Để làm tốt công tác này cần phải giải quyết tốt mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với chủ sử dụng đất thông qua việc giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP
TẠI THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
HUẾ, 2015
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT VÀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP
TẠI THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Khái niệm đất lâm nghiệp 3
1.1.2 Quản lý Nhà nước về đất đai 3
1.1.3 Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 5
1.1.4 Quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất 7
1.1.5 Khái quát về công tác giao đất lâm nghiệp 14
1.1.6 Mục tiêu của việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp 15
1.1.7 Vấn đề hiệu quả giao đất và đánh giá hiệu quả giao đất lâm nghiệp 16
1.1.8 Quan điểm hiệu quả trong công tác giao đất lâm nghiệp 17
1.1.9 Đặc điểm tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả giao đất lâm nghiệp 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 19
1.2.1 Quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trên thế giới 19
1.2.2 Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Việt Nam 23
1.2.3 Kết quả giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình 27
1.2.4 Quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế 30
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 33
CHƯƠNG 2 36
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Mục tiêu cụ thể 36
2.2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 36
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 52.2.1 Phạm vi nghiên cứu 36
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 36
2.3 Nội dung nghiên cứu và các kết quả đạt được 36
2.4 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 37
2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 37
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp 37
2.4.4 Phương pháp so sánh 38
2.4.5 Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu 38
CHƯƠNG 3 39
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 39
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 45
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội 49
3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp thị xã Hương Thủy 50
3.2.1 Tình hình quản lý đất lâm nghiệp 50
3.2.2 Tình hình sử dụng đất và đất lâm nghiệp 53
3.3 Đánh giá công tác giao đất lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy 61
3.3.1 Trình tự thủ tục giao đất lâm nghiệp 61
3.3.2 Thực trạng về diện tích đất lâm nghiệp đã giao tại thị xã Hương Thủy 61
3.4 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp thị xã Hương Thủy 65
3.5 Hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp 68
3.5.1 Hiệu quả kinh tế hộ gia đình 68
3.5.2 Hiệu quả trong lao động việc làm và mối quan hệ cộng đồng 69
3.5.3 Hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường sinh thái 70
3.5.4 Hiệu quả trong quản lý Nhà nước về đất đai 71
3.6 Ý kiến của người dân về chính sách giao đất và cấp giấy CNQSD đất lâm nghiệp 72
3.6.1 Tư tưởng của người dân khi được giao đất 72
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 63.6.2 Về hạn mức giao đất và thủ tục giao đất 73
3.6.3 Các quyền lợi của người sử dụng đất sau khi nhận đất 73
3.7 Những vấn đề tồn tại sau khi giao đất và cấp giấy CNQSĐ lâm nghiệp và thách thức cần giải quyết 74
3.7.1 Những vấn đề tồn tại 74
3.7.2 Những vấn đề cần giải quyết trong công tác giao đất và cấp giấy đất lâm nghiệp 77
3.7.3 Giải pháp về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 KẾT LUẬN 85
2 KIẾN NGHỊ 86
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7UBND Ủy Ban nhân dân
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Hương Thủy 45
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 54
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 55
Bảng 3.4: Hiện trạng đất chưa sử dụng 56
Bảng 3.5 Hiện trạng đất lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy năm 2014 58
Bảng 3.6 Biến động sử dụng đất lâm nghiệp 2005 – 2010 59
Bảng 3.7 Biến động sử dụng đất 2010 – 2014 60
Bảng 3.8: Đối tượng sử dụng đất lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy 61
Bảng 3.9: Tình hình giao đất lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy 63
Bảng 3.10: Tình hình giao đất lâm nghiệp tại các xã điều tra đến năm 2014 63
Bảng 3.11: Tình hình cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy 65
Bảng 3.12 Số giấy được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp từ năm 2005 – 2014 66
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy 39 Hình 3.2: Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất thị xã Hương Thủy 53 Hình 3.3 Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp của thị xã Hương Thủy năm 2014 57
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp là một trong lĩnh vực quan trọng, bởi rừng là một bộ phận cấu thành môi trường sống toàn cầu Công tác bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng là công việc vô cùng to lớn Để làm tốt công tác này cần phải giải quyết tốt mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với chủ sử dụng đất thông qua việc giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Đó là cơ sở, căn cứ pháp lý quan trọng để các chủ sử dụng đất thực sự yên tâm đầu tư phát triển sản xuất và nhằm hạn chế tối đa tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất lâm nghiệp
Thực tiễn cho thấy đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất và chính sách giao đất lâm nghiệp đã thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng được nguyện vọng của người dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng triển khai thực hiện những chính sách giao đất ở mỗi địa phương lại có những thuận lợi và khó khăn riêng, chính vì vậy mà tác động của những chính sách này tới sự phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi địa phương cũng có sự khác nhau và mang đặc thù của mỗi vùng
Trên địa bàn thị xã Hương Thủy, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 66,33% diện tích tự nhiên Điều này đòi hỏi Nhà nước có biện pháp quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả quỹ đất này, tránh tình trạng đất bị hủy hoại hoặc sử dụng sai mục đích theo quy định của Nhà nước
Trong những năm qua, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của thị xã dựa trên lợi thế của vùng Chính quyền, nhân dân thị xã Hương Thủy chỉ đạo phát triển lâm nghiệp theo hướng tăng cường công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng đã có, đầu
