Mức độ kháng bệnh đạo ôn của một số giống lúa Việt Nam và Trung Quốc nhập nội với một số mẫu phân lâ ̣p nấm Pyricularia oryzae Cav.. Qua việc điều tra thực tế và nghiên cứu trong phòng t
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
2.1.1 Lịch sử phát hiện bệnh
2.1.2 Mức độ phổ biến của bệnh trên thế giới
2.1.3 Những thiệt hại do bệnh đạo ôn lúa gây ra
Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh nguy hiểm nhất đối với cây lúa, phổ biến ở hầu hết các quốc gia trồng lúa và có khả năng bùng phát thành dịch trong điều kiện thuận lợi Nhiều thống kê đã chỉ ra mức độ thiệt hại năng suất lúa do bệnh này gây ra.
Hàng năm, thiệt hại do đạo ôn gây ra ở nhiều địa phương vẫn rất nghiêm trọng, mặc dù đã áp dụng rộng rãi các loại thuốc hóa học.
Tại Ấn Độ, năm 1950, sản lượng lúa bị thiệt hại lên tới 75% Ở Philippines, hàng nghìn ca bị hại do bệnh đạo ôn, ước tính sản lượng thất thu khoảng 50% Từ 1953-1960, Nhật Bản ghi nhận thiệt hại trung bình 2,89% tổng sản lượng lúa mỗi năm, mặc dù đã áp dụng thuốc hóa học để phòng trị bệnh Năm 1988, dịch bệnh đạo ôn gây thiệt hại nặng nề ở vùng Duyên hải phía Bắc Nhật Bản, với tổng sản lượng thiệt hại tại quận Fukushima lên tới 24%, có nơi thiệt hại lên đến 90% Tại Hàn Quốc, năm 1989, thiệt hại sản lượng do bệnh đạo ôn được báo cáo là 4,2% năm 1978 và 3,9% năm 1980.
Mức độ thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra vẫn chưa được thống kê chính xác, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống lúa, biện pháp phòng trừ và điều kiện sinh thái của vùng.
Theo nghiên cứu của Pure Skin V.Ph (1974), triệu chứng bệnh được phân loại thành ba dạng: đạo ôn lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông Các tác giả Boman J M, Vergel de Dios, TI, Kato H (1974), Khin M.M (1986) và Torres C Q (1986) đã dựa vào các đặc điểm của bệnh để đưa ra những nhận định quan trọng.
4 và vị trí bộ phận bị nhiễm chia bệnh làm 4 dạng là đạo ôn lá, đạo ôn cổ lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông
Vết bệnh trên lá mạ xuất hiện ban đầu dưới dạng hình bầu dục nhỏ, sau đó phát triển thành hình thoi hoặc tương tự, với màu sắc nâu hồng hoặc nâu vàng Khi bệnh trở nặng, các đám vết bệnh liên tiếp có thể khiến cây mạ héo khô hoặc chết (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001).
Vết bệnh ban đầu trên phiến lá lúa xuất hiện dưới dạng những chấm nhỏ màu vàng, sau đó phát triển thành hình thoi với màu xám tro ở giữa, viền nâu và quầng vàng xung quanh Trong điều kiện ẩm ướt và dinh dưỡng đạm cao, các giống nhiễm có thể xuất hiện vết bệnh cấp tính hình tròn hoặc bầu dục, màu nâu xanh tái và dạng thấm nước, sau đó chuyển thành dạng mãn tính Kích thước vết bệnh dao động từ 0,2 – 0,4 x 0,5 - 25 mm, và nhiều vết bệnh có thể liên kết với nhau, dẫn đến hiện tượng lá khô lụi.
Bệnh xuất hiện dưới dạng vết khum theo chiều cong giữa cổ lá và phiến lá, từ đó lan ra bẹ lá và phiến lá, khiến lá lúa khô héo và gãy gục.
Bệnh trên đốt thân bắt đầu với một đốm nhỏ màu nâu đen, sau đó lan rộng thành vành tròn bao quanh đốt thân, khiến thân cây thắt lại và có màu nâu đen Trong điều kiện trời mưa ẩm, đốt thân trở nên mềm nhũn, dễ bị gãy gập khi gặp mưa giông và gió Mặc dù bệnh này có xuất hiện trên đồng ruộng, nhưng mức độ không nhiều.
Cổ gié và các vị trí khác của bông lúa có thể mắc bệnh, với triệu chứng là các vết màu nâu xám hơi teo lại Nếu vết bệnh xuất hiện sớm, bông lúa sẽ bị lép và bạc lá Ngược lại, nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc, sẽ dẫn đến hiện tượng gãy cổ bông.
Bệnh nặng bông lúa có thể khô trắng Trong điều kiện ẩm ướt trên bề mặt vết bệnh có thể có lớp mốc màu xám xanh
Vết bệnh trên hạt lúa có hình dạng không đồng nhất, thường là đốm tròn hoặc không định hình, với màu sắc nâu đen hoặc xám Nếu bệnh xuất hiện sớm, hạt lúa có thể bị lép hoàn toàn Nấm ký sinh có thể tồn tại ở vỏ trấu và bên trong hạt, khiến hạt giống nhiễm bệnh trở thành nguồn lây truyền bệnh từ vụ này sang vụ khác.
2.1.5 Nguyên nhân gây bệnh đạo ôn
Bệnh đạo ôn, hay còn gọi là bệnh cháy lá lúa, do nấm Pyricularia grisea Sacc (P Oryzae cavara) gây ra Theo Viện Nấm Commonwealth (1981), bệnh này đã xuất hiện ở 87 quốc gia trồng lúa trên toàn thế giới.
Bệnh đạo ôn, do nấm Pyricularia oryzae Cav gây ra, là một trong những bệnh hại lúa có lịch sử nghiên cứu lâu đời nhất Bệnh này đã được ghi nhận từ nhiều thế kỷ trước tại các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, và Trung Quốc, cũng như ở các khu vực Trung Á, Tây Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quần đảo Antin, và một số nước châu Âu như Ý, Bungari, và Rumania.
