Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định tình trạng stress và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng, hộ sinh bệnh viện Sản - Nhi Bắc Giang năm 2017.. Từ những lý do trên nhóm nghiên cứu c
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Điều dưỡng, hộ sinhcó mặt tại thời điểm nghiên cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Điều dưỡng và hộ sinh làm việc tại bệnh viện dưới 6 tháng không đủ điều kiện để chịu tác động của các yếu tố liên quan đến stress Theo thông tư 43/2016-TT/BYT của Bộ Y tế, thời gian tập sự của điều dưỡng, hộ sinh có trình độ trung cấp là 6 tháng Chỉ sau khoảng thời gian này, họ mới có thể đảm nhận công việc một cách hiệu quả.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ9/2016 đến 10/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Các khoa lâm sàng và cận lâm sàng BV Sản - Nhi Bắc Giang.
Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu là phương pháp mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu
- 198 điều dưỡng và hộ sinh đang làm việc tại Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Giang.
Phương pháp chọn mẫu
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (chọn mẫu toàn bộ) với tất cả các đối tượng thỏa mãn yêu cầu của nghiên cứu đề ra.
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ công cụ nghiên cứu bao gồm 5 phần câu hỏi tự điền, được phát triển dựa trên tài liệu tham khảo và đề xuất của Viện Sức khoẻ tâm thần Việt Nam Các phần này bao gồm: thông tin chung, yếu tố liên quan đến gia đình, yếu tố liên quan đến công việc, tình trạng sức khỏe, và đánh giá tình trạng stress của nhân viên y tế.
*Quy trình thu thập thông tin:
Sau khi nhận được sự chấp thuận, người nghiên cứu sẽ tham gia cuộc họp với các điều dưỡng trưởng tại phòng điều dưỡng để xác định thời gian thu thập dữ liệu cho từng khoa Kế hoạch thu thập dữ liệu này sẽ được tích hợp vào chương trình giao ban điều dưỡng và hộ sinh của khoa.
Nghiên cứu viên sẽ trình bày mục đích của nghiên cứu và phát phiếu khảo sát cho đối tượng tham gia Đối tượng sẽ tự điền thông tin trong khoảng thời gian 15-20 phút, sau đó nghiên cứu viên sẽ thu lại phiếu khảo sát.
Biến số nghiên cứu
- Nhóm biến số về đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu: Giới tính, tuổi, trình độ chuyên môn, tình trạng hôn nhân, thâm niên công tác
Nhóm biến số liên quan đến đặc điểm gia đình bao gồm việc nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi, chăm sóc người già yếu bị bệnh, thu nhập chính của gia đình và thu nhập bình quân.
Nhóm biến số về đặc điểm nghề nghiệp bao gồm các yếu tố như công việc phù hợp, phân công rõ ràng, cơ sở vật chất và trang thiết bị của bệnh viện, thiết bị bảo hộ, diện tích khoa phòng, nguy cơ lây nhiễm, tổn thương do vật sắc nhọn, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, cũng như cơ hội học tập và thăng tiến Thời gian làm việc trong ngày, số buổi trực và đặc điểm ca trực cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét.
- Nhóm biến số về tình trạng sức khỏe: 12 câu hỏi liên quan đến sức khỏe
- Nhóm biến số về tình trạng stress: 14/21 câu hỏi liên quan đến stress
TT Biến số Định nghĩa Phân loại
1 Tuổi(dương lịch) Số năm tính tính từ năm sinh ra tới thời điểm NC
2 Giới Giới tính của người tham gia
3 Nghề nghiệp Điều dưỡng, hộ sinh Nhị phân
4 Khoa Nơi làm việc của người tham gia NC
Danh mục luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
5 Trình độ chuyên môn Chuyên môn cao nhất của người tham gia NC
6 Hôn nhân Tình trạng hôn nhân hiện tại Danh mục
7 Thâm niên công tác Năm tính từ lúc vào làm việc đến thời điểm NC
8 Chăm sóc con nhỏ dưới 5t Số năm sinh con đến thời điểm
9 Chăm sóc người thân già yếu Đang chăm sóc người già hoặc người thân bị bệnh nặng
10 Là thu nhập chính trong gia đình
Gia đình người nghiên cứu không có thu nhập hoặc ít
11 Thu nhập bình quân trong 1 tháng
Tổng thu nhập chia cho tổng số người trong gia đình
12 Công việc phù hợp chuyên môn
Làm việc theo bằng cấp được đào tạo
13 Công việc phân công rõ ràng Người NC biết được vị trí, nhiệm vụ phải làm
14 Công việc hiện tại Công việc người NC đang làm như thế nào
15 Cơ sở vật chất Phòng làm việc, phòng họp của người NC
16 Trang thiết bị máy móc Máy móc, phương tiện phục vụ công tác theo dõi, CS
17 Trang thiết bị bảo hộ lao động Trang bị, quần, áo, mũ khẩu trang, gang tay, kính
18 Diện tích khoa phòng Rỗng rãi, thoáng mát m 2 Thứ bậc
19 Nguy cơ lây nhiễm bệnh tật Tiếp xúc với các nguồn lây Thứ bậc
Tiếp xúc với các vật sắc như dao, kéo và kim tiêm có thể gây ra nhiều nguy cơ tổn thương nghiêm trọng Những rủi ro này cần được nhận thức và phòng ngừa để bảo vệ sức khỏe và an toàn cho mọi người.