tư tập trung trồng rừng mới ở những nơi đất trồng đồi núi trọc Do vậy việc nghiên cứu, đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trong giai đoạn này và đưa ra một số phương hướng cho giai đoạn tiếp theo
là một việc làm cần thiết, trên cơ sở đó tìm ra một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Đánh giá công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm
nghiệp tại thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Mục đích của đề tài
Đánh giá được công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý sử dụng quỹ đất lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 113 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho việc nâng cao hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại thị xã Hương Thủy
- Cung cấp nguồn thông tin làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài là tài liệu tham khảo để các nhà quản lý đưa ra những chủ trương giao đất và biện pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh chóng, phù hợp nhằm quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên rừng đồng thời nâng cao đời sống của người dân sống chủ yếu dựa vào rừng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng (gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và đất mới được trồng rừng hoặc trồng kết hợp khoanh nuôi tự nhiên Riêng đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên mà chưa đạt tiêu chuẩn rừng thì chưa thống kê vào đất lâm nghiệp mà thống kê theo hiện trạng (thuộc nhóm đất chưa sử dụng) Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng
- Đất rừng đặc dụng: Là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.[2]
1.1.2 Quản lý Nhà nước về đất đai
1.1.2.1 Khái niệm
Quản lý Nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất ở từng vùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất về quy hoạch, kế hoạch, sử dụng khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước từ Trung ương tới địa phương làm cho người sử dụng đất hiểu được pháp luật và thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật về đất đai [6]
1.1.2.2 Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
Theo điều 22 Luật Đất đai sửa đổi 2013, quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm những nội dung sau:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất, điều tra, đánh giá tài nguyên đất, điều tra xây dựng giá đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và
sử dụng đất đai
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [22]
1.1.2.3 Vai trò quản lý Nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế,
xã hội và đời sống nhân dân
- Thông qua hoạch định chiến lược quy hoạch, lập kế hoạch phân bố đất đai có
cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế, xã hội của đất nước; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao; giúp cho Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả
- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước quản lý toàn bộ đất đai về số lượng và chất lượng để làm căn cứ cho các biện pháp kinh tế - xã hội có hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất có hiệu quả
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai (văn bản luật
và dưới luật) tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân trong những quan hệ về đất đai
- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai như chính sách giá, chính sách thuế, chính sách đầu tư… Nhà nước kích thích các tổ chức, các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm đất đai nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của đất, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước
và bảo vệ môi trường sinh thái
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, Nhà nước nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi phạm pháp luật về đất đai [6]
1.1.3 Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ở Việt Nam, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong việc sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, theo quy định của pháp luật đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời cũng là một quyền đầu tiên mà bất kỳ người sử dụng đất hợp pháp nào cũng được hưởng [5]
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho người sử dụng đất [21]
Tại khoản 5 - Điều 9 Luật Đất đai 1987 tuy có đề cập đến việc “cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là loại giấy nào thì Luật không quy định rõ Quy định cụ thể về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức có từ Quyết định 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất (quy định rõ các vấn đề như khái niệm, mẫu giấy chứng nhận; đối tượng và điều kiện được cấp giấy; thẩm quyền cấp giấy…) Kể từ đấy, mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất áp dụng thống nhất cho tổ chức, cá nhân theo quy định của Quyết định 201 được Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát hành và sử dụng theo số sêri liên tục cho đến khi có Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do mẫu giấy này có bìa màu đỏ nên thường được gọi là giấy bìa đỏ hay giấy đỏ Tuy nhiên, giấy đỏ chỉ áp dụng cấp cho quyền sử dụng đất mà không áp dụng cấp cho đất có nhà ở tại đô thị
Nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và tạo tâm lý yên tâm cho người sử dụng đất, một số địa phương đã chủ động ban hành mẫu giấy chứng nhận tạm thời (như TP Hồ Chí
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15Minh) cho đến trước ngày 05/7/1994, có mẫu giấy trắng - giấy chứng nhận tạm giao quyền sử dụng đất ở do UBND cấp huyện ký cấp
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, ngày 05/7/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/CP về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, quy định người
sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở tại đô thị được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
và quyền sử dụng đất ở Mẫu giấy chứng nhận này do Bộ Xây dựng phát hành và có màu hồng nhạt nên thường được gọi là Giấy hồng Theo đó, đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở tại nông thôn vẫn tiếp tục sử dụng mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy đỏ), còn đất ở có nhà tại đô thị sẽ được cấp giấy hồng
Cũng khoảng thời gian này, nảy sinh thực trạng phổ biến là sự buông lỏng quản lý về nhà, đất thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị của Nhà nước gây ra bất hợp lý, lãng phí, sử dụng không đúng mục đích tài sản Nhà nước Do vậy, để tăng cường, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức trong việc bảo tồn quỹ đất, công trình trụ