Bệnh đã được phát hiện chính thức ở Ý vào những năm 1560 (Lê Lương Tề, 1988) và sau đó được ghi nhận ở nhiều quốc gia khác như Trung Quốc vào năm 1637, Nhật Bản vào năm 1760, Mỹ vào năm 1906, và Ấn Độ vào năm 1913 (Vũ Triệu Mân & Lê Lương).
Tề, 2001) Cho đến nay bệnh đạo ôn đã được ghi nhận có mặt và gây hại ở trên
85 quốc gia trên thế giới bao gồm Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi
Nấm đạo ôn, còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, lần đầu tiên được Saccardo đặt tên là Pyricularia grisea vào năm 1880 Năm 1891, Cavara mô tả nấm này trên cây lúa và đặt tên là Pyricularia oryzae, cho rằng nó khác biệt với P grisea Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học sau này đã nhận thấy hai loại nấm này không có sự khác biệt Theo Rossman, Howard & Valent (1990), Hebert đã phát hiện dạng phát triển hoàn toàn của nấm vào năm 1971, và Barr đã đặt tên nấm là Magnaporthe grisea vào năm 1977.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
2.2.1 Lịch sử phát hiện bệnh đạo ôn ở Việt Nam
2.2.2 Mức độ phổ biến và tác hại của bệnh đạo ôn
Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh hại nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng lúa Bệnh này phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước trồng lúa và có khả năng gây dịch trong điều kiện thuận lợi Mức độ phát sinh và gây hại của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống lúa, thời kỳ sinh trưởng, chế độ canh tác và mùa vụ Việc nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp giảm thiểu tác hại của bệnh đạo ôn là yêu cầu cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh thâm canh ngày càng cao Tại Việt Nam, bệnh đạo ôn, còn gọi là bệnh “tiêm lụi” hay “cháy lá lúa”, đã được phát hiện từ lâu, với lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1921 ở vùng Nam Bộ và sau đó vào năm 1951 ở các tỉnh miền Bắc, tuy nhiên, thời kỳ đó bệnh ít phổ biến và gây hại nhẹ nên chưa được chú ý nghiên cứu.
Trong những năm 1955-1961 bệnh đã phát sinh gây hại nghiêm trọng nhiều nơi trên miền Bắc nước ta như ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Bắc Giang,
Hà Đông, vào năm 1956, đã ghi nhận sự bùng phát của bệnh đạo ôn tại nông trường Đồng Giao, tỉnh Hà Nam Ninh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho vụ mùa lúa cạn.
Bệnh đạo ôn đã gây hại nghiêm trọng cho 200 ha lúa tại các tỉnh Hải Hưng, Hà Sơn Bình, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều vùng khác Từ năm 1956 đến 1962, bệnh này đã phát sinh thành dịch ở miền Bắc Việt Nam, cho thấy đây là một bệnh phổ biến và nguy hiểm đối với ngành trồng lúa.
Trong giai đoạn 1970-1990, giống lúa NN8 chiếm ưu thế trong vụ lúa xuân ở miền Bắc, trong khi các giống như CR203, IR1561-1-2, T1 và TH2 chủ yếu được trồng trong vụ xuân muộn Việc áp dụng các biện pháp thâm canh cao, đặc biệt là tăng cường lượng đạm vô cơ, đã dẫn đến sự thay đổi và tích lũy các chủng sinh lý trong quần thể nấm gây bệnh đạo ôn, làm cho bệnh này phát triển mạnh mẽ hơn (Phạm Minh Hà, 2007).
Trong những năm 1980, dịch bệnh đạo ôn đã gây thiệt hại nặng nề cho các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp và An Giang, với mức thiệt hại về năng suất khoảng 40% trên một số giống lúa như NN3A, NN7A, MTL32 và MTL36 (Phạm Văn Dư, 1997) Bệnh này tái phát hàng năm, ảnh hưởng rộng rãi đến sản xuất lúa, và đến năm 1995, các giống lúa như IR50404, OM269-65 cùng nhiều giống khác đã bị nhiễm bệnh trên hơn 200.000 ha tại đồng bằng Sông Cửu Long, với thiệt hại chung từ 10-15%.
2.2.3 Những nghiên cứu về chủng nấm Pyricularia oryzae Cav và tính chống chịu bệnh đạo ôn của các giống lúa
Nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh đạo ôn là một loại nấm ký sinh có tính độc và tính gây bệnh không đồng nhất Sự biến động của các yếu tố sinh thái và sự xuất hiện của các giống lúa khác nhau trong tự nhiên dẫn đến sự thay đổi liên tục về tính độc của nấm, từ đó hình thành các chủng sinh lý mới Tại Việt Nam, từ năm 1976, Viện BVTV và trường đại học Nông nghiệp I - Hà Nội đã tiến hành khảo sát về sự phổ biến các nhóm nòi đạo ôn, cho thấy toàn bộ 8 giống lúa trong bộ giống lúa quốc tế chỉ thị nòi.
Trong nghiên cứu về mức độ nhiễm bệnh đạo ôn, 15 giống cây đều bị nhiễm nhưng với mức độ khác nhau Tại vùng Bắc Hà, tất cả các giống thuộc nhóm nòi A, B, C, D, IE, IF, H đều bị nhiễm nặng (cấp bệnh từ 5 đến 9) Ngược lại, ở Điện Biên, 3 trong 8 giống chỉ thị nòi có mức độ nhiễm rất nhẹ (cấp 1 đến 2), bao gồm giống Raminad St-3 (nhóm A), giống Zenith (nhóm B) và giống Usen (nhóm D) Tại Tiền Giang, chỉ có giống Usen (nhóm D) bị nhiễm nặng (cấp 6), trong khi các giống Zenith (nhóm B) và Kanto-51 (nhóm IF) có khả năng chống bệnh cao (cấp 1) Các giống khác như NP-125 (nhóm C), Dular (nhóm IE) và Caloro (nhóm H) có mức độ nhiễm trung bình (cấp 3-4).
Trong một thí nghiệm với 12 nguồn mẫu nấm được phân lập từ 12 tỉnh ở các vùng địa lý khác nhau của Việt Nam, đã xác định được 5 nhóm nòi chủ yếu.
