ĐÁNH GIÁVÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LI LỌC MÀNG B TẠI KHOA THẬN TIẾT NIỆU Chuyên ngành: Đi LU NGƯỜI HƯỚNG D ĐỖ THỊ THANH VÂN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH ÀNG
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 103 bệnh nhân mắc suy thận giai đoạn cuối, đang điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại khoa thận tiết niệu của Bệnh viện Bạch Mai.
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn người bệnh
Người bệnh điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai đã đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Người bệnh có thể nghe nói và hiểu tiếng Việt
- Người bệnh tỉnh táo và đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ người bệnh khỏi nghiên cứu
- Người bệnh có bệnh lý ác tính
- Người bệnh đang có các bệnh lý khác đi kèm: đái tháo đường, xuất huyết tiêu hóa, phẫu thuật, rối loạn tâm thần, trầm cảm…
- Người bệnh không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai Địa chỉ: Tầng 5 nhà P 78 Giải Phóng - Phường Phương Mai -Quận Đống Đa
Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, tất cả bệnh nhân đều được nghiên cứu theo các bước thống nhất.
Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu
Loại ra khỏi nghiên cứu
Người bệnh thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh nhập khoa
Thận - Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai
Người bệnh thỏa mãn một trong số các tiêu chuẩn loại trừ
Không Đánh giá tình trạng chăm sóc dinh dưỡng bằng:
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp SGA
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp theo dõi trọng lượng cơ thể (BMI)
- Phương pháp đánh giá dựa vào xét nghiệm CLS (albumin HT, protein HT, hemoglobin, sắt, feritin, tranferrin HT…)
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú là rất quan trọng Đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân đang điều trị ngoại trú sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Theo nghiên cứu của Đinh Thị Kim Dung (2013), tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở nhóm bệnh nhân suy thận mãn tính đang điều trị thay thế bằng liệu pháp lọc máu liên tục ngoại trú là 35%, được xác định qua chỉ số BMI Do đó, tôi quyết định ước lượng tỷ lệ SDD ở nhóm bệnh nhân này tại Việt Nam là 35% với khoảng tin cậy ước đoán là 10% để xác định cỡ mẫu.
Cỡ mẫu được tính theo công thức:n = ( ) Với Z(1-α/2) = 1,96; p: tỉ lệ ước đoán (p= 0,35); d: khoảng tin cậy (d = 0,009) n= , , ,
Để thuận tiện cho việc so sánh giữa các nhóm nghiên cứu và đảm bảo sự cân đối giữa hai giới, chúng tôi dự kiến sẽ thu thập dữ liệu từ 100 bệnh nhân, với điều kiện số lượng bệnh nhân nghiên cứu phải trên 97 người Số mẫu này cũng đã tính đến khả năng mất mát trong quá trình thu thập dữ liệu.
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với số lượng là 103 người bệnh n = 103 người bệnh b) Trình bày phương pháp chọn mẫu
Lấy mẫu thuận tiện cho nghiên cứu người bệnh đến khám bằng cách chọn tất cả bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú đang được điều trị và theo dõi tại khoa theo lịch hẹn từ thứ hai đến thứ năm hàng tuần, không bao gồm bệnh nhân nội trú.
- Kết hợp với tiêu chuẩn loại trừ đến khi đủ số lượng người bệnh.
Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin chung: Tên, tuổi, giới, nghề nghiệp…
Tiền sử bệnh tật + Các bệnh thận tiết niệu hoặc các bệnh liên quan như tăng huyết áp, gout mạn tính
Tiền sử các bệnh nội tiết và các bệnh mạn tính như đái tháo đường, bệnh lý tuyến giáp, bệnh lý tuyến thượng thận, xơ gan và bệnh ung thư có vai trò quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe tổng quát Những thông tin này cần được lưu ý để có phương pháp điều trị và quản lý bệnh hiệu quả.
Nghiên cứu viên được hướng dẫn bởi chuyên gia dinh dưỡng tại trung tâm dinh dưỡng lâm sàng bệnh viện Bạch Mai về phương pháp cân đo và phỏng vấn bệnh nhân theo thang điểm SGA.
Người bệnh sẽ được khám lâm sàng toàn diện theo mẫu bệnh án thống nhất để phát hiện các triệu chứng bệnh và các bệnh lý phối hợp cần được loại trừ.
Đo chiều cao, cân nặng
Đánh giá tình trạng phù, thiếu máu, tăng huyết áp và mức độ của các tình trạng đó
Đánh giá về tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (BMI), theo albumin huyết thanh và theo phương pháp SGA
- Phương pháp SGA không tính điểm bằng số
- Điểm nguy cơ dinh dưỡng tổng thể không dựa vào mối nguy cơ riêng lẻ
- Không nên sử dụng hệ thống tính điểm cứng nhắc dựa trên các tiêu chuẩn cụ thể
- Hầu hết tính điểm từ:
Phần 1: Sụt cân, khẩu phần ăn
Phần 2: Giảm khối cơ và dự trữ mỡ Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “A”:
- Cân nặng bình thường hoặc gần đây tăng cân trở lại
- Khẩu phần ăn bình thường hoặc cải thiện khẩu phần ăn
- Mất lớp mỡ dưới da tối thiểu hoặc không mất
- Không giảm khối cơ hoặc giảm tối thiểu
Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “B”:
- Sụt cân tổng thể mức độ vừa đến nặng trước khi nhập viện (5-10%)
- Khẩu phần ăn có thay đổi (ăn ít hơn bình thường < 50%)
- Mất lớp mỡ dưới da khoảng 2cm, giảm khối cơ vừa
- Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm “C”: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Sụt cân rõ hoặc tiến triển (thường ít nhất 10% cân nặng bình thường)
- Khẩu phần ăn có thay đổi nhiều (ăn ít hơn bình thường > 50%)
- Mất lớp mỡ dưới da > 2cm, giảm khối cơ nặng.Mức đánh giá SGA:
- Mức A: Không có nguy cơ dinh dưỡng
- Mức B: Nguy cơ dinh dưỡng mức độ nhẹ
- Mức C: Nguy cơ dinh dưỡng mức độ nặng
Chú ý: Khi do dự giữa điểm A hoặc B thì chọn B Khi do dự giữa điểm B hoặc C thì chọn B [32]
2.5.3 Các thăm dò cận lâm sàng
Công thức máu: Xét nghiệm số lượng hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố (Hb) Xét nghiệm được làm tại khoa Huyết học - bệnh viện Bạch Mai
Xét nghiệm sinh hóa máu bao gồm các chỉ số như ure, creatinin, SGOT, SGPT, acid uric, protein toàn phần, albumin, phospho, calci, sắt, ferritin, transferrin và PTH Bệnh phẩm cần được lấy vào buổi sáng sớm, trước 7 giờ 30, và người bệnh phải nhịn ăn Xét nghiệm này được thực hiện tại khoa Sinh hóa của bệnh viện Bạch Mai.
Các dụng cụ cân đo, máy xét nghiệm đều có lý lịch máy rõ ràng và được quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001 của bệnh viện Bạch Mai
2.5.3.1 Các tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Chỉ số khối cơ thể (BMI):
BMI = cân nặng/ (chiều cao) (kg/m )
Đánh giá dinh dưỡng theo nồng độ albumin huyết thanh
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA
2.5.3.2 Ngưỡng đánh giá các chỉ số:
Đánh giá mức độ tăng huyết áp: Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII
Đánh giá mức độ thiếu máu dựa vào nồng độ hemoglobin theo WHO
Các biến số nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đã được thống nhất thu thập các biến số theo một mẫu bệnh án cụ thể.
- Biến phụ thuộc: BMI, giảm cân nặng, bất thường về chỉ số sinh hóa, Phân nhóm SGA
- Biến độc lập: Tuổi, giới, bệnh căn, creatinin máu, hemoglobin, ferritin, cân nặng, chiều cao.
Các tiêu chuẩn đánh giá và chẩn đoán
Bảng 2.1 Phân loại THA theo JNC VII
Huyết áp HA tâm thu (mmHg ) HA tâm trương
2.7.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu
Dựa vào các chỉ số hồng cầu, Hemoglobin (Hb), Hematocrit (Hct) Ở người Việt Nam thiếu máu được xác định khi nồng độ Hb < 120 g/L hoặc Hct < 37%
Bảng 2.2 Phân độ thiếu máu dựa theo nồng độ Hemoglobin Phân độ thiếu máu Bình thường Thiếu máu nhẹ
Theo hướng dẫn của Hội Thận học Thế giới - NKF KDOQI (2007), nồng độ Hemoglobin mục tiêu cho bệnh nhân suy thận mạn sử dụng Erythropoietin, dù có lọc máu hay không, nên duy trì trong khoảng 11-12 g/l và không vượt quá 13 g/l.
2.7.3 Các tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng khác
Bảng 2.3 Mức độ dinh dưỡng theo nồng độ albumin huyết thanh
Chỉ số Albumin (g/l) Đánh giá
28 - < 35 Suy dinh dưỡng nhẹ, trung bình
Bảng 2.4 Mức độ dinh dưỡng theo thang điểm SGA Điểm Đánh giá
A Không có nguy cơ suy dinh dưỡng
B Suy dinh dưỡng mức độ nhẹ-vừa
C Suy dinh dưỡng mức độ nặng
Bảng 2.5 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu
STT Biến số Đơn vị Phân loại
3 Cân nặng Kg SDD nhẹ, SDD trung bình, SDD nặng, không SDD
4 Chiều cao Cm SDD nhẹ, SDD trung bình, SDD nặng, không SDD
5 Thời gian chạy LMB Năm 5 năm
8 Chỉ số khối cơ thể (BMI) Kg/m 2 23
10 Thiếu máu g/l Nhẹ, Trung bình, nặng
11 Tăng huyết áp mm Hg Tiền THA, THA độ 1, THA độ 2,
HA bình thuờng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Phương pháp phân tích số liệu
Xử lí kết quả thu được bằng phương pháp thống kê y học theo chương trình Stata 11
Tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn các thông số thực nghiệm
Kiểm định Khi bình phương để so sánh sự khác biệt giữa hai hay nhiều tỉ lệ
Kiểm định t test để so sánh hai trung bình của các nhóm độc lập
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p 60 tuổi chỉ chiếm 13,6% Tuổi trung là 44,7 ± 12,3, tuổi nhỏ nhất là 17, tuổi lớn nhất 77.
Nhóm tuổi được điều trị bằng phương pháp này cho thấy rằng chỉ có 13,6% người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu Tuổi trung bình lớn nhất trong nhóm là 77.
3.1.2 Đặc điểm chung về giới tính
Biểu đồ 3.2 cho thấy, số nhân nữ giới (chiếm 42,7%).
3.1.3 Trình độ văn hóa của
Không biết chữ Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Cao đẳng/Trung cấp/Dạy nghề Đại học trở lên
Bảng 3.1 cho thấy, thông trở lên chiếm tỷ lệ lớn (63,1%), tr độ tiểu học 7,8% và có 1,9% là không bi
Theo biểu đồ 3.2, tỷ lệ người bệnh nam giới chiếm 57,3%, cao hơn so với nữ giới với 42,7% Biểu đồ 3.1 cho thấy trình độ văn hóa của người bệnh, với tỷ lệ phần trăm được thể hiện rõ ràng.
103 100 ảng 3.1 cho thấy, tỷ lệ người bệnh có trình độ văn hóa từ t ỷ lệ lớn (63,1%), trình độ trung học cơ sở chiếm 27,2%, tr 1,9% là không biết chữ
100 ừ trung học phổ ở chiếm 27,2%, trình luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
3.1.4 Phân bố người bệnh bụng liên tục
Biểu đồ 3.3 cho thấy, trong số 103 người bệnh đã điều trị bằng ph tỷ lệ cao nhất (36,9%), từ 3 năm chiếm 15,5%
3.1.5 Một số triệu chứng lâm s
Trong nghiên cứu về phương pháp lọc màng bụng, biểu đồ 3.3 cho thấy sự phân bố của 103 người bệnh theo thời gian điều trị Cụ thể, tỷ lệ bệnh nhân điều trị trên 5 năm chiếm 25,3%, trong khi đó, những người điều trị từ 3-5 năm chiếm 22,3% và từ 1-3 năm chiếm 22,3% Biểu đồ 3.4 cũng chỉ ra sự phân bố người bệnh theo mức độ phù, phản ánh các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của họ.
Thời gian lọc màng bụng
Phương pháp lọc màng có thể được phân loại thành ba mức độ: không phù, phù nhẹ và phù trung bình Trong một nghiên cứu kéo dài 5 năm, tỷ lệ tham gia đạt 22,3% Để biết thêm thông tin, bạn có thể tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua email luanvanfull@gmail.com.
Trong nghiên cứu với 103 người bệnh, 53,4% không có triệu chứng phù, 35% có triệu chứng phù nhẹ, và chỉ 12,6% có triệu chứng phù trung bình.
Bảng 3.2 Tình trạng phù ở người bệnh theo giới tính
Mức độ phù Nam Nữ Tổng n % n % n %
Tỷ lệ nữ bệnh nhân có triệu chứng phù cao hơn nam bệnh nhân, với 43,2% bị phù nhẹ và 11,3% bị phù trung bình, so với 28,8% và 13,6% ở nam Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
- Triệu chứng tăng huyết áp
Bảng 3.3 Tình trạng mắc tăng huyết áp ở người bệnh theo giới tính
Tăng huyết áp Nam Nữ Tổng n % n % n %
Bảng 3.3 cho thấy, Tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm người bệnh tham gia nghiên cứu là 52,4%, tỷ lệ người bệnh ở giai đoạn Tiền THA là 8,7%
- Triệu chứng thiếu máu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 3.4 Tình trạng thiếu máu ở người bệnh theo giới tính
Thiếu máu Nam Nữ Tổng n % n % n %
Theo Bảng 3.4, 86,4% người bệnh trong nhóm nghiên cứu có triệu chứng thiếu máu Trong số đó, tỷ lệ người bệnh thiếu máu vừa cao nhất với 44,7%, tiếp theo là thiếu máu nhẹ chiếm 39,8%, và chỉ có 1,9% người bệnh bị thiếu máu nặng.
3.1.6 Nguyên nhân gây bệnh thận mạn tĩnh
Biểu đồ 3.5 Nguyên nhân gây bệnh thận mạn tĩnh
Viêm cầu thận mạn Viêm bể thân mạn Thận đa nang Nguyên nhân khác luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Biểu đồ 3.4 cho thấy, nguyên nhân chủ yếu gây bệnh thận mạn tính là viêm cầu thận mạn (chiếm 73,8%).
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của nhóm nghiên cứu
Phân loại theo SGA Nam Nữ Tổng số n % n % n %
Không có nguy cơ SDD 17 28,8 6 13,6 23 22,3
Nguy cơ SDD nhẹ và trung bình 32 54,2 33 75,0 65 63,1
Theo Bảng 3.5, trong số những người bệnh được nghiên cứu, tỷ lệ có nguy cơ suy dinh dưỡng đạt 77,7%, trong đó suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình chiếm 63,1%, còn suy dinh dưỡng nặng là 14,6% Không có sự khác biệt đáng kể về tình trạng suy dinh dưỡng giữa nhóm nam (71,2%) và nhóm nữ (86,4%) với giá trị p > 0,05.
Bảng 3.6 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh (thang điểm SGA) theo nhóm tuổi
Phân loại theo SGA ≤ 40 tuổi > 40 tuổi Tổng số n % n % n %
Không có nguy cơ SDD 9 23,1 14 21,9 23 22,3
Nguy cơ SDD nhẹ và trung bình 23 59,0 42 65,6 65 63,1
(Kiểm định χ 2 ) χ 2 = 0,68; p = 0,712 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tỷ lệ người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng ở nhóm trên 40 tuổi là 78,1%, cao hơn so với nhóm dưới 40 tuổi với tỷ lệ 76,9% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.2.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (BMI)
Bảng 3.7 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh (chỉ số BMI) theo giới tính Phân loại dinh dưỡng theo
Theo Bảng 3.7, tỷ lệ người bệnh bị suy dinh dưỡng theo chỉ số BMI là 27,1% Trong đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nữ là 31,8%, cao hơn so với nam là 23,8%, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Ngoài ra, tỷ lệ người bệnh thừa cân/béo phì chiếm 15,6%.
Bảng 3.8 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh (chỉ số BMI) theo nhóm tuổi
Phân loại dinh dưỡng theo
Fisher’s exact test =0.047 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Theo Bảng 3.8, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo chỉ số BMI ở bệnh nhân dưới 40 tuổi là 41,0%, cao hơn so với 18,8% ở bệnh nhân trên 40 tuổi Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 0,05).
Bảng 3.10 Tình trạng dinh dưỡng (Albumin huyết thanh) theo nhóm tuổi
Phân loại dinh dưỡng theo nồng độ Albumin huyết thanh
SDD nhẹ và trung bình 12 30,8 19 29,7 31 30,1
Tỷ lệ suy dinh dưỡng dựa trên nồng độ albumin huyết thanh ở nhóm tuổi ≤40 là 33,2%, trong khi ở nhóm >40 tuổi là 32,8% Sự khác biệt giữa hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
3.2.4 So sánh tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo các phương pháp đánh giá (thang điểm SGA; chỉ số BMI; nồng độ albumin huyết thanh)
Bảng 3.11 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo các phương pháp đánh giá
Tình trạng dinh dưỡng Theo SGA Theo BMI Albumin n % n % n %
SDD nhẹ và trung bình 65 63,1 26 25,1 31 30,1
Tỷ lệ suy dinh dưỡng được đánh giá bằng phương pháp SGA là 77,7%, trong khi đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo chỉ số BMI là 27,1% và theo nồng độ Albumin huyết thanh là 33,0%.
Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA với một số yếu tố khác
3.3.1 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với tuổi và giới tính Bảng 3.12 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với tuổi Đánh giá dinh dưỡng theo SGA
Không có nguy cơ SDD 9 23,1 14 21,9
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi là 78,1%, cao hơn so với 76,9% ở nhóm bệnh nhân dưới hoặc bằng 40 tuổi; tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.13 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với giới tính Đánh giá dinh dưỡng theo SGA
Không có nguy cơ SDD 17 28,8 6 13,6
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân nữ là 86,4%, cao hơn so với 71,2% ở nhóm bệnh nhân nam; tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.2 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA với lâm sàng
Bảng 3.14 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với tình trạng phù của người bệnh Đánh giá dinh dưỡng theo SGA
Không có nguy cơ SDD 13 24,1 10 20,4
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân có tình trạng phù đạt 79,6%, cao hơn so với 75,9% ở nhóm không có tình trạng phù Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.15 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với tình trạng Tăng huyết áp Đánh giá dinh dưỡng theo SGA
Không THA + tiền THA Tăng huyết áp n % n %
Không có nguy cơ SDD 9 18,4 14 25,9
Kiểm định χ 2 p=0,36 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân không bị tăng huyết áp (THA) và tiền tăng huyết áp chiếm 81,6%, cao hơn so với nhóm bệnh nhân bị THA với tỷ lệ 74,1% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.3 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA với cận lâm sàng
Bảng 3.16 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với tình trạng thiếu máu Đánh giá dinh dưỡng theo SGA
Không thiếu máu Thiếu máu nhẹ Thiếu máu trung bình n % n % n %
Không có nguy cơ SDD 2 14,3 14 34,2 7 14,6
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân thiếu máu trung bình đạt 85,4%, cao hơn so với 65,8% ở nhóm bệnh nhân thiếu máu nhẹ Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.17 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với dự trữ sắt
Chỉ số Tình trạng dinh dưỡng theo SGA p
Kết quả phân tích tại bảng 3.17 về mối liên quan với tình trạng dinh dưỡng theo SGA cho thấy:
- Nồng độ sắt huyết thanh trung bình ở nhóm không SDD cao hơn nhóm SDD và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Nồng độ ferritin trung bình ở nhóm suy dinh dưỡng (SDD) cao hơn so với nhóm không SDD, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.
-Nồng transferrin huyết thanh trung bình ở nhóm không SDD cao hơn nhóm SDD và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Bảng 3.18 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với protein và albumin
Chỉ số Tình trạng dinh dưỡng theo SGA p
Kết quả phân tích tại bảng 3.18 về mối liên quan với tính trạng dinh dưỡng theo SGA cho thấy:
- Nồng độ Protein trung bình ở nhóm không SDD cao hơn nhóm SDD và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
-Nồng Albumin huyết thanh trung bình ở nhóm không SDD cao hơn nhóm SDD và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Bảng 3.19 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với một số chỉ số hóa sinh khác
Chỉ số Tình trạng dinh dưỡng theo SGA p
Bảng 3.19 cho thấy không có sự khác biệt và không có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ Ure, Creatinin, Acid uric, và Calci huyết thanh trung bình giữa hai nhóm không SDD và nhóm SDD theo điểm SGA (p>0,05) Mặc dù nồng độ PTH huyết thanh ở nhóm không SDD cao hơn nhóm SDD, sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
BÀN LUẬN
Bàn luận về đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của BN là 44,7 ± 12,3 tuổi Kết quả này tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (năm
Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2016 cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân LMB là 44,82 ± 12,28 tuổi, trong khi nghiên cứu của Trần Văn Vũ năm 2010 tại Bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận độ tuổi trung bình là 44,8 ± 14,9 tuổi Điều này cho thấy hầu hết bệnh nhân LMB nằm trong độ tuổi lao động, tạo gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội Tại Việt Nam, nhiều bệnh nhân thường đến bệnh viện khi bệnh đã tiến triển nặng, dẫn đến thời gian điều trị bảo tồn chức năng thận rất ngắn Nguyên nhân có thể do điều kiện kinh tế khó khăn, khiến người dân không thể khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh sớm Trong khi đó, ở các nước phát triển, nhu cầu khám và chăm sóc sức khỏe định kỳ rất cao nhờ vào đời sống được nâng cao.
Người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình trẻ hơn so với nhóm trong nghiên cứu của Yanowsky (62,85 ± 1,53 tuổi) và nghiên cứu của Chung S.H (53,9 ± 12,15 tuổi) Sự khác biệt này có thể do nguyên nhân gây bệnh thận mạn tính (STM) khác nhau Tại Việt Nam, nguyên nhân hàng đầu của bệnh thận giai đoạn cuối là bệnh lý cầu thận mạn và bệnh thận kẽ, trong khi ở các nước phát triển, nguyên nhân chủ yếu là đái tháo đường và tăng huyết áp Hơn nữa, bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính ở Việt Nam thường chưa được theo dõi và điều trị tốt, dẫn đến diễn tiến đến bệnh thận giai đoạn cuối sớm hơn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân nam giới là 57,3%, cao hơn so với nữ giới với tỷ lệ 42,7% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2016), trong đó tỷ lệ bệnh nhân nam là 60,8% và nữ là 39,2% Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi lại cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam cao hơn so với nghiên cứu của Trần Văn Vũ (2010).
Tỷ lệ bệnh nhân nam mắc LMB là 53,8%, cao hơn tỷ lệ bệnh nhân nữ là 46,2% [18] Nghiên cứu của tác giả Cao Thị Như cũng cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 54%, vượt trội so với nữ giới với tỷ lệ 46% [12] Sự khác biệt này có thể xuất phát từ thời điểm và môi trường nghiên cứu khác nhau.
4.1.2 Thời gian lọc màng bụng và biến chứng khi vào viện
Trong nghiên cứu này, 63,1% bệnh nhân có thời gian LMB dưới 5 năm, trong khi 36,9% có thời gian LMB trên 5 năm Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2016), với 78,4% bệnh nhân có thời gian LMB dưới 5 năm và 21,6% trên 5 năm Ngoài ra, nghiên cứu của Cao Thị Như cho thấy thời gian LMB trung bình của bệnh nhân là 44,99 ± 36,11 tháng Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi khác biệt so với nghiên cứu của Trần Văn Vũ, trong đó thời gian LMB trung bình của 90 bệnh nhân tại Bệnh viện Chợ Rẫy là 21,9 ± 15 tháng.
Sự khác biệt trong nghiên cứu có thể xuất phát từ địa điểm và thời gian thực hiện Cụ thể, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương và Cao Thị Như đã tiến hành nghiên cứu tại Khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn 2015 - 2016, trong khi tác giả Trần Văn Vũ thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 2010, khi mà LMB mới bắt đầu phát triển tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy viêm cầu thận mạn là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thận mạn tính, chiếm tỉ lệ 73,8%, phù hợp với nghiên cứu của Bùi Thị Quỳnh (2015) với tỉ lệ 80,0% Nghiên cứu cũng tương đồng với các tác giả Nguyễn Trọng Giống và Nguyễn Thị Huyền Đối tượng nghiên cứu đã được lựa chọn cẩn thận, loại bỏ các nguyên nhân gây bệnh thận mạn tính do đái tháo đường và viêm cầu thận lupus, nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh.
Bàn luận về tình trạng dinh dưỡng của nhóm người bệnh nghiên cứu
Phương pháp đánh giá tổng thể đối tượng (SGA) được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân suy thận mạn, cả trong và ngoài điều trị thay thế Theo khuyến cáo của Hội thận học quốc gia Hoa Kỳ năm 2000, SGA nên được áp dụng định kỳ mỗi 6 tháng cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo, nhờ vào tính đơn giản và khả năng theo dõi sự thay đổi dinh dưỡng trong quá trình bệnh Nghiên cứu tại Mỹ và Canada cũng cho thấy SGA có thể dự đoán tử vong hoặc thất bại trong điều trị Kết quả nghiên cứu cho thấy 77,7% bệnh nhân suy dinh dưỡng, trong đó 63,1% có tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ-trung bình và 14,6% bị suy dinh dưỡng nặng, cao hơn so với nghiên cứu của Trần Văn.
Vũ cho thấy 52,2% số bệnh nhân mắc suy dinh dưỡng, trong đó 46,7% bị suy dinh dưỡng nhẹ và 5,5% bị suy dinh dưỡng nặng Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Tayyem RF (61,8%) và Afshar R (40,7%), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn An Giang (98,6%) Nghiên cứu đa trung tâm tại Ấn Độ của Narayan Prasad trên 283 bệnh nhân LMB năm 2008 cho thấy 7,07% bệnh nhân ở mức suy dinh dưỡng nặng, 67,84% ở mức nhẹ - vừa và 25,08% không có nguy cơ suy dinh dưỡng Sự khác biệt về tỷ lệ suy dinh dưỡng có thể do sự đa dạng về môi trường sống và chế độ ăn uống giữa các bệnh nhân được chăm sóc tại các trung tâm LMB khác nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo phương pháp SGA ở nữ giới (86,4%) cao hơn nam giới (71,2%), nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Điều này tương đồng với nghiên cứu của Chung S.H và cộng sự, trong đó tỉ lệ SDD ở nam giới là 31,3% thấp hơn nữ giới (58,1%) và có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2016) cho thấy tỉ lệ SDD ở nam giới là 64,4% cao hơn nữ giới (60%), nhưng sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Theo bảng 3.6, không có sự khác biệt về tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA giữa hai nhóm tuổi ≤ 40 và > 40 (p > 0,05) Đánh giá này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Malgorzewicz.
S và cộng sự (năm 2016) trên BN LMB tại Ba Lan (p = 0,2) [69] Kết quả này có thể là tình trạng dinh dưỡng không hoặc ít bị ảnh hưởng bởi lứa tuổi mà bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác.Mặt khác do số lượng người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ cho nên việc đánh giá trên các nhóm tuổi khác còn hạn chế
4.2.2 Bàn luận về tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (BMI)
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 27,1% người bệnh bị suy dinh dưỡng theo chỉ số BMI, với tỷ lệ cao hơn ở nhóm bệnh nhân nữ (31,8%) so với nhóm nam (23,8%), mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Đinh Kim Dung, trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI ở 74 người bệnh LMB tại khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai là 35% Chỉ số BMI của các bệnh nhân nam giới không có sự khác biệt đáng kể.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ BN nữ giới là p > 0,05, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương năm 2014 trên 227 bệnh nhân LMB tại Khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai với tỷ lệ 17,6% Ngoài ra, kết quả của chúng tôi cũng vượt trội hơn so với nghiên cứu trên 467 bệnh nhân suy thận mạn của tác giả Trần Văn.
Vào năm 2015, tại bệnh viện Chợ Rẫy, tỷ lệ bệnh nhân là 18,2% Sự khác biệt này có thể do các tiêu chí lựa chọn bệnh nhân trong các nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như bệnh nhân nội trú với lý do nhập viện do các biến chứng nặng, trong khi nghiên cứu của tôi tập trung vào bệnh nhân ngoại trú đã được giáo dục và hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng.
Tỉ lệ thừa cân béo phì ở nước ta hiện nay cho thấy một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt tại các thành phố lớn với điều kiện kinh tế khá giả Sự dư thừa dinh dưỡng đã dẫn đến việc gia tăng tỉ lệ thừa cân béo phì, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, rối loạn mỡ máu và tăng huyết áp Theo nghiên cứu, có 15,6% người bệnh ở mức thừa cân béo phì (BMI > 23), cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh (11%) và Vũ Thị Thanh (3,3%) Trong số này, tỉ lệ nam giới thừa cân béo phì chiếm 13,5%, trong khi tỉ lệ nữ giới là 18,2%.
4.2.3 Bàn luận về tình trạng dinh dưỡng theo nồng độ Albumin huyết thanh Định lượng albumin huyết thanh là công cụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng thường được sử dụng trong các nghiên cứu và được trích dẫn với hơn một phần tư các ấn phẩm khoa học bao gồm các từ khóa “lọc màng bụng” và dinh dưỡng [26] Nồng độ albumin huyết thanh được sử dụng rộng rãi như chỉ số tiêu chuẩn cho việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng Sự suy giảm nồng độ albumin có liên quan đến sự gia tăng tỉ lệ bệnh tật và tử vong có ý nghĩa ở người bệnh suy thận mạn Vì vậy, mức độ suy giảm nồng độ albumin huyết thanh còn được sử dụng như là chỉ số tiên lượng Tuy nhiên, hiện nay người ta đang tranh luận về độ nhạy của albumin trong việc đánh giá dinh dưỡng bởi vì có nhiều tác nhân ngoài dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến sự suy giảm nồng độ albumin huyết thanh như tình trạng nhiễm khuẩn, viêm, bệnh lí gan, chế độ điều trị bằng albumin ngoại sinh Ngoài ra, albumin có thời gian bán hủy khá dài và chiếm số lượng lớn trong huyết thanh nên khi nồng độ albumin huyết thanh suy giảm dưới mức bình thường tức là đã có một số lượng lớn albumin mất đi cách đó vài tuần Vậy nên, giá trị chẩn đoán dinh dưỡng của albumin khá muộn sau khi tình trạng suy dinh dưỡng khởi phát Mặc dù albumin có luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si độ nhạy thấp nhưng độ đặc hiệu lại cao nên trong rất nhiều nghiên cứu đánh giá dinh dưỡng, albumin huyết thanh luôn là thông số đánh giá quan trọng không thể thiếu
Theo bảng 3.9, 33,0% người bệnh được phân loại là suy dinh dưỡng dựa trên nồng độ Albumin huyết thanh, không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (44,4%), Bùi Thị Quỳnh (46%) và Parasad cùng cộng sự (63,6%) Sự khác biệt này có thể do tình trạng điều trị của người bệnh, bao gồm việc đã được điều trị thay thế hay không, cũng như tình trạng nội trú hay ngoại trú của họ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao hơn 33% so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà, trong đó tỷ lệ là 27% Nghiên cứu của Ikizler TA và cộng sự công bố tại Mỹ chỉ ra rằng có 22% số bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh.
Hơn 53% bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh từ 35-39 g/l, trong khi đó, nghiên cứu của Ikizler TA và cộng sự (2000) cho thấy nhóm bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh dưới 35 g/l có tỷ lệ tử vong trong bệnh viện cao hơn 10% so với nhóm có nồng độ albumin huyết thanh trên 35 g/l.
Nồng độ albumin máu ở bệnh nhân LMB thấp hơn so với bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ do nhiều nguyên nhân, bao gồm tình trạng chán ăn phổ biến do lượng dịch trong ổ bụng gây cảm giác đầy bụng, tiếp xúc với dịch chứa glucose khiến bệnh nhân cảm thấy no và không muốn ăn, cùng với việc mất một lượng protein qua dịch lọc.
4.2.4 So sánh tình trạng dinh dưỡng giữa thang điểm SGA với chỉ số khối cơ thể (BMI) và nồng độ Albumin huyết thanh
Kết quả nghiên cứu từ bảng 3.11cho thấy tỷ lệ SDD đánh giá theo phương pháp SGA chiếm 77,7 % cao hơn so với tỷlệ SDD khi đánh giá theo BMI (27,1
Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo nồng độ albumin huyết thanh là 33,0%, thấp hơn so với nghiên cứu của Yanowsky - Escatell F.G tại Mexico năm 2015, trong đó tỷ lệ SDD theo SGA đạt 65,2%, cao hơn mức SDD theo BMI là 47,82% với ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Mặc dù tỷ lệ SDD theo SGA thấp hơn so với tỷ lệ SDD theo albumin huyết thanh (91,3%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bàn luận về mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo SGA với một số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng
số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng 4.3.1 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm SGA với một số triệu chứng lâm sàng
Theo nghiên cứu của tôi, tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở nhóm bệnh nhân có phù (79,6%) cao hơn so với nhóm không phù (75,9%), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Bùi Thị Quỳnh, trong đó tỉ lệ SDD ở nhóm có phù là 83,3%, cao hơn nhóm không phù (64,1%) và có ý nghĩa thống kê (p0,05) Nghiên cứu cho thấy tình trạng dinh dưỡng ít ảnh hưởng đến nồng độ sắt huyết thanh, có thể do đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú đang được điều trị hiệu quả bằng chế phẩm chứa sắt.
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ ferritin và transferrin huyết thanh giữa hai nhóm bệnh nhân không suy dinh dưỡng (SDD) và có SDD Cụ thể, nồng độ ferritin và transferrin trung bình ở nhóm không SDD lần lượt là 318 ± 224.7 ng/ml và 206.8 ± 40.2 mg/dl, trong khi ở nhóm có SDD là 663.1 ± 883.8 ng/ml và 182.6 ± 41.8 mg/dl Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Bùi Thị Quỳnh, cho thấy nồng độ protein và albumin huyết thanh ở nhóm bệnh nhân có SDD thấp hơn so với nhóm không SDD Điều này chỉ ra rằng nồng độ transferrin và ferritin huyết thanh bị ảnh hưởng bởi tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối.
Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy nồng độ protein và albumin huyết thanh trung bình ở nhóm bệnh nhân không SDD cao hơn so với nhóm bệnh nhân SDD, với các giá trị lần lượt là 73.2 ± 5.9 g/l và 36.3 ± 3.04 g/l so với 67.1 ± 8.2 g/l và 33.2 ± 4.5 g/l, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p 0,05) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Yanowsky - EscatellF.G và Nguyễn Thị Thanh Hương (2016), cho thấy không có mối liên quan giữa SDD với nồng độ ure, creatinin, acid uric, calci và PTH huyết thanh ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đã được điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng.