4- 6 tuần từ khi cây được đưa vào các công thức thí nghiệm Dung lượng mẫu là tổng tất cả số mẫu đã vào
Hệ số nhân chồi (chồi/mẫu) = ổ ố ồ ạ à ổ ố ẫ đư à
Chiều cao chồi (cm) : Đo chiều cao chồi từ gốc tới mút lá cao nhất
Đánh giá cảm quan: chồi mập hay yếu, màu sắc…
3 Với thí nghiệm ra rễ
Quan sát trong khoảng 7- 10 ngày từ khi cây được đưa vào các công thức thí nghiệm
Hệ số ra rễ = Tổng số rễ hình thành/tổng số chồi ra rễ
Chiều dài rễ (cm): Đo từ gốc đến chóp rễ dài nhất
Đánh giá cảm quan: hình dạng rễ, màu sắc
4 Đánh giá sinh trưởng sau khi ra ngôi cây
Quan sát và đánh giá cây theo các mốc thời gian cụ thể: trước khi ra ngôi, sau 1 tuần và sau 2 tuần ra ngôi, dựa trên các chỉ tiêu đã định.
Chiều cao cây (cm) : Đo từ gốc đến chóp lá cao nhất Định kì đo 1 tuần một lần
Số lá trên cây (lá/cây) : Định kì đếm số lá sau 1 tuần và 2 tuần sau khi ra ngôi
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lí thống kê bằng chương trình Excel 2013 và IRRISTAT 5.0.