VÕ THỊ TIẾN TRINH KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG NAM
TỔNG QUAN
Tổng quan về yếu tố tác hại nghề nghiệp
Tất cả các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp có thể hạn chế khả năng làm việc, gây chấn thương hoặc ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động, thậm chí dẫn đến tử vong, được gọi là yếu tố tác hại nghề nghiệp Những yếu tố này trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có thể gây ra rối loạn bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp cho những người tiếp xúc Các yếu tố tác hại nghề nghiệp rất đa dạng, bao gồm vật lý, hóa học, và tâm lý Trong một môi trường lao động, có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp, và các tác nhân môi trường này có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe của người lao động.
1.1.2 Phân lo ạ i các y ế u t ố tác h ạ i ngh ề nghi ệ p
1.1.2.1 Phân loại các yếu tố tác hại nghề nghiệp chung
Theo giáo trình đào tạo cử nhân y tế công cộng của Bùi Thanh Tâm, yếu tố tác hại nghề nghiệp được phân thành 4 loại.
- Yếu tố lý học và hoá học kết hợp
Các độc chất ở nơi làm việc dưới dạng hơi, khí, bụi,dung dịch, chất rắn
Các loại bụi sản xuất như bụi vô cơ (ximăng, silic, amiăng) hay bụi hữu cơ (bông, lông gia cầm, thuốc lá)
Yếu tố vật lý tại nơi làm việc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm điều kiện khí hậu không thuận lợi như nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, độ ẩm không khí cao, không khí kém lưu thông, cường độ bức xạ nhiệt mạnh và tiếng ồn Ngoài ra, bức xạ ion hóa từ tia phóng xạ và các chất phóng xạ cũng là những yếu tố cần được chú ý.
Vi khuẩn, virus, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm mốc gây bệnh có thể tồn tại trong bệnh phẩm, chất thải hoặc phân tán tại nơi làm việc.
-Trạng thái tâm sinh lý và ecgônômi
Tư thế làm việc của điều dưỡng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân rất quan trọng, bao gồm việc nâng đỡ, xoay trở và vận chuyển người bệnh Việc ngồi quá lâu, đi lại nhiều, cúi khom và vẹo người có thể gây ra những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng Thêm vào đó, giờ giấc làm việc kéo dài, ca kíp không phù hợp và áp lực công việc cao cũng làm tăng nguy cơ stress và ảnh hưởng đến điều kiện làm việc, tạo ra môi trường làm việc khó khăn và nguy hiểm.
1.1.2.2 Phân loại về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp trong cơ sở chăm sóc sức khỏe
Nghề Điều dưỡng phải đối mặt với nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp đa dạng, bao gồm vật lý, hóa học, sinh học và tâm lý Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, điều dưỡng viên có thể tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm, bị tổn thương do vật sắc nhọn, hóa chất, và các tư thế làm việc không đúng có thể gây đau cơ xương khớp Họ cũng phải đối mặt với độc chất, chấn thương lưng, tia bức xạ, căng thẳng, làm việc theo ca và bạo lực tại nơi làm việc Những yếu tố này cho thấy nghề điều dưỡng là một nghề nguy hiểm.
Nghiên cứu của Aghakhani N, Baghaei R Alinejad V và các cộng sự (2017) trên 108 điều dưỡng tại Đại học Khoa học Y khoa Urmia cho thấy rằng điều dưỡng thường xuyên tiếp xúc với nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp Các yếu tố này bao gồm yếu tố sinh học như máu và dịch cơ thể, yếu tố hóa học như thuốc và chất khử trùng, yếu tố vật lý liên quan đến tia X, và yếu tố công thái học gây ra các vấn đề về cơ xương khớp, đặc biệt là đau thắt lưng do xoay trở và vận chuyển bệnh nhân.
Theo nghiên cứu của Emmanuel A.B, Sheshi I.M và Orugun J.J (2018), các yếu tố tác hại nguy hiểm bao gồm vật lý, hóa học, sinh học, công thái học và rủi ro tâm lý xã hội Trong đó, nguy cơ hóa học phổ biến nhất đến từ việc tiếp xúc với thuốc chống ung thư qua da hoặc hít phải.
Nghiên cứu của Julia Amadhila và J Marieta (2017) chỉ ra rằng các yếu tố tác hại nghề nghiệp bao gồm vật lý, cơ học và sinh học Trong đó, mối nguy hiểm sinh học chủ yếu đến từ vi khuẩn, virus, nấm và các bệnh truyền nhiễm, gây ra các bệnh như HIV/AIDS, bệnh lao, viêm gan và nhiễm trùng máu khác.
Nghiên cứu của Lê Anh Thư chỉ ra rằng nhân viên y tế tại Việt Nam đối mặt với nguy cơ lây nhiễm cao từ các vi sinh vật trong bệnh viện, bao gồm virus, vi khuẩn và ký sinh trùng Những vi sinh vật này có thể tồn tại trong cơ thể bệnh nhân, chất thải và các dụng cụ y tế tái sử dụng Điều kiện làm việc như quá tải, cường độ làm việc cao và trực đêm cũng góp phần làm tăng nguy cơ lây nhiễm nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp qua các đường máu, hô hấp và tiếp xúc trực tiếp.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, được Roger (2003) phân loại thành năm nhóm: yếu tố sinh học/truyền nhiễm, hóa chất, cơ học, vật lý và tâm lý xã hội.
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT và nghiên cứu của các tác giả Olufemi Oludare Aluko (2016), AnnMarie Walton và Bonnie Rogers (2017), các yếu tố tác hại nghề nghiệp đã được phân loại rõ ràng, ảnh hưởng đến sức khỏe và thực hành nghề nghiệp của điều dưỡng.
- Nhóm yếu tố tác hại sinh học
Máu, mô và các chất lỏng có khả năng truyền nhiễm từ cơ thể người bệnh, bao gồm cả chất thải bị thấm máu và dịch sinh học, có thể lây lan các tác nhân truyền nhiễm như vi khuẩn, virus và nấm Những tác nhân này có thể truyền sang người khác thông qua tiếp xúc với bệnh nhân hoặc dịch cơ thể của họ.
- Nhóm yếu tố tác hại hóa học:
Các loại thuốc độc hại, bao gồm thuốc sử dụng trong quá trình hóa trị và phơi nhiễm latex, là những mối nguy hiểm nghề nghiệp đối với điều dưỡng.
Chất gây độc tế bào bao gồm vỏ chai thuốc, dụng cụ dính thuốc và các chất tiết từ bệnh nhân điều trị hóa trị liệu Các loại thuốc như kháng khuẩn, kháng sinh, thuốc chống ung thư, chất khử trùng, ethylene oxide, chất tẩy trắng và chất tẩy rửa cũng là những yếu tố gây hại Trong số đó, thuốc chống ung thư là nguyên nhân phổ biến nhất gây tác hại hóa học, có thể xảy ra qua tiếp xúc hoặc hít phải.
Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp ở các cơ sở y tế
1.2.1 Th ự c tr ạ ng nh ậ n th ứ c c ủ a đ i ề u d ưỡ ng v ề các y ế u t ố tác ngh ề nghi ệ p
1.2.1.1 Thực trạng nhận thức của điều dưỡng về yếu tố tác hại sinh học
Theo nghiên cứu của Ghaffar T và cộng sự (2018), phương pháp cắt ngang mô tả và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tự quản lý đã được áp dụng trên 200 điều dưỡng Kết quả cho thấy 82% điều dưỡng có nhận thức cao về các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp, trong đó 74,2% nhận thức được các nguy hiểm từ yếu tố sinh học.
Nghiên cứu của Aluko và cộng sự (2016) cho thấy 96,2% điều dưỡng tin rằng họ có nguy cơ gặp rủi ro nghề nghiệp, với khoảng hai phần ba nhận thức rằng mức độ rủi ro là cao Đặc biệt, 72,4% trong số họ nhận thức được các yếu tố tác hại sinh học.
1.2.1.2 Thực trạng nhận thức của điều dưỡng về nhóm yếu tố tác hại hóa hoc
Nghiên cứu của Issam Khatib và Walid El Ansari (2015) chỉ ra rằng yếu tố tác hại hóa học là mối nguy hiểm lớn đối với điều dưỡng trong quá trình làm việc, đặc biệt là các chất khử trùng như glutaraldehyd và ethylene oxide, cũng như các loại thuốc độc hại dùng trong hóa trị và xạ trị cho bệnh nhân ung thư Do đó, điều dưỡng cần nhận thức rõ về những chất này và mức độ nguy hại của chúng để hiểu tầm quan trọng của việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa an toàn Nghiên cứu của Aluko và cộng sự (2016) cho thấy 81,7% điều dưỡng có nhận thức cao về mối nguy hiểm nghề nghiệp từ yếu tố tác hại hóa học.
1.2.2 Th ự c tr ạ ng ki ế n th ứ c, thái độ và th ự c hành c ủ a đ i ề u d ưỡ ng trong vi ệ c phòng ng ừ a m ộ t s ố y ế u t ố tác h ạ i ngh ề nghi ệ p
Nghiên cứu của Aluko và cộng sự (2016) cho thấy 89% người tham gia có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp đối với sức khỏe, nhưng 57,6% điều dưỡng tại bệnh viện không nhận thức được các rủi ro cao trong công việc Mặc dù nhận thức và thái độ của điều dưỡng về các biện pháp phòng ngừa an toàn đạt 98,3% và 88,2%, nhưng chỉ có 52,1% thực sự tuân thủ các biện pháp này, và 64,2% đã hoàn thành tiêm phòng viêm gan B.
Một nghiên cứu tương tự tại Nigeria cho thấy 96% điều dưỡng có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp Tuy nhiên, chỉ 42% điều dưỡng nhận thức được rằng kim tiêm dính máu và dịch cơ thể người bệnh là nguyên nhân chính lây bệnh Đáng chú ý, 99,7% điều dưỡng có nhận thức cao về các biện pháp phòng ngừa an toàn, 98,3% đã tiêm ngừa viêm gan B và 87,2% đã tiêm ngừa uống ván Hơn nữa, 93,1% điều dưỡng biết cách theo dõi quá trình điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.
Nghiên cứu trên 300 điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Kerbala Iraq cho thấy 84% đối tượng có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp, tuy nhiên, 27,3% trong số đó có kiến thức chưa tốt Chỉ 69% thực hành phòng ngừa đầy đủ và an toàn, với 35% thực hành tốt, 34% ở mức trung bình và 31% có thực hành kém Kết quả cho thấy mặc dù điều dưỡng có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp, nhưng hơn một phần tư vẫn chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa.
Nghiên cứu tại bệnh viện An sinh xã hội Nawaz Sharif ở Pakistan cho thấy chỉ có 67,5% điều dưỡng có trình độ hiểu biết cao về các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp Tại ba bệnh viện giảng dạy ở thành phố Kerbala, Iraq, tỷ lệ này còn thấp hơn, chỉ đạt 56,7% Một nghiên cứu khác tại Nigeria cho thấy chỉ 54,6% điều dưỡng có kiến thức cao về các mối nguy hiểm nghề nghiệp Nhìn chung, kiến thức của điều dưỡng về các mối nguy hiểm nghề nghiệp vẫn còn thấp Tại Pakistan, thái độ của các điều dưỡng về phòng ngừa rủi ro nghề nghiệp và thực hành an toàn tại bệnh viện cũng không khả quan, với chỉ 58,9% và 57,7% tương ứng.
Nghiên cứu trên 108 điều dưỡng tại thôn Metropolis, Ghana cho thấy 94,4% nhận thức rằng họ dễ bị nhiễm HBV nghề nghiệp Tuy nhiên, chỉ 23,4% điều dưỡng biết các bước quản lý phơi nhiễm và 12,1% có kiến thức đầy đủ về điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Đáng chú ý, chỉ có 48 điều dưỡng (44,4%) được tiêm vắc-xin viêm gan B, trong đó 75% đã tiêm đủ ba liều yêu cầu, trong khi số còn lại có ít hơn ba liều.
Nghiên cứu tại Onandjokwe, Oshikoto, Namibia cho thấy 76% điều dưỡng có kiến thức về các nguy cơ nghề nghiệp, bao gồm xử lý dụng cụ sắc nhọn, nâng đỡ bệnh nhân và tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm Đáng chú ý, 56% điều dưỡng không thực hiện tiêm ngừa viêm gan B Tất cả người tham gia khảo sát đều cho biết họ rửa tay để ngăn ngừa nhiễm trùng chéo, và 96% sử dụng găng tay, tạp dề, khẩu trang và kính bảo hộ trong quá trình phẫu thuật hoặc thực hiện các thủ thuật.
Kết quả nghiên cứu của Ahmed E Arafa, Amel A Mohamed và Manal M Anwar
Một nghiên cứu năm 2016 tại Bệnh viện Beni-Suef, Ai Cập cho thấy kiến thức của điều dưỡng về các mầm bệnh truyền qua máu như HIV, HBV và HCV lần lượt đạt 93,5%, 80,3% và 65,8% Trong số 400 điều dưỡng, chỉ 50% cho rằng phương pháp khử trùng bằng nồi hấp là tốt nhất cho thiết bị, và chỉ 53,5% đã được tiêm vắc-xin ngừa HBV Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện Đại học Karad cho thấy mức độ nhận thức về nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp của 105 điều dưỡng là tương đối thấp, với 22,9% nhận thức được nguy cơ viêm da do sử dụng găng tay cao su và 42,9% bị bạo hành từ bệnh nhân Ngoài ra, 37,1% điều dưỡng mang thai không được làm việc tại khu vực xạ trị, 48,8% đồng ý rằng việc sử dụng mặt nạ, găng tay và tạp dề là cần thiết khi xử lý thuốc chống ung thư, trong khi chỉ 56,2% cho rằng nên đọc hướng dẫn về an toàn phóng xạ Cuối cùng, 67,6% điều dưỡng cảm thấy căng thẳng do thiếu thời gian nghỉ ngơi.
Nghiên cứu trên 345 nhân viên y tế tại thành phố Ondo, Tây Nam Nigeria cho thấy 85% nhân viên y tế nhận thức rõ về các mối nguy hiểm nghề nghiệp Mặc dù phần lớn nhân viên y tế của chính phủ ở Ondo có nhận thức cao về các rủi ro này, nhưng tỷ lệ tuân thủ các biện pháp phòng ngừa an toàn trong chăm sóc lại rất thấp Cụ thể, 75,4% nhân viên y tế nhận thức được nguy cơ bị thương tích do vật sắc nhọn, 70,7% nhận biết về vết cắt và vết thương, 60% lo ngại về bệnh do không khí gây ra, và 77,7% cảm thấy căng thẳng do nghề nghiệp Tuy nhiên, chỉ có 38% nhân viên y tế cho rằng mức độ xảy ra rủi ro nghề nghiệp là cao, trong khi chỉ 6,1% thực hiện các biện pháp an toàn trong thực hành chăm sóc.
Nghiên cứu trên 300 nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Minna chỉ ra rằng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên y tế có hiểu biết hạn chế về các mối nguy hiểm nghề nghiệp và biện pháp kiểm soát chúng, với chỉ dưới 10% số người được khảo sát có kiến thức tốt về vấn đề này.
Nghiên cứu của Pollyanna Salles Rodrigues và các cộng sự (2017) cho thấy rằng mặc dù hơn 90% nhân viên y tế (NVYT) có kiến thức và thái độ tích cực đối với các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn, nhưng điểm thực hành trung bình chỉ đạt 50,8% Nhiều NVYT thiếu kiến thức về an toàn tiêm và phàn nàn về nguồn lực không đủ để thực hiện các biện pháp này Tỷ lệ NVYT được đào tạo chính thức về phòng ngừa phơi nhiễm HIV và các tác nhân khác chỉ dao động từ 33% đến 49% Mặc dù 93% người được khảo sát có kiến thức đầy đủ về điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP), vẫn có 24% thiếu đào tạo về sử dụng PEP Trong số tám nghiên cứu về thái độ, 99% người tham gia có thái độ tích cực đối với các biện pháp an toàn, nhưng 8% không tuân thủ quy trình vì cho rằng chúng không hữu ích Ngoài ra, 32% điều dưỡng báo cáo rằng họ có kiến thức kém và không được đào tạo về việc ngăn ngừa chấn thương do kim đâm khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể bệnh nhân.
Nghiên cứu trên 300 nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Minna cho thấy rằng họ có trình độ hiểu biết thấp về các mối nguy hiểm nghề nghiệp và biện pháp kiểm soát Cụ thể, chỉ dưới 10% số người được khảo sát có kiến thức tốt về các nguy cơ này Hơn nữa, 52% nhân viên y tế tại quận Singida không nắm rõ thông tin về HIV PEP, và chỉ 50,6% trong số họ đã từng trải qua phơi nhiễm nghề nghiệp Trong số 121 người tham gia phơi nhiễm, chỉ 68,6% đã báo cáo sự cố và 75,2% đã thực hiện xét nghiệm HIV.
Nghiên cứu về nhận thức của điều dưỡng tại vùng Tamale, Ghana cho thấy 94,4% cho rằng họ dễ bị nhiễm viêm gan B (HBV) trong công việc Mặc dù 91,7% điều dưỡng biết rằng viêm gan B do virus gây ra, chỉ 57,4% nhận thức được rằng HBV có thể lây lan qua tiếp xúc với máu nhiễm bệnh Đáng chú ý, chỉ 23,4% biết về biện pháp quản lý phơi nhiễm và 12,1% có kiến thức đầy đủ về điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về "Kiến thức, Thái độ và thực hành dự phòng" liên quan đến nguy cơ lây nhiễm nghề nghiệp của điều dưỡng Một nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa Cần Thơ cho thấy chỉ 70,6% điều dưỡng có kiến thức về viêm gan virus B, C, và hơn một nửa (59,6%) có kiến thức về dự phòng phơi nhiễm.
% có thực hành đạt về thực hành dự phòng Phơi nhiễm viêm gan vius B, C nghề nghiệp [18]
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành dự phòng 2 yếu tố tác hại nghề nghiệp ở điều dưỡng
1.3.1 Đặ c đ i ể m cá nhân Kinh nghi ệ m làm vi ệ c c ủ a đ i ề u d ưỡ ng
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Kerbala, Iraq, cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa kinh nghiệm làm việc của điều dưỡng và kiến thức, thái độ cũng như thực hành dự phòng các mối nguy hiểm nghề nghiệp (p