Nhóm nòi IA có mặt ở vùng Tiền Giang, Sơn La
Nhóm nòi IB có mặt ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghệ Tĩnh, Hà Nam Ninh,
Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng, Hà Bắc
Nhóm nòi IC có mặt ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Vĩnh Phúc
Nhóm nòi ID có mặt ở Thái Bình, Hà Bắc
Nhóm nòi IF có mặt ở Quảng Nam- Đà Nẵng
Nghiên cứu giữa trường Đại học Nông nghiệp I và Viện Khoa học kỹ thuật Việt Nam chỉ ra rằng các nòi nấm có mức độ độc khác nhau Cụ thể, mẫu nấm đạo ôn được phân lập từ vùng Nghệ Tĩnh có tính độc cao hơn so với mẫu nấm đạo ôn từ vùng Điện Biên (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001).
Nghiên cứu tại đồng bằng sông Cửu Long chỉ ra rằng có 7 nòi nấm chính gây bệnh đạo ôn, phân bố rộng rãi trên các tỉnh trong khu vực Trong số đó, 2 nòi nấm quan trọng và phổ biến nhất xuất hiện ở hầu hết các nơi trong vùng.
Dựa trên bộ giống chỉ thị nòi của Nhật Bản, hai nòi được đặt tên theo mã số 002.4 và 507.6 (Noda Takahito, Phạm Văn Du và Nogao Haysahi, 1998).
Nguyễn Văn Viên (2006) đã xác định được 4 chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav.: chủng sinh lý 157.7, 001.0, 000.0, 506.6 trên các giống C70, Q5,
Giống lúa DT10 và IRI 352 đang được gieo cấy tại Hà Nội và vùng lân cận Trong số các giống lúa Việt Nam, có 2 giống CR203 và DT10 kháng chủng sinh lý 157.7, 5 giống lúa C70, C71, DT10, DT11 và DT13 kháng chủng sinh lý 001.0, 1 giống lúa C70 kháng chủng sinh lý 000.0, và 3 giống lúa C70, C71, và DT11 kháng chủng sinh lý 506.6.
Nguyễn Văn Viên và Phạm Minh Hà (2008) đã xác định 5 chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav trên các giống lúa CR203, Khang dân 18, Q5, Nếp 97, Bắc thơm số 7 tại Nam Định, với mã số tương ứng là 001.0, 701.6, 000.7, 003.0, 304.7, cùng 12 dòng TBL06-1, TBL06-2, TBL06-3, TBL06-4.
Các giống lúa TBL06-6, TBL06-7, TBL06-8, TBL06-9, TBL06-10, TBL06-11, và TBL06-12 đang được khảo nghiệm tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cho thấy khả năng kháng cao đối với nấm Pyricularia oryzae Cav mã số 001,0.
2.2.4 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đến khả năng phát sinh, phát triển, gây hại của bệnh
2.2.4.1 Ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu đến bệnh đạo ôn
Nấm gây bệnh đạo ôn phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ tương đối thấp, thường từ 18 - 25°C và độ ẩm không khí trên 90% Bệnh thường xuất hiện trong những tháng có thời tiết âm u hoặc mưa kéo dài Tại các tỉnh miền Bắc, bệnh có thể gây hại ở cả hai vụ lúa trong năm, nhưng mức độ thiệt hại ở vụ chiêm xuân thường cao hơn nhiều so với vụ lúa mùa Trong vụ chiêm xuân, bệnh thường bắt đầu xuất hiện vào tháng 1, 2 trên ruộng mạ, và đến đầu tháng 3, bệnh có thể xuất hiện cục bộ trên lúa xuân trong giai đoạn đẻ nhánh Từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 5, bệnh thường phát sinh mạnh mẽ trên diện rộng.
17 các trà lúa mùa, bệnh phát sinh vào khoảng từ tháng 10 đến tháng 11 khi lúa đang ở thời kỳ trỗ đến chín (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001)
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae thu thập từ tỉnh Hải Phòng
- Bệnh: Bệnh đạo ôn lúa
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
+ Bệnh viện cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
+ Nhà lưới số 3 bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
+ Huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng.
VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.3.1 Mẫu nấm Pyricularia oryzae Cav dùng nghiên cứu
Bảng 3.1 Mẫu nấm P oryzae dùng thí nghiệm
Ký hiệu mẫu phân lập nấm P oryzae
Mẫu lúa bị bệnh Thu mẫu bệnh tại địa phương
1 BC15 BC15 Huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng
2 TBR225 TBR 225 Huyện Vĩnh Bảo, Tỉnh Hải Phòng
3 NLL Nếp lang liêu Huyện Tiên Lăng, Tỉnh Hải Phòng
08 Huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
3.3.2 Hóa chất và vật liệu:
Cồn 90 o C, cồn 96 o C, Cồn 70 o C, nước cất, khoai tây, đường Saccarose, đường Glucose, bột mạch vv
3.3.2.1 Thuốc bảo vệ thực vật:
Bảng 3.3 Một số thuốc trừ bệnh đạo ôn
Tên hoạt chất Công ty
Công ty TNHH Syngenta Việt Nam
Công ty CP Đầu tư TM &
3.3.3 Môi trường nuôi cấy nấm
Môi trường WA (Water – Agar: Nước - Aga)
Để chuẩn bị môi trường nuôi cấy, đầu tiên cho 1000 ml nước vào xoong và hòa tan Agar trong nước Khuấy đều cho đến khi Agar tan hoàn toàn, sau đó đun sôi trong 2 phút Sau khi đun xong, đổ môi trường vào chai thủy tinh PYREX, vặn nắp vừa phải và hấp khử trùng trong 15 phút ở 121 °C (1,5 at) Sau khi hấp, đổ môi trường vào các đĩa petri, lắc nhẹ để tạo lớp mỏng và đậy nắp lại Khi môi trường nguội, sử dụng để dinh bào tử nấm Nếu không sử dụng ngay, quấn màng chống nhện và cho vào túi nilon sạch, buộc miệng túi lại để bảo quản.
Môi trường PSA (Khoai tây – đường saccarozo – agar)
Để làm môi trường nuôi cấy nấm, bạn cần 200 gram khoai tây gọt vỏ, cắt lát mỏng và luộc với 1 lít nước cho đến khi nhừ Sau đó, lọc qua 4 lớp vải màn để lấy nước trong Tiếp theo, cho nước khoai tây, đường ăn và agar vào xoong, quấy đều và đun sôi Đổ hỗn hợp vào bình tam giác và hấp khử trùng ở 121ºC trong 15 phút Sau khi hấp xong, cho môi trường vào đĩa petri và đậy nắp lại Khi môi trường nguội, cấy nấm vào Nếu không sử dụng ngay, quấn màng chống nhện và cho các đĩa vào túi nilon sạch, buộc miệng túi bằng dây chun để ngăn chặn sự xâm nhập của nhện nhỏ, sau đó cất vào tủ lạnh để sử dụng trong 2 - 3 ngày.
Môi trường PSA nghiêng trong ống nghiệm
Để làm môi trường nuôi cấy nấm, bạn cần 200 gram khoai tây gọt vỏ, cắt lát mỏng và luộc với 1 lít nước cho đến khi nhừ Sau đó, lọc qua 4 lớp vải màn để lấy nước trong Tiếp theo, cho nước khoai tây, đường ăn và agar vào xoong, quấy đều và đun sôi Bơm 10 ml hỗn hợp vào từng ống nghiệm, đậy nắp và hấp khử trùng ở 121ºC trong 15 phút Sau khi hấp xong, đặt ống nghiệm nằm nghiêng để tạo mặt nghiêng cho môi trường Khi môi trường nguội, bạn có thể cấy nấm vào Nếu không sử dụng ngay, hãy bảo quản các ống nghiệm trong tủ lạnh để dùng trong 2 - 3 ngày.
Môi trường PDA (Khoai tây – glucozo – agar)
Để làm môi trường nuôi cấy nấm, bạn cần 200 gram khoai tây gọt sạch, cắt lát mỏng và luộc nhừ với 1 lít nước Sau đó, lọc qua vải màn để lấy nước trong Trộn nước khoai tây với đường và agar trong xoong, đun sôi và khuấy đều tay Đổ hỗn hợp vào bình tam giác và hấp khử trùng ở 121ºC trong 15 phút Sau khi hấp xong, cho môi trường vào đĩa petri và đậy nắp lại Khi môi trường nguội, tiến hành cấy nấm Nếu không sử dụng ngay, quấn màng chống nhện và cho các đĩa vào túi nilon sạch, buộc miệng túi bằng dây chun để ngăn chặn côn trùng xâm nhập, sau đó cất vào khay nhựa và bảo quản trong 2 - 3 ngày.
Môi trường CMA (Corn meal Agar)
Để chuẩn bị môi trường nuôi cấy nấm, hòa 17 gram bột ngô vào 600 ml nước sôi và 20 gram agar vào 400 ml nước, sau đó trộn đều hai hỗn hợp này Đổ vào bình tam giác và hấp khử trùng ở 121ºC trong 15 phút Sau khi hấp xong, đổ môi trường vào đĩa petri và đậy nắp lại Khi môi trường nguội, tiến hành cấy nấm Nếu không sử dụng ngay, quấn màng chống nhện và cho các đĩa vào túi nilon trắng sạch, buộc miệng túi bằng dây chun để ngăn chặn sự xâm nhập của nhện nhỏ Cuối cùng, để vào khay nhựa và cất trong túi để sử dụng trong 2-3 ngày.
Môi trường OMA (Oatmeal Agar: Bột mạch – Agar)
Để thực hiện, hòa 50 gram bột mạch vào 600 ml nước sôi, sau đó hòa 20 gram Agar vào 400 ml nước Tiếp theo, đổ hỗn hợp này vào nhau trong khi khuấy đều Cuối cùng, cho vào chai thủy tinh PYREX và hấp khử trùng ở 121°C, 1,5 atm trong 15 phút.
Sau khi chuẩn bị môi trường nuôi cấy, hãy cho vào đĩa Petri và để nguội trước khi cấy nấm Nếu không sử dụng ngay, hãy quấn màng chống nhện quanh đĩa, cho vào túi nilon trắng sạch và buộc miệng túi bằng dây chun để ngăn chặn sự xâm nhập của nhện nhỏ Cuối cùng, đặt vào khay nhựa và cất vào tủ để sử dụng trong 2-3 ngày tiếp theo.
3.3.4 Cá c du ̣ng cu ̣ dùng trong phòng thí nghiê ̣m
Các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm bao gồm tủ sấy, tủ cấy nấm, tủ bảo ôn, tủ lạnh, đĩa petri, ống nghiệm, que cấy nấm, cân kỹ thuật, bình tam giác, bình phun cầm tay và kính hiển vi quang học.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Quan sát, mô tả triệu chứng bệnh đạo ôn
3.4.2 Thu thập mẫu bệnh phân lập
3.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm chính của nấm P.oryzae
3.4.3.1 Quan sát mô tả hình thái nấm, tản nấm P.oryzae trên môi trường nhân tạo PDA
3.4.3.2 Đo kích thước bào tử nấm
3.4.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm P.oryzae 3.4.3.4 Nghiên cứu khả năng hình thành bào tử nấm P.oryzae trên lá lúa 3.4.3.5 Nghiên cứu khả năng hình thành bào tử nấm P.oryzae ở điều kiện chiếu sáng khác nhau
3.4.3.6 Nghiên cứu khả năng hình thành bào tử nấm P.oryzae ở nhiệt độ khác nhau
3.4.3.7 Nghiên cứu khả năng nảy mầm của bào tử nấm P.oryzae trên môi trường WA
3.4.4 Xác định mã số chủng sinh lí của nấm Pyricularia oryzae Car gây bệnh đạo ôn
3.4.5 Nghiên cứu phòng trừ bệnh đạo ôn
3.4.5.1 Nghiên cứu hiệu lực của thuốc Filia ® 525 SE đối với nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp quan sát mô tả triệu chứng bệnh đạo ôn
Quan sát mô tả triệu chứng bệnh đạo ôn
- Vết bệnh xuất hiện ban đầu (hình dạng, kích thước vết bệnh)
- Khi vết bệnh điển hình ở trên lá, cổ bông, thân ở các giống lúa
- Khi vết bệnh nặng ở trên lá, cổ bông, thân ở các giống lúa
3.5.2 Phương pháp thu thập mẫu bệnh, phân lập nấm và nghiên cứu một số đặc điểm chính của nấm Pyricularia oryzae
3.5.2.1 Phương pháp thu thập mẫu bệnh đạo ôn
Thu mẫu bệnh điển hình ở lá lúa, ở cổ bông, cho từng giống lúa vào từng túi polyetylen sạch, ghi tên giống lúa, ngày lấy mẫu, nơi thu mẫu
- Rửa mẫu dưới vòi nước cho sạch bụi bẩn, bào tử nấm hoại sinh, thấm khô bằng giấy vô trùng, sau đó tiến hành phân lập nấm
3.5.2.2 Phương pháp phân lập nấm P oryzae
Phương pháp cấy đơn bào tử
- Chọn mẫu lá lúa bị bệnh đạo ôn điển hình
- Rửa sạch mẫu lá bệnh, thấm khô bằng giấy thấm vô trùng
- Cho 1 ml nước vô trùng vào ống nghiệm
- Để lá trong ống nghiệm 1 ngày cho bào tử hình thành
Để chuyển bào tử lên đĩa môi trường WA, trước tiên, lấy đĩa có WA và dùng bút dạ khoanh một vòng tròn đường kính 0,5 cm trên mặt thủy tinh Sau đó, cầm úp mặt thạch và gấp đoạn cổ bông (lá) có vết bệnh theo hình tam giác Cuối cùng, sử dụng panh cặp để đặt bào tử ở vết bệnh dính vào mặt thạch tại vị trí đã đánh dấu vòng tròn.