21 Quan hệ tốt với cấp trên Lãnh đạo khoa, phòng Nhị phân
22 Quan hệ tốt với đồng nghiệp Bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh Nhị phân
23 Cơ hội học tập Được đi học, tập huấn Nhị phân
24 Cơ hội thăng tiến Được phân công, bổ nhiệm Nhị phân
25 Công bằng đánh giá thành quả lao động
Khen thưởng, kỷ luật rõ ràng Nhị phân
26 Thời gian làm việc 1 ngày Từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc công việc
27 Số buổi trực bình quân 1 tháng Bắt đầu đến lúc kết thúc buổi trực
28 Đặc điểm ca trực Trực theo giờ, ca, kíp Danh mục
29 Sức khỏe HSQ 12 Danh mục
Khái niệm thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
Bộ công cụ HSQ 12 (short-form 12) bao gồm 12 câu hỏi, được chia thành các phần như sau: tự đánh giá sức khỏe (câu 1), chức năng thể chất (câu 2, 3, 4), vai trò thể chất (câu 5), vai trò tâm thần (câu 6), chức năng xã hội (câu 7), đau cơ thể (câu 8), sức khỏe tâm thần (câu 9, 11, 12), và năng lượng/mệt mỏi (câu 10).
Phần tự đánh giá sức khỏe được phân loại thành 5 mức độ với điểm số tương ứng: tuyệt vời 100 điểm, rất tốt 85 điểm, tốt 60 điểm, trung bình 25 điểm, và kém 0 điểm.
Chức năng thể chất được đánh giá qua ba mức độ: không hạn chế (100 điểm), có hạn chế một phần (50 điểm) và có hạn chế nhiều (0 điểm).
Vai trò thể chất được đánh giá qua 5 mức độ điểm số: 100 điểm cho những người không thể thực hiện công việc hàng ngày, 65 điểm cho những người gặp khó khăn nhiều, 25 điểm cho những người có một vài hạn chế, 10 điểm cho những người chỉ gặp một chút khó khăn, và 0 điểm cho những người không gặp vấn đề gì.
Vai trò tâm thần được đánh giá qua 5 mức độ điểm số: không lúc nào đạt 100 điểm, đôi lúc đạt 65 điểm, thỉnh thoảng đạt 45 điểm, khá nhiều đạt 20 điểm, và hầu hết không đạt điểm nào (0 điểm).
Chức năng xã hội được đánh giá qua 5 mức độ điểm số: 100 điểm cho không lúc nào, 75 điểm cho đôi khi, 50 điểm cho thỉnh thoảng, 25 điểm cho khá nhiều, và 0 điểm cho hầu hết.
Đau cơ thể được phân loại thành 6 mức độ: 100 điểm cho không ảnh hưởng gì, 85 điểm cho ảnh hưởng một chút, 65 điểm cho ảnh hưởng vừa phải, 45 điểm cho ảnh hưởng nhiều, 25 điểm cho ảnh hưởng rất nhiều, và 0 điểm cho rất ảnh hưởng.
Sức khỏe tâm thần được phân loại thành 6 mức độ: luôn luôn đạt 100 điểm, hầu hết thời gian 80 điểm, khá nhiều 60 điểm, thỉnh thoảng 40 điểm, đôi khi 20 điểm, và không lúc nào đạt 0 điểm.
Năng lượng và mức độ mệt mỏi được đánh giá qua 6 mức độ: luôn luôn 0 điểm, hầu hết thời gian 20 điểm, khá nhiều 40 điểm, thỉnh thoảng 60 điểm, đôi khi 80 điểm, và không lúc nào 100 điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị trung bình của năng lượng và mệt mỏi là 44,51, tương đương với mức thỉnh thoảng.
Bộ công cụ DASS21, đã được Viện sức khỏe tâm thần Việt Nam kiểm tra tính chính xác, có thể áp dụng tại Việt Nam mà không gặp phải sự khác biệt về văn hóa DASS là bộ ba thang đo lường các trạng thái cảm xúc tiêu cực như trầm cảm, lo âu và căng thẳng, nhằm xác định và đo lường các trạng thái này một cách hiệu quả Với khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà nghiên cứu và lâm sàng, DASS21 là phiên bản rút gọn của bộ ba thang đo, giúp đơn giản hóa quá trình đánh giá cảm xúc.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng 14 câu hỏi từ bộ công cụ DASS 21 để đánh giá mức độ stress.
- Định nghĩa tần suất sử dụng trong bộ câu hỏi[8]
Các trạng thái tồn tại hiếm khi dưới 25% thời gian, trong khi thi thoảng xuất hiện từ 25% đến dưới 50% thời gian Các trạng thái thường xuyên có mặt từ 50% đến dưới 75% thời gian.
+ Gần như luôn luôn: các trạng thái tồn tại từ 75% thời gian trở lên
*Đánh giá stress chia làm 5 mức độ:
+ Không stress: 0 -7 điểm + Stress nhẹ: 8-9 điểm + Stress vừa: 10-12 điểm + Stress nặng: 13-16 điểm + Stress rất nặng: từ 17 điểm trở lên
Phương pháp phân tích số liệu
- Sau khi làm sạch, bộ câu hỏi được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS16.0 với p< 0.05 có ý nghĩa thống kê
Thống kê mô tả được áp dụng để trình bày các đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng sức khỏe và mức độ stress Các thuật toán thống kê phân tích, chẳng hạn như tương quan Pearson, được sử dụng để dự đoán mức độ stress dựa trên các yếu tố liên quan.
Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu không ảnh hưởng đến thời gian, tài chính, sức khỏe và riêng tư của đối tượng
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên sự đồng ý tự nguyện của các đối tượng tham gia, trong đó họ được thông tin rõ ràng về mục tiêu nghiên cứu, thời gian cần thiết để hoàn thành bảng câu hỏi tự điền, cũng như cách thức sử dụng kết quả nghiên cứu.
- Thông tin ở phiếu khảo sát được giữ bí mật
Nghiên cứu này đã được Hội đồng đề cương luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng của trường Đại học Điều dưỡng Nam Định phê duyệt Để tải luận văn tốt nghiệp mới nhất, vui lòng liên hệ qua email: luanvanfull@gmail.com.
Sai số và khống chế sai số
- Sai số trong quá trình xử lý số liệu
- Sai số do quá trình nhập liệu
- Bộ câu hỏi được thiết kế cẩn thận, rõ ràng, phù hợp về nội dung
- Điều tra viên giám sát quá trình trả lời của các đối tượng
- Làm sạch số liệu trước khi nhập liệu
Quản lý dữ liệu là bước quan trọng, bao gồm việc đánh số thứ tự các phiếu câu hỏi ngay sau khi thu thập Điều này giúp tổ chức và phân tích dữ liệu một cách hiệu quả hơn.
Có 225 người công tác t đủ điều kiện tham gia nghiên c hỏi hoàn thiện
3.1.1 Đặc điểm nhân kh Độ tuổi của những ngư trong đó, độ tuổi 31- 40 tu tiếp theo là nhóm trên 40 tu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Có 225 người công tác t đủ điều kiện tham gia nghiên c hỏi hoàn thiện
3.1.1 Đặc điểm nhân kh Độ tuổi của những ngư trong đó, độ tuổi 31- 40 tu tiếp theo là nhóm trên 40 tu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU a đối tượng nghiên cứu i công tác tại các khoa trong bệnh viện là điều dư n tham gia nghiên cứu Sau quá trình thu thập số liệu có 198 phi m nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu ng người tham gia nghiên cứu dao động từ 21 đ
40 tuổi chiếm đa số (52,5%), nhóm tuổi 21- 30 chi p theo là nhóm trên 40 tuổi (10,1%)
3.1 Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu
10,1% u dưỡng, hộ sinh u có 198 phiếu câu
Tuổi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Biểu đồ 3.2 Phân loại giới của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Kết quả ở Biểu đồ 3.2.Cho thấy trong 198 đối tượng nghiên cứu, nữ chiếm đa số, gấp gần 9 lần so với nam (90,4% so với 9,6%)
Bảng 3.1 Tình trạng hôn nhân và thu nhập
Tình trạng hôn nhân Số lượng Tỷ lệ % Đã kết hôn 167 84,3
Thu nhập bình quân 1 tháng
Trong nghiên cứu này, tình trạng đã kết hôn chiếm ưu thế với 167 trường hợp, tương đương 84,3%, gấp hơn 5 lần so với nhóm chưa kết hôn chỉ có 31 trường hợp, chiếm 15,5% Về thu nhập, nhóm có thu nhập trên 3 triệu đồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 68,7%, gấp 3 lần so với nhóm có thu nhập từ 1,5 đến 3 triệu đồng, trong khi nhóm có thu nhập dưới 1,5 triệu đồng chỉ chiếm 8,6%.
Nam Nữ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn và chuyên ngành đào tạo
Trình độ đào tạo Số lượng Tỷ lệ %
Trong Bảng 3.2, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là điều dưỡng, chiếm 69,2%, gấp hơn 2 lần so với hộ sinh (30,8%) Đáng chú ý, phần lớn người tham gia nghiên cứu có trình độ trung cấp (71,7%), tiếp theo là trình độ đại học (19,7%) và cao đẳng (8,1%) Chỉ có 1 nhân viên có trình độ sau đại học, chiếm 0,5%.
3.1.2 Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Đặc điểm gia đình của điều dưỡng, hộ sinh
Chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi Số lượng Tỷ lệ %
Chăm sóc người thân già yếu
Tổng cộng: 198 100% Điều dưỡng, hộ sinh là thu nhập chính của gia đình
Nhận xét: Bảng 3.3 Cho thấy người nghiên cứu phải chăm sóc con nhỏ dưới
5 tuổi so với người không chăm sóc có tỷ lệ tương đương nhau chiếm 49%, 51%
Không phải chăm sóc người thân già yếu chiếm tỷ lệ cao 73,2% lớn gần gấp
3 lần so với điều dưỡng, hộ sinh có chăm sóc người già yếu chiếm 26,8%
Trong nghiên cứu, tỷ lệ người tham gia là thu nhập chính trong gia đình đạt 43,9%, chỉ thấp hơn một chút so với 56,1% của những người không phải là thu nhập chính.
3.1.3 Đặc điểm nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh
Bảng 3.4 Thâm niên công tác
Thời gian công tác Số lượng Tỷ lệ %
Thời gian công tác của người điều dưỡng và hộ sinh tại bệnh viện được xác định từ khi họ ký hợp đồng làm việc Theo Bảng 3.4, phần lớn người tham gia nghiên cứu có thâm niên trên 5 năm, chiếm 59,1% (115 người) Những người có thời gian làm việc dưới 3 năm đứng thứ hai với 32,3% (64 người), trong khi chỉ có 8,6% (17 người) có thâm niên từ 3 đến 5 năm.
Bảng 3.5 Thời gian làm việc 1 ngày
Thời gian làm việ 1 ngày Số lượng Tỷ lệ %
Theo bảng 3.5, phần lớn điều dưỡng và hộ sinh làm việc từ 8 đến 10 tiếng mỗi ngày, với 161 người, chiếm 81,3% Chỉ có 13,1% (26 người) làm việc dưới 8 tiếng, trong khi 5,6% (11 người) làm việc hơn 10 tiếng mỗi ngày.
Bảng 3.6 Phân bố điều dưỡng, hộ sinh làm việc tại các khoa
Khoa Số lượng Tỷ lệ %
Khoa gây mê hồi sức 15 7,6
Khoa dịch vụ tự nguyện 16 8,1
Số lượng điều dưỡng và hộ sinh tại các khoa không đồng đều, với khoa chăm sóc sơ sinh có số lượng cao nhất là 34 người, chiếm 15,7% Khoa đẻ đứng thứ hai với 27 người, chiếm 13,6%, trong khi phòng kế hoạch chỉ có 2 người, chiếm 1%.
Nhận xét: Chỉ có 11,6% (23) ngư trực tại thời điểm nghiên c buổi/tháng, với người trự
1 buổi (3 người - 1,5%) Bi 23,2% người trực từ 1 đế
Nhận xét: Kết qu đặc điểm ca trực 24h, lớ giờ là 7(3,5%), trực tăng
Trong nghiên cứu này, 27,3% người tham gia có số buổi trực bình quân 1 tháng là 11,6% Có 23 người không tham gia nghiên cứu, trong khi trung bình, số buổi trực cao nhất là 16 buổi/tháng (chiếm 2,5%) Biểu đồ 3.8 cho thấy 52% người tham gia trực từ 5 đến 10 buổi, trong khi 13,2% người trực trên 10 buổi.
Biểu đồ 3.4 cho thấy trong nghiên cứu, có 109 trường hợp ca trực, gấp 2 lần so với ca trực 12 giờ, với 54 trường hợp (27,3%) Số ca trực tăng cường là 5 (2,5%), trong khi đó, số ca không trực chiếm 23 trường hợp, tương đương 11,6%.
24h Trên 24h Tăng cường Không trực
3,5% 2,5% u này không phải tham gia nghiên cứu phải trực 6
2,5%) và ít nhất là n 10 buổi/tháng, p chiếm 55,1% có i 54(27,3%), trực trên 24 m 11,6%
Không trực 11,6% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
3.1.4 Cảm nhận về công việc
Bảng 3.7 Cảm nhận về công việc chuyên môn
Yếu tố Số lượng Tỷ lệ %
Công việc phù hợp với chuyên môn
Công việc được phân công rõ ràng
Theo Bảng 3.7, 93,4% người tham gia nghiên cứu cho rằng công việc của họ phù hợp với chuyên môn được đào tạo, trong khi 98% cho biết công việc được phân công rõ ràng Tỷ lệ người cho rằng công việc không phù hợp với chuyên môn và không được phân công rõ ràng chỉ chiếm 6,6% và 2%.
Biểu đồ 3.5 Cảm nhận về áp lực công việc
Theo nghiên cứu, 83,3% trong số 165 người tham gia cho rằng công việc hiện tại của họ tương đối ổn định Tuy nhiên, 7,1% cho rằng công việc không ổn định, 6,1% thường xuyên phải tiếp xúc với cái chết của bệnh nhân, và 3,5% cảm thấy khối lượng công việc quá nhiều để đáp ứng.
Không ổn định và tương đối ổn định là hai khái niệm quan trọng trong nghiên cứu Việc không đáp ứng nổi ứng có thể dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng, đặc biệt khi tiếp xúc với cái chết Để tìm hiểu sâu hơn, bạn có thể tải xuống luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất qua email z z @gmail.com.
Bảng 3.8 Nguy cơ lây nhiễm và tổn thương do vật sắc nhọn
Yếu tố Số lượng Tỷ lệ %
Nguy cơ lây nhiễm bệnh tật
Nguy cơ bị tổn thương do vật sắc nhọn
Bảng 3.8 cho thấy kết quả nghiên cứu về nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, trong đó nhóm nguy cơ cao có 80 trường hợp, chiếm 40,4%, nhóm nguy cơ trung bình có 58 trường hợp (29,3%), và nhóm nguy cơ thấp có 60 trường hợp (30,3%) Nguy cơ tổn thương do vật sắc nhọn trong các nhóm nguy cơ cao, trung bình và thấp lần lượt là 56 (28,3%), 74 (37,4%) và 68 (34,3%).
Bảng 3.9 Cảm nhận về cơ sở vật chất, hạ tầng của bệnh viện
Yếu tố Số lượng Tỷ lệ %
Trang thiết bị máy móc
Thiết bị bảo hộ lao động
Diện tích khoa phòng nơi làm việc
Theo Bảng 3.9, 81,8% người nghiên cứu đánh giá tích cực về cơ sở vật chất, trong khi 72,7% hài lòng với trang thiết bị máy móc Tuy nhiên, chỉ 62,1% đánh giá tốt về thiết bị bảo hộ lao động, 37,4% cho rằng ở mức trung bình và có 1 người đánh giá kém Đáng chú ý, 97% điều dưỡng và hộ sinh nhận xét rằng khoa phòng làm việc có diện tích rộng rãi, chỉ 3% cho rằng diện tích chật hẹp.
Bảng 3.10 Cảm nhận về mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp
Yếu tố Số lượng Tỷ lệ %
Quan hệ tốt với cấp trên
Quan hệ tốt với đồng nghiệp
Theo Bảng 3.10, phần lớn điều dưỡng và hộ sinh (91,9%) cho biết họ có mối quan hệ tốt với cấp trên, trong khi chỉ có 8,1% cho rằng mối quan hệ này không tốt.
Một số biểu hiện và tỷ lệ stress nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh
Bảng 3.13 Một số biểu hiện của điều dưỡng, hộ sinh
Stt Một số biểu hiện stress
Không đúng Đúng một phần và đúng phần nhiều
2 Cảm xúc không tích cực 157 79,3 41 20,7 198
4 Khó bắt tay vào công việc 164 82,8 34 17,2 198
7 Chắng có gì mong đợi 151 76,3 47 23,7 198
12 Nghe rõ tiếng đập của tim 166 83,8 32 16,2 198
14 Thấy cuộc sống vô nghĩa 182 91,9 16 8,1 198
Bảng 3.13 cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có biểu hiện chán nản và thất vọng chiếm 34,8%, là tỷ lệ cao nhất Các biểu hiện khác như khô miệng, không hăng hái, lo lắng và cảm xúc không tích cực cũng chiếm trên 20%.
Biểu đồ 3.6 Phân bố theo tổng điểm stress của người nghiên cứu
Nhận xét: Stress trong bộ công cụ DASS 21 gồm 14 câu hỏi (câu 2, 3, 4, 5,
Điểm stress của người tham gia khảo sát dao động từ 0 đến 42 điểm, được phân chia thành 5 mức độ: không stress (0-7 điểm), mức độ nhẹ (8-9 điểm), mức độ vừa (10-12 điểm), mức độ nặng (13-16 điểm) và mức độ rất nặng (>16 điểm) Trung bình, người tham gia có điểm stress là 3,15, với điểm tối đa là 22.
Bảng 3.14 Tỷ lệ stress nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh
Mức độ Số lượng Tỷ lệ %
Nghiên cứu cho thấy 87% người tham gia không gặp phải stress, trong khi tỷ lệ stress nhẹ, vừa và nặng đều tương đương nhau, với stress nặng chỉ chiếm 2%.
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến stress nghề nghiệp
Bảng 3.15 Mối liên quan của stress với yếu tố cá nhân
Hôn nhân Đã kết hôn
Trung cấp Cao đẳng Đại học -SĐH
Các yếu tố như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, chuyên ngành đào tạo và thu nhập bình quân hàng tháng không có mối liên hệ với mức độ stress.
Bảng 3.16 Mối liên quan của stress với vị trí làm việc tại các khoa phòng của điều dưỡng, hộ sinh
Stt Khoa phòng Không stress
Bảng 3.16 cho thấy mối liên quan giữa vị trí làm việc tại khoa phòng và mức độ stress Cụ thể, những điều dưỡng và hộ sinh làm việc tại các khoa lâm sàng, đặc biệt là khoa chăm sóc sơ sinh, gặp phải stress nhiều nhất với 11 trường hợp Ngược lại, các đối tượng nghiên cứu làm việc tại các khoa cận lâm sàng và các phòng chức năng không gặp phải tình trạng stress.
Bảng 3.17 Mối liên quan của stress với công việc
Yếu tố (n8) Không stress Có stress P - value
Thời gian làm việc 1 ngày
Công việc phù hợp chuyên môn
13,5 7,7 0,469 Công việc phân công rõ ràng
Các yếu tố như thâm niên công tác, thời gian làm việc, số buổi trực, đặc điểm ca trực, công việc phù hợp chuyên môn và sự phân công công việc rõ ràng không có mối liên hệ với stress nghề nghiệp, với giá trị p > 0,05.
Bảng 3.18 Mối liên quan của stress với yếu tố gia đình
Yếu tố X ± SD Giá trị Z*, p
Chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi
Chăm sóc người thân già yếu
Là thu nhập chính của gia đình
Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy rằng stress nghề nghiệp của điều dưỡng và hộ sinh có mối liên hệ đáng kể với việc chăm sóc người thân già yếu (p = 0,01) và nghề nghiệp của họ là nguồn thu nhập chính cho gia đình (p = 0,01), với độ tin cậy 95%.
Bảng 3.19 Mối quan hệ của stress với cơ sở vật chất của bệnh viện
Yếu tố (n8) Không stress Có stress P - value
Cơ sở vật chất Tốt
Trang thiết bị máy móc Tốt
Thiết bị bảo hộ lao động Tốt
Diện tích khoa phòng Rộng rãi
Kết quả phân tích trong bảng 3.19 cho thấy rằng Stress không có mối liên hệ với các yếu tố như cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, thiết bị bảo hộ lao động, và diện tích khoa phòng nơi làm việc.
Bảng 3.20 Mối quan hệ của stress với áp lực công việc
Công việc hiện tại (n8) Không stress Có stress P - value
- Thường xuyên tiếp xúc với tình huống xấu của người bệnh
Bảng 3.20 cho thấy điều dưỡng và hộ sinh thường xuyên phải đối mặt với thái độ tiêu cực từ bệnh nhân và gia đình, cũng như thường xuyên tiếp xúc với cái chết, điều này liên quan đến mức độ stress với ý nghĩa 95%.
Bảng 3 21 Mối liên quan của stress với yếu tố lây nhiễm, tổn thương
Yếu tố (n8) Không stress Có stress P - value
Nguy cơ lây nhiễm bệnh Cao
Nguy cơ tổn thương do vật sắc nhọn
Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm bệnh và nguy cơ tổn thương do vật sắc nhọn có liên quan đến stress với độ tin cậy 95% Tải luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất qua email: z z @gmail.com.
Bảng 3.22 Mối liên quan của stress với các mối quan hệ, công việc
Yếu tố (n8) Không stress Có stress P - value
Quan hệ tốt với cấp trên Có
11,5 31,2 0,042 Quan hệ với đồng nghiệp Có
Nghiên cứu này cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa stress và mối quan hệ tốt với cấp trên, với mức ý nghĩa 95% Ngược lại, stress không có mối liên quan đến mối quan hệ với đồng nghiệp.
Bảng 3.23 Mối liên quan của stress với các cơ hội học tập, thăng tiến
Không stress Có stress P - value
Cơ hội học tập Có
Cơ hội thăng tiến Có
Bảng 3.23 chỉ ra rằng các yếu tố như cơ hội học tập nâng cao trình độ và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp không có mối liên hệ với mức độ stress.
Bảng 3.24 Mối liên quan của stress với các vấn đề sức khỏe
Sức khỏe (n8) Không stress Có stress P -value
Tự đánh giá về sức khỏe 172 86,87% 26 13,13% 0,057
Chức năng xã hội 171 86,36% 27 13,64% 0,002 Đau cơ thể 172 86,87% 26 13,13% 0,001
Bảng 3.24 chỉ ra rằng các vấn đề sức khỏe như chức năng thể chất, vai trò thể chất, vai trò tâm thần, chức năng xã hội và đau cơ thể đều có mối liên hệ với stress, với giá trị p < 0,05.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 198 điều dưỡng và hộ sinh đang làm việc tại Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Giang thông qua bộ câu hỏi tự điền để đáp ứng hai mục tiêu nghiên cứu.
Nghiên cứu cho thấy đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nữ, chiếm 90,4%, gấp 9 lần so với nam giới, điều này phản ánh đặc thù của nghề điều dưỡng và hộ sinh, yêu cầu sự khéo léo, cẩn thận và tỉ mỉ Độ tuổi từ 31-40 chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,5%, trong khi độ tuổi 21-30 chiếm 37,4%, cho thấy đội ngũ cán bộ y tế đang ngày càng trẻ hóa để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của xã hội.
Nghề nghiệp điều dưỡng hiện có tỷ lệ gấp hơn hai lần so với hộ sinh, với 69,2% điều dưỡng và 30,8% hộ sinh, trong đó trình độ trung cấp chiếm 71,7% Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao trình độ cho điều dưỡng và hộ sinh nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc trong ngành y tế.
Trong nghiên cứu, 84,3% người tham gia đã kết hôn, gấp 5,6 lần so với những người chưa kết hôn Tỷ lệ thu nhập trên 3 triệu đồng chiếm 68,7%, trong khi thu nhập dưới 1,5 triệu đồng chỉ chiếm 8,6%, chủ yếu là của điều dưỡng và hộ sinh làm hợp đồng ngắn hạn tại bệnh viện Những thông tin này cho thấy đời sống của đối tượng nghiên cứu đã tương đối ổn định dựa vào tình trạng hôn nhân và thu nhập.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Ngô Kiều My và cộng sự tại bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng, với tỷ lệ giới tính nữ chiếm 98,1%, độ tuổi dưới 30 chiếm 70,3%, và đối tượng có trình độ trung cấp chiếm 77,8% Tương tự, nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy cho thấy 77,8% đối tượng là nữ, trong đó 48,1% dưới 30 tuổi và 64,5% có trình độ chuyên môn trung cấp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh nữ chiếm đa số, với độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ cao Điều này tạo ra thách thức cho ngành y tế, yêu cầu có chế độ ưu tiên cho nữ lao động, đặc biệt là những người phải cân bằng giữa công việc tại bệnh viện và trách nhiệm gia đình như chăm sóc con nhỏ, người thân già yếu và các công việc nhà.
Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng, hộ sinh
4.2.1 Một số biểu hiện stress của điều dưỡng, hộ sinh
Nghề điều dưỡng và hộ sinh được xem là một trong những nghề căng thẳng và mệt mỏi nhất Họ phải đối mặt với áp lực từ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nguy cơ lây nhiễm bệnh hàng ngày Nghiên cứu cho thấy 34,8% điều dưỡng viên cảm thấy chán nản và thất vọng về nghề nghiệp, 29,3% gặp phải tình trạng khô miệng do rối loạn thần kinh thực vật, 28,3% không còn hăng hái trong công việc, 26,8% rơi vào lo âu, và 20,7% không còn cảm xúc tích cực.
Nghiên cứu này cho thấy kết quả tương đồng với những kết luận của L Vin, người đã chỉ ra rằng điều dưỡng và hộ sinh thường gặp phải các biểu hiện stress như lo lắng, căng thẳng, tức giận và oán hận.
4.2.2 Tỷ lệ stress của điều dưỡng, hộ sinh
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có 13% điều dưỡng, hộ sinh bị mắc stress, với mức độ nhẹ, vừa, nặng, và rất nặng lần lượt là 3,5%; 3,5%; 4%; 2% Tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước, như nghiên cứu của Sharifal Zainiyah (2011) tại Kuala Lumpur với tỷ lệ 23,6%, và nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội cho thấy tỷ lệ stress là 36,9% Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2015 cũng ghi nhận tỷ lệ stress là 18,5%.
Nghiên cứu của Ngô Thị Kiều My về tình trạng stress của điều dưỡng và hộ sinh tại bệnh viện Phụ sản-nhi Đà Nẵng năm 2014 cho thấy tỷ lệ mắc stress là 18,1% Sự khác biệt này xuất phát từ phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khi nhóm nghiên cứu đã khảo sát tất cả các khoa phòng trong bệnh viện, trong khi các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào một số khoa nhất định Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự liên quan giữa stress và vị trí làm việc, với các khoa cận lâm sàng không ghi nhận tình trạng stress, trong khi các khoa lâm sàng có mức độ stress đáng kể với ý nghĩa thống kê 95% (p0,05) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước của Ngô Thị Kiều My và Đậu Thị Tuyết, không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi, giới, tình trạng hôn nhân và thời gian công tác với stress Có thể do đối tượng nghiên cứu còn trẻ và bệnh viện mới thành lập được 6 năm, nên chưa xác định được mối liên quan giữa các yếu tố này với stress.
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đối tượng chăm sóc con nhỏ là 49%, trong khi chăm sóc người thân già yếu hoặc bệnh tật là 26,8% Điều dưỡng và hộ sinh là nguồn thu nhập chính trong gia đình, chiếm 43,9% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Dương Thành Hiệp tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu năm 2014, với các chỉ số lần lượt là 30,9%; 26,4%; 58,1% Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ cao hơn so với Ngô Thị Kiều My (24,1%; 13%; 34,1%) Sự khác biệt này xuất phát từ phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu; chúng tôi đã chọn tất cả điều dưỡng và hộ sinh tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng và phòng chức năng, trong khi các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào khoa lâm sàng, nơi có áp lực công việc cao hơn.
Nghiên cứu cho thấy tình trạng stress ở đối tượng nghiên cứu có liên quan đến yếu tố gia đình, với những người chăm sóc người thân già yếu hoặc bệnh tật có mức độ stress cao gấp 2,72 lần so với những người không chăm sóc Đặc biệt, điều dưỡng và hộ sinh, những người là trụ cột thu nhập chính trong gia đình, cũng gặp phải mức độ stress cao gấp 2 lần so với những người không đảm nhận vai trò này, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết, người không tìm thấy mối liên hệ nào giữa đặc điểm gia đình và stress.
4.3.3 Yếu tố môi trường làm việc
Môi trường làm việc đóng vai trò quan trọng trong quá trình lao động của người điều dưỡng và hộ sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm sinh lý và năng suất làm việc Nghiên cứu này phân tích các yếu tố từ môi trường làm việc và mối liên hệ với tình trạng stress.
* Vị trí làm việc tại các khoa phòng
Nhóm nghiên cứu đã phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí làm việc tại các khoa phòng và mức độ stress của điều dưỡng, hộ sinh, điều này khác biệt so với các nghiên cứu trước không tìm thấy mối liên quan Sự khác biệt này xuất phát từ phương pháp lựa chọn địa điểm nghiên cứu, khi nhóm nghiên cứu đã khảo sát toàn bộ các khoa phòng trong bệnh viện nơi điều dưỡng, hộ sinh làm việc Kết quả cho thấy tính chất công việc của các khoa phòng khác nhau ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng và mệt mỏi của đối tượng nghiên cứu, trong khi các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào các khoa lâm sàng và không chỉ ra sự khác biệt này.
*Về cơ sở vật chất
Nghiên cứu cho thấy rằng những người đánh giá cơ sở vật chất tốt có mức độ stress thấp hơn gấp 6 lần so với những người cho rằng cơ sở vật chất kém Mặc dù sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), nhưng môi trường làm việc với cơ sở vật chất đầy đủ có thể giúp nhân viên giảm bớt stress trong công việc Kết quả này cũng chỉ ra rằng cơ sở vật chất hiện tại của bệnh viện tương đối đáp ứng nhu cầu công việc của điều dưỡng và hộ sinh, do đó không phải là yếu tố chính gây ra stress cho họ.
Nghiên cứu cho thấy rằng trang thiết bị tốt có thể giảm mức độ stress của người nghiên cứu, với tỷ lệ gấp 7 lần so với những người gặp stress Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa trang thiết bị và stress trong nghiên cứu này Việc thiếu thốn trang thiết bị gây khó khăn cho công việc của điều dưỡng và hộ sinh, cản trở họ trong việc phục vụ bệnh nhân tận tâm và cung cấp dịch vụ tốt nhất, điều này có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến stress cho họ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 87,5% người tham gia cho rằng trang bị bảo hộ lao động tốt giúp họ giảm stress Mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), việc đầu tư vào trang thiết bị bảo hộ lao động hiện đại và đầy đủ cho nhân viên vẫn là điều cần thiết và quan trọng.
Diện tích khoa phòng có ảnh hưởng đến mức độ stress của nhân viên y tế, với những người cảm thấy không gian chật chội gấp 1,1 lần so với những người làm việc trong môi trường rộng rãi Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Kiều My, cho thấy những người làm việc trong môi trường chật chội có nguy cơ mắc stress cao gấp 2,48 lần so với những người ở trong không gian bình thường hoặc rộng rãi (95% CI: 1,3 - 4,7; p