sở cơ quan, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhà làm việc của các cơ quan hành chính sự nghiệp kèm theo Quyết định 399TC/QLCS ngày 17/5/1995 Những năm tiếp theo, Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 về quản lý tài sản nhà nước, mở rộng đối tượng, quy định các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đều phải đăng ký đất đai, nhà và công trình xây dựng khác gắn liền với đất tại cơ quan quản lý công sản cấp tỉnh Sau khi đăng ký, các cơ quan, đơn vị, tổ chức sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước Giấy chứng nhận này do Bộ Tài chính phát hành theo Quyết định 20/1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 và do có màu tím nên thường được gọi là giấy tím.[5]
Như vậy, trước tháng 11/2004, cùng lúc tồn tại cả 3 mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp do 3 cơ quan khác nhau chịu trách nhiệm phát hành và tổ chức thực hiện cấp cho người sử dụng đất, gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – giấy đỏ, thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở – giấy hồng, thuộc ngành Xây dựng
- Giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà, đất, trụ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước – giấy tím, thuộc ngành Tài chính
Với những quy định đó, mỗi loại giấy chứng nhận được cấp theo một trình tự, thủ tục khác nhau; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất liên quan cũng có ít nhiều khác biệt, đồng thời hoạt động quản lý đất đai của nhà nước đối với từng loại đất và tài
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16sản trên đất cũng bị tách rời, thuộc nhiều cơ quan khác nhau, gây khó khăn trong việc kiểm soát biến động đất đai Do đó, một số thành phố trực thuộc Trung ương (như Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh) đã có sáng kiến sáp nhập Sở Địa chính và Sở Nhà đất thành Sở Địa chính - Nhà đất và cơ quan này chỉ cấp cho người dân một loại giấy hồng
Với mong muốn tạo thuận tiện cho người sử dụng đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thống nhất việc quản lý đất đai và tài sản gắn liền với đất, không phụ thuộc loại đất, mục đích sử dụng đất, đến Luật Đất đai 2003 (được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004) quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có sự thay đổi cơ bản
Khoản 1 - Điều 48 Luật Đất đai 2003 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản” Người đã được cấp giấy đỏ hoặc giấy hồng sẽ được đổi sang giấy mới khi có sự chuyển quyền sử dụng đất Và theo Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành quy định
về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mẫu giấy chứng nhận này cũng có màu đỏ
Như vậy, một sản phẩm giấy đỏ mới đã ra đời theo Luật Đất đai 2003 thay thế cho ba loại giấy là đỏ, hồng, tím hợp pháp đang tồn tại, thống nhất chung một giấy chứng nhận cho mọi loại đất và cả tài sản trên đất
Theo Luật đất đai 2013 cơ bản như quy định của Luật 2003 và các nghị định hướng dẫn (Nghị định 88/2009 và Nghị định 84/2007), có các điểm sửa đổi, bổ sung:
- Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận theo thửa: Người sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã thì cấp một giấy chứng nhận nếu có nhu cầu
- Thửa đất có nhiều người sử dụng chung thì cấp mỗi người 1 giấy hoặc cấp 1
giấy cho người đại diện, giấy chứng nhận phải ghi đầy đủ tên của những người đó
1.1.4 Quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất
1.1.4.1 Quyền sở hữu đất
Điều 19 - Hiến pháp 1980, Điều 17 - Hiến pháp 1992 và Điều 1- Luật Đất đai
1993, Điều 5 - Luật Đất đai 2003, Điều 4 – Luật Đất đai 2013 đã qui định: Toàn bộ vốn đất nằm trên lãnh thổ Việt Nam, trên đất liền hay các hải đảo và thềm lục địa đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Trên
cơ sở đó, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai đã ra đời
- Sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm dùng để chỉ một hình thức sở hữu đối với đất đai mà trong đó toàn dân là chủ thể nhưng toàn thể nhân dân không thể
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17đứng ra thực hiện những quyền và nghĩa vụ cụ thể thuộc chủ sở hữu như quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà phải thông qua một chủ thể đại diện cho mình, chủ thể đó chỉ có thể là Nhà nước Bởi vì Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, lợi ích của Nhà nước về cơ bản là thống nhất với lợi ích của đa số tầng lớp nhân dân lao động
* Chủ thể, khách thể, nội dung của quyền sở hữu đất đai Chủ thể của quyền sở hữu đất đai
Được qui định tại Điều 17 - Hiến pháp 1992, Điều 1- Luật Đất đai năm 1993, Điều 5- Luật Đất đai năm 2003, Mục 1 Chương II – Luật Đất đai 2013
Nhà nước là chủ thể đại diện và đặc biệt của quyền sở hữu đất đai, bởi vì đây
là quyền duy nhất và tuyệt đối Nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa là người nắm quyền lực chính trị nên bằng pháp luật qui định những hình thức, những biện pháp để thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu
* Khách thể của quyền sở hữu đất đai
Là toàn bộ vốn đất nằm trong lãnh thổ quốc gia
+ Đất đai là khách thể đặc biệt của quyền sở hữu, bởi vì chỉ là khách thể của quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện mà thôi
+ Đất đai là một tài sản đặc biệt mang tính tự nhiên
Theo Luật Đất đai 1987, đất đai Việt Nam được chia làm 5 loại: Đất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất chuyên dùng; Đất khu dân cư; Đất chưa sử dụng
Theo Luật Đất đai 1993, đất đai Việt Nam được chia làm 6 loại: Đất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất chuyên dùng; Đất khu dân cư nông thôn; Đất đô thị; Đất chưa sử dụng
Theo Luật Đất đai 2003, đất đai Việt Nam được chia làm 3 nhóm:
Nhóm đất nông nghiệp được chia thành các phân nhóm sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
- Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thuỷ sản
- Đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác.là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18thuỷ sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
Nhóm đất phi nông nghiệp được chia thành các phân nhóm sau:
- Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị
- Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình
sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng
Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình giao thông, cầu, cống, vỉa hố, cảng đường thuỷ, bến phà, bến xe ô tô, bãi đỗ
xe, ga đường sắt, cảng hàng không; hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông,
hệ thống dẫn xăng, dầu, khí; đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở tập luyện thể dục - thể thao, công trình văn hoá, điểm bưu điện - văn hoá xã, tượng đài, bia tưởng niệm, nhà tang lễ, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rạp xiếc, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở dạy nghề, cơ sở cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó được xếp hạng hoặc được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định bảo vệ; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng
- Đất phi nông nghiệp khác
Đất phi nông nghiệp khác là đất có công trình thờ tự, nhà bảo tàng, nhà bảo tồn, nhà trưng bày tác phẩm nghệ thuật, cơ sở sáng tác văn hoá nghệ thuật và các công trình xây dựng khác của tư nhân không nhằm mục đích kinh doanh mà các công trình
đó không gắn liền với đất ở; đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động; đất tại đô thị sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng kho, nhà của hộ gia định, cá nhân có chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19Nhóm đất chưa sử dụng được chia thành các loại đất sau:
- Đất bằng chưa sử dụng;
- Đất đồi núi chưa sử dụng;
- Núi đá không có rừng cây
Theo Luật Đất đai 2013 có sự thay đổi về cách phân loại đối với một số loại đất
- Đất trồng cây hàng năm: Bỏ loại đất cỏ dùng cho chăn nuôi và gộp loại đất này chung vào loại đất trồng cây hàng năm khác, vì loại đất này không phổ biến và có chế độ quản lý như các loại đất trồng cây hàng năm khác
- Đất nông nghiệp khác: Chỉ tính đất có xây dựng công trình để trồng trọt, chăn nuôi, ở cả đô thị và nông thôn
+ Thêm đất trồng hoa, cây cảnh
+ Bỏ đất xây dựng không để trồng trọt, chăn nuôi trong các trạm, trại nghiên cứu và cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; bỏ nhà kho của dân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
- Đất phi nông nghiệp khác: Bỏ công trình thờ tự, nhà bảo tàng, nhà bảo tồn, nhà trưng bày tác phẩm nghệ thuật, cơ sở sáng tác văn hoá nghệ thuật và các công trình xây dựng khác của tư nhân; đất xây dựng công trình để trồng trọt, chăn nuôi
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp:
+ Tách đất khu công nghiệp thành 3 loại: khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất;
+ Tách đất cơ sở sản xuất kinh doanh thành 2 loại: đất thương mại, dịch vụ và đất cơ sở sản xuất
- Đáng chú ý là phân loại đất công trình công cộng và công trình sự nghiệp, trước đây đất xây dựng công trình sự nghiệp được gộp chung với đất trụ sở cơ quan thì nay đất công trình sự nghiệp được tách thành loại riêng, trong đó đất để xây dựng cơ
sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao theo luật hiện hành được gọi là đất công trình công cộng thì nay các loại đất này được gộp với đất xây dựng trụ
sở của tổ chức sự nghiệp thành đất xây dựng công trình sự nghiệp
1.1.4.2 Quyền sử dụng đất
Khi nghiên cứu Luật Đất đai năm 2003 theo quy định tại khoản 4 của Điều 5 thì “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20* Người sử dụng đất có các quyền chung sau đây:
- Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất
- Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;
- Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;
- Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
- Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
- Người sử dụng đất được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật
- Quyền lựa chọn hình thức giao đất, thuê đất
* Ngoài ra hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác;
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của Chính phủ;
- Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu
tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;
- Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;
- Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21- Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh
* Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Bán, thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê;
người mua, người nhận thừa kế, người được tặng cho tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;
- Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh
- Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
để hợp tác sản xuất, kinh doanh
Theo Điều 179 – Luật Đất đai 2013, nội dung Điều này kế thừa quy định Điều
113 của Luật đất đai năm 2003, đồng thời có các sửa đổi, bổ sung các nội dung sau đây:
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được Nhà nước giao đất nông nghiệp trong hạn mức, đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đất giao có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất và đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; trường hợp đất thuộc diện thu hồi để đầu tư dự án có mục đích sản xuất, kinh doanh hoặc xây dựng kinh doanh nhà ở thì có quyền tự đầu tư trên đất hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
- Quy định hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật” và “cho thuê tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định của pháp luật dân sự” (Điều 179); bổ sung quy định về quyền của hộ gia đình, cá nhân thuê lại đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất (khoản 3 Điều 179)
1.1.4.3 Những trường hợp không được cấp GCNQSDĐ
- Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai 2013
- Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22- Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
- Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng
- Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.[22]
1.1.4.4 Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- UBND cấp tỉnh cấp GCNQSD đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân ở nước ngoài
- UBND cấp huyện cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
- UBND cấp tỉnh được uỷ quyền cho các cơ quan quản lý đất đai cùng cấp trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Luật đất đai 2013 có 2 điểm sửa đổi:
- Bỏ điều kiện khi UBND cấp tỉnh ủy quyền cho Sở Tài nguyên và môi trường cấp Giấy chứng nhận;
- Thẩm quyền cấp GCN đối với trường hợp đã có GCN mà khi thực hiện các quyền phải cấp GCN mới hoặc cấp đổi, cấp lại GCN:
- Địa phương đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai (1 cấp) thì Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCN cho các đối tượng
- Địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì:
+ UBND cấp huyện cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở
+ Sở Tài nguyên và Môi trường cấp đối tượng còn lại
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 231.1.5 Khái quát về công tác giao đất lâm nghiệp
1.1.5.1 Khái niệm về giao đất
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Luật đất đai 2013 đã làm rõ hơn khái niệm giao đất: Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Theo đó, chủ thể của quan hệ pháp luật này là Nhà nước và người có nhu cầu
sử dụng đất (bao gồm các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân) Căn cứ vào chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai mà pháp luật đất đai hiện hành còn một số khái niệm cần phân biệt như khái niệm công nhận quyền sử dụng đất, giao lại đất, giao đất để quản
lý, giao khoán Cụ thể:
Công nhận quyền sử dụng đất là trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, nếu đủ điều kiện của pháp luật thì được cấp giấy chứng nhận Trong trường hợp này, về bản chất không phải là Nhà nước giao đất nhưng người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ như người
sử dụng đất được Nhà nước giao đất
Giao đất để quản lý là hình thức Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức do Nhà nước thành lập có trách nhiệm quản lý mà không được trực tiếp sử dụng đất
Giao khoán là khái niệm sử dụng đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất
để quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ( trước đây là các nông trường, lâm trường quốc doanh) sau đó các tổ chức này giao khoán theo hợp đồng cho hộ gia đình, cá nhân để trồng rừng, bảo vệ rừng ( thực chất giao khoán là hợp đồng dân sự, kinh tế).[18]
1.1.5.2 Căn cứ giao đất lâm nghiệp
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Theo Luật đất đai 2013 có hiệu lực 01/07/2014 giao đất căn cứ theo kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND cấp xã, nơi có đất lâm nghiệp xác nhận
1.1.5.3 Hạn mức giao đất lâm nghiệp
- Hạn mức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 ha đối với mỗi loại
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24- UBND cấp tỉnh quy định hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
1.1.5.4 Thời hạn giao đất lâm nghiệp
- Thời hạn giao đất cho hộ gia đình, cá nhân là 50 năm
- Thời hạn giao đất được tính từ ngày có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất trước ngày 01/07/2004 thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn đã được giao đất còn lại
Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất có nhu cầu và sử dụng đúng mục đích thì được Nhà nước giao tiếp đất đó để sử dụng
1.1.5.5 Thẩm quyền giao đất
- UBND cấp huyện quyết định giao đất cho hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư
- UBND cấp tỉnh quyết định giao đất cho các tổ chức
1.1.6 Mục tiêu của việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Chính vì vậy, Nhà nước tiến hành giao đất lâm nghiệp cho người dân khi họ được quyền sử dụng và có nhu cầu sử dụng, cấp GCNQSDĐ cho người dân để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho họ yên tâm sản xuất, Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất của quốc gia Thông qua các tác dụng về bảo
vệ môi trường sống, cung cấp sản phẩm, tăng thu nhập và giải quyết việc làm đã thể hiện đầy đủ vai trò của kinh tế lâm nghiệp đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, cụ thể hơn thể hiện qua các mục tiêu sau:
- Bảo vệ môi trường sống: Rừng có tác dụng rất lớn lao trong việc bảo vệ đất, giữ nguồn nước, điều hòa khí hậu, chống gió bảo, lũ lụt Chính vì vậy, giao đất lâm nghiệp nhằm đẩy mạnh quá trình phủ xanh đất trống, đồi trọc bảo vệ môi trường sống, làm cho môi trường sống tồn tại và phát triển
- Cung cấp sản phẩm: Trong các sản phẩm khai thác từ rừng, gỗ là sản phẩm chính, nó là nguyên liệu phổ biến, dễ gia công chế biến Phục vụ cho nhu cầu sản xuất lâm nghiệp, khai thác có hiệu quả đất lâm nghiệp
- Nguồn thu nhập: Đối với người dân địa phương có rừng, nguồn thu nhập chủ yếu là từ các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, giá trị ngày công làm rừng cao hơn nhiều
so với các hoạt động sản xuất khác
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25- Giải quyết việc làm: Giải quyết công việc làm cho người dân lao động là vấn
đề cần thiết đối với một xã hội Ngoài việc sử dụng lao động vào kinh doanh, bảo vệ rừng, còn có lao động trong khai thác, chế biến lâm sản
- Nhằm thực hiện các chương trình, dự án lớn của quốc gia về trồng rừng Các chương trình này chỉ thực hiện tốt khi công tác giao đất được làm tốt
- Đẩy mạnh mô hình trồng rừng thâm canh cây lâm nghiệp, hiện nay sản phẩm lâm nghiệp rất có giá trị nên sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân
- Khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đất lâm nghiệp, phát triển kinh tế rừng.[12]
1.1.7 Vấn đề hiệu quả giao đất và đánh giá hiệu quả giao đất lâm nghiệp
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của con người như: kinh tế, xã hội chính trị, an ninh quốc phòng Trong sản xuất lâm nghiệp, đất đai là yếu tố hàng đầu và là một tư liệu sản xuất đặc biệt không cái gì có thể thay thế được Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn
là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất và thông qua đất đai Chính vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo cho lâm nghiệp phát triển bền vững.[11]
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33,1 triệu ha Cùng với dân số ngày càng tăng nhanh, việc lấn chiếm chặt phá rừng bừa bãi vẫn diễn ra thì việc sử dụng hiệu quả đất lâm nghiệp đem lại hiệu quả cao luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm
Việc sử dụng đất đai phải tôn trọng các nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, sử dụng đất có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Quốc hội, luật đất đai, năm 2003)
Việc sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 dựa trên quan điểm áp dụng quản lý rừng bền vững với tất cả các khu rừng ở việt nam Đây là đạo luật quan trọng nhất về lâm nghiệp, các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển rừng bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược phát triển lâm nghiệp ( Quốc hội luật bảo vệ
và phát triển rừng năm 2004)
Quan điểm quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất lâm nghiệp bền vững là
sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai Bảo vệ và phát triển tài nguyên đất lâm nghiệp bền vững phải
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26đồng thời phát triển ổn định về kinh tế, tiến bộ về xã hội và giữ được môi trường sinhthái