Lấy đơn bào tử bằng kim thủy tinh cần sự hỗ trợ của kính hiển vi quang học Đầu tiên, đặt đĩa WA có bào tử lên kính hiển vi, sau đó nhẹ nhàng lấy bào tử vào đầu kim thủy tinh Cuối cùng, vặn kính lên cao và đưa đĩa WA ra.
Cấy đơn bào tử lên đĩa môi trường PSA bằng cách đặt đĩa PSA úp mặt thạch, sau đó thả 4 bào tử từ đầu kim thủy tinh vào mỗi đĩa Cuối cùng, sử dụng bút dạ để khoanh tròn vị trí bào tử.
27 và thả bào tử vào trong vòng tròn đó, Sau đó đặt đĩa trong tủ 26ºC 3 ngày, bào tử đã phát triển thành tản nấm
Cắt miếng thạch chứa nấm cấy và đưa vào ống nghiệm PSA nghiêng Sử dụng que cấy để lấy mẫu thạch có sợi nấm non và cấy vào ống nghiệm.
3.5.2.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm chính của nấm P oryzae
Phương pháp nghiên cứu phát triển của nấm P oryzae trên môi trường nhân tạo:
Cấy nấm P oryzae từ ống nguồn vào đĩa PDA Khi đường kính tản nấm đạt 5 cm, sử dụng đột 5 mm để đột nấm theo vòng tròn tản nấm Sau đó, cấy khoanh nấm đã đột vào các đĩa môi trường PDA, CMA, OMA và để ở 26 °C Hàng ngày, đo đường kính tản nấm gián tiếp trên nắp đĩa và quan sát màu sắc, hình dạng tản nấm.
Theo dõi tốc độ phát triển của nấm ở 2, 4, 6, 8, 10 ngày sau cấy
Phương pháp đo kích thước bào tử nấm: Dùng thước đo micro mét trên kính hiển vi quang học
Cấy nấm lên đĩa petri với môi trường PDA và sau 14 ngày, rửa sạch sợi nấm bằng chổi lông vô trùng và nước cất Để khô và đặt đĩa vào tủ trong 12 giờ sáng và 12 giờ tối trong 3 ngày để nấm sinh bào tử Sau đó, sử dụng 20 ml nước cất có Tween 20 với tỷ lệ 1/10,000 để rửa và lọc bào tử, cho vào hộp petri Cuối cùng, lấy 1 giọt dung dịch bào tử nhỏ lên lam, đậy lamen lại và quan sát dưới kính hiển vi.
Dùng thước đo kính hiển vi quang học, thước có 10 vạch lớn, mỗi vạch lớn có 10 vạch nhỏ như vậy tổng số có 100 vạch nhỏ
- Đo ở vật kớnh 10 thỡ 1 vạch nhỏ của thước bằng 10 àm
- Đo ở vật kớnh 40 thỡ 1 vạch nhỏ của thước bằng 2,5 àm
Khi đo ở vật kính nào thì đếm số vạch rồi nhân với độ dài mỗi vạch ở vật kính tương ứng Mỗi mẫu phân lập đo 30 bào tử
Phương pháp đo đường kính tản nấm trên môi trường Áp dụng phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật của Viện Bảo vệ thực vật
Vào năm 1999, sử dụng thước chia mm để đo đường kính của tản nấm theo từng công thức Nếu tản nấm có hình tròn, đo đường kính; nếu tản nấm mọc không đều, đo kích thước chiều dài và chiều rộng Sau đó, tính trung bình cho mỗi công thức vào các ngày đo sau khi cấy 2, 4, 6, 8 và 10 ngày.
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng, đến khả năng hình thành bào tử nấm P oryzae trên môi trường PDA, CMA, OMA
Cấy khoanh nấm 5 mm vào đĩa môi trường PDA, CMA, OMA để ở 26 o C, 14 ngày, quét sợi nấm, rồi đặt các đĩa nấm ở các thời gian chiếu sáng khác nhau gồm
Trong thí nghiệm, sử dụng đèn neon 36W chiếu sáng liên tục trong 72 giờ, sau đó 36 giờ sáng và 36 giờ tối cũng bằng đèn neon 36W Tiếp theo, ánh sáng tự nhiên được sử dụng trong 12 giờ sáng và 12 giờ tối trong 3 ngày Để chuẩn bị mẫu, 10 ml nước Tween 20 với tỷ lệ 1/10000 được sử dụng để rửa và đếm bào tử nấm bằng buồng đếm vi sinh vật trên kính hiển vi quang học Kết quả cho thấy số bào tử nấm trong 10 ml nước Tween 20 với tỷ lệ 1/10000, từ đó tính diện tích đĩa petri và số bào tử trung bình/cm² của tản nấm.
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến phát triển của nấm
P Oryzae Cấy nấm vào các đĩa petri có môi trường PDA,CMA, OMA, Cám Agar để đĩa ở tủ nhiệt độ 20 o C, 25 o C, 30 o C, 35 o C, đo đường kính tản nấm ở 2, 4, 6, 8 và 10 ngày sau khi cấy
Phương pháp nghiên cứu nảy mầm của bào tử nấm P oryzae trên môi trường WA
Chuẩn bị nguồn bào tử và trang bào tử nấm lên mặt đĩa WA, sau đó đặt ở nhiệt độ 25 o C Tại các thời điểm 2, 4, 6, 8, 12 và 24 giờ, úp ngược đĩa trên kính hiển vi Trên mỗi quang trường, đếm tổng số bào tử và số bào tử nảy mầm, thực hiện đếm trên 5 quang trường để tính tỷ lệ nảy mầm trung bình.
3.5.3 Phương pháp nghiên cứu hiệu lực của thuốc trừ nấm đối với nấm P oryzae t rong phòng và đối với bệnh đạo ôn trong nhà lưới
3.5.3.1 Phương pháp nghiên cứu hiệu lực của thuốc đối với nấm P oryzae trên môi trường PDA
Để cấy nấm, cần chuẩn bị nguồn nấm và nghiên cứu trên đĩa môi trường đặc hiệu Khi nấm phát triển rộng và có thể kín đĩa, tiến hành thực hiện các thí nghiệm.
+ Chuẩn bị thuốc thí nghiệm:
- Công thức 1: Filia ® 525 SE nồng độ 0,1%
- Công thức 2: Filia ® 525 SE nồng độ 0,5%
- Công thức 4: Đối chứng (không có thuốc)
Nấu môi trường PDA và khử trùng, sau đó để nguội đến khoảng 50ºC Hòa thuốc thành dung dịch mẹ, từ đó định lượng thuốc cần hòa với 100 ml môi trường PDA theo nồng độ thí nghiệm yêu cầu.
Sử dụng đĩa nguồn nấm đã có, bạn hãy dùng ống rỗng có đường kính 5 mm để đột khoanh nấm theo hình tròn trên tản nấm Sau đó, dùng que cấy nấm để cấy một khoanh nấm vào giữa đĩa môi trường.
Theo dõi sự phát triển của nấm bằng cách đo đường kính tản nấm sau 2, 3,
4, 5 ngày nuôi cấy và quan sát hình dạng tản nấm
3.5.4 Phương pháp thử đối kháng Chaetomium và Bacillus
- Chuẩn nguồn thí nghiệm: Mẫu nấm P.oryzae và mẫu Chaetomium ,Bacillus
Cấy đồng thời mẫu nấm P.oryzae, mẫu Chaetomium và mẫu Bacillus vào đĩa thí nghiệm với khoảng cách 30mm giữa các mẫu Đối với mẫu Bacillus, cấy ở vị trí cách tâm đĩa 15mm, trong khi mẫu Chaetomium được cấy ngay tại tâm đĩa.
- Tiến hành đo và quan sát thí nghiệm trong 7 ngày
3.5.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
+ Công thức tính tỷ lệ bệnh
+ Công thức tính chỉ số bệnh
Trong đó: a, Số lá (cây) bị bệnh; b, Trị số cấp bệnh tương ứng N, Số lá (cây) điều tra; T, Trị số cấp bệnh cao nhất
Công thức Abbott được áp dụng để xác định hiệu lực của thuốc đối với tản nấm, cũng như sự nảy mầm của bào tử trong môi trường phòng thí nghiệm và hiệu lực của thuốc đối với bệnh đạo ôn trong nhà lưới.
HL(%): Hiệu lực của thuốc (%)
C: Đường kính tản nấm ở công thức đối chứng sau xử lý
T: Đường kính tản nấm ở công thức thí nghiệm sau xử lý
* Trường hợp tính hiệu lực ức chế của thuốc đối với nảy mầm của bào tử nấm
C: Tỷ lệ bào tử nảy mầm ở công thức đối chứng
T: Tỷ lệ bào tử nảy mầm ở công thức có thuốc
* Trường hợp tính hiệu lực của thuốc đối với bệnh trong nhà lưới
C: Tỷ lệ bệnh ở công thức đối chứng
Tổng số lá (cây) bị bệnh
Tỷ lệ bệnh (%) = - - x 100 Tổng số lá (cây) điều tra
T: Tỷ lệ bệnh ở công thức xử lý thuốc
3.5.5.2 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mầm xử lý thống kê theo chương trình IRRISTAT
5.0 và so sánh Dun can.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH ĐAO ÔN TRONG VỤ XUÂN NĂM 2021
Bảng 4.1 Tình hình bệnh đạo ôn trong vụ Xuân năm 2021
Diện tích nhiễm (ha) Tổng
CKNT Đạo ôn lá 8.586 310 8.896 -484 -9.803 12.201 Đạo ôn cổ bông
Nhận xét: Diện tích nhiễm 8.896 ha (giảm 484 ha so với kỳ trước, giảm
9.803 ha so với CKNT), nhiễm nặng 310 ha, phòng trừ 12.201 ha Phân bố chủ yếu tại các tỉnh Điện Biên, Thái Bình, Bình Thuận, Gia Lai, Đồng Tháp, Tiền
KẾT QUẢ QUAN SÁT, MÔ TẢ TRIỆU CHỨNG BỆNH ĐẠO ÔN
Bệnh đạo ôn, do nấm Pyricularia oryzae gây ra, là một trong những dịch hại nguy hiểm nhất đối với cây lúa tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác trong khu vực.
Hình 4.1 : Vết bệnh đạo ôn trên lá ngoài đồng ruộng
Hình 4.2 Vết bệnh đạo ôn trên cổ bông ngoài đồng ruộng
Bệnh hại trên lá chủ yếu xảy ra trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh, cổ bông và hạt Ban đầu, vết bệnh nhỏ như đầu kim, có màu xám xanh giống như bị nước sôi, sau đó chuyển sang màu nâu và lan rộng thành hình thoi với viền nâu đậm và giữa màu trắng Nếu bệnh nặng, nhiều vết sẽ liên kết lại, tạo thành mảng lớn, dẫn đến lá khô, cây lúa lụi tàn và gây thất thu năng suất nghiêm trọng.
Trên cổ bông (cổ gié): nấm bệnh tấn công trên cổ bông ( cổ gié) làm cản trở
Sự vận chuyển chất dinh dưỡng từ cây lúa lên nuôi bông và hạt là rất quan trọng; nếu không, hạt lúa sẽ bị lép lửng Bệnh tấn công sớm có thể khiến hạt lúa bị lép hoàn toàn Vết bệnh ban đầu có màu xám xanh, sau đó chuyển sang màu nâu và nâu đậm Trong điều kiện ẩm độ không khí cao, vết bệnh sẽ phát triển một lớp nấm mốc màu xám xanh, làm cho cây lúa dễ bị gãy và ruộng lúa trở nên xơ xác.
Hạt lúa bị bệnh sẽ xuất hiện vết bệnh hình tròn, có viền nâu và tâm màu xám trắng, với đường kính khoảng 1-2 mm, dẫn đến tình trạng lem lép Nếu bệnh phát triển sớm, hạt lúa có thể bị lép hoàn toàn.
Giai đoạn dẻ nhánh, bệnh đạo ôn mới bắt đầu xuất hiện nhưng chưa nhiều, vết bệnh chủ yếu cấp 1 (vết nhỏ đầu kim, kháng R).
KẾT QUẢ THU THẬP MẪU BỆNH, PHÂN LẬP NẤM
4.3.1 Kết quả thu thập mẫu bệnh đạo ôn
Chúng tôi đã thu thập mẫu bệnh đạo ôn trên lúa, tiến hành phân lập nấm theo phương pháp đơn bào tử, kết quả ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Số mẫu nấm P oryzae đã được phân lập
Giống lúa nhiễm bệnh đạo ôn Địa phương
Ký hiệu mẫu phân lập nấm
ORYZAE
OMA : Oatmeal Agar (Bột mạch – agar)
CV : Hệ số biến động et al : Và những người khác
FAO : Tổ chức Nông lương của liên hợp quốc
IRRI : International Rice Research Institute (Viện nghiên cứu lúa Quốc tế) viii
Bảng 3.1 Mẫu nấm P oryzae dùng thí nghiệm 20
Bảng 3.2 Các giống lúa của Nhật Bản mang gen kháng dùng để xác định chủng nấm P oryzae Error! Bookmark not defined Bảng 3.3 Một số thuốc trừ bệnh đạo ôn 20
Bảng 4.1 Tình hình bệnh đạo ôn trong vụ Xuân năm 2021 31
Bảng 4.2 Số mẫu nấm P oryzae đã được phân lập 33
Bảng 4.3 Màu sắc và hình thái tản nấm của một số nấm Pyricularia oryzae Cav., trên môi trường PDA 35
Bảng 4.4 Kích thước bào tử nấm P.oryzae Cav 38
Bảng 4.5 Khả năng nảy mầm của bào tử nấm P oryzae Cav trên môi trường
Bảng 4.6 Khả năng phát triển của nấm P oryzae trên một số môi trường nhân tạo 39
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng phát triển của nấm P oryzae trên môi trường PDA 42
Bảng 4.8 Khả năng hình thành bào tử nấm P.oryzae ở vết bệnh trên lá lúa 44
Bảng 4.9 Khả năng hình thành bào tử nấm P.oryzae trên môi trường PDA, CMA, OMA ở điều kiện chiếu sáng khác nhau 45
Bảng 4.10 Khả năng hình thành bào tử của một số chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA 49
Bảng 4.11 Cấp bệnh đạo ôn trên nhóm giống lúa chỉ thị của Nhật Bản thông qua lây nhiễm bệnh nhân tạo trong nhà lướiError! Bookmark not defined
Bảng 4.12 trình bày mức độ kháng bệnh đạo ôn của giống lúa chỉ thị khi tiếp xúc với các mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav thông qua phương pháp lây nhiễm bệnh nhân tạo.
Bảng 4.13 Kết quả xác định mã số chủng sinh lí nấm P.oryzae Cav gây bệnh đạo ôn Error! Bookmark not defined
Bảng 4.14 Cấp bệnh đạo ôn trên một số giống lúa Việt Nam và Trung Quốc do lây bệnh nhân tạo một số mẫu phân lâ ̣p nấm Pyricularia oryzae Cav.
Bảng 4.15 trình bày mức độ kháng bệnh đạo ôn của một số giống lúa Việt Nam và Trung Quốc khi được thử nghiệm với các mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav.
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của thuốc Filia ® 525 SE ở một số nồng độ khác nhau đến đường kính tản nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA Error! Bookmark not defined x
Hình 4.1: Vết bệnh đạo ôn trên lá ngoài đồng ruộng 32
Hình 4.2: Vết bệnh đạo ôn trên cổ bông ngoài đồng ruộng 32
Hình 4.3: Tản nấm các mẫu phân lập BC15 sau 10 ngày cấy 35
Hình 4.4: Kích thước bào tử nấm P.oryzae Cav 39
Hình 4.5: Khả năng hình thành bào tử nấm P.oryzae ở vết bệnh trên lá lúa 45
Hình 4.6: Ảnh hưởng của thuốc Filia ® 525 SE ở một số nổng độ khác nhau đến đường kính tản nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA
Hình 4.7: Ảnh hưởng của thuốc Bankan 600WP ở một số nổng độ khác nhau đến đường kính tản nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA xi
Biểu đồ 4.1 trình bày khả năng nảy mầm của bào tử nấm P oryzae Cav trên môi trường WA sau 24 giờ Biểu đồ 4.2 cho thấy ảnh hưởng của thuốc Filia ® 525 SE ở các nồng độ khác nhau đến đường kính tản nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA.
Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của thuốc Bankan 600WP ở một số nổng độ khác nhau đến đường kính tản nấm Pyricularia oryzae trên môi trường PDA xii
Nhận biết bệnh hại giống cây trồng là yếu tố quan trọng để ngăn chặn bệnh hại trở thành dịch hại trong sản xuất lúa Phương pháp nghiên cứu bệnh hại trên lúa bao gồm việc quan sát triệu chứng và xác định chính xác tác nhân gây bệnh theo nguyên tắc Kock Thông qua điều tra thực tế và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, chúng ta có thể nắm bắt các đặc điểm sinh lý và mức độ gây hại của nấm Pyricularia oryzae, tác nhân gây bệnh đạo ôn trên lúa Nhờ vào những đặc điểm này, chúng ta có thể đề ra các biện pháp kịp thời nhằm giảm thiểu tác động đến năng suất cây trồng.
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lúa là lương thực chính, đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam Việt Nam hiện đứng thứ ba thế giới về nông nghiệp trồng lúa nước và xuất khẩu gạo Năm 2017, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba, chỉ sau Ấn Độ và Thái Lan Trong tháng 9 năm 2018, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 4,89 triệu tấn gạo, đạt giá trị khoảng 2,46 tỷ USD, tăng 6,7% về khối lượng và 21,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước Theo Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 8/2018 ước đạt 441.000 tấn với giá trị 209 triệu USD Tính chung 8 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo ước đạt 4,4 triệu tấn và kim ngạch 2,2 tỷ USD, tăng 6,8% về khối lượng và 22,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.
Sản xuất lúa gạo đang phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên, sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae, vẫn là mối lo ngại lớn và khó kiểm soát đối với nông dân.
Cây lúa có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi bệnh đạo ôn lá, dẫn đến hiện tượng lụi dần, cháy khô, trỗ kém, và giảm năng suất, thậm chí không thu hoạch được Để phòng chống hiệu quả bệnh này, cần điều tra tình hình phát sinh và phát triển của bệnh trên đồng ruộng, cũng như xác định các chủng sinh lý của nấm Pyricularia oryzae Cav Việc khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh bằng thuốc hóa học cũng rất quan trọng Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm chính của một số mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae gây bệnh đạo ôn” dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đức Huy, bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Để hiểu rõ tình hình bệnh đạo ôn lúa, cần nghiên cứu đặc điểm chính của một số mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae, tác nhân gây bệnh và các biện pháp phòng trừ hiệu quả.
- Thu thập thông tin và diều tra về tình hình bệnh đạo ôn hại lúa
- Mô tả triệu chứng bệnh đạo ôn
- Điều tra tình hình bệnh đạo ôn trên lúa
- Nghiên cứu một số đặc điểm nuôi cấy nấm P oryzae,
- Xác định mứ c đô ̣ kháng, nhiễm của mô ̣t số dòng, giố ng lúa đố i với những chủ ng sinh lý nấm P oryzae đã phân lâ ̣p
- Khảo sát hiệu lực của thuốc hóa học đối với nấm P oryzae ở trong phòng thí nghiệm và đối với bệnh đạo ôn trên lúa trong nhà lưới
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
2.1.1 Lịch sử phát hiện bệnh
2.1.2 Mức độ phổ biến của bệnh trên thế giới
2.1.3 Những thiệt hại do bệnh đạo ôn lúa gây ra
Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh nguy hiểm nhất đối với cây lúa, phổ biến ở hầu hết các quốc gia trồng lúa và có khả năng bùng phát thành dịch trong điều kiện thuận lợi Nhiều thống kê đã chỉ ra mức độ thiệt hại năng suất lúa do bệnh này gây ra.
Hàng năm, thiệt hại do đạo ôn gây ra ở nhiều địa phương vẫn rất nghiêm trọng, mặc dù đã áp dụng rộng rãi các loại thuốc hóa học.
Tại Ấn Độ, năm 1950, sản lượng lúa bị thiệt hại lên tới 75% Ở Philippines, hàng nghìn ca bị hại do bệnh đạo ôn, ước tính sản lượng thất thu khoảng 50% Từ 1953-1960, Nhật Bản ghi nhận thiệt hại trung bình 2,89% tổng sản lượng lúa mỗi năm, mặc dù đã áp dụng thuốc hóa học để phòng trị bệnh Năm 1988, dịch bệnh đạo ôn gây thiệt hại nặng nề ở vùng Duyên hải phía Bắc Nhật Bản, với tổng sản lượng thiệt hại tại quận Fukushima lên tới 24%, có nơi thiệt hại lên đến 90% Tại Hàn Quốc, năm 1989, thiệt hại sản lượng do bệnh đạo ôn gây ra là 4,2% năm 1978 và 3,9% năm 1980.
Mức độ thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra vẫn chưa được thống kê chính xác, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống lúa, biện pháp phòng trừ và điều kiện sinh thái của vùng.
Theo nghiên cứu của Pure Skin V.Ph (1974), triệu chứng bệnh được phân loại thành ba dạng: đạo ôn lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông Các tác giả Boman J M, Vergel de Dios, TI, Kato H (1974), Khin M.M (1986) và Torres C Q (1986) đã dựa vào các đặc điểm của bệnh để đưa ra những phân tích sâu hơn.
4 và vị trí bộ phận bị nhiễm chia bệnh làm 4 dạng là đạo ôn lá, đạo ôn cổ lá, đạo ôn đốt thân và đạo ôn cổ bông
Vết bệnh trên lá mạ xuất hiện ban đầu dưới dạng hình bầu dục nhỏ, sau đó phát triển thành hình thoi hoặc tương tự, với màu sắc nâu hồng hoặc nâu vàng Khi bệnh trở nặng, các đám vết bệnh liên tiếp có thể khiến cây mạ héo khô hoặc chết (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001).
Vết bệnh ban đầu trên phiến lá lúa xuất hiện dưới dạng những chấm nhỏ màu vàng, sau đó phát triển thành hình thoi với màu xám tro ở giữa, viền nâu và quầng vàng xung quanh Trong điều kiện ẩm ướt và dinh dưỡng đạm cao, các giống nhiễm có thể xuất hiện vết bệnh cấp tính hình tròn hoặc bầu dục, màu nâu xanh tái và dạng thấm nước, sau đó chuyển thành dạng mãn tính Kích thước vết bệnh dao động từ 0,2 – 0,4 x 0,5 - 25 mm, và nhiều vết bệnh liên kết với nhau dẫn đến hiện tượng lá khô lụi.