BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH Nguyễn Thị Thanh Hương Nâng cao kiến thức tự chăm sóc về chế độ ăn uống và luyện tập của người bệnh Đái tháo đường typ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y
TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Nguyễn Thị Thanh Hương
Nâng cao kiến thức tự chăm sóc về chế độ ăn uống và luyện tập của người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2016
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA I
NAM ĐỊNH- 2016
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một bệnh mạn tính, rối loạn chuyển hóa glucose do hậu quả của tình trạng thiếu insulin tuyệt đối hoặc tương đối Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết cùng với các rối loạn về chuyển hóa đường, đạm, mỡ
và chất khoáng [14]
Không chỉ do những di chứng để lại và các khó khăn, tốn kém trong quá trình điều trị, hiện nay bệnh đái tháo đường còn được coi là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên toàn thế giới do tần suất lưu hành bệnh ngày càng gia tăng Theo thống kê mới nhất của Tổ chức y tế thế giới (WHO), trên thế giới cứ 10 giây lại có một người chết vì bệnh đái tháo đường Trung bình, một ngày có 8.700 người và một năm có 3,2 triệu người chết do đái tháo đường Hiện thế giới có khoảng 243 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và con số này có thể tăng lên 552 triệu người vào những năm 2030 [1]
Ở Việt Nam, tình hình mắc bệnh ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tại các thành phố lớn Theo kết quả thống kê năm 1992 tại Hà Nội: Đái tháo đường chiếm 1,42%, Huế: chiếm 0,96% và TPHCM chiếm 2,52% Đến năm 2001
tỷ lệ ĐTĐ tại khu vực nội thành của bốn thành phố lớn là 4,0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 5,1% và đến năm 2003 tỷ lệ ĐTĐ tại khu vực thành phố là 4,4% Trong đó ĐTĐ type 2 chiếm > 90% toàn người bệnh ĐTĐ Do đó, chính ĐTĐ type
2 mới gây vấn đề cho sức khỏe cộng đồng, vì tần suất nó gia tăng song hành với sự lão hóa, đô thị hóa, lối sống tĩnh tại và với sự béo phì ở dân số các nước công nghiệp[6]
Những biến chứng của ĐTĐ đã chứng minh mức độ trầm trọng của bệnh cũng như những chi phí về kinh tế - xã hội Để khống chế đường huyết ở mức bình thường ngoài việc dùng thuốc giảm đường huyết thì chế độ ăn - vận động thể lực là phương pháp điều trị lâu dài bệnh ĐTĐ [11]
Điều trị tốt ĐTĐ nhằm nâng cao chất lượng sống, kéo dài tuổi thọ cho người bệnh và giảm chi phí cho toàn xã hội ĐTĐ là bệnh mãn tính chưa có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn mà phải điều trị suốt đời, dễ làm người bệnh chán nản bỏ cuộc, một số người bệnh không hiểu được tầm quan trọng của việc dùng thuốc, hoặc vì lý
do kinh tế Việc giáo dục, tư vấn, cung cấp những kiến thức, thực hành trong việc luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3tuân thủ điều trị lâu dài cho người bệnh không chỉ phụ thuộc vào người thầy thuốc
mà cần có sự hợp tác tốt giữa người bệnh - gia đình - thầy thuốc để đạt hiệu quả cao trong kiểm soát đường huyết và phòng ngừa được một số biến chứng do bệnh đái tháo đường gây nên
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình là một bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc
sở y tế Hòa Bình Bệnh viện tiếp nhận chữa bệnh cho các đối tượng nhân dân trong tỉnh và một số tỉnh lân cận Số lượng người bệnh đến khám và điều trị ĐTĐ tại bệnh viện đúng tuyến và vượt tuyến ngày một gia tăng (năm 2014 là 4476 trường hợp và năm 2015 là 6279 trường hợp) Từ thực tế chúng tôi nhận thấy không ít người khi được phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn, có nhiều biến chứng, số người bệnh đang điều trị ngoại trú theo đơn cấp phát tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình nhập viện với lý do hôn mê do hạ đường huyết hoặc đường huyết tăng quá cao chiếm một tỷ lệ không nhỏ, đây là một thực tế đáng báo động Tuy nhiên việc quản lý và giám sát để
“Nâng cao kiến thức tự chăm sóc về chế độ ăn và luyện tập của những người bệnh
ĐTĐ type 2” tại cộng đồng là một vấn đề rất khó khăn đối với nhân viên y tế.
Hiện nay phòng khám ĐTĐ của viện đang quản lý điều trị cho hơn 3568 người bệnh đái tháo đường Người bệnh được phát hiện bệnh đái tháo đường type
2 và đăng ký điều trị tại bệnh viện có xu hướng gia tăng Việc quản lý ĐTĐ type 2 tại bệnh viện là nhu cầu thiết yếu và đáp ứng chăm sóc tại tuyến cơ sở, giảm chi phí
đi lại cho người bệnh Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016 viện đã tổ chức khám phát
hiện và quản lý theo dõi, cấp thuốc điều trị bệnh ĐTĐ type 2 cho hơn 2700 người
bệnh trong toàn tỉnh Việc nghiên cứu “Nâng cao kiến thức tự chăm sóc về chế độ
ăn uống và luyện tập của người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2016” nhằm mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức tự chăm sóc về chế độ ăn và luyện tập của người bệnh Đái tháo đường type 2 đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
2 Đề xuất giải pháp để nâng cao kiến thức tự chăm sóc về chế độ ăn và luyện
tập của người bệnh Đái tháo đường type 2 đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh
Hòa Bình luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4Theo Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2004: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu”
1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường: [14], [7]
Việc chẩn đoán bệnh đái tháo đường sẽ không khó khăn khi người bệnh có các triệu chứng lâm sàng cổ điển như: ăn nhiều, sụt cân, đái nhiều, uống nhiều, có đường niệu và glucose máu tăng cao Tuy nhiên, những trường hợp có triệu chứng lâm sàng rầm rộ thường ít gặp hoặc glucose máu lúc đói ở mức bình thường thì việc chẩn đoán hoàn toàn dựa vào các xét nghiệm hóa sinh
Theo ADA năm 1997 và được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999, đái tháo đường được chẩn đoán xác định khi có bất kỳ một trong ba tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l Kèm theo các triệu chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân
- Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc người bệnh đã nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn
- Tiêu chuẩn 3: Glucose huyết sau làm nghiệm pháp tăng glucose huyết với 75 gam glucose sau 2 giờ trên 11,1 mmol/l (>200mg/dl)
Các xét nghiệm trên phải được lặp lại 1 - 2 lần trong những ngày sau đó
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5Hình ảnh 1: Hình ảnh kiểm tra đường máu mao mạch
1.3 Phân loại đái tháo đường: [14], [7]
Bệnh đái tháo đường được phân ra các loại sau đây:
- Đái tháo đường type 1: (đái tháo đường phụ thuộc vào insulin) Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia, nhưng theo thống kê từ các bệnh viện thì tỷ lệ mắc ĐTĐ type
1 vào khoảng 7 - 8 % tổng số người bệnh ĐTĐ [14]
- Đái tháo đường type 2: (đái tháo đường không phụ thuộc vào insulin) là thể đái tháo đường kháng insulin hoặc giảm khả năng bài tiết insulin, chiếm đa số người bệnh mắc đái tháo đường nói chung (90%), thường xảy ra ở người lớn tuổi, nhưng có xu hướng trẻ hóa, đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán, bệnh thường biểu hiện có các triệu chứng nhẹ, được chẩn đoán tình cờ hoặc khi bệnh đã có các biến chứng do bệnh đái tháo đường gây nên Đa số người bệnh thuộc loại béo (90% các người bệnh ở các nước đã phát triển) Phần lớn bệnh đái tháo đường type 2 là do hậu quả của tình trạng tăng cân và ít hoạt động thể lực
- Đái tháo đường thai kỳ: Do rối loạn dung nạp glucose, xuất hiện lần đầu tiên khi có thai, và thường mất đi sau đẻ Loại đái đường này gặp từ 1- 2% ở người mang thai có tiền sử gia đình có đái đường, tiền sử thai nhi chết trước khi sinh hoặc
dị dạng,
- Các thể đái tháo đường khác (hiếm gặp): Khiếm khuyết chức năng tế bào do gen, giảm hoạt tính của insulin do khiếm khuyết gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết khá
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 61.4 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và tại Việt Nam [4]
1.4.1 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới:
Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa rất thường gặp ở các nước phát triển và đang phát triển, đã trở thành vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng Tốc
độ phát triển của bệnh rất lớn Theo công bố của WHO 1985 có 30 triệu người trên thế giới bị đái tháo đường thì năm 1994 là 98,9 triệu người Theo số liệu của Viện nghiên cứu đái tháo đường quốc tế, năm 2000 có khoảng 157,3 triệu người và năm
2010 có 215,6 triệu người bị ĐTĐ
Bệnh có xu hướng tăng rõ rệt theo thời gian và sự tăng trưởng kinh tế Ở các nước công nghiệp phát triển ĐTĐ type 2 chiếm 70 - 90% tổng số người bệnh bị ĐTĐ Tuy nhiên có sự khác nhau vì tỷ lệ mắc bệnh giữa các vùng lãnh thổ
1.4.2 Tình hình mắc bệnh ĐTĐ tại Việt Nam
Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu thống kê tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc mà
mới chỉ tiến hành điều tra ở một số thành phố lớn Năm 2002 nghiên cứu đầu tiên về
mức phổ biến của bệnh ĐTĐ được bệnh viện Nội Tiết Trung Ương thực hiện Nghiên cứu cho thấy mức độ phổ biến của bệnh tại nông thôn là 2,7% và tại thành thị là 4,4% Ước tính hiện tại 2,5% dân số ở độ tuổi trên 20 tại Việt Nam mắc ĐTĐ type 2, dự kiến năm 2025 sẽ tăng lên 3,5% Một nghiên cứu mới được thực hiện vào năm 2006 đã thấy rằng mức phổ biến của bệnh trên cả nước đã là 2,6%, nghiên cứu này cũng cho biết chỉ có 14,3% người bệnh biết họ mắc ĐTĐ Các tác giả lập luận rằng tình trạng phát hiện bệnh thấp nêu bật mức thiếu thốn những cơ sở y tế có đủ khả năng phát hiện ĐTĐ Tác giả Tạ văn Bình trong nghiên cứu thực hiện năm 2006 thấy rằng 36% đối tượng đã được phát hiện từ trước và 64% mắc bệnh ĐTĐ mà không được phát hiện Tình trạng ĐTĐ không được phát hiện tương đối phổ biến tại nhiều nước, một vài ước tính cho biết cứ 8 người mắc bệnh ĐTĐ mới có 1 người được chẩn đoán và có rất nhiều người bệnh được chẩn đoán muộn
1.5 Biến chứng đái tháo đường
Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính Người bệnh
có thể tử vong do các biến chứng này
1.5.1 Biến chứng cấp tính
Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp Ngay cả khi điều trị đúng, hôn mê nhiễm toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng nguy hiểm
Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid do thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa tổ chức Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao 5 - 10%
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose nặng, đường huyết tăng cao Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm 5 - 10% Ở người bệnh đái tháo đường type 2 nhiều tuổi, tỷ lệ tử vong từ 30 - 50% [43]
Nhiều người bệnh hôn mê, dấu hiệu đầu tiên của bệnh chính là tăng glucose máu Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết về bệnh đái tháo đường còn chưa được phổ biến trong cộng đồng
1.5.2 Biến chứng mạn tính 1.5.2.1 Biến chứng tim - mạch
Bệnh lý tim mạch ở người bệnh đái tháo đường là biến chứng thường gặp
và nguy hiểm Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhưng các nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và các biến chứng tim mạch khác Người đái tháo đường có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm khoảng 75% tử vong ở người bệnh đái tháo đường, trong đó thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất Một nghiên cứu được tiến hành trên 353 người bệnh ĐTĐ type 2 là người Mỹ gốc Mêhicô trong 8 năm thấy có 67 người bệnh tử vong và 60% là do bệnh mạch vành [5]
Tăng huyết áp thường gặp ở người bệnh đái tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh chung của tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường gấp đôi so với người bình thường Trong đái tháo đường type 2, 50% đái tháo đường mới được chẩn đoán có tăng huyết áp Tăng huyết áp ở người đái tháo đường type 2 thường kèm theo các rối loạn chuyển hoá và tăng lipid máu [4],[54]
Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở người bệnh đái tháo đường gấp 1,5 - 2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường.thành các hội luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnhthần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi thường được phân chia thành các hội chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi
1.5.3 Một số biến chứng khác 1.5.3.1 Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường
Bệnh lý bàn chân đái tháo đường ngày càng được quan tâm do tính phổ biến của bệnh Bệnh lý bàn chân đái tháo đường do sự phối hợp của tổn thương mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose máu tăng cao
`1.5.3.2 Nhiễm khuẩn ở người bệnh đái tháo đường
Người bệnh bị ĐTĐ nhạy cảm với tất cả các loại nhiễm khuẩn do có nhiều yếu tố thuận lợi Có thể gặp nhiễm khuẩn ở nhiều cơ quan như: viêm đường tiết niệu, viêm răng lợi, viêm tủy xương, viêm túi mật sinh hơi, nhiễm nấm … [6]
1.6 Điều trị bệnh đái tháo đường
1.6.1 Chiến lược điều trị ĐTĐ
Quản lý thành công một người bệnh ĐTĐ cần có 1 đội ngũ tham gia: người bệnh, thầy thuốc, y tá, nhà dinh dưỡng, chuyên gia chăm sóc bàn chân, chuyên gia tâm lý, chuyên viên thể thao (VĐTL) Vấn đề này đã được nhấn mạnh và quan tâm coi việc chăm sóc và điều trị bệnh ĐTĐ là công việc tập thể [13]
1.6.2 Mục tiêu điều trị [3]
Theo các kết quả nghiên cứu cũng như các tài liệu thì chế độ điều trị phải theo từng bước, nhưng mục tiêu chung của ĐTĐ vẫn là:
- Giảm các triệu chứng
- Cải thiện chất lượng cuộc sống
- Ngăn ngừa biến chứng cấp - mãn
- Giảm tỷ lệ tử vong
- Điều trị thích hợp các bệnh lý đi kèm
1.6.3 Nguyên tắc điều trị
Để điều trị đạt kết quả cần kết hợp giữa chế độ dùng thuốc, chế độ luyện tập
và chế độ ăn uống đúng Điều quan trọng là những chế độ này là khác nhau đối với mỗi người, thậm chí ở cùng một người bệnh là khác nhau theo từng giai đoạn bệnh Việc tìm ra một chế độ điều trị thích hợp cho mỗi người đòi hỏi nhiều công phu, luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9không chỉ từ phía người thầy thuốc mà còn cần phối hợp với người bệnh và gia đình họ [8]
1.6.3.1 Chế độ ăn uống:
- Một chế độ ăn thích hợp phải đáp ứng được các yêu cầu:
+ Đủ năng lượng cho hoạt động bình thường, chế độ này phải đáp ứng phù hợp với những hoạt động khác như luyện tập thể lực, hoặc những thay đổi điều kiện sống
+ Tỷ lệ cân đối giữa các thành phần đạm, mỡ, đường + Đủ vi chất
+ Chia nhỏ bữa ăn cho phù hợp và tránh tăng đột ngột glucose máu
+ Phối hợp với thuốc điều trị (nếu có)
Như vậy, không thể có một chế độ ăn chung cho tất cả mọi người mắc bệnh ĐTĐ Để có một chế độ phù hợp cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và người bệnh, cận phải có thời gian để đánh giá cho đúng
- Theo nhiều nghiên cứu, nhu cầu năng lượng đảm bảo cho hoạt động của một người bình thường ở nữ là 30- 35 calo/kg/ngày; ở nam là 35- 40 calo/kg/ngày Tổng lượng calo này được chia ra với các tỷ lệ khác nhau về đường, đạm, mỡ cho phù hợp
- Theo khuyến cáo của các chuyên gia dinh dưỡng:
+ Các thực phẩm nên sử dụng: Nên sử dụng các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp dưới 55% trong bữa ăn như: hầu hết các loại rau trừ bí đỏ, các loại đậu (đậu phụ, đậu xanh …), các loại trái cây (xoài, chuối, táo, nho) Chọn các thực phẩm giàu đạm nguồn gốc động vật ít chất béo và / hoặc nhiều acid béo chưa no có lợi cho sức khỏe như thịt nạc (thịt da cầm nên bỏ da), nên ăn cá ít nhất 3 lần trong mỗi tuần
+ Các thực phẩm nên hạn chế như: Cơm, miến dong, bánh mỳ (chỉ nên ăn tối
đa 1 lần/1 loại/1 ngày) + Các thực phẩm cần tránh không nên ăn: Cần tránh các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao trên 55% và hấp thu nhanh như: nước uống có đường, bánh kẹo,
đồ ngọt, dưa hấu, dứa, các loại khoai bỏ lò (khoai tây nướng, khoai lang nướng) Chỉ sử dụng trong các trường hợp đặc biệt khi có triệu chứng hạ glucose máu Ngoài ra cũng không được sử dụng: phủ tạng, lòng gan và đồ hộp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10- Giá trị dinh dưỡng của một số loại thực phẩm:
+ Thực phẩm cung cấp gluxit: Bánh mì 40g, gạo 25g, mì sợi 30g, khoai tây 100g, khoai mì tươi 60g, đậu 40g, 1 trái cam vừa, 1 trái chuối vừa, 1 trái táo, 100g nho, 250g dâu tây, 1 trái dứa, 1 trái xoài vừa đều tương đương với 20g gluxit
+ Thực phẩm cung cấp protit: 100g thịt nạc tương đương với 15 - 18g protit + Thực phẩm cung cấp lipit: 100g dầu ăn tương đương với 90 - 100g lipit
Thành phần ADA (%) Các tài liệu khác (%)
**
Việt nam đề nghị 15- 20%
- Phân bố bữa ăn:
Trong thực tế, người bệnh vẫn duy trì 3 bữa ăn chính là bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, còn việc thực hiện các bữa phụ vào giữa buổi sáng, giữa buổi chiều nhiều khi khó thực hiện ở một số đối tượng, bữa ăn nhẹ trước khi đi ngủ là cần thiết vì tránh được tai biến hạ glucose máu ban đêm và hiệu ứng Somogyi vào buổi sáng hôm sau
1.6.3.2 Chế độ luyện tập
* Chế độ luyện tập cần theo những nguyên tắc cơ bản:
- Phải coi luyện tập là một biện pháp điều trị, phải thực hiện nghiêm túc theo trình
tự được hướng dẫn
- Có sự phân biệt về mức độ và hình thức luyện tập giữa người bệnh ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type 2
- Luyện tập phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và sở thích cá nhân
- Nên tập những môn rèn luyện sự dẻo dai bền bỉ hơn là những môn cần sử dụng nhiều thể lực
* Phải đánh giá tình trạng người bệnh trước khi luyện tập vì:
- Những người có bệnh mạch vành thường tăng nguy cơ bị biến cố tim cấp tính hoặc ngay sau khi luyện tập
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11- Tiến hành nghiệm pháp luyện tập không xâm nhập trước khi bắt đầu chương trình luyện tập có thể được sử dụng ở người bệnh như một test để đánh giá nguy cơ tim mạch, từ đó đưa ra các khuyến cáo luyện tập cụ thể
- Cần lưu ý theo dõi người cao tuổi bị mắc ĐTĐ type 2 khi luyện tập vì nhóm đối tượng này thường có nhiều bệnh tiềm ẩn đi kèm Do vậy phải thăm khám kỹ để thiết lập chế độ luyện tập phù hợp Người cao tuổi thường chỉ có tăng glucose máu nhẹ, chỉ cần điều chỉnh bằng chế độ ăn và chế độ luyện tập là đủ để đưa nồng độ glucose máu trở về bình thường Trường hợp này ít khi xảy ra hạ glucose máu khi luyện tập
+ Loại hình hoạt động thể lực với cường độ thấp: Tập dưỡng sinh, Yoga, làm công việc nhẹ ở nhà như nội trợ …
1.6.3.3 Thuốc điều trị trong đái tháo đường type 2
- Mục đích:
+ Giảm cân nặng ( với người béo) hoặc không tăng cân (với người không béo)
+ Duy trì được lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau khi ăn gần như mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng, sẽ giảm được các biến chứng có liên quan đến ĐTĐ, giảm tỷ lỷ lệ tử vong do ĐTĐ
- Nguyên tắc:
+ Dùng thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập
+ Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì
số đo huyết áp hợp lý, chống các rối loạn đông máu …
+ Khi cần thiết thì phải dùng insulin
- Đánh giá việc tuân thủ chế độ dùng thuốc:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12+ Tuân thủ dùng thuốc là chế độ điều trị dùng thuốc đều đặn suốt đời, đúng thuốc, đúng giờ, đúng liều lượng
+ Theo khuyến cáo của TCYTTG người bệnh mắc các bệnh lý mạn tính được coi là tuân thủ điều trị thuốc khi phải thực hiện được ít nhất 90% phác đồ điều trị trong vòng 1 tháng Vì vậy người bệnh ĐTĐ được coi là không tuân thủ điều trị nếu số lần quên dùng thuốc (uống/tiêm) > 3 lần/tháng
+ Những trường hợp quên dùng thuốc uống/tiêm thì nên xin ý kiến bác sỹ và nếu quên thì không nên uống bù/tiêm bù vào lần uống/tiêm sau
1.7 Lịch theo dõi của người bệnh đái tháo đường
- Chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà & khám định kỳ:
+ Với những người bệnh đang dùng thuốc uống hạ đường huyết nên thử đường huyết tối thiểu 2 lần/tuần Những người bệnh dùng kết hợp cả thuốc viên và thuốc tiêm insulin nên thử đường huyết tối thiểu 1 lần/ngày
+ Người nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ tốt nhất là đi khám sức khỏe định kỳ
1 tháng/ lần
1.8 Khái niệm về tự chăm sóc sức khỏe
Tự chăm sóc sức khỏe là biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, ăn uống điều độ, thường xuyên luyện tập thể dục, năng chơi thể dục thể thao, tích cực phòng và chữa bệnh, không hút thuốc lá và dùng các chất kích thích khác
Tác dụng của việc tự chăm sóc cho người bệnh ĐTĐ là phải tuân thủ đúng chế độ ăn và chế độ luyện tập theo hướng dẫn của cán bộ y tế để hạn chế tăng glucose máu và phòng tránh những biến chứng khác
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13CƠ SỞ THỰC TIỄN
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
2.1 Nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu của Joan N kalyago và cộng sự (2008) về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tại bệnh viện Uganđa cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị thuốc chiếm tỷ lệ khá cao là 71,1% Nghiên cứu này cũng đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh như khả năng chi trả thuốc, số buổi tham gia vào các lớp học giáo dục sức khỏe, kiến thức hiểu biết về phác đồ điều trị thuốc Ưu điểm của nghiên cứu này là cho người đọc thấy rõ được một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị tại một quốc gia đang phát triển, tuy nhiên chưa chỉ ra được lý do tại sao người bệnh lại không tuân thủ điều trị [15]
Nghiên cứu của Alan.M và cộng sự (2006) chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ điều trị thường tốt hơn tuân thủ thay đổi lối sống Nghiên cứu này cho biết có 65% người bệnh tuân thủ chế độ ăn, 19% người bệnh tuân thủ chế độ luyện tập, 53% người bệnh tuân thủ chế độ uống thuốc và 67% người bệnh thường xuyên đo đường huyết
Năm 1992, ở Pháp tác giả Marie Laure Auciaux và cộng sự ước tính có khoảng 2 triệu người đái tháo đường týp 2
Ở Mỹ, theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC, bệnh đái tháo đường tăng 14% trong hai năm từ 18,2 triệu người (2003) lên 20,8 triệu người (2005) [5]
Theo một thông báo của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế, năm 2006 ước tính khoảng 246 triệu người mắc bệnh, trong đó bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm khoảng 85 - 95 % tổng số bệnh nhân đái tháo đường ở các nước phát triển và thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển [25]
Tỷ lệ bệnh đái tháo đường thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển và thay đổi theo từng vùng địa lý khác nhau Trong
đó, nơi có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất là khu vực Bắc Mỹ (7,8%), khu vực Địa Trung Hải và khu vực Trung Đông (7,7%), châu Âu (4,9%) và châu Phi (1,2%) [4]
Tỷ lệ đái tháo đường ở châu Á cũng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á (5,3%) [4],[49] Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh nhanh chóng do mức độ đô thị hóa nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị nhiều, sự thay đổi nhanh chóng về lối sống công nghiệp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 142.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Hồ Bích Thủy ( 2000 ) thực hiện tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định vào năm 2000 với 327 người bệnh ĐTĐ ghi nhận tỷ lệ người bệnh có ĐH đói chưa kiểm soát tốt chiếm 65% do người bệnh không tái khám đều đặn và không biết cách tự theo dõi bệnh - uống thuốc - tiết chế [15]
Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống biến chứng và một số yếu tố liên quan của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Ba Đình,
Hà Nội năm 2004 của Đoàn Khắc Bạo cho biết mối liên quan tỷ lệ thuận giữa hiểu biết và thực hành điều trị Về mức độ hiểu biết đạt yêu cầu là 63,4%, việc thực hành điều trị của người bệnh cũng chỉ đạt tỷ lệ là 68,3% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga (2003) thực hiện tại bệnh viện Nguyễn Trãi với 138 người bệnh ĐTĐ cho thấy tỷ lệ người bệnh đạt mức kiểm soát ĐH đói trong giới hạn tốt là 11,1% trong khi tỷ lệ người bệnh có mức ĐH kém chiếm đến 50% Nguyên nhân kiểm soát
ĐH kém do người bệnh không tuân thủ điều trị: không giữ đúng tiết chế, không luyện tập thể lực, không sử dụng thuốc theo y lệnh [10]
Nghiên cứu của Trần Chiêu Phong và cộng sự (2006): Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng của người bệnh đái tháo đường Kết quả đa số người bệnh không biết về biến chứng của bệnh (91%), 54% người bệnh có kiến thức đúng về chế độ dinh dưỡng, 97% đồng ý nên uống thuốc đúng và đủ, 54% đồng ý
đo đường huyết tại nhà nhưng chỉ có 21% người bệnh thực hành đo đường huyết tại nhà, 82% người bệnh uống thuốc theo đúng chỉ định, 58% người bệnh có chế độ ăn dành cho mình và 95% người bệnh có tập thể lực
Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống biến chứng của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Thanh Miện tỉnh Hải Dương của Đỗ Văn Hinh năm 2007 cho thấy nhóm có kiến thức phòng chống biến chứng đái tháo đường không đạt thì
tỷ lệ thực hành đạt chiếm 13%, thực hành không đạt chiếm 87% Trong khi ở nhóm
có kiến thức đạt tỷ lệ thực hành đạt chiếm 38% và không đạt là 61,4% Tỷ lệ người
có kiến thức không đạt thì thực hành không đạt cao gấp 4,2 lần so với nhóm có kiến thức đạt Qua đó cho thấy kiến thức của người bệnh càng tốt thì thực hành đạt càng cao [9]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15Khu vực thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu tình hình quản lý ĐTĐ ở phòng khám bệnh viện Nhân Dân Gia Định (2009) bệnh viện Nguyễn Tri Phương
đã cho thấy: nếu người bệnh tuân thủ chế độ điều trị thì kiểm soát được ĐH và hạn chế được những yếu tố nguy cơ [14]
- Cũng theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Khánh Thuận (2010) tại bệnh viện Nhân dân 115 - thành phố Hồ Chí Minh, theo đó có tới 91% người bệnh cho rằng việc tập luyện thường xuyên theo chỉ dẫn của cán bộ y tế là rất quan trọng thu được
số người bệnh có kiến thức về chế độ vận động đạt yêu cầu là 81.6%, họ đã hiểu được vai trò quan trọng của việc hoạt động thể lực đối với việc điều trị bệnh ĐTĐ, 72% cho rằng nên luyện tập theo sở thích nhưng vẫn phải tuân theo sự hướng của bác sỹ, 93% cho rằng phải tránh lối sống tĩnh tại [16]
2.3 Tại Hòa Bình
Tại Hòa Bình, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện thì tỷ lệ số người bệnh ĐTĐ type 2 ngày một tăng nhưng nhiều người khi được phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn, có nhiều biến chứng của bệnh Biện pháp hữu hiệu để giảm tiến triển và biến chứng của bệnh là phải phát hiện sớm và điều trị người bệnh kịp thời để làm được điều đó thì người
bệnh phải có kiến thức qua tham khảo các nghiên cứu:
- Nghiên cứu của Trịnh Quốc Công và cộng sự (2015): Đề tài nghiên cứu “ Đánh giá kiến thức của người bệnh về sự tuân thủ chế độ điều trị trên người bệnh đái tháo đường tại khoa Nội tổng hợp của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2015”
Qua khảo sát 350 người bệnh ĐTĐ về kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng của người bệnh đái tháo đường Kết quả đa số người bệnh không biết về biến chứng của bệnh (91%), 52,8% người bệnh có kiến thức đúng về chế độ dinh dưỡng, 97% đồng ý nên uống thuốc đúng và đủ, 54% đồng ý đo đường huyết tại nhà nhưng chỉ có 21% người bệnh thực hành đo đường huyết tại nhà, 82% người bệnh uống thuốc theo đúng chỉ định, 58% người bệnh có chế độ ăn dành cho mình
và 59% bệnh người bệnh có tập thể lực [16]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16- Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Cường và cộng sự (2014): Đề tài nghiên cứu “
Đánh giá thực trạng kiến thức của người bệnh đái tháo đường tuye 2 tại bệnh viện Nội tiết tỉnh Hòa Bình năm 2014”
Qua khảo sát 200 người bệnh ĐTĐ về kiến thức phòng biến chứng của người bệnh đái tháo đường Kết quả đa số người bệnh không biết về biến chứng của bệnh (88%), 62 người bệnh có kiến thức đúng về chế độ dinh dưỡng, 97% đồng ý nên uống thuốc đúng và đủ, 62% đồng ý đo đường huyết tại nhà nhưng chỉ có 35% người bệnh thực hành đo đường huyết tại nhà, 87% người bệnh uống thuốc theo đúng chỉ định, 60% người bệnh có chế độ ăn dành cho mình và 53% người bệnh có
tập thể lực [18]
2.4 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc về chế độ ăn uống và luyện tập của người bệnh ĐTĐ type 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
2.4.1 Đối tượng khảo sát
Đối tượng lựa chọn là người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị nội trú, tại khoa nội
tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Thời gian khảo sát: từ tháng 03/2016 đến tháng 04/2016
Số lượng người bệnh tham gia khảo sát: 50 người bệnh
Công cụ thu thập số liệu: sử dụng phiếu khảo sát (Phụ lục) Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp
2.4.2 Kết quả khảo sát
Qua khảo sát người bệnh điều trị ĐTĐ type 2 tại khoa nội tổng hợp bệnh
viện đa khoa tỉnh Hòa Bình thu được kết quả sau:
Nhận xét: Đa số người bệnh ĐTĐ type 2 phải điều trị nội trú có trình độ học
vấn không cao: 62% có trình độ từ THCS trở xuống Chỉ có 38% có trình độ từ THPT trở lên Trình độ học vấn thấp thì sự hiểu biết về bệnh còn hạn chế, ít có khả năng tự luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si