NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các loại phân hữu cơ, cây cà pháo xanh
- Vật liệu nghiên cứu: Phân hữu cơ sinh học Nhật Bản MINORI 2 và phân gà vi sinh hữu cơ Cà pháo xanh giống địa phương Văn Đức
Phân hữu cơ sinh học Nhật Bản MINORI 2 là sản phẩm đặc biệt dành cho cây trồng, được nhập khẩu từ Nhật Bản Sản phẩm này giúp tái tạo và phát triển bộ rễ mạnh mẽ, đồng thời tăng khả năng giữ nước và dinh dưỡng cho cây Thành phần dinh dưỡng bao gồm NPK 5%, hữu cơ tổng hợp 40% và Acid Humic 2% Phân được nhập khẩu bởi Công ty cổ phần thương mại Thủy Nguyên.
Phân gà vi sinh hữu cơ là sản phẩm được chế biến từ phân gà tươi, qua quy trình xử lý bằng vi sinh và nấm Tricodemer, giúp tiêu diệt nấm có hại và nâng cao độ hữu cơ Sản phẩm này không chỉ cải thiện độ tơi xốp của đất mà còn tăng cường độ phì nhiêu, với thành phần dinh dưỡng gồm 60% hữu cơ, 4% N, 2,5% P₂O₅, 2,5% K₂O, 10% CaO và 0,5% Mg Phân gà vi sinh hữu cơ được cung cấp bởi Vật tư nông nghiệp, nông nghiệp phố - Thiện Xanh.
- Giống cà pháo xanh địa phương chống hạn thôn Trung Quan, xã Văn Đức , huyện Gia Lâm, tỉnh Hà Nội
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khu thí nghiệm đồng ruộng bộ môn Canh tác học, khoa Nông Học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của cây cà pháo xanh
- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến
32 chỉ tiêu sinh trưởng của cây cà pháo xanh
- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến chỉ tiêu sinh lý cây cà pháo xanh
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến năng suất cũng như các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo xanh Kết quả sẽ giúp xác định phương pháp bón phân hiệu quả nhằm tối ưu hóa năng suất cây trồng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến tình hình sâu bệnh hại trên cây cà pháo xanh.
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 2 nhân tố được thực hiện theo phương pháp RCBD khối ngẫu nhiên đầy đủ với 03 lần nhắc lại Tất cả các công thức đều có sự kết hợp với phân bón lá O-MIC Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 5m².
- Nhân tố 1 là phân bón hữu cơ
P1: Phân sinh học Minori 32,76kg/ 45m 2
P2: Phân gà vi sinh 40,95kg/ 45m 2
- Nhân tố 2 là thời gian bón phân
T1: Bón lót trước trồng 1 tháng
T2: Bón lót trước trồng 1 tuần
T3: Bón lót trước trồng 1 ngày
- Nhƣ vậy, thí nghiệm gồm có 6 công thức là P1T1, P1T2, P1T3, P2T1, P2T2, P2T3
Sơ đồ bố trí thí nghiệm nhƣ sau:
Lƣợng bón phân cho 1 cây:
Loại phân Lƣợng đạm trong phân Lƣợng phân (g) cho 1 cây
- Ngày trồng cây ra ruộng thí nghiệm (cây con)
- Ngày ra hoa (khi 50% số cây trên một ô ra hoa)
- Thời gian thu đợt quả đầu (số ngày từ gieo đến thu quả đợt đầu của 50% số cây)
- Thời gian cho thu quả (từ bắt đầu thu đến kết thúc thu hoạch quả)
- Thời gian sinh trưởng (từ ngày gieo đến kết thúc thu hoạch quả thương phẩm)
3.4.2.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng
- Tiến hành đo 1 tuần 1 lần, mỗi lần trên 5 cây
- Chiều cao cây: Đo từ vị trí cách mặt đất 2cm tới ngọn cao nhất
- Số lá trên cây: Đếm toàn bộ số lá
- Số lá trên thân chính: Đếm só lá trên lân chính
- Số nhánh cấp 1: Đếm số nhánh cấp 1 trên thân chính
3.4.2.3 Các chỉ tiêu về sinh lý
- Tiến hành lấy mẫu ở 3 thời kỳ bao gồm cây con, ra hoa và thu hoạch quả
- Chỉ số SPAD: Đo bằng máy Minilab 502 của Nhật đo 3 vị trí của lá lấy giá trị trung bình với lá hoàn chỉnh (Đo 1 tuần 1 lần)
Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI, được tính bằng m² lá trên m² đất) được xác định thông qua phương pháp cân nhanh Cụ thể, lá được cắt đều trên một tấm kính có diện tích 1 dm², sau đó khối lượng của 1 dm² lá tươi được cân và tính toán theo công thức.
A1 là khối lượng toàn bộ lá tươi (g)
A2 là khối lượng 1 dm 2 lá tươi (g)
Khối lượng chất khô (g/m²) được xác định bằng cách lấy mẫu toàn bộ cây từ 3 điểm ngẫu nhiên trong ô thí nghiệm Toàn bộ thân và lá được cắt, sau đó tách riêng lá và thân, và đem sấy khô ở nhiệt độ 70°C cho đến khi đạt khối lượng không đổi Cuối cùng, khối lượng khô của thân và lá được cân riêng biệt.
3.4.2.4 Các chỉ tiêu về quả
- Chọn ngẫu nhiên 10 quả trên 5 cây mẫu của mỗi ô tại mỗi lần thu hoạch:
- Chiều dài quả (Đo khoảng cách giữa 2 đầu của quả ở 5 cây mẫu, lấy số liệu trung bình bằng cm)
- Đường kính quả (Đo ở phần đường kính to nhất của quả ở 5 cây mẫu, lấy số liệu trung bình bằng cm)
- Khối lượng tươi của quả
- Khối lƣợng khô của quả
3.4.2.5 Các chỉ tiêu về năng suất
-Yếu tố cấu thành năng suất: lựa chọn 5 cây/ ô theo nguyên tắc đường chéo 5 điểm để xác định các yếu tố cấu thành năng suất, bao gồm:
+ Khối lƣợng trung bình quả (g/ quả) = khối lƣợng quả thu đƣợc / số quả + Năng suất cá thể (g / cây)= khối lƣợng quả thu đƣợc trên 1 cây
Năng suất lý thuyết được tính bằng công thức: năng suất cá thể nhân với mật độ trồng chia cho 1000, đơn vị là tấn/ha Trong khi đó, năng suất thực thu là khối lượng cà pháo thu hoạch từ tất cả các cây trên ô, được cân và quy đổi về đơn vị tấn/ha.
3.4.2.6 Các chỉ tiêu về sâu bệnh
Theo dõi mức độ nhiễm bệnh khảm lá bằng cách cho điểm:
Bảng 3.1 Mức độ nhiễm bệnh khảm lá
Mức độ 1 Không bị bệnh
Mức độ 2 Bệnh nhẹ (< 20 – 40% số cây bị nhiễm bệnh)
Mức độ 3 Bênh nặng (> 40 – 60% số cây bị nhiễm bệnh)
Mức độ 4 Bệnh rất nặng (> 60% số cây bị nhiễm bệnh)
Theo dõi mức độ nhiễm bệnh do sâu ăn lá, sâu đục quả bằng cách tính % số cây bị hại:
Tỷ lệ bệnh = x 100(%) Tổng số cây/ô
- Thời vụ trồng: Vụ xuân muộn, tháng 4 trồng tháng 5 thu hoạch
- Giống: Cà pháo xanh địa phương Văn Đức chịu hạn
- Phân bón: Phân bón sinh học Minori 2, phân gà vi sinh
Để chuẩn bị đất cho khu thí nghiệm đồng ruộng bộ môn Canh tác học, cần làm sạch cỏ dại, cày bừa kỹ lưỡng và lên luống với rãnh thoát nước Trước khi trồng vài tuần, đất cần được phơi ải và bón vôi nhằm mục đích giúp đất tơi xốp và tăng độ phì nhiêu.
PH, diệt trừ sâu hại, diệt nấm hại không tốt trong đất
- Chuẩn bị cây con: Chọn cây con đều nhau, khỏe mạnh, có 5-6 lá thật, cao 6- 8cm, thân mật mạp đều
Để cà phát triển tốt, cần thường xuyên tưới đủ ẩm, đặc biệt trong giai đoạn ra hoa và nuôi quả Nên dẫn nước ngập 2/3 rãnh luống để nước thấm vào mặt luống, tránh để mặt luống khô, vì nếu thiếu nước, cà sẽ kém ra hoa và năng suất giảm.
36 suất kém, trái nhỏ Bón phân bón lá O-MIC, cứ 10 ngày bón một lần đều lên toàn bộ các công thức
- Quy trình bón phân: Bón lót theo công thức 2 loại phân gà và Minori 1 tháng trước khi trồng, 2 tuần trước khi trồng và 1 ngày trước khi trồng
Bảng 3.2 Bảng tổng lượng bón lót 2 loại phân cho cây cụ thể Loại phân
Kết hợp bón lá phân O-MIC tỷ lệ 1/800, phun cách 7 ngày liên tục đến khi ngừng thu hoạch
Khi cây bắt đầu ra hoa, cần tỉa bỏ các cành nhánh dưới chùm hoa thứ nhất để gốc thông thoáng Đối với đợt hoa thứ hai, hãy bấm ngọn và hãm cành để hạn chế chiều cao, giúp cây phát triển nhiều cành nhánh quả hơn.
Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh bao gồm việc sử dụng thuốc trừ sâu như Ofatox, Dipterex, và Regent để phun trừ các đối tượng gây hại chính như sâu đục quả và sâu ăn lá Ngoài ra, cần thực hiện biện pháp bắt sâu trực tiếp trên cây và hạn chế độ ẩm trong luống để tránh tình trạng úng ngập, từ đó ngăn ngừa các bệnh hại do nấm và vi khuẩn như lở cổ rễ, thối gốc, chết ẻo, và chết nhát.
Thu hoạch: Thu hái khi quả đã lớn đẫy, căng đều Cách 5 - 6 ngày thu chọn một lần, không để cà quá già kém chất lƣợng.
Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được thu thập trong quá trình nghiên cứu đã được tổng hợp và xử lý thống kê bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) thông qua chương trình IRISTAT 5.0 và Excel.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến thời gian sinh trưởng của cây cà pháo
Các công thức bón phân khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian phát triển của cây cà pháo từ 20 ngày tuổi đến khi trưởng thành Việc cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng sẽ kéo dài thời gian từ khi cây con đến khi thu hoạch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hoạch và nâng cao chất lượng cà Tất cả các cây con 20 ngày đều được trồng vào ngày 04/02/2021.
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của cây cà pháo được trình bày tại bảng 4.1
Bảng 4 1 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến thời gian sinh trưởng
CT Số ngày đến khi ra hoa
Số ngày đến khi thu hoạch đầu (ngày)
Thời gian sinh trưởng (ngày)
Thời gian cho thu hoạch (ngày)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa, trong khi các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng 4.1 chúng ta thấy:
Công thức bón phân P2T2 cho ra hoa sớm nhất sau 31 ngày trồng, trong khi các công thức P1T2 và P2T1 ra hoa sau 33 ngày Các công thức P1T1, P1T3 và P2T3 có thời gian ra hoa lâu nhất, kéo dài đến 34 ngày Sự khác biệt về thời gian ra hoa giữa các công thức chỉ từ 2 đến 3 ngày.
Thời gian thu hoạch quả cà pháo đầu tiên khác nhau giữa các công thức bón phân Cụ thể, công thức P2T2 cho phép thu hoạch sau 39 ngày trồng, trong khi công thức P1T2 thu hoạch vào ngày thứ 40 Các công thức P1T3 và P2T3 đều cho thu hoạch vào ngày thứ 43 Như vậy, công thức P2T2 là lựa chọn cho thu hoạch sớm nhất.
Thời gian sinh trưởng của cây trồng con đến khi thu hoạch cuối cùng khác nhau giữa các công thức Các công thức P1T2, P2T1 và P2T2 có thời gian sinh trưởng dài nhất, đạt 108 ngày Công thức P1T1 đứng thứ hai với 106 ngày sinh trưởng, trong khi công thức P1T3 và P2T3 có thời gian sinh trưởng thấp nhất là 105 ngày Do đó, P1T2, P2T1 và P2T2 là những công thức có thời gian sinh trưởng dài nhất.
Thời gian thu hoạch của quả cà pháo khác nhau giữa các công thức, với công thức P2T2 có thời gian thu hoạch dài nhất là 66 ngày Tiếp theo là công thức P1T2 với 65 ngày, trong khi công thức P1T3 và P2T3 chỉ mất 62 ngày Như vậy, công thức P2T2 cho thời gian thu hoạch lâu nhất.
Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ tiêu sinh trưởng trên thân chính
Để cây phát triển chiều cao, số nhánh cấp 1 và số lá trên cây cũng như trên thân chính, cần cung cấp một lượng dinh dưỡng phù hợp Trong cùng một giống và điều kiện ngoại cảnh, cây sẽ sinh trưởng nhanh hơn nếu được cung cấp chất dinh dưỡng cân đối hợp lý.
4.2.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao cây
4.2.1.1 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao cây
Kết quả theo dõi ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.2
Bảng 4 2 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao cây (cm)
Yếu tố thí nghiệm 14tst
Loại phân bón hữu cơ (p) P1 68,23 a
Thời gian bón phân hữu cơ (t) T1 69,41 a
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95% Lưu ý rằng việc trồng sẽ được thực hiện vào tuần sau.
Qua bảng 4.2 chúng ta thấy:
Giai đoạn 14tst: Ảnh hưởng riêng rẽ của phân bón hữu cơ và thời gian
Ảnh hưởng của loại phân P2 đến chiều cao cây là lớn nhất, đạt 70,45 cm, trong khi yếu tố thời gian bón phân T3 ghi nhận chiều cao 69,53 cm Ngược lại, chiều cao cây thấp nhất là 68,23 cm khi sử dụng phân hữu cơ P1 Do đó, loại phân P2 có tác động tích cực nhất đến chiều cao cây.
4.2.1.2 Ảnh hưởng tương tác của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao cây
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.3
Bảng 4.3 trình bày ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến chiều cao cây (cm) Kết quả thí nghiệm cho thấy, với các thời gian bón khác nhau từ 2 tst đến 14 tst, chiều cao cây tăng dần, đạt 72,21 cm ở thời gian bón 14 tst.
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa, trong khi các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95% Lưu ý rằng việc trồng sẽ được thực hiện vào tuần sau.
Qua bảng 4.3 chúng ta thấy:
Trong giai đoạn 2tst, chiều cao cây của các công thức thí nghiệm cho thấy sự khác biệt rõ rệt Công thức P2T1 đạt chiều cao cao nhất với 11,94 cm, tiếp theo là công thức P1T2 với chiều cao 11,93 cm, chỉ thấp hơn 0,01 cm Trong khi đó, công thức P1T1 có chiều cao thấp nhất, chỉ đạt 11,30 cm.
Ở giai đoạn 4tst, chiều cao cây đã thay đổi so với giai đoạn 2tst, trong đó công thức P2T3 đạt chiều cao lớn nhất là 19,78 cm, tiếp theo là P1T3 với chiều cao 19,55 cm Cây thấp nhất thuộc công thức P2T1 với chiều cao 17,46 cm.
Trong giai đoạn 6tst và 8tst, số liệu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức Cây bắt đầu tập trung vào phát triển để chuẩn bị cho giai đoạn thu hoạch, dẫn đến sự tăng trưởng chiều cao đáng kể so với các giai đoạn trước Công thức P2T3 đạt chiều cao lớn nhất với 30,93 cm ở giai đoạn 6tst và 41,87 cm ở giai đoạn 8tst Chiều cao cây thấp nhất ghi nhận ở giai đoạn 6tst là 28,35 cm và ở giai đoạn 8tst là 36,67 cm.
Trong giai đoạn 10tst và 12tst, có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức Chiều cao cây đã thay đổi thứ tự so với giai đoạn 6tst và 8tst, với cây cao nhất thuộc về công thức P2T3, đạt lần lượt 55,27 cm và 65,31 cm Ngược lại, cây thấp nhất là công thức P1T2, với chiều cao 47,38 cm và 57,29 cm.
Giai đoạn 14tst cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức, như được thể hiện trong bảng số liệu 4.3 Tại giai đoạn này, cây bắt đầu sinh trưởng chậm lại để tập trung vào quá trình thu hoạch quả liên tục Chiều cao cây đạt mức cao nhất là 73,03 cm ở công thức P2T2, trong khi chiều cao thấp nhất là 65,11 cm ở công thức P1T2 Do đó, công thức cho chiều cao lớn nhất là P1T1.
4.2.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh trên cây 4.2.2.1 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh trên cây
Kết quả theo dõi ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.4
Bảng 4 4 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh trên cây
Yếu tố thí nghiệm 14tst
Loại phân bón hữu cơ (p)
Thời gian bón phân hữu cơ (t)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95% Lưu ý rằng việc trồng sẽ được thực hiện vào tuần sau.
Qua bảng số liệu 4.4 chúng ta thấy
Trong giai đoạn 14tst, có sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% về ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh trên cây Phân bón hữu cơ P2 đạt số nhánh cao nhất với 11,62 nhánh, tiếp theo là thời gian bón T3 với 11,33 nhánh Ngược lại, phân bón P1 cho số nhánh thấp nhất là 9,93 nhánh Do đó, phân bón hữu cơ P2 là yếu tố mang lại số nhánh lớn nhất trên cây.
4.2.2.2 Ảnh hưởng tương tác của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh trên cây
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.5
Bảng 4 5 Ảnh hưởng tương tác phân bón hữu cơ và thời gian bón đến số nhánh Yếu tố thí nghiệm 2tst 4tst 6tst 8tst 10tst 12tst 14tst
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa, trong khi các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95% Lưu ý rằng việc trồng sẽ được thực hiện vào tuần sau.
Qua bảng số liệu 4.5 chúng ta thấy:
Trong giai đoạn 2tst và 4tst, số nhánh của các công thức có sự khác biệt rõ rệt Công thức có số nhánh lớn nhất trong giai đoạn này là P2T3, với số nhánh lần lượt là 2,86 và 6,33 nhánh Ngược lại, số nhánh thấp nhất ở giai đoạn 2tst thuộc về P1T1 với 2,13 nhánh, trong khi ở giai đoạn 4tst, P2T1 có số nhánh thấp nhất là 4,07 nhánh.
Giai đoạn 6tst: Ở giai đoạn này đã có sự thay đổi về thứ tự số nhánh trên
Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ tiêu sinh lý của cây cà pháo
Các chỉ tiêu sinh lý đóng vai trò quan trọng trong khả năng sinh trưởng và năng suất của cây trồng, thể hiện khả năng tích lũy chất dinh dưỡng Sự phát triển này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm các điều kiện môi trường.
51 và sự phát triển của thự vật Số liệu thu đƣợc sẽ thay đổi qua các thời kỳ sinh trưởng của cây
4.3.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số SPAD
Chỉ số SPAD đo lƣờng hàm lƣợng diệp lục trong lá cây trồng, một chất hữu cơ thiết yếu cho quá trình quang hợp Diệp lục đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học cho cây.
4.3.1.1 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số SPAD
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số SPAD của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.10
Bảng 4 10 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón chỉ số SPAD Yếu tố thí nghiệm Cây con Cây ra hoa Thu hoach
Loại phân bón hữu cơ (P)
Thời gian bón phân hữu cơ (T)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng số liệu 4.10 chúng ta thấy:
Trong giai đoạn cây con, các chỉ số đo được có sự khác biệt có ý nghĩa với độ tin cậy 95% Yếu tố phân bón P1 dẫn đầu với chỉ số SPAD là 40,35, tiếp theo là yếu tố thời gian T3 với chỉ số 38,71 Trong khi đó, phân bón P2 có chỉ số thấp nhất là 36,38.
52 giai đoạn này là yếu tố của phân bón P1
Trong giai đoạn cây ra hoa, chỉ số SPAD cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% Phân bón P1 đạt chỉ số cao nhất là 42,65, tiếp theo là yếu tố thời gian bón T3 với chỉ số 40,87 Cuối cùng, phân bón P2 có chỉ số thấp nhất là 37,31 Như vậy, phân bón P1 là yếu tố có chỉ số SPAD cao nhất trong giai đoạn này.
Giai đoạn thu hoạch cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%, trong đó yếu tố phân bón P2 đạt giá trị cao nhất là 42,63 Yếu tố thời gian bón T2 đứng thứ hai, trong khi yếu tố thời gian bón T1 có giá trị thấp nhất là 39,56 Chỉ số SPAD đo được lớn nhất trong giai đoạn này thuộc về yếu tố phân bón P2.
4.3.1.2 Ảnh hưởng tương tác của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số SPAD
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số SPAD của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.11
Bảng 4 11 Ảnh hưởng tương tác của phân bón và thời gian bón đến chỉ số
SPAD Yếu tố thí nghiệm Cây con Cây ra hoa Thu họach
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng số liệu 4.11 chúng ta thấy:
Trong giai đoạn cây con, có sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức Chỉ số SPAD dao động trong khoảng (36,11-41,30) Công thức P1T3 đạt chỉ số SPAD cao nhất là 41,30, trong khi công thức P1T1 đứng thứ hai với chỉ số SPAD là 41,15, thấp hơn 1,15 Ngược lại, công thức có chỉ số SPAD thấp nhất trong giai đoạn này là 31,11 Như vậy, công thức P1T3 là công thức có chỉ số SPAD cao nhất trong giai đoạn cây con với giá trị 41,30.
Trong giai đoạn cây ra hoa, có sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức, với chỉ số SPAD nằm trong khoảng (36,87-43,96) So với thời kỳ cây con, chỉ số SPAD đã tăng lên ở tất cả các công thức Công thức P1T3 đạt chỉ số SPAD cao nhất là 43,96, tiếp theo là công thức P1T2 với chỉ số 42,31, thấp hơn 1,65 so với P1T3 Cuối cùng, công thức P2T1 có chỉ số SPAD thấp nhất là 36,86 Như vậy, công thức P1T3 có chỉ số SPAD cao nhất trong giai đoạn cây ra hoa.
Trong giai đoạn cây cho thu hoạch, có sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức Chỉ số SPAD dao động từ 39,25 đến 44,15, với công thức P2T2 đạt chỉ số cao nhất là 44,15, tiếp theo là P2T3 với 43,87 Công thức P1T1 có chỉ số SPAD thấp nhất là 39,25 Như vậy, công thức P2T2 là công thức có chỉ số SPAD cao nhất trong giai đoạn cây cho thu hoạch.
4.3.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số diện tích là (LAI)
Chỉ số diện tích lá (LAI) là tỉ lệ giữa tổng diện tích là còn xanh (tính bằng m²) trên diện tích đất ruộng (m²)
4.3.2.1 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
Kết quả theo dõi ảnh hưởng riêng rẽ của phân bón hữu cơ và thời gian bón
54 đến diện tích lá (LAI) của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.12
Bảng 4 12 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
Yếu tố thí nghiệm Cây con Cây ra hoa Thu hoạch
Loại phân bón hữu cơ (P)
Thời gian bón phân hữu cơ (T)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa, trong khi các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng số liệu 4.12 chúng ta thấy:
Trong giai đoạn cây con, ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số diện tích lá không có sự khác biệt có ý nghĩa Chỉ số diện tích lá ở thời gian bón lớn hơn so với phân bón, với thời gian bón T2 đạt chỉ số LAI cao nhất là 0,43 Tiếp theo là thời gian T3 và T1 với chỉ số lần lượt là 0,38 và 0,33 Cả hai loại phân bón P1 và P2 đều có chỉ số LAI thấp nhất là 0,04 Do đó, chỉ số diện tích lá cao nhất trong giai đoạn này thuộc về yếu tố thời gian bón T2.
Trong giai đoạn cây ra hoa, chỉ số LAI đã có sự thay đổi so với thời kỳ cây con Dữ liệu từ bảng 4.12 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các yếu tố Phân bón P2 và thời gian bón T2 có chỉ số lớn nhất là 0,12, tiếp theo là thời gian bón T3 với chỉ số 0,11 Phân bón P1 cũng được đề cập trong nghiên cứu này.
Chỉ số LAI ở thời gian bón T1 là 0,09 cho cả hai yếu tố, trong đó phân bón P2 và thời gian bón P2 có chỉ số LAI lớn nhất.
Trong giai đoạn cây cho thu hoạch, chỉ số LAI cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa Thời gian T3 có chỉ số LAI cao nhất là 1,71, tiếp theo là thời gian T2 với chỉ số LAI 1,65, và thấp nhất là thời gian bón T1 với chỉ số LAI 1,52 Do đó, chỉ số LAI lớn nhất trong giai đoạn này thuộc về yếu tố thời gian T3.
4.3.2.2 Ảnh hưởng tương tác của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến diện tích lá (LAI) của cây cà pháo đƣợc trình bày tại bảng 4.13
Bảng 4 13 Ảnh hưởng tương tác của phân hữu cơ và thời gian bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
Yếu tố thí nghiệm Cây con Cây ra hoa Thu hoạch
Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo
4.4.1 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân hữu cơ và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo được thể hiện trong bảng 4.18.
Bảng 4 18 Ảnh hưởng riêng rẽ của phân bón hữu cờ và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất cảu cây cà pháo
Yếu tố thí nghiệm Số quả/cây
Khối lƣợng trung bình quả (g)
Năng suất cá thể (g/cây)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Năng suất thực thu (tấn/ha)
Loại phân bón hữu cơ (P)
Thời gian bón phân hữu cơ (T)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng số liệu 4.18 chúng ta thấy:
Theo bảng 4.18, số quả trên một cây có sự sai khác có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% Thời gian bón T2 cho thấy số quả cao nhất đạt 7,70.
Số quả thu được trên một cây cao nhất là 64 quả, thuộc về yếu tố thí nghiệm T2 Yếu tố phân bón P2 đạt 6,82 quả, trong khi yếu tố T3 có số quả thấp nhất là 5,73 quả.
Khối lượng trung bình của quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%, với yếu tố T3 có khối lượng lớn nhất là 11,36 g, tiếp theo là yếu tố T1 với 11,33 g Yếu tố T2 có khối lượng quả trung bình thấp nhất là 10,37 g Do đó, khối lượng trung bình quả cao nhất thuộc về yếu tố thời gian bón T3.
Năng suất cá thể của các yếu tố có sự khác biệt đáng kể với độ tin cậy 95% Yếu tố thời gian bón T2 đạt khối lượng cao nhất là 79,53 g, tiếp theo là yếu tố P2 với 74,02 g, trong khi yếu tố T3 có khối lượng thấp nhất là 64,80 g Do đó, yếu tố thời gian bón T2 mang lại năng suất cá thể lớn nhất.
Năng suất lý thuyết được tính toán từ các yếu tố, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% Trong đó, yếu tố thời gian bón T2 đạt năng suất cao nhất với 2,23 tấn trên 1 ha, tiếp theo là yếu tố P2 với 2,07 tấn trên 1 ha Ngược lại, yếu tố thời gian bón T3 có năng suất thấp nhất, chỉ đạt 1,81 tấn trên 1 ha Do đó, năng suất lý thuyết lớn nhất thuộc về yếu tố thí nghiệm thời gian bón T2.
Năng suất thực thu của các yếu tố trong nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 95% Cụ thể, yếu tố thời gian bón T2 đạt năng suất cao nhất với 1,84 tấn trên 1 ha, tiếp theo là yếu tố P2 với 1,67 tấn trên 1 ha, trong khi yếu tố T3 có năng suất thấp nhất là 1,49 tấn trên 1 ha Do đó, yếu tố thí nghiệm T2 mang lại năng suất thực thu lớn nhất.
4.4.2 Ảnh hưởng tương tác của phân hữu cơ và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo được thể hiện trong bảng 4.19.
Bảng 4 19 Ảnh hưởng tương tác của phân bón và thời gian bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà pháo
Yếu tố thí nghiệm Số quả/cây
Khối lƣợng trung bình quả (g)
Năng suất cá thể (g/cây)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Năng suất thực thu (tấn/ha)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng số liệu 4.19 chúng ta thấy:
Số liệu về số quả trên một cây cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức Công thức P2T2 đạt số quả cao nhất với 8 quả trên một cây, tiếp theo là công thức P1T2 với 7,4 quả Ngược lại, công thức P2T3 có số quả thấp nhất, chỉ đạt 5,67 quả Như vậy, công thức P2T2 là công thức cho số quả trên một cây nhiều nhất.
Trọng lƣợng trung bình quả: Khối lƣợng trung bình của quả các công thức
Công thức P2T3 đạt khối lượng quả lớn nhất là 11,45 g, trong khi công thức P1T1 đứng thứ hai với khối lượng 11,34 g Ngược lại, công thức P2T2 có khối lượng quả nhỏ nhất là 10,11 g Như vậy, công thức P2T3 không chỉ có khối lượng lớn nhất mà còn cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%.
Năng suất cá thể được xác định qua khối lượng quả thu được trên một cây, với sự khác biệt có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức Công thức P2T2 đạt khối lượng quả lớn nhất là 80,76 g, tiếp theo là công thức P1T2 với khối lượng 78,3 g Ngược lại, công thức P2T3 có năng suất cá thể thấp nhất, chỉ đạt 64,39 g Do đó, công thức P2T2 là công thức mang lại năng suất cá thể cao nhất.
Năng suất lý thuyết được tính toán dựa trên các số liệu thu thập, cho thấy rằng các công thức đều có sự sai khác đáng kể, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá độ tin cậy.
Công thức P2T2 đạt năng suất lý thuyết cao nhất với 2,26 tấn trên 1 ha, trong khi công thức P1T2 đứng thứ hai với 2,19 tấn trên 1 ha Ngược lại, công thức P2T3 có năng suất lý thuyết thấp nhất, chỉ đạt 1,8 tấn trên 1 ha Do đó, công thức P2T2 là lựa chọn tối ưu với năng suất lý thuyết lớn nhất.
Ảnh hưởng của phân hữu cơ và thời gian bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên cây cà pháo
Sâu bệnh hại là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và chất lượng sản phẩm, có thể làm giảm năng suất từ 10% đến 40%.
Cà pháo, một loại cây họ Cà lâu đời, được trồng chủ yếu để lấy quả làm rau ăn và có thể chịu thiệt hại lên đến 100% trong những năm dịch bệnh nặng Trong quá trình thí nghiệm, chúng tôi đã theo dõi và đánh giá sự xuất hiện của một số loại sâu bệnh hại chính như sâu đục quả, sâu ăn lá, bọ chích hút và lỡ cổ rễ Kết quả chi tiết được thể hiện qua bảng 4.20.
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây cà pháo được thể hiện trong bảng 4.11.
Bảng 4 20 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Mức độ nhiễm sâu hại, bệnh hại
Bênh khảm lá (Mức độ xoăn lá 1-4) Sâu ăn lá (%) Sâu đục quả (%)
Các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một cột của yếu tố thí nghiệm cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Qua bảng số liệu 4.20 chúng ta thấy:
Tỷ lệ sâu hại và bệnh hại trên cây cà pháo qua các công thức thí nghiệm không cao
Bệnh khảm lá: Do virus là loại bệnh hại nguy hiển trên các loại cây trồng
Bệnh lây nhiễm vào cây khỏe thông qua côn trùng veco hoặc lây lan qua đất, tàn dư thực vật, cỏ dại, công cụ lao động và tay người làm, tùy thuộc vào loại virus Mức độ bệnh xoăn lá ở các công thức đều tương tự, với mức độ nhẹ từ 20-40% cây mắc bệnh.
Sâu ăn lá gây hại bằng cách tạo ra những đường hầm ngoằn ngoèo dưới biểu bì lá, làm giảm diện tích quang hợp Khi phát triển, dòi sẽ đục thủng biểu bì và chui ra ngoài để làm nhộng, thường xảy ra vào đầu mùa khô khi cây đã có lá bánh tẻ Theo số liệu, công thức P2T2 có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp nhất là 16%, trong khi công thức P2T1 có tỷ lệ cao nhất là 30%.
Sâu đục quả gây hại cho búp, lá non và nụ hoa, sau đó xâm nhập vào quả từ cuống Các lá và chùm hoa bị sâu ăn có thể gãy, trong khi những quả mới hình thành thường bị rụng Những quả lớn hơn có thể bị thủng và thối Một sâu non có khả năng di chuyển và đục nhiều quả khác nhau Theo bảng 4.11, tỷ lệ mắc bệnh sâu đục quả giữa các công thức khác nhau cho thấy công thức P1T1, P1T2, P1T3 và P2T2 có mức độ sâu bệnh thấp nhất, đều là 2% Ngược lại, công thức P2T3 có mức độ sâu đục quả nặng nhất, lên tới 12%.