Hiệu quả sử dụng rừng và đất lâm nghiệp sau khi được giao là một vấn đề lớn, quyết định những yếu tố hết sức quan trọng đối với người nhận như tăng thu nhập cải thiện đời sống hàng ngày, hoặc ở mức độ lớn hơn như phát triển kinh tế trang trại, lâm sản, bảo vệ môi trường sinh thái… Hơn thế nữa, điều đặc biệt quan trọng là sự thay đổi trong nhận thức, hành vi của người dân, những thay đổi về quan hệ xã hội, cũng như hiệu quả của việc thực thi pháp.[9]
1.1.8 Quan điểm hiệu quả trong công tác giao đất lâm nghiệp
Ngày nay nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng trong khi quỹ đất chỉ có hạn Đất đai đang là nguồn tài nguyên được con người khai thác với nhiều mục đích khác nhau Do đó, cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu giao đất lâm nghiệp ở nước ta cũng là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất lâm nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Chính
vì vậy, đất lâm nghiệp cần được giao hợp lý, hiệu quả phù hợp với điều kiện hoàn cảnh
cụ thể của từng địa phương
1.1.9.1 Khái niệm hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách tổng quát và chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại.[16]
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền
Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành lâm nghiệp, cùng với hiệuquả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng lâm sản thu hoạch được Như vậy, hiệu quả giao đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học,
kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất lâm nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc
tế Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả giao đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.1.9.2 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội.[2]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật
“tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội”
1.1.9.3 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn [25]
1.1.9.4 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện qua các chỉ tiêu: Loại hình sử dụng đất phải hạn chể đến mức tối đa tình trạng xói mòn, bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [4]
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi bố trí phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất phải thông qua 2 nhóm chỉ tiêu chính gồm khả năng che phủ đất và nhóm thứ 2 là khả năng duy trì độ phì nhiêu của đất Tất nhiên trong những trường hợp cho phép còn phải tính đến khả năng ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học của vùng nghiên cứu.[15]
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trên thế giới
1.2.1.1 Trung Quốc
Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa
lợi ích cộng đồng và lợi ích của người dân chưa có sự phối kết hợp
Giai đoạn từ năm 1979 – 1992: Trung Quốc đã ban hành 26 văn bản về pháp luật, nghị định, thông tư và quy định liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Đầu năm 1980, Trung Quốc ban hành nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ Trung ương đến cấp tỉnh, huyện, tiến hành cấp chứng nhận
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng là những tập thể và tư nhân Luật lâm nghiệp đã xác lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được
xử lý theo hợp đồng
Năm 2000, Cục Lâm nghiệp Nhà nước ban hành chính thức "các biện pháp hành chính đăng ký quyền hưởng dụng của cây rừng và đất lâm nghiệp" và nó chỉ ra rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng trong một mẫu thống nhất đã được phát hành trong cả nước Đến cuối năm 2000, giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng được phát hành cho 221 triệu ha đất rừng trong cả nước, chiếm 86 phần trăm tổng diện tích đất lâm nghiệp Hiện nay, công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng đang được thực hiện dần dần trong tất cả các tỉnh
Sau một khởi đầu sai lầm trong đầu những năm 1980, cải cách chủ rừng Trung Quốc bắt đầu một lần nữa vào năm 2003, khi chính phủ của tỉnh Phúc Kiến, tỉnh lớn nhất của rừng tập thể, bắt đầu thay đổi khuyến khích nhiệm kỳ hộ gia đình Những cải cách tiến bộ rất nhanh, và đến năm 2006 thực tế tất cả các thôn trong tỉnh là thuộc quyền quản lý rừng hộ gia đình Đến cuối năm 2007, có thêm 13 tỉnh đã công bố chính sách mới về chủ rừng tập thể Đến năm 2010, số lượng các tỉnh có chính sách khuyến khích cải cách chủ rừng đã tăng lên đến 20 Trung Quốc đã quyết định đưa ra một số thay đổi cơ bản, trước hết nâng thời hạn quyền sử dụng đất lên 70 năm nhằm đảm bảo quyền lợi cho người nông dân đầy đủ hơn Bên cạnh đó, họ sẽ được phép chuyển nhượng, cho thuê và cầm cố quyền sử dụng mảnh đất của mình để thu lợi nhuận.[32]
1.2.1.2 Thái Lan
Tại Thái Lan, Luật ruộng đất được ban hành vào năm 1954 đã thúc đẩy mạnh
mẽ chính sách KT - XH của đất nước Luật ruộng đất đã công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có thể được mua, tậu lại từ cá thể Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng, cầm cố một cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng (có khả năng trồng trọt được) và nhân dân đã trở thành người làm công trên đất
ấy Tuy nhiên, trong giai đoạn này luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế
độ luân canh vừa Bên cạnh đó, việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu thửa đất do việc phân hóa giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp
Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh
* Chương trình giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi
Chương trình này bắt đầu từ năm 1979, mỗi mảnh đất được chia làm hai miền:
Miền ở phía trên nguồn nước và miền đất có thể dành để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì bị hạn chế để giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30nông nghiệp thì cấp cho người dân với một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi
Mục đích của công tác này là khuyến khích đầu tư vào đất đai, tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa và ngăn chặn sự xâm lấn vào đất rừng Đến năm 1986, đã có 600.126 hội nông dân không có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi
* Chương trình làng lâm nghiệp Thái Lan
Năm 1975, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia thực hiện sơ đồ làng lâm nghiệp để giải quyết cho một số người ở lại trên đất rừng Chương trình này đã đem lại trật tự cho những người dân Thái Lan sống ở rừng và khuyến khích người dân tham gia bảo
vệ rừng quốc gia, phục hồi những vùng đất bị thoái hóa do du canh Ở Thái Lan có 98 làng lâm nghiệp rải rác trên toàn vùng rừng của vương quốc
Những người sống ở rừng được tập trung lại thành từng nhóm gọi là làng Mỗi làng bầu ra người lãnh đạo và một hội đồng để tự quản lý Chính phủ chia cho mỗi hộ gia đình nông dân 2 - 4 ha đất Diện tích đất này được cấp giấy phép cho quyền sử dụng và có thể được thừa kế nhưng không được bán, nhượng (Điều này nhằm ngăn chặn những địa chủ mua toàn bộ đất của nông dân) Sau khi làng được lập, một hợp tác xã nông nghiệp sẽ được tổ chức dưới sự bảo trợ của ban khuyến khích hợp tác và
có những quyền lợi như đối với hợp tác xã khác Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho những hợp tác xã đó theo yêu cầu
Hiện nay, Thái Lan đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng Tổng diện tích đã giao khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư Nhà nước trợ cấp cho mỗi hộ gia đình tối đa 50 rai và tối thiểu 5 rai Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8, Thái Lan dự kiến áp dụng một chính sách lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi trường
và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở Kế hoạch này gồm các phần: Cung cấp thông tin và đào tạo cán bộ, tổ chức cộng đồng, xây dựng chính sách và quy chế, xây dựng hệ thống dịch vụ, hỗ trợ [14]
1.2.1.3 Nepal
Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể các khu rừng cộng đồng ở vùng trung du cho các cộng đồng dân cư địa phương, thông qua sử dụng các tổ chức chính quyền ở cấp cơ sở để quản lý rừng Chính phủ yêu cầu các tổ chức đó thành lập một ủy ban về rừng và cam kết quản lý những vùng rừng ở địa phương theo
kế hoạch đã thỏa thuận Tuy nhiên sau một thời gian người ta nhận ra các tổ chức đó không phù hợp với việc quản lý và bảo vệ rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có các nhu cầu, sở thích khác nhau Tiếp theo Nhà nước đã phân biệt quyền sở hữu cá nhân và sở hữu nhà nước Trong sở hữu nhà nước chia rừng thành các quyền sử dụng khác nhau như rừng chính phủ quản lý, rừng cộng đồng hay nhóm người sử dụng, rừng thuê theo hợp đồng, rừng tôn giáo và bảo vệ rừng Nhóm nhỏ thuê theo hợp đồng với các thành viên từ 5 - 20 hộ gia đình có quyền
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31sử dụng lâu dài trên đất rừng là 40 năm và được gia hạn thêm 40 năm nữa, diện tích trung bình cho thuê là 3 - 20 ha Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng rừng Trong vòng 14 năm, Nhà nước giao khoảng 9000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng Từ năm 1993, chính sách lâm nghiệp mới nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ các nhóm sử dụng rừng, thay đổi chức năng các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng giám sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý
và bảo vệ có hiệu quả
Trong tương lai, sẽ cần nhiều hơn sự tham gia, đầu tư hiệu quả từ khu vực tư nhân vào các doanh nghiệp lâm nghiệp cộng đồng, và những hỗ trợ kỹ thuật cho các nhóm sử dụng rừng để đánh giá những kế hoạch quản lý hoạt động của họ Thúc đẩy quản trị nội bộ cho các nhóm sử dụng rừng tiếp tục là một quá trình thay đổi mang tính
ưu tiên với Nepal [27]
1.2.1.4 Inđônêxia
Vào những năm 1992, tại Ngawi, Java của Inđônêxia, người ta đã xây dựng một rừng làng 5 hecta theo sáng kiến của sở lâm nghiệp trên đất rừng không thích hợp cho trồng trọt Dân làng được phép thu hoạch gỗ tại địa phương và buôn bán Việc chăn thả gia súc trong rừng bị nghiêm cấm Chính phủ phải quản lý những khu vực mà việc bảo vệ là rất cần thiết và các cộng đồng không thể quản lý được đầy đủ Theo đó các khu rừng cấm để giữ nước, rừng sản xuất để xuất khẩu và cung cấp gỗ cho vùng
do sở lâm nghiệp quản lý, những khu rừng còn lại giao cho địa phương
Với một diện tích rừng rộng lớn, trữ lượng rừng cao, hệ sinh thái đa dạng, phong phú nên ngành lâm nghiệp của Indonesia rất phát triển, đây là một ngành kinh
tế quan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội của Indonesia.Trong diện tích gần 131 triệu ha rừng được chia ra: rừng nguyên sinh 41,3 triệu ha, rừng tái sinh 45,6 triệu ha, rừng trồng 2,8 triệu ha, đất không có rừng 41,1 triệu ha Rừng của Indonesia được phân thành 3 loại: rừng phòng hộ, rừng bảo tồn (ở ta là rừng đặc dụng) và rừng sản xuất
Các loại rừng phòng hộ, rừng sản xuất giao cho các địa phương quản lý, sau
đó các địa phương giao lại cho các chủ rừng quản lý, bảo vệ Đối với rừng sản xuất, Indonesia đã có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, hiện nay đã cấp được khoảng 30 triệu ha rừng, thời gian sử dụng đất lâm nghiệp được quy định 35 năm Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp chủ yếu cấp cho các công ty nhà nước, cấp trực tiếp cho dân rất hạn chế.[8]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32dụng đất về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường
1.2.2 Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Việt Nam
1.2.2.1 Giai đoạn 1968 - 1986
* Ở Trung ương
Vào giai đoạn 1968 - 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế quản
lý kế hoạch tập trung đặc điểm của cơ chế này được tóm tắt như sau:
- Chỉ có 2 thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể, cụ thể trong ngành lâm nghiệp là lâm trường quốc doanh và HTX có hoạt động nghề rừng
- Kế hoạch hóa tập trung ở mức độ cao, theo kiểu “Cấp phát – giao nộp”
- Gỗ và lâm sản là vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý
- Về khung pháp lý quản lý đất đai và giao đất lâm nghiệp, trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến quản lý đất đai, đặc biệt Quyết định số 184/HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng Nội dung cơ bản của quyết định được tóm tắt như sau:
- Đối tượng giao đất giao rừng được mở rộng hơn trước, bao gồm: HTX, tập đoàn sản xuất, hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, quân đội
- Trong giai đoạn đầu chủ yếu giao đất trống và đồi trọc, rừng nghèo và các rừng chưa giao
- Không ấn định diện tích rừng và đất rừng giao cho các đơn vị tập thể Mỗi hộ
ở các tỉnh miền núi, Trung du nhận 2000m2/lao động Các hộ gia đình có thể ký hợp đồng với một đơn vị Nhà nước để trồng cây trên đất đồi trọc
- Có trợ cấp nhất định cho các đơn vị tập thể và cá nhân nhận đất và rừng để trồng và cải tạo rừng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33* Ở cấp địa phương
Trong giai đoạn 1968 – 1986, tại các cấp địa phương chuyển biến đầu tiên là các HTX bắt đầu tham gia vào hoạt động lâm nghiệp nhờ chính sách của Nhà nước về chính sách giao đất giao rừng cho HTX Hoạt động của HTX vào nghề rừng có 3 loại hình:
HTX quản lý rừng: Tại Trung du và miền núi phía Bắc, đối với những tỉnh có tiềm năng sản xuất tốt, các thị trường tiêu thụ sản phẩm và có thể đảm bảo tự cung cấp lương thực thì các HTX ở đây trực tiếp sản xuất, quản lý và dụng rừng Tuy nhiên, chủ trương giao đất giao rừng cho các đơn vị ngoài quốc doanh (như hợp tác xã) vẫn còn mới mẻ, chưa thực sự đi vào cuộc sống nên số lượng các HTX tham gia vào nhóm này không nhiều Ví dụ, tỉnh Quảng Ninh chỉ có 28 trong số 93 HTX, Lạng Sơn có 29 trong 200
Hợp tác xã làm việc theo hợp đồng: Các HTX loại này mặc dù được giao đất giao rừng nhưng chưa đảm bảo tự kinh doanh nghiệp phải hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho LTQD trên diện tích đất và rừng được giao Ví dụ như: Huyện Bạch Thông (Bắc Thái), một số huyện ở các tỉnh Quảng Ninh và Nghệ Tĩnh LTQD chịu trách nhiệm cung cấp giống cây trồng, tiền công, đầu tư sản xuất…
Sau khi trồng các HTX phải chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý rừng trồng Nhìn chung, rừng được bảo vệ tốt hơn trước
Hợp tác xã tham gia khai thác rừng tự nhiên: Các HTX thuộc loại này thường
đã nhận đất nhận rừng nhưng chỉ đơn thuần để giữ rừng, khai thác gỗ, củi, đặc biệt vào những năm thiếu lương thực
Trong giai đoạn 1968 - 1986, ngành lâm nghiệp đã quy hoạch lại đất lâm nghiệp thành 3 loại rừng: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất Hệ thống các LTQD đã được tổ chức lại vào năm 1985 và diện tích họ trực tiếp quản lý cũng đã giảm xuống Các lâm trường tiến hành rà soát lại quỹ đất và bàn giao lại cho chính quyền xã để giao cho các hộ gia đình
Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao trong thời kỳ 1968 – 1986 là 4.4 triệu
ha, trong đó có 1.8 triệu ha đất có rừng và 2.7 triệu ha đất trống đồi trọc Các đối tượng nhận đất lâm nghiệp là 5.722 HTX và các tổ sản xuất tại 2.271 xã, 610 đơn vị khác và trường học, 349.750 hộ gia đình [2]
1.2.2.2 Giai đoạn từ 1986 - 1994
* Ở Trung ương
Thời kỳ đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, thay đổi hệ thống kế hoạch hoá tập trung thành nhiều kinh tế thị trường nhiều thành phần do Nhà nước lãnh đạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34chính sách đổi mới dần được điều chỉnh Tuy nhiên, trên thực tế quá trình đổi mới bắt đầu sớm hơn nhiều Năm 1981, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 100/CT – TW mở rộng khóa sản phẩm đến nhóm và người lao động mà thực chất là khoán đến hộ gia đình sản xuất nông nghiệp Tiếp theo Chỉ thị 100/CT-TW, để tăng vai trò kinh tế của hộ gia đình nông dân, Bộ Chính Trị đã đề ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với nội dung cơ bản là giải phóng triệt để sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng lao động, đất đai, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các luật và các chính sách về lâm nghiệp:
Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành năm 1991 đã đưa ra khuôn khổ ban đầu về các chính sách liên quan đến các vấn đề giao đất lâm nghiệp cho các đối tượng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp
Các quyết định, nghị định liên quan giao khoán đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp (Quyết định số 202 TTg năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 01/CP năm 1995 của Chính phủ)
Cùng với chính sách giao đất khoán rừng Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích sử dụng đất trồng rừng và bảo vệ rừng như Quyết định số 264/CT ngày 22/7/1992 của Hội đồng Bộ Trưởng về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi trọc, rừng, bãi, bồi ven biển và mặt nước, quyết định này sau đó trở thành chương trình 327 [2]
* Ở cấp địa phương
Trong giai đoạn từ năm 1986 – 1994 đã có chuyển biến mạnh mẽ và đạt kết quả khả quan về công tác giao đất giao rừng Chương trình 327 đã dành phần lớn ngân sách cho việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình ở nhiều vùng trong cả nước
Trong giai đoạn này có một số hướng dẫn cho công tác giao đất lâm nhiệp như sau:
- Mỗi hộ trong vùng dự án của chương trình sẽ được giao khoán một số diện tích để trồng rừng mới hoặc để khoanh nuôi tái sinh rừng tùy theo quỹ đất đai và khả năng của từng hộ
- Ngoài diện tích đất được giao cho mục đích lâm nghiệp, mỗi hộ có thể được nhận 500m2 đất để trồng cây lương thực ngắn hoặc dài ngày hay chăn thả gia súc
- Đối với đất được giao khoán để bảo vệ, Nhà nước trả công 30.000 – 50.000 đồng/ha/năm, đầu tư hỗ trợ trồng rừng năm là 1.2 triệu đồng/ha
- Nhà nước còn cho vay vốn không lãi để hỗ trợ trồng cây lâm nghiệp dài ngày, cây ăn quả, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc, mỗi hộ được vay không quá 1.5 triệu/hộ/năm, qua 4 năm thực hiện, đến cuối năm 1996 chương trình 327 đã đạt được kết quả đáng kể Giao khoán bảo vệ rừng đến hộ: 1.6 triệu ha (466.768 hộ)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35Trong thời gian này, khoảng 55% trên tổng số diện tích đất lâm nghiệp đã được giao khoán cho các hộ gia đình hoặc các đơn vị kinh tế khác trong đó 40% diện tích này thuộc về các hộ gia đình nghĩa là khoảng 22% trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp của các tỉnh trên đã được giao hoặc khoán cho các hộ, có khoảng 19% số hộ của các tỉnh đã nhận đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhiều trường hợp có
số lâm bạ) hoặc hợp đồng bảo vệ [1]
1.2.2.3 Giai đoạn từ năm 1994 – 2003
Từ năm 1994 – 2003, việc giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo Nghị định
số 02/CP, ngày 15/1/1994 của Chính phủ Chỉ đạo và chịu trách nhiệm chính việc giao đất lâm nghiệp là Chi cục kiểm lâm tại cấp tỉnh và Hạt Kiểm lâm tại cấp huyện Sản phẩm của quá trình này là giao nhận trên thực địa, bản đồ giao đất và cấp số lâm bạ, chưa làm thủ thục cấp GCNQSDĐ cho các hộ Ngoài ra, còn một số tồn tại như:
- Các hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức mới được giao ở thực địa, chưa được cấp GCNQSDĐ nên chưa có đủ điều kiện để sử dụng các quyền sử dụng đất như thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế…
- Hồ sơ giao đất còn nhiều tồn tại như: Diện tích giao không chính xác, không xác định được vị trí đất đã giao, thiếu biên bản xác định ranh giới, mốc giới
- Quá trình giao đất lâm nghiệp trước đây, ngoài ngành kiểm lâm làm còn do các đơn vị khác thực hiện như ban định canh định cư, phòng nông nghiệp huyện…
Nên dẫn đến sự chồng chéo, hồ sơ vừa thiếu lại không đồng bộ
- Việc giao đất lâm nghiệp vào giai đoạn này chưa có quy hoