Từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng vì thế, biến đổi văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội diễn ra như một điều tất yếu của sự phát triển. Biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống Hà Nội không chỉ tác động đến cơ cấu tổ chức, diện mạo làng nghề, quy trình sản xuất, mẫu mã, hình thức, chất lượng sản phẩm, phong tục tập quán…. của mỗi làng nghề mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội và cả nước trong quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) hiện nay. Xu hướng biến đổi trên thực sự là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu kịp thời để đưa ra những căn cứ khoa học, những giải pháp phù hợp, giúp các nhà hoạch định chính sách có những quyết sách hợp lý, vừa gìn giữ, vừa phát huy được giá trị văn hóa truyền thống của các làng nghề. , số 33, Hội nghị lần thứ 9 BCHTW Đảng khóa XI , con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Trong đó các làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn, nông ngh , vì phát triển làng nghề truyền thống tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng, phong phú, góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, tạo việc làm, cải thiện đời sống dân cư nông thôn, tăng tích lũy, giảm di dân tự do, chuẩn bị cho đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp, tạo cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp hiện đại, phát n làng nghề truyền thống còn góp phần bảo tồn và gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa là
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, nềnkinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Cũng vì thế, biến đổi văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội diễn ra như mộtđiều tất yếu của sự phát triển Biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống HàNội không chỉ tác động đến cơ cấu tổ chức, diện mạo làng nghề, quy trình sảnxuất, mẫu mã, hình thức, chất lượng sản phẩm, phong tục tập quán… của mỗilàng nghề mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội
và cả nước trong quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) hiệnnay Xu hướng biến đổi trên thực sự là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứukịp thời để đưa ra những căn cứ khoa học, những giải pháp phù hợp, giúp cácnhà hoạch định chính sách có những quyết sách hợp lý, vừa gìn giữ, vừa pháthuy được giá trị văn hóa truyền thống của các làng nghề
,
số 33, Hội nghị lần thứ 9 BCHTWĐảng khóa XI , con người Việt Nam đáp ứngyêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong đó các làng nghề truyền thống đóngvai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn, nông ngh , vìphát triển làng nghề truyền thống tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng, phongphú, góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, tạo việc làm, cải thiện đời sống dân cưnông thôn, tăng tích lũy, giảm di dân tự do, chuẩn bị cho đội ngũ lao động cókhả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp, tạo cơ sở vệ tinh cho cácdoanh nghiệp hiện đại, phát n làng nghề truyền thống còn góp phần bảo tồn
và gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề
Hà Nội cho đến nay chưa nhiều, mới chỉ có một số công trìnhnghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề vùng châu thổ sông Hồng, qua nghiên
Trang 2cứu một số làng ở Hà Tây (cũ), Thái Bình, Hà Nội, mà chưa có công trình
nghiên cứu sâu, riêng biệt về sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội
hiện nay, đặc biệt là vai trò chủ thể của cư dân làng nghề trong sự biến đổi đó
Vì vậy, nghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội nóichung và hai làng nghề dệt Triều Khúc (huyện Thanh Trì), đồ gỗ mỹ nghệ ThiếtÚng (huyện Đông Anh) nói riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn đáp ứngnhu cầu cấp bách của thực tiễn trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa các làngnghề truyền thống ở nước ta hiện nay trước yêu cầu CNH, HĐH và toàn cầu hóa
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS) thấy việc nghiên cứu đề
tài “Sự biến đổi văn hóa làng nghề ng ở Hà Nội hiện nay” (Qua trường hợp làng Triều Khúc và Thiết Úng) là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn trong bối cảnh đổi mới của xã hội
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong tổng số hơn 750 tài liệu trong nước và nước ngoài nghiên cứu về
Hà Nội, có hơn 100 tài liệu nghiên cứu về làng nghề, phố nghề, văn hóa làngnghề Hà Nội từ trước giai đoạn đổi mới (năm 1986) đến hiện nay, chưa có côngtrình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về biến đổi văn hóa làng nghề truyền
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
.1 Mục đích 3
Trên cơ sở trình bày một số khái niệm cơ bảnNCS phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của văn hóa làng nghềtruyền thống trên địa bàn Hà Nội,
Trang 3- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyềnthống Hà Nội
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
.1 Đối tượng nghiên cứu 4
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến đổi của văn hóa làng nghềtruyền thống của thành phố Hà Nội qua khảo sát làng Triều Khúc (xã TânTriều, huyện Thanh Trì) và Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh)
- Làng nghề Thiết Úng xưa sản xuất sản phẩm đáp ứng nhucầu sinh hoạt vật chất, nhiều thợ giỏi được triều đình trưng dụng vào thành làmđền đài, lăng tẩm, nay sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xãhội, nhu cầu tâm linh Về không gian, làng Thiết Úng nằm ở vùng ngoại thành
và có quan hệ với những làng nghề truyền thố
p
Trang 4?
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu
từ năm 2000năm 2000, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng tr
Hà Nội , dẫn đến sự biến đổi về mọitruyền thống Hà Nội
mặt của
4
-.3 Câu hỏi nghiên cứu
Văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nayVai trò của chủ thể văn hóa trong sự biến đổi đó ra sao?
như thế nào?-
- Vấn đề gì đặt ra đối với làng nghề truyền thống trước sự biến đổi hôm nay?Luận án nghiên cứu đời sống thực tiễn văn hóa làng nghề truyền thống hailàng Triều Khúc, Thiết Úng và đối chiếu với một số làng nghề khác để trả lờinhững vấn đề trên
luận 5
Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận sau:
Triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và
ý thức xã hội; giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra: sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác độngmạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của những hoạt động thực tiễn của con
Trang 5người, mà trước hết là do sự biến đổi lực lượng sản xuất của xã hội quy định.Dựa trên nền tảng của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồntại xã hội và ý thức xã hội, ta nhận thấy việc biến đổi phương thức sản xuất sẽkéo theo hàng loạt các biến đổi khác Do vậy, văn hóa làng nghề
biến đổi cũng là hệ quả tất yếu của sự biến đổi về phương thức sản xuất, công cụsản xuất Việc biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trong xã hội hiện nay còn
do ý thức chủ quan của con người, đặc biệt tính năng động, nhạy bén của ngườithợ thủ công Vì vậy, cần phân tích để thấy được mối quan hệ biện chứng trênthông qua vai trò của người lao động - người thợ thủ công vừa là chủ thể của vănhóa làng nghề truyền thống, vừa là bộ phận cơ bản của lực lượng sản xuất ở làngnghề truyền thống, vừa là sản phẩm của văn hóa làng nghề truyền thống
Quan điểm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định:
“toàn bộ những sáng tạo và phát minh” của con người ra “những công cụ chosinh hoạt hàng ngày” và “các phương thức sử dụng chúng cho ăn, mặc, ở” tronglĩnh vực văn hóa sản xuất vật chất mà còn khẳng định năng lực “thích ứng” với
“những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” là động lực của sự biến đổivăn hóa sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội [30, tr.431]
L văn hóa học của A.A.Radughin về văn hóa
cho việc nghiên cứu đề tài, trong đó có những phân tích khá rõ
vật chất trước hết là “những phương tiện đa dạng của sảnrằng: văn hóa
xuất vật chất (là những công cụ lao động)”; l “ ”, “ ”,
“văn minh” , nói cách khác là “văn hóa công nghệ ” Khôngnhững thế, văn hóa sản xuất vật chất còn chứa đựng các giá trị nhân văn, nhânđạo: “Văn hóa học nghiên cứu văn hóa sản xuất từ góc độ, mức độ hoàn thiệncủa nó về mặt nhân văn hoặc nhân đạo”, còn “trên quan điểm kinh tế thì sản xuấtvật chất được nghiên cứu từ góc độ kỹ thuật, tức là hiệu quả của nó, hệ số sửdụng của nó, giá thành, mức độ lợi nhuận” [3, tr.112] Tham chiếu vào văn hóalàng nghề truyền thống Hà Nội, lý thuyết của A.A
khái quát những vấn đề nghiên cứu, như những phương tiện, công cụ, máy móc
Trang 6nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Biến đổi văn hóa ngàynay được coi là vấn đề mang tính toàn cầu, việc biến đổi diễn ra ở nhiều chiều vànhiều cấp độ khác nhau, như biến đổi niềm tin, tôn giáo, tín ngưỡng, biến đổivăn hóa xã hội, biến đổi văn hóa nghệ thuật… Toàn cầu hóa, hiện đại hóa lànhững nhân tố tác động và ảnh hưởng lớn đến quá trình biến đổi văn hóa ở tất cảcác quốc gia, các cộng đồng xã hội, đặc biệt là trong xã hội nông nghiệp nhưViệt Nam hiện nay Những biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội diễn
ra trên mọi mặt của đời sống cộng đồng, từ sản xuất vật chất đến tổ chức đờisống xã hội và sinh hoạt tinh thần của con người
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng nghề đem lại hiệuquả, việc áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, dựa vào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhànước về phát triển văn hóa là việc làm cần thiết Bên cạnh đó, kết hợp sử dụngphương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp, phươngpháp điều tra xã hội học, phương pháp điền dã, tham dự của nhân học văn hóa
- Phương pháp liên/ đa ngành
Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội là sự thuthập, tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngànhnhư nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, sửhọc… Cho nên, các thao tác nghiên cứu của luận án được thực hiện thông qua sựkết hợp linh hoạt các phương pháp trên Sử dụng phương pháp liên/đa ngành vào
đề tài luận án, giúp cho việc khai thác và xử lý hiệu quả các nguồn tư liệu khácnhau trong vấn đề nghiên cứu
Trang 7- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để , liênquan đến vấn đề nghiên cứu, nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trongbiến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống Từ đó đưa ra những nhận địnhlàm rõ biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống
- Phương pháp điều tra xã hội học
NCS xây dựng và sử dụng 145 bảng hỏi anket khảo sát làng Triều Khúc,
182 bảng hỏi anket khảo sát làng Thiết Úng, 20 phiếu phỏng vấn sâu nhữngngười thợ, cán bộ, nhân viên UBND xã Tân Triều và Vân Hà về 5 nội dung liênquan đến biến đổi văn hóa làng nghề để có kết quả và thông tin khách quan
NCSgiữa
nghề truyền thống
- Phương pháp thống kê, so sánh
Sử dụng phương pháp này để thu thập các số liệu thống kê
sau đó khái quát lại các vấn đề nghiên cứukhách quan về những biến đổi văn hóa hai làng
Phương pháp chuyên gia
Trên cơ sở nội dung của luận án, NCScác chuyên gia, những người am hiểu về làng nghề, thu thập, bổ sungđược nhiều ý tưởng, thông tin mới
,
-5.3 Các thao tác nghiên cứu
- Khảo sát thực tế: Thực hiện những chuyến đi điền dã, NCS trực tiếp
tham dự vào cuộc sống, sinh hoạt, lao động sản xuất, lễ hội… của các làng nghềtruyền thống, từ đó thu thập được những thông
cho luận án
Trang 8
- Ghi hình, chụp ảnh, ghi âm: Trong quá trình khảo sát thực tế, NCS thực
hiện công việc ghi hình, chụp ảnh, ghi âm Đây là việc làm hết sức cần thiết đểghi lại một cách khách quan, trung thực về cảnh quan, di tích, nhà ở, quy mô,quy trình sản xuất, quan hệ bạn hàng, phường thợ, quan hệ gia đình của ngườidân làng nghề để làm tư liệu nghiên cứu cho đề tài luận án
ở các làng nghề đối với việc bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thốngtrong sự biến đổi của chúng hiện nay
- Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nhữnghọc viên, sinh viên chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, kinh tế học nghiêncứu những vấn đề về biến đổi văn hóa, về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế,vấn đề ngoài lĩnh vực văn hóa đối với sự phát triển hiện nay
Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nộidung của luận án được kết cấu thành 4 chương,
7
Trang 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Từ xưa đến nay Hà Nội được mệnh danh là vùng “đất trăm nghề”, các sảnphẩm thủ công qua bàn tay người thợ tài hoa đã làm nên một nét riêng biệt, độcđáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Điều đó mang lại sức hấp dẫn, cuốn hútcho các nhà nghiên cứu trong nước và d
nước ngoài từ nhiều thế kỷ trước
lịch sử, các công trình, sách, vở, bài viết củacác tác giả về nghề, làng nghề rất phong phú, đa dạng Riêng bài viết về văn hóalàng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nóiriêng trong thời gian từ khi đổi mới đến nay đã được các tác giả dành một vị trínhất định để có những phân tích mang tính cụ thể hơn cùng với sự đổi thay vàphát triển của xã hội Công trình nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làngnghề, biến đổi văn hóa làng nghề Hà Nội hơn 100 tài liệu, nhưngcũng đặt ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu những vấn đề trên, đặc biệt làtrong điều kiện đổi mới hiện nay Nghiên cứu về tài liệu, công trình khoa họctrên, NCS kế thừa và tiếp thu những kiến thức quý giá mà các học giả đã dàycông tìm hiểu Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu của các tác giả,
dung đã được trình bày, NCS chia làm 3 nhóm tài liệu có liên quan đến luận án:
.1.1 Nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề Hà Nội
những nội
1
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời nhà Trần, vào năm 1230, kinh đô
Thăng Long được mở rộng thêm, khu vực người dân ở được chia thành 61phường
Một số làng ven đô đã hình thành các làng thủ công, trong đó có làng gốm BátTràng Đến năm 1274, có khá nhiều thương nhân đến buôn bán và
được nhà Trần cho mở chợ, lập phố buôn bán Chính sách trên của nhà Trần đãtạo cơ hội cho các nghề thủ công có điều kiện thuận lợi để trao đổi và mua bánhàng hóa [43]
Trang 10, cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết, dân cư ở 36 phường
làm ăn, buôn bán nhộn nhịp, đặc biệt là những phường thủ công Trong 36phường đó, thợ thủ công và nhà buôn chia nhau ở các phường tùy theo tính chấtnghề nghiệp cụ thể Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi viết về điều kiện tự nhiên, vị tríđịa lý, sản vật, nghề thủ công, trong đó có nghề dệt lụa ở Hà Đông, nghề dệt vảilụa phượng ở Thụy Chương, nghề làm giấy dó ở Yên Thái, nghề làm võng lọng,
áo giáp, gấm triều ở phường Tàng Kiếm (Hàng Trống)
Tuyển tập tư liệu phương Tây là một cuốn sách được Nguyễn Thừa Hỷ
tổng hợp Mặc dù những tư liệu trong tuyển tập
, nhưng đây là nguồn tư liệu có thể tham khảo chonhiều nhà nghiên cứu sau này [35] Với NCS, khi nghiên cứu về làng nghề thủcông truyền thống cũng đã kế thừa và tham khảo được một số bài viết trong cuốnsách, đó là:
Paul Bourde - phóng viên tờ “Le tempt” viết về chợ phố Hà Nội năm 1884
trong chương XII với tựa đề Les industries indig e (Các ngành kỹ nghệ bản xứ) trong cuốn sách De Paris au Tonkin (Từ Paris đến Bắc Kỳ) Với cái nhìn khá
toàn diện, Paul Bourde viết khá kỹ về các chợ phiên tại Hà Nội, về những ngườithợ thủ công ở các vùng lân cận mang các sản phẩm mỹ nghệ thủ công vào cácphố chuyên bán từng mặt hàng, như phố Hàng Đồng chuyên bán cuốc xẻng, đồđồng; phố Hàng Tơ (Hàng Đào) chuyên bán đồ tơ lụa Tác giả đánh giá nghệthuật chạm khắc của người dân Bắc Kỳ vào loại tài nghệ độc đáo qua các tácphẩm chạm khắc ở chùa Khổ Hình (Hà Nội) [35]
Là bạn của Paul Bourde, Paul Bonnetain - với tư cách là phóng viên báo
“Le Figaro” có thời gian ở Hà Nội lâu hơn Paul Bourde, khi về Pháp, PaulBonnetain ập hợp các bài ông đã viết về Hà Nội, về Bắc Kỳ và tổng hợp lại
trong cuốn Au Tonkin (Ở Bắc Kỳ) Trong chương XI, XII của tập 2, Paul
Bonnetain có viết về khu phố buôn bán, nghệ thuật của người An Nam ở
Hà Nội Tác giả mô tả sự kiên nhẫn, tỷ mỷ của những người thợ thủ công với sựkiên trì, miệt mài và khéo léo để làm ra nhiều sản phẩm đẹp đẽ mà không cần đo
Trang 11Nony ấn hành ở Paris cuốn L’Indochine Francaise souvenirs (Xứ đông Pháp
-Những kỷ niệm) Trong cuốn sách có nhiều trích đoạn Paul Doumer viết về cácphố nghề Hà Nội, về mỹ nghệ thủ công Nhiều đoạn viết trong cuốn sách đượcông miêu tả khá kỹ về những người thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ thêu, thợchạm khắc… Bắc Kỳ khéo léo, cần cù, chăm chỉ, có nghệ thuật thẩm mỹ cao.Paul Doumer cho rằng những sản phẩm thêu của người thợ Bắc Kỳ tốt và cẩnthận hơn những sản phẩm thêu của người Nhật Bản và Trung Quốc Đặc biệt,Paul Doumer còn có sự so sánh về những sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của người
An Nam, trong đó ông nhận định rằng những người thợ khảm xà cừ An Nam,nhiều người thợ giỏi hầu hết ở Hà Nội và Nam Định [35]
ách Introduction générale à l’étude de la technologie du peuple Annamite Essai sur la vie matériele, les arts
et les industries du peupele Annamite (Nhập môn nghiên cứu kỹ thuật của người
An Nam Tiểu luận về đời sống vật chất, mỹ nghệ kỹ nghệ của dân tộc AnNam) (1909) của Henri Oger Mặc dù được điều từ Pháp sang Việt Nam để làmviệc cho chính quyền Pháp, nhưng Henri Oger đã say mê và có những nghiêncứu khá sâu về nền văn hóa truyền thống của người Việt Nam, về nghề thủ côngtruyền thống của nhân dân Hà Nội Henri Oger đã cùng một số thợ chạm khắc gỗViệt Nam đi khắp 36 phố phường Hà Nội, ra cả vùng ngoại thành để phác họahình ảnh đời sống của người dân Hà thành Trong , Henri Oger đã
Trang 12phản ánh rõ nét và sinh động mọi mặt của đời sống văn hóa người dân Hà Nộihơn 100 năm trước [35]
Bài Hà Nội những năm 1886 - 1887 Paulin Vial được in trong
cuốn hồi ký Nos premières annés au Tonkin (Những năm đầu tiên của chúng tôi
ở Bắc Kỳ) khá sâu sắc khi ông nghĩ đến một kế hoạch:
Sửa sang lại đường phố Hà Nội cho thẳng hàng, trong sạch, thoángkhí và sáng sủa mà không phá hủy đi những di tích thú vị nhất của quákhứ, không dồn ra xa đám dân chúng làm nghề thủ công và buôn bán,
đã làm nên sự giàu có của thành phố [35, tr.558]
Paulin Vial có những tìm hiểu khá kỹ các ngành nghề, phố nghề Hà Nội,ông viết trong hồi ký của mình về sự khéo léo, kiên trì và một nghệ thuật khôngthể bắt chước được của những người thợ thủ công ở các làng nghề khảm, thêu,đúc đồng, mộc, rèn như sau: Thật không thể tưởng tượng được rằng người ta lại
có thể làm được nhiều đồ vật xinh đẹp đến như thế mà lại bằng những phươngtiện hết sức thô sơ [35, tr.561]
Nghiên c
(Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) của Piere Gourou (1936), ngoài việc phân
Le paysan du delta Tonkinois
ngành nghề truyền thống của người dân châu thổ Bắc Kỳ, tính thụ động của họ
và một số nghề mới được du nhập từ phương Tây sang Sau này, nhiều nhànghiên cứu Việt Nam đã sử dụng cuốn sách của Piere Gourou làm nguồn tài liệutham khảo không thể thiếu cho nhiều bài viết, công trình khoa học [78]
Bài thuyết trình Hà Nội thời người Bồ Đào Nha và Hà Lan
- Section des Amis du Vieux Ha Noi), sau đó được chỉnh lý và in trong
chương XII cuốn sách Pour le comprehension de l’Indochine et de l’Occident
(Để tìm hiểu Đông Dương và phương Tây) đã dẫn lại nhận xét của Paul Bourde
về khu phố buôn bán ở Hà Nội vào những ngày chợ phiên vô cùng náo nhiệt:
Trang 1313Những thương nhân và thợ thủ công đủ mọi loại đến từ các
[35, tr.79]
Nghiên cứu về người nông dân Bắc Bộ nói riêng (trong đó có thợ thủ công)
và Đông Nam Á nói chung còn có hai nhà nhân học là Scotte C Jame và Samuel L.Popkin đã dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu về tính duy lý hay duy tình
của người nông dân Việt Nam Năm 1976, Scotte C Jame xuất bản cuốn The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia (Kinh tế đạo
lý của nông dân: nổi dậy và sinh tồn ở Đông Nam Á) [140] Sau đó 3 năm, vào năm
1979 Samuel L Popkin giới thiệu đến bạn đọc cuốn: The Rational Peasant: The Political Economy of Rural Society in Vietnam (Người nông dân hợp lý - Kinh tế
học chính trị về xã hội nông thôn Việt Nam) [139] Đây là hai nhà nhân học đầutiên khởi xướng nghiên cứu về tính duy lý hay duy tình của người nông dân ViệtNam Trong công trình của mình, hai ông nói về tính thụ động của người nông dân
Bắc Bộ còn chậm chạp trước những đổi thay của xã hội, trong đó có nói đến tính trì trệ thụ động của người thợ thủ công )
Sách Những nghề thủ công truyền thống gia đình ở tỉnh Hà Đông của Hoàng
Trọng Phu không đi sâu vào từng nghề, mỗi nghề chỉ giới thiệu rất khái quát, ngắngọn, nhưng đã hệ thống được các nghề thủ công tỉnh Hà Đông Đặc biệt, riêng vềnghề thủ công ở làng Triều Khúc, Hoàng Trọng Phu giới thiệu 15 nghề chính củalàng, trong đó có nói đến nghề dệt thao đã được dân làng không ngừng giữ gìn, sángtạo và trao truyền cho các thế hệ con cháu Đây là cuốn sách được nhiều nhà nghiêncứu về thủ công Việt Nam sau này tìm đọc và coi như một nguồn tài liệu quý [70]
Sách Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam của Phan Gia
Bền dày gần 200 trang đưa ra một số khái niệm về nghề thủ công và thợ thủcông Cùng với hai cuốn sách của Hoàng Trọng Phu và Piere Gourou, cuốn sáchtrên của Phan Gia Bền thực sự là nguồn tư liệu quý giúp cho việc nghiên cứu vềnghề thủ công ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng [5]
Trang 14Đầu những năm 1990, thời kỳ địa giới hành chính Hà Nội được mở rộngthêm, một số huyện Ba Vì, Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức, Thạch Thất, thị
xã Sơn Tây, Mê Linh nhập vào Hà Nội Ngay sau đó, năm 1991 Sở Văn hóa
Thông tin Hà Nội chủ trì nghiên cứu, xuất bản công trình Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Hà Nội Đây là công trình được các nhà khoa học nghiên cứu
khá kỹ không chỉ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, mà các tác giả còn dànhhẳn một chương để viết về các nghề thủ công và mỹ nghệ dân gian, một chươngviết về kiến trúc và điêu khắc của Hà Nội
Cùng với công trình Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Hà Nội, năm
1994 Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội xuất bản cuốn Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội tập hợp nghiên cứu của nhiều tác giả viết cho các đề tài khoa học
cấp thành phố, trong đó có những bài viết về phố nghề, làng nghề, các nghề thủcông mỹ nghệ, được một số nhà nghiên cứu phân tích và đánh giá khá cao về giátrị, đóng góp của chúng trong tiến trình lịch sử phát triển của Hà Nội [129]
Sách Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - xã hội của Phan Đại Doãn
viết về sự phát triển của nghề thủ công ở Việt Nam Đặc biệt từ thời kỳ Lý Thái
Tổ dời đô về thành Thăng Long, kinh thành dần được mở rộng ra ngoài hoàngthành, nhiều phường hội thủ công được thành lập, thợ từ nơi khác về ThăngLong làm ăn, sinh sống [14]
Sách Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945 của Vũ Huy Phúc [72],
của Lưu Thị Tuyết Vân, Tiểu thủ công nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng (1954 - 1994) đã xuyên suốt cả một chặngđường lịch sử của làng nghề thủ công từ năm 1858 khi Pháp nổ súng vào cửabiển Đà Nẵng đến những năm cuối của thế kỷ XX [120]
Cuốn Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề [128] và cuốn Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội của GS.Trần Quốc Vượng và
PGS.TS Đỗ Thị Hảo giới thiệu một cách khái quát, nhưng cũng tương đối đầy
đủ về nghề thủ công Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Tác giả chỉ rarằng, ban đầu nghề thủ công ở các làng quê chỉ là nghề phụ, người dân thường
Trang 15làm trong những lúc nông nhàn, để phục vụ cho nhu cầu của mỗi gia đình tronglàng, còn nghề trồng trọt, chăn nuôi vẫn là chính Tuy nhiên, do xã hội phát triển,nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng gia tăng, sản phẩm thủ công do nhữngngười thợ làm ra được mang đi trao đổi với người dân ở khắp các vùng miền gần
xa trong cả nước, dần dần tạo nên các làng nghề thủ công chuyên nghiệp như:Làng đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội), làng Khảm trai Chuyên Mỹ (Hà Nội)…
Đặc biệt, cuốn sách nói đến những thăng trầm, thay đổi của nghề thủ côngtrong các giai đoạn lịch sử của đất nước Không chỉ n
phong kiến, nghề thủ công có lúc thịnh, lúc suy; cuốn sách còn nêu lênthời gian đất nước bị thực dân Pháp đô hộ trong gần một thế kỷ, là thời
bị kìm hãm và hạn chế Mặc dù chính phủ
có những chính sách khuyến khích các làng nghề phát triển, nhưng do nước Pháp
bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 khiến nghề thủcông Việt Nam bị suy thoái, các nghề mây tre đan, nghề mộc, nghề dệt… rất khó
có thị trường để tiêu thụ, đi đến chỗ khó khăn, ngừng trệ Tuy nhiên, người ViệtNam với sự thông minh, sáng tạo, đã chuyển từ mặt hàng này sang mặt hàngkhác để thích ứng với sự biển đổi của các giai đoạn lịch sử [130]
Cuốn sách Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Dương Bá Phượng đã nêu lên những nguyên nhân tạo
ra sự thay đổi của các làng nghề thủ công, về tiềm năng phát triển, cũng như một
số phương hướng trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề Việt Nam [77]
Bên cạnh đó, các tác giả như Bùi Văn Vượng với Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam [126], nhà nghiên cứu Lâm Bá Nam cùng hàng chục công
trình nghiên cứu về làng nghề đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về quy trình sản xuấtcác sản phẩm thủ công, vai trò của làng nghề truyền thống Việt Nam nói chung
và Hà Nội nói riêng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân bản địa và tácđộng của quá trình đổi mới đối với các làng nghề [58], [59], [60]
Sách Hà Nội như tôi hiểu của G.S Trần Quốc Vượng được xuất bản năm
2005 những nghiên cứu công phu của tác giả về lịch sử hình
Trang 16thành, quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội, về nghề thủ công và cáclàng nghề, phố nghề Hà Nội [131]
Để chuẩn bị sự kiện cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, trong
“Tủ sách Thăng Long 1000 năm” có nhiều sách, công trình khoa học nghiên cứu
về làng nghề và những biến đổi của văn hóa làng nghề, trong đó phải kể đến các
công trình: Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển do
Vũ Quốc Tuấn chủ biên [110] Hai công trình nằm trong Chương trình khoa học
cấp Nhà nước KX.09 là công trình Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội do Nguyễn Chí Bền chủ biên [6] và công trình Bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội do Võ Quang
Bài viết của Huy Anh đăng trên Báo điện tử VGP News Hà Nội - không
để mai một nghề truyền thống khẳng định tầm quan trọng của làng nghề thủ công
truyền thống Hà Nội hiện nay Tác giả nhấn mạnh: bên cạnh việc đóng góp cho
sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước; làng nghề còn là nơibảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống quý giá từ lâu đời
mà bao thế hệ cha ông đã dày công tạo dựng Huy Anh nêu lên chính sách củanhà nước trong thời gian qua đã giúp các làng nghề Hà Nội phát triển một cáchbền vững hơn
Trang 17Đặc biệt, với Tổng tập Nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam do
PGS.TS Trương Minh Hằng chủ biên bao gồm 6 tập đã tổng hợp rất nhiều bài
Mỗi tập được phân chia khá chi tiết Về nghề mộc, tập 3 trong Tổng tậpnêu, mặc dù xuất hiện sớm, nhưng vào khoảng thế kỷ XIV, XV các làng nghềmộc ở châu thổ sông Hồng mới dần hình thành và nằm rải rác ở nhiều nơi, trênkhắp mọi vùng miền của đất nước đều có các làng nghề mộc, như xứ Đoài cólàng mộc Chàng Sơn, làng mộc Sơn Đồng, Dư Dụ (nay thuộc các huyện ThạchThất, Hoài Đức, thành phố Hà Nội); xứ Bắc có làng mộc Phù Khê, Đồng Kỵ(nay thuộc Bắc Ninh), Thiết Úng (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội); xứ Nam
có làng mộc La Xuyên (Nam Định), làng mộc Cao Đà (Hà Nam), xứ Đông cólàng mộc Cúc Bồ (Hải Dương), làng mộc Hà Cầu (Hải Phòng)… Tuy nhiên, cáctác giả cũng nhận định, do lịch sử nghề mộc không được các nhà ghi chép lịch sửbiên chép cẩn thận, nên cho đến nay các công trình nghiên cứu về nghề và làngnghề mộc chưa nhiều và chưa thực sự đầy đủ [26]
Về nghề dệt, tập 5 trong tổng tập cho thấy, nghề dệt xuất hiện từ thờiHùng Vương, điều đó chứng minh qua một số công cụ dệt làm từ chất liệu gốm(di chỉ gò Cây Táo, Thanh Trì, Hà Nội) giúp các nhà nghiên cứu xác định chínhxác đây là thời kỳ mà người Việt cổ đã biết dệt và dùng sản phẩm dệt để làmthành trang phục cho mình Các tác giả khẳng định, cùng với nghề đúc đồng, đanlát, chế tác vàng bạc…, nghề dệt là một trong những nghề thủ công quan trọngcủa nước ta
1.1.2 Nghiên cứu về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa làng, biến đổi văn hóa làng nghề thời kỳ đổi mới
Sách Tổng quan về các làng nghề Hà Nội của G.S Trần Quốc Vượng viết
về sự ra đời các làng nghề từ rất xa xưa, với nghề đầu tiên là nghề đá, sau lànghề gốm và lần lượt là các nghề mây tre đan, nghề mộc… Mặc dù là tổng quan,nhưng cuốn sách được G.S Trần Quốc Vượng đề cập đến những thay đổi vềcảnh quan, quy trình chế tác sản phẩm, mẫu mã, thị trường cho sản phẩm Đây là
Trang 18công trình nghiên cứu sớm nhất về sự biến đổi của văn hóa làngnghề ở Hà Nội từ khi đổi mới (năm 1986) [127]
Bài viết của Trương Duy Bích đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6,
2005, Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam: sự đa dạng và sự chậm biến đổi nêu lên
con số thống kê chưa đầy đủ về số lượng làng nghề hiện có trên cả nước Bêncạnh sự phong phú về các ngành nghề, tác giả cũng nêu lên sự chậm biến đổi củacác nghề thủ công mỹ nghệ như chậm biến đổi về tư duy và quy mô sản xuất,phương thức hành nghề và truyền dạy nghề, chậm biến đổi phương tiện và kỹthuật sản xuất, mẫu mã sản phẩm Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra những biến đổi củanghề thủ công trong thời kỳ thay đổi của nền kinh tế thị trường như: ô nhiễmmôi trường do rác thải, bụi, tiếng ồn, nước thải ở một số làng nghề Vân Hà,Triều Khúc, Phú Đô, Bát Tràng ; hay nạn tranh mua, tranh bán, sản phẩm làm
ẩu, làm giả, làm nhái ngày càng xuất hiện nhiều ở một số làng nghề Đồng Sâm,Huê Cầu… Sự biến đổi đó từ bao đời nay được ghi trong các hương ước, văn biacủa làng, của xã nay đã bị xóa nhòa, đảo lộn [7]
Sách “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay” (Trường hợp làng Đồng
Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) của Nguyễn
Thị Phương Châm nghiên cứu và đưa ra những lập luận về các lý thuyết, kháiniệm biến đổi văn hóa Đây là một đề tài với nhiều lý thuyết về biến đổi văn hóacủa các nhà nghiên cứu nước ngoài được [9]
Sách Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận chỉ ra rằng: để phục hồi và duy trì
sự phát triển của các làng nghề thì vấn đề quan trọng Nhà nước cần quan tâm làkinh phí Bên cạnh đó cần có chính sách hỗ trợ, phát triển thị trường, thiết kế sảnphẩm, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cần ưu tiên phát triển các ngành nghềtruyền thống tại địa phương [15]
Đề tài khoa học cấp bộ do Lê Hồng Lý chủ biên cùng các nhà nghiên cứu
Trương Minh Hằng, Trương Duy Bích Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng sông Hồng - tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị : thời kỳ phong kiến, thủ
Trang 19công nghiệp Việt Nam là nền sản xuất nhỏ, trải qua các cuộc chiến tranh, nhiềuthời kỳ bị gián đoạn, nghề thủ công chưa có những thay đổi hay ảnh hưởng lớnnào về tư duy, phương thức hành nghề Việc thay đổi tư duy và hình thức sảnxuất của thợ thủ công theo các tác giả được bắt đầu từ sự thay đổi của nền kinh
tế Sự thay đổi đó đặt ra nhiều vấn đề trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa, môitrường sinh thái, nếp nghĩ, nếp sống, sản xuất của thợ thủ công làng nghề [52]
Nguyễn Đình Phan với bài Phát triển môi trường kinh doanh cho các làng nghề in trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam nêu lên vai trò của môi trường kinh doanh đối với sự phát triển
của các làng nghề, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa nôngthôn và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Theo tác giả, môi trường kinhdoanh cho các làng nghề là môi trường kinh tế, chính trị, khoa học, môi trườngvăn hóa - xã hội, môi trường tự nhiên - sinh thái
Không chỉ dừng lại ở những phân tích trên, Nguyễn Đình Phan còn đưa rabốn giải pháp phát triển môi trường kinh doanh, đó là: hình thành và phát triểnđồng bộ thị trường; hoàn thiện hệ thống luật, chính sách để tạo lập, phát triểnmôi trường thể chế cho phát triển làng nghề; hình thành, phát triển các tổ chứcđại diện và tổ chức tư vấn, dịch vụ để hỗ trợ, giúp đỡ các cơ sở sản xuất - kinhdoanh ở các làng nghề và giải pháp thứ tư là bảo vệ môi trường sinh thái [69]
Đề cập đến biến đổi văn hóa ở một số làng xã trên địa bàn Hà Nội hiện
nay, có sách Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô
Hà Nội trong thời kỳ đổi mới (2007) của Ngô Văn Giá [22], Sự biến đổi của làng
xã hiện nay ở đồng bằng sông Hồng (2000), bài viết của Nguyễn Thanh Hương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7, Những biến đổi ở làng nghề Sơn Đồng, Hoài Đức [37] những nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống
của các làng nghề trải qua nhiều thế kỷ được các thế hệ
Sách Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi (2009) của Bùi Xuân Đính nguyên nhân của sự biến đổi và
, vun đắp
những giá trị truyền thống của các làng nghề trong huyện vẫn còn được bảo lưu
và gìn giữ [18]
Trang 20Sách Du lịch Thăng Long - Hà Nội do Trương Sỹ Vinh chủ biên đưa ra
một trong số những giải pháp để phát triển du lịch Hà Nội là phải quan tâm đếnbảo tồn và phát triển làng nghề, đưa loại hình du lịch làng nghề đến gần hơn với
du khách, để du khách tham gia vào quá trình làm ra sản phẩm [124]
Công trình Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử văn hóa phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 do Phùng Hữu Phú
-chủ biên, là công trình nằm trong chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.09.Nội dung cuốn sách đã đưa ra định hướng phát triển cho nghề thủ công như sau:
Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề cần hỗ trợ phát triển trên cơ sở ứngdụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại Điều đó cho thấy việc ápdụng tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại là việc làm cần thiếtcho sự phát triển các làng nghề, và như vậy, việc phát triển đó tất yếu
sẽ dẫn đến sự biến đổi về văn hóa ở các làng nghề thủ công Việt Namnói chung và Hà Nội nói riêng [71, tr.207]
Sách Kinh tế - xã hội đô thị Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII, XVIII, XIX
của Nguyễn Thừa Hỷ xuất bản năm 2010 đã tham khảoghi chép của các quan chức, giáo sĩ, phóng viên, thương gia nước ngoài thời
kỳ làm việc và buôn bán tại Thăng Long - Hà Nội Tác giả nhấn mạnh, điểm
Trang 21mạnh của kinh tế hàng hóa Thăng Long - Hà Nội chính là chất lượng sản phẩmhàng thủ công do những người thợ có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao làm ra,hấp dẫn không chỉ người Việt Nam, mà còn cả khách nước ngoài Song tác giảcũng đề cập đến mặt hạn chế của các ngành nghề thủ công truyền thống khiếncho nhiều sản phẩm chưa vươn rộng được ra nhiều nước trên thế giới, đó là quy
mô sản xuất vẫn mang tính chất của nền sản xuất nhỏ [36]
Tiếp đó là cuốn sách Thủ công nghiệp, công nghiệp từ Thăng Long đến
Hà Nội của Nguyễn Lang viết về quá trình phát triển của nghề thủ công truyền
thống Hà Nội, sau đó phát triển thành các xí nghiệp công nghiệp với sự ra đờicác hiệp hội doanh nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, mấu chốt củavấn đề được tác giả nêu rõ: cần đưa sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các làngnghề lên trình độ cao hơn, phải thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, thay đổi mẫu
mã để vừa mang tính hiện đại, nhưng vẫn giữ được yếu tố truyền thống [46]
Luận án tiến sĩ của Vũ Diệu Trung (tháng 5/2013), “Sự biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến nay (qua khảo sát trường hợp một số làng: Sơn Đồng, Bát Tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình) khái quát
bối cảnh chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong các làng nghề từ năm
1986 đến nay Cùng với bối cảnh đó là sự biến đổi các thành tố trong văn hóalàng nghề ở Sơn Đồng, Bát Tràng và Đồng Xâm (bao gồm biến đổi về: khônggian, cảnh quan di tích, hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác, phương thứctruyền nghề, giữ nghề, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội).Tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn hóalàng nghề ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới Đây là một công trìnhmới nhất, có giá trị để NCS tham khảo về văn hóa làng nghề
Trang 22lịch, các nghệ nhân trực tiếp cho ra đời các sản phẩm thủ công Các bài viết cũngchỉ ra nguyên nhân làm cho du lịch làng nghề chưa phát triển, chưa tương xứngvới tiềm năng vốn có của mỗi làng nghề, nhưng bài viết vẫn chưa nê
số 7430/QĐ-UBND ngày 09/12/2013 của UBND thành phố Hà Nội) đã tổng
hợp: hiện nay thành phố Hà Nội có 1.350 nghề và làng nghề, chiếm gần 59%tổng số làng Đề án nhận định, trong điều kiện hiện nay,các làng nghề có xu hướng chuyển động tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn theo hướng “công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp” ngay trênđịa bàn nông thôn
Bên cạnh nghiên cứu của các học giả trong nước, còn có một số học giảnước ngoài nghiên cứu về vấn đề này: Luận án tiến sỹ của Iwai Misaki tại Đại
học Hitotsubashi:“Sự biến đổi của làng xã ở vùng châu thổ sông Hồng Việt Nam trước và sau đổi mới, lấy trung tâm là hợp tác xã nông nghiệp làng Trang Liệt, tỉnh Bắc Ninh” Trước đó, vào năm 1994, Iwai Misaki đã sống một thời gian
tương đối dài tại làng Trang Liệt Ba năm sau đó, ông đã quay trở lại vùng đồngbằng châu thổ sông Hồng và làng Trang Liệt nhiều lần, khảo sát thực trạng sựthay đổi đời sống của người dân trong quá trình làm thêm nghề phụ khi việcphân chia ruộng đất đang được tiến hành tại các làng xã Trong luận án, IwaiMisaki phân tích đặc điểm của làng xã châu thổ sông Hồng Đặc biệt, ông đi s
đưa ra những đánh giá khoa học, có căn cứ về sự biến đổi văn hóacủa người dân đồng bằng sông Hồng qua nghiên cứu trường hợp HTX nôngnghiệp làng Trang Liệt [38]
Sách Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ do Papin
Philippe và Oliver Tessier chủ biên) viết về xã hội nông thôn truyền thống
Trang 23của người nông dân đồng bằng sông Hồng thông qua cơ cấu tổ chức, hoạt độngkinh tế, thiết chế xã hội tại mỗi làng xã Biểu hiện cụ thể của các làng xã đượcPapin Philippe và Oliver Tessier nghiên cứu là mối quan hệ chặt chẽ giữa các giađình, dòng họ, phe giáp, phường hội, phường nghề, phong tục tập quán, đìnhchùa, miếu mạo [68]
Tác giả lấy dẫn chứng việc biến đổi của làng Triều Khúc và Thiết Úng cả
về mặt tích cực lẫn hạn chế như: nhà cao tầng ngày càng nhiều, đường làng, ngõxóm rộng rãi, khang trang, sạch sẽ Song môi trường ô nhiễm ở Triều Khúc cũngvào bậc nhất Đó là ô nhiễm tiếng ồn của những khung cửi, ô nhiễm nguồn nướctrong quá trình rửa lông gà, lông vịt, nhiều người dân mắc các bệnh về tai, bệnhngoài da Còn ở Thiết Úng, với đặc thù là nghề chạm khắc gỗ, do vậy với tínhchất nghề, việc quy hoạch khu sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, các hộlàm nghề ngay tại gia đình làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân,đáng kể là tỷ lệ mắc bệnh hô hấp của trẻ mới sinh cho đến 4 tuổi chiếm đến 90 -95% dân số trong làng, trong xã [6]
.1.3.1 Những bài viết về biến đổi văn hóa làng nghề Triều Khúc
Trên Báo Tiểu thủ công nghiệp ngày 8/1/1976 có bài viết Nghề dệt quai thao ở Triều Khúc của Trần Quỳnh Theo tác giả, ng Triều Khúc pháttriển từ thế kỷ XVII với nhiều sản phẩm dành cho phụ nữ như áo the, quạt yếm,
1
Trang 24,quân h Thế nhưng nghề dệt quai thao truyền thốngxưa kia của cha ông vẫn luôn là niềm tự hào của các thế hệ con cháu Triều Khúcngày nay [83].
Bài viết “Làng Triều Khúc - Truyền thống và biến đổi” của Ngô Đức Thịnh in trong tập sách “Tình hình hiện nay (nhân loại học về quá trình biến động) của vùng Đông Nam Á” đã nêu lên những giá trị truyền thống trong văn
hóa của người Triều Khúc luôn được bảo lưu, gìn giữ qua nhiều thế hệ, quanhiều biến động của lịch sử Tác giả cũng có những nghiên cứu mới về biến đổicủa làng Triều Khúc từ sau thời kỳ đổi mới năm 1986 và cho rằng đó là xuhướng chung của sự phát triển [101]
Sách Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam của Lâm Bá Nam
in trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam có những nghiên
cứu về lịch sử nghề dệt đồng bằng Bắc Bộ, trong đó làng Triều Khúc:
Làng thủ công Triều Khúc nổi tiếng về sự đa nghề (cho đến nhữngnăm 1930 của thế kỷ này ở đây có tới trên 30 nghề thủ công khácnhau), trong đó nghề dệt đóng vai trò quan trọng, nổi tiếng nhất vớisản phẩm quai thao [26, tr.729]
Luận văn thạc sĩ Những vũ điệu trong hội làng Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội) của Phạm Hùng Thoan đã đi sâu vào
nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống của các điệu múa cờ,múa bồng của người Triều Khúc Qua luận văn của mình, Phạm Hùng Thoan đãmang lại cho người đọc một cảm giác được sống lại và hòa mình vào những điệumúa rộn ràng, mang đậm dấu ấn văn hóa của làng quê vùng châu thổ Bắc Bộ [103]
Trang 25Bài viết của Nhật Linh Dệt Triều Khúc - Thăng trầm những bước đi đăng
trên Tạp chí Truyền hình Hà Nội số 89, ngày 16/6/2012, khái quát về lịch sử rađời của nghề dệt ở Triều Khúc, sản phẩm ban đầu là dệt the, dệt thao, đến nayngười Triều Khúc sản xuất ra hàng trăm mẫu mã sản phẩm thủ công, nhất là cácsản phẩm phục vụ cho lực lượng vũ trang và dân sự [50]
Tác giả Phạm Nga với bài Ô nhiễm môi trường ở làng nghề Triều Khúc đăng trên báo điện tử Pháp luật và Xã hội ngày 11/01/2012 viết: Triều Khúc nổi
tiếng là làng nghề thủ công: thêu, dệt the, dệt khăn mặt, tơ lụa, nhuộm áo…Ngoài ra, Triều Khúc xưa nay còn được biết đến bởi nghề thu gom phế liệu, thumua lông gà, lông vịt làm thà
Nga: làng Triều Khúc có khoảng 600 hộ dân làm nghề dệt thổ cẩm, chổi lônggà… trong đó thu gom phế liệu, tái chế nhựa, chủ yếu vẫn sả
Được sự quan tâm của nhà nước,
để phục vụ con người Theo Phạm
.Triều Khúc đã được đầu tư dự án cụm công nghiệp Tân Triều để vừa phát triểnlàng nghề, vừa bảo vệ môi trường, nhưng dự án còn nhiều bất cập, vì vậy vấn đềmôi trường chưa được giải quyết triệt để [61]
Bài viết của Nghĩa Lê Hợp tác xã dệt công nghiệp Triều Khúc (Hà Nội) gìn giữ tinh hoa truyền thống đăng trên báo điện tử Thời báo Kinh doanh ngày
-17/5/2012 HTX công nghiệp dệt Triều Khúc Cho đến nay,sau hơn 50 năm hoạt động, HTX công nghiệp dệt Triều khúc vẫn duy trì và ngàycàng phát triển Ngoài mặt hàng truyền thống là vải, HTX còn sản xuất các sảnphẩm: túi đựng tiền cho ngành ngân hàng, băng phù hiệu cấp hiệu, băng huânhuy chương, dây chiến thắng, dây mũ kêpi phục vụ cho công an, quân đội vàdân sự [48]
Trang 261.1.3.2 Những bài viết về biến đổi văn hóa làng nghề Thiết Úng
Bài viết Làng chạm gỗ Thiết Ứng của Chu Quang Trứ và Đỗ Thiên Du in trong Tổng tập nghề và làng nghề viết về lịch sử làng nghề, các sản phẩm được
thị trường ưa chuộng gồm sập gụ, tủ chè, giá gương, cây đèn và đồ chơi mỹ nghệ
là 80 mẫu tượng khác nhau Bên cạnh đó, tác giả nêu lên sự đổi thay về ngànhnghề của người dân Thiết Úng trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa thời
Bài viết Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ Thiết Úng trên trang web:
www.lang nghe.org.vn giới thiệu về quy trình, yêu cầu kỹ thuật của người thợThiết Úng để làm ra một sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ hoàn thiện Bên cạnh đó, tácgiả cũng giới thiệu về các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đã có từ hàng trămnăm trước (đình chùa Thiết Úng, nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Đồng) đều mangđậm dấu ấn và bàn tay khéo léo của những nghệ nhân tài hoa làng Thiết Úng
Bài Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh” đăng trong sách Làng nghề Hà Nội, tiềm năng và triển vọng phát triển do
UBND thành phố Hà Nội và Sở Công thương
về biến đổi trong sinh hoạt văn hóa của thợ thủ công Thiết Úng Ngoài ra,bài viết nêu lên sức lan tỏa, ảnh hưởng của làng ngh Thiết Úng sang các làngbên cạnh và nêu lên doanh thu từ nghề gỗ chỉ tính riêng năm 2008 chiếm đến70% doanh thu toàn xã [114, tr.124]
Bài Hướng đi mới cho làng nghề Vân Hà của Hồng Quý đăng trên báo
điện tử Kinh tế nông thôn ngày 23/2/2009 viết về vai trò của làng chạm gỗ ThiếtÚng qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, nay được nhân dân các làng kháctrong vùng làm theo và mở rộng ra toàn xã [82]
Trang 27Bài của Việt Nga Hướng phát triển mới của làng nghề Thiết Úng đăng
trên Baomoi.com ngày 22/7/2011 viết về sự năng động, sáng tạo của người ThiếtÚng trong điều kiện đổi mới của đất nước Bằng việc nắm bắt nhu cầu sử dụng
đồ gỗ mỹ nghệ của người tiêu dùng, người Thiết Úng đã áp dụng kỹ thuật côngnghệ mới kết hợp với kỹ thuật chạm khắc truyền thống, làm cho sản phẩm đượcđẹp hơn, tinh xảo hơn [62]
Gần đây nhất, vào tháng 12/2012, Ban chấp hành Đảng bộ xã Vân Hà đã
in và phát hành cuốn Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Vân Hà (1930 - 2010) Cuốn sách có 4 phần, trong đó phần thứ nhất viết về Vân Hà - vùng đất, con người và truyền thống lịch sử - văn hiến Ở phần thứ nhất này,
làng nghề chạm khắc Thiết Úng được các nhà viết sử xã Vân Hà viết khá chi tiết
về lịch sử ra đời, quá trình hình thành, phát triển, mở rộng làng nghề
1.1.4 Nhận xét chung
nêu trên, NCS rút ramột s nhận xét sau:
Các học giả, nhà nghiên cứu đã giới thiệu được: sự phong phú, đa dạng,
sự hội tụ, kết tinh của nghề, làng nghề Thăng Long - Hà Nội
Đa số các công trình, sách, bài viết đều
trong đời sống xã hội và cho rằng
tạo ra sản phẩm phong phú, độc đáo, đáp ứng nhu cầ
Trang 28về hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác, phương thức đào tạo nghề,truyền nghề và giữ bí quyết nghề; trong đó biến đổi được nhận diện rõ là biếnđổi mối quan hệ xã hội.
- Mỗi công trình đều có ngh dung biến đổi:một số công trình đi sâu vào vấn đề cần thiết phải thực hiện việc đa dạng hóasản phẩm, thay đổi mẫu mã để vừa mang tính hiện đại, nhưng vẫn giữ được yếu
tố truyền thống; Một số công trình lại đi sâu vào việc nghiên cứu về tầmquan trọng của môi trường kinh doanh đối với sự phát triển,
làng nghề truyền thống
biến làng nghề thống Hà Nội nói chung và làng Triều Khúc,Thiết Úng nói riêng
-), để có được một cái nhìn toàn cảnh
làm nên một diện mạohơn, sâu sắc hơn những biến đổi này
mới của làng nghề truyền thống Hà Nội ngày nay
T,
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Kế thừa một số khái niệm của các tác giả đi trước như khái niệm: Vănhóa, Văn hóa nghề; Làng nghề, Văn hóa làng nghề; Làng nghề truyền thống,Văn hóa làng nghề truyền thống NCS , đưa ra khái niệm
theo cách hiểu và nhìn nhận của bản thân Sau khi các khái
Trang 29niệm đã được làm rõ, NCS đi vào phân tích cơ cấu văn hóa làng nghề truyền
triển khai các vấn đề nghiên cứu ở chương tiếp theo
1.2.1 hái niệm và cấu trúc văn hóa làng nghề truyền thống
1.2.1.1 V , Văn hóa nghề
Trong khoa học
nghĩa
văn hóa Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một
số điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, rằng văn hóa là phương thứctồn tại (tức hoạt động sáng tạo để mưu sinh, nối dài cuộc sống) chỉ có ở loài người,khác về cơ bản với tổ chức đời sống của các quần thể động vật trên trái đất Văn hóa
là cái do các thế hệ người trao truyền cho nhau bằng bắt chước, h
bẩm sinh theo con đường sinh học.văn hóa” có nguồn La tinh “colere”, sau
“
n thành culturemang ý nghĩa là vun trồng đất đai, cây cối trong nông nghiệp, sau đó chuyển sangnghĩa vun trồng tinh thần, trí là cái thiêng liêng, có ýnghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người Đến thời Trung cổ, văn hóa đượchiểu là tín ngưỡng Tín ngưỡng cũng là một điều thiêng liêng, là biểu hiện sự pháttriển cao nhất của tinh thần con người
, tuy nhiên, quanghiên , NCS
:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sángtạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo vàphát minh đó tức là văn hóa
[30, tr.431]
Trang 30n A.A.Radughin Văn hóa học - Những bài giảng:
Bản thân sản xuất vật chất cũng có thể xác định bằng những thuật ngữcủa văn hóa học, tức là có thể nói tới văn hóa của sản xuất vật chất,nói tới mức độ hoàn thiện của nó, nói tới mức độ hợp lý và văn minhcủa nó, nói tới tính thẩm mỹ và tính sinh thái của những hình thức vàphương thức thực hiện sản xuất vật chất, nói tới tính đạo đức và tínhcông bằng của mối quan hệ phân phối hình thành nên trong sản xuấtvật chất Chính là theo ý nghĩa đó mà người ta nói tới văn hóa củacông nghệ sản xuất, nói tới văn hóa của công tác quản lý và tổ chứcsản xuất, nói tới văn hóa của những điều kiện sản xuất, nói tới văn hóacủa việc trao đổi và phân phối v.v… [3, tr.111]
, v
.Trong khoảng hơn chục năm trở lại đây, có một số nhà nghiên cứu đãquan tâm, đi sâu và đưa ra khái niệm nghề Theo cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt:
Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội” [133,
“
tr.1192] Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng lại đưa ra khái niệm nghề như là nhữngchuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau, được xếp thành mộtnhóm chuyên môn:
Trang 31Nghề là tập hợp một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con ngườidùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác độngvào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theohướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người [34, tr.11]
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng, nghề là một lĩnh vực lao động,
mà trong đó nhờ được đào tạo, con người tích lũy được kinh nghiệm, tri thức, kỹnăng, trình độ để tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm tinh thần, nhằmđáp ứng yêu cầu của xã hội Nghề nào cũng hàm chứa hệ thống giá trị kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo, truyền thống nghề, hiệu quả mang lại
.) như sau:
, đư
.Việc phân loại nghề khá đa dạng và phức tạp, nhưng cơ bản nghề đượcphân loại theo hai lĩnh vực khái quát nhất, đó là phân theo lĩnh vực quản lý vàphân theo lĩnh vực sản xuất Ở phạm vi đề tài của luận án, NCS phân loại theolĩnh vực sản xuất; trong đó, nhóm nghề đưa ra là nghề thủ công truyền thống,nghề mà ở đó nhiều khâu sản xuất, nhiều công đoạn làm bằng tay, dùng sứcngười là chính
Trang 32hóa phi vật thể đăng trên Tạp chí Di
dsvh.gov.vn cho rằng: khái niệm về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồmcác nội dung cụ thể, như: Làng nghề là một địa danh gắn với một cộng đồng dân
cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ;
Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quátrình sản xuất ra một loại sản phẩm; Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có taynghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế
hệ sau; Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư vàquan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh đượclịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ [56]
Một số tác giả khác đưa ra khái niệm về làng nghề, tuy có khác nhau vềcâu từ, nhưng nhìn chung, các khái niệm vẫn bao hàm các thành tố cấu thànhlàng nghề như: Làng nghề là nơi hội tụ thợ thủ công, bao gồm những người thợvới quy trình, bí quyết làm nghề và truyền nghề; là một cộng đồng có sự liên kếtvới nhau về địa lý, quan hệ cùng huyết thống, quan hệ sản xuất, kinh tế; là nơisản xuất ra những mặt hàng thủ công có tính mỹ nghệ mang đặc trưng văn hóađịa phương; là nơi có phong tục tập quán, nếp sống, lễ hội, tục thờ tổ nghề; làlàng nghề không phải làng thuần nông, chuyên sống bằng sản xuất nông nghiệp
Các tác giả đưa ra quan niệm làng nghề theo cách mô tả dân tộc học nhưnhững dẫn chứng trên là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, sau khi tham khảo tài liệu
từ các nhà nghiên cứu trước, với thực tế khảo sát tại một số địa phương, xin đưa
ra quan niệm về làng nghề như sau: “Làng nghề là làng làm một hoặc một số nghề thủ công như một sinh kế hay một phần sinh kế”.
trên, căn cứ vào những nghiên cứu của các nhàkhoa học, qua tham khảo nguồn tài liệu của các học giả, xin nêu quan niệm vềvăn hóa làng nghề như sau:
Trang 331.2.1.3 Làng nghề truyền thống, Văn hóa làng nghề truyền thống
Sách Làng nghề Việt Nam và môi trường do Đặng Kim Chi (chủ biên) và
Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh viết: Làng nghề truyền thống là những làng nghềhình thành từ lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt đặc thù, có giá trị văn hóalịch sử của địa phương, được nhiều nơi bi
cha truyền, con nối hoặcTheo Trần Minh Yến, khái niệm làng nghề truyền thống được khái quátdựa trên hai khái niệm nghề truyền thống và làng là:
gia đình, dòng tộc) [11]
Làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đờitrong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyềnthống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi cónhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sựliên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng
tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế
xã hội và gia tộc [26, tr.983 - 984]
Vũ Quốc Tuấn đưa ra khái niệm về làng nghề truyền thống với một số nộidung tương đối sát với khái niệm của Trần Minh Yến:
Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền, mà ở đó có các hộ nghề, tộcnghề chuyên sản xuất, chế tác, sinh sống bằng một nghề hoặc nhiềunghề, có khi chỉ bằng một công đoạn của nghề Đấy là nơi có nhữngthế hệ nghệ nhân, thợ thủ công tài năng của địa phương, đã và đang
Trang 34tạo ra những sản phẩm tinh xảo, độc đáo, đậm nét bản sắc văn hóa, cógiá trị kinh tế, tư tưởng và thẩm mỹ cao, đáp ứng nhu cầu thiết yếucủa người tiêu dùng trong và ngoài nước [110, tr.13]
Mặc dù mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm riêng khác nhau, nhưngtinh thần chung trong các khái niệm về làng nghề truyền thống vẫn t
các nội dung sau, đó là: làng nghề truyền thống là làng có một hoặc nhiều nghềthủ công truyền thống, có các nghệ nhân và những người thợ giỏi chế tác ra cácsản phẩm độc đáo, tinh xảo, mang đặc trưng văn hóa cộng đồng, có cùng tổnghề, có bí quyết làm nghề, giữ nghề và truyền nghề, các thành viên trong làngphải tuân theo luật lệ làng nghề
Định nghĩa về văn hóa làng nghề truyền thống cũng có một số tác giảtrong và ngoài nước đưa ra khái niệm văn hóa làng nghề truyền thống, nghĩa là:văn hóa làng nghề truyền thống là văn hóa của những làng có nghề truyền thống
bị quy định bởi nghề đó và được truyền lại cho đến hôm nay
Sau khi tham khảo các công trình, sách, các khái niệm, định nghĩa vềnghề, làng nghề, làng nghề truyền thống, NCS xin đưa ra khái niệm về văn hóa
làng nghề truyền thống như sau: “Văn hóa làng nghề truyền thống là một kiểu văn hóa làng nghề được quy định bởi việc sản xuất, buôn bán và sinh sống bằng một nghề thủ công truyền thống của làng”.
Với quan niệm trên, văn hóa làng nghề truyền thống các yếu tố sản xuất,buôn bán, sinh sống, gồm văn hóa vật chất và tinh thần của người dân làng nghề,bằng nghề truyền thống của làng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các yếu
tố trên là đặc văn hóa mỗi làng nghề truyền thống Như vậy, cóthể khái quát đặc trưng văn hóa làng nghề truyền thống theo 2 nội dung chính: lànglàm nghề thủ công truyền thống và văn hóa của làng đó được bảo tồn trong lịch sử
Cũng như văn hóa làng, văn hóa làng nghềtạo nên cơ cấu, cụ thể như sau:
gồm 3 thành tố
Trang 35Văn hóa tổ chức cộng đồng ): gồm các thiết chế,thể chế tổ chức làng: bao gồm các quy định giữa người làm nghề với nhau; làmối quan hệ giữa bạn hàng, thầy trò, giữa các thành viên trong gia đình, giữa cácphường hội, thợ thủ công
1.2.2 Lý thuyết về biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa (cultural change) là chủ đề nghiên cứu rộng của nhiều
NC
ng,
khoa học khởi xướng thuyết tiến hóa luận là E.B.Tylor và L Morgan cho rằng:
Trang 36Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chínhtrong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vìrằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào mộttrật tự xác định, mà không thể làm ngược lại [141, tr.53]
Cuối thế kỷ XIX, thuyết truyền bá luận ra đời và phát triển phổ biến ở các
nước Âu - Mỹ Tác giả Ph.Ratxen, người Đức trong cuốn Địa lý học nhân loại, Nhập môn dân tộc học đã có những kết luận về sự truyền bá các nền văn hóa
trong không gian, về sự hình thành và nguồn gốc của chúng Ph.Ratxen chorằng: nguồn gốc cơ bản của những biến đổi trong các nền văn hóa là ở nhữngtiếp xúc qua lại giữa chúng Còn đại biểu của xu hướng truyền bá luận lập luận:truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn hóa là nội dung chủ yếu củaquá trình lịch sử Nhìn vào đánh giá trên cho thấy, quan điểm nghiên cứu về biếnđổi văn hóa của các nhà truyền bá luận đối lập với quan điểm của các nhà tiếnhóa luận
Từ năm 1920 đến năm 1950, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa
có ảnh hưởng lớn đối với nước Anh là thuyết chức năng, trong đó phải kể đếnhai nhà nghiên cứu Radcliffe Brown và Malinowski Theo quan điểm của haiông, một nền văn hóa thay đổi khi nó chịu những tác động bên ngoài Đưa raquan điểm này, các nhà khoa học không có ý định nghiên cứu sự thay đổi cácmối quan hệ xã hội, mà ý định chính của họ là nghiên cứu mối quan hệ qua lại
về chức năng của các hệ thống văn hóa, xã hội, chứ không phải nghiên cứu cáchthức hệ thống này được thay đổi
Đến năm 1955, phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa khác trong nhânhọc Bắc Mỹ về sinh thái văn hóa đã được Julian Steward khởi xướng, năm 1960phương pháp này đã có ảnh hưởng lớn ở cả khu vực và trên thế giới JulianSteward cho rằng, biến đổi có thể là sự kiện tình cờ do tiếp xúc giữa các nền vănhóa với nhau, hoặc có thể là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch sử JulianSteward đưa ra nhiều nghiên cứu để chứng minh rằng, biến đổi văn hóa có thể
Trang 37Biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tươngđối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ởkhía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũngtrộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi [143, tr.11].
Trong công trình Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
(2009), Nguyễn Thị Phương Châm đã chia cuốn sách thành 3 chương, t
dành hẳn chương 1 viết về Biến đổi văn hóa: Những tiền đề lý thuyết vàthực tiễn, theo Nguyễn Thị Phương Châm:
Dù còn rất nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về toàncầu hóa và văn hóa, nhưng các nhà nghiên cứu có chung thống nhấtcho rằng sự biến đổi văn hóa là xu hướng tất yếu trong quá trình toàncầu hóa, sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa dạng, ở nhiều cấp độ
và diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau [9, tr.17]
:
: “1
Trang 38do quá trình thay đổi phương thức sản xuất, kỹ thuật sản xuất,
phù hợp với những biến đổi về chính trị,kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi dân tộc
Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội là nghiêncứu về biến đổi văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa tinh thầnlàng nghề Qua phân tích lý thuyết về văn hóa vật chất của A.A.Radughin, biếnđổi văn hóa của các học giả trong và ngoài nước cho thấy, bất kỳ xã hội nào,trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nhất định nào đều có những biến đổi, cũng trộn lẫn
sự tiếp nối và biến đổi Những tiếp nối và biến đổi văn hóa bao hàm cả biến đổi
về ng thái; Biến đổi giữa cái cũ và cái mới; từ cái chưahoàn thiện đến cái hoàn thiện, văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội cũngkhông nằm ngoài quy luật ấy
Nói như vậy không có nghĩa là văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nộitiếp thu toàn cái tích cực, cái hay, cái đẹp của các vùng miền, các quốc gia, màvăn hóa làng nghề cũng mang luôn cả lối sống, nếp sống, cách nghĩ, tư duy,phương thức sản xuất, loại hình sản phẩm làng nghề truyền thống của mình tácđộng vào xu thế biến đổi hiện nay Dù ở góc độ này hay góc độ khác, dù biến đổi
ít hay nhiều, dù còn có những vấn đề đáng quan tâm trong quá trình giao lưu,nhưng xét cho cùng, biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội là xuhướng tất yếu, khách quan, nằm trong xu thế chung của thời đại CNH, HĐH,ĐTH và toàn cầu hóa
Tiểu kết
Mặc dù có nhiều công trình
nh vực nghiên cứu về văn hóa l
tác giả là các chuyên gia
là vấn đề còn bỏ ngỏ, đặc biệt là
Trang 39nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề Triều Khúc và Thiết Úng lại càng làkhoảng trống ông trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa hai làng nghề trêncòn rất khiêm tốn Bài viết, tạp chí về hai làng nghề chỉ mang tínhthời sự, phóng sự, chưa đi sâu phân tích, đánh giá những biến đổi về văn hóacũng như đề xuất hướng giải quyết
Kế thừa kết quả nghiên cứu cùng các khái niệm về nghề,
, văn hóa làng nghề ; Lý thuyết văn hóa học vềvăn hóa sản xuất vật chất và biến đổi văn hóa làng nghề đã được cácnhà khoa học dày công đúc kết Với kiến thức và hiểu biết qua việc nghiên cứu,nội dung chương này, NCS đã nêu lên và bổ sung thêm một số khái
cho việc nghiên cứu luận án Đó là các khái niệm về: Văn hóa
, NCS
, tham
Trang 40Hà Nội nghề
2.1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa
độ 105o87hình của Hà Nội là những vùng đồi, núi thấp và đồng bằng
nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông khô lạnh và mưa ít
Hà Nội ra đời và phát triển
Hà Nội nằm trên tuyến đường thiên lý Bắc - Nam, có đường sông, đường
bộ, đường sắt tạo điều kiện cho thợ thủ công trao đổi hàng hóa, mua bán nguyênvật liệu của các địa phương khác Đặc biệt, sau khi Hà Nội trở thành thủ phủ củaliên bang Đông Dương, hệ thống đường giao thông được người Pháp sửa sang,phát triển, giúp cho việc đi lại và giao thương dễ dàng
Là thành phố với nhiều sông, hồ, chợ buôn bán, tạo điều kiện thuận lợi,giúp cho việc sản xuất, giao thương và định cư của thợ thủ công trên khắp mọimiền đất nước hội tụ về Thăng Long xưa, thu hút hơn cả là thợ thủ công các làngquê thuộc vùng tứ trấn quanh kinh thành Trải qua bao thăng trầm, Thăng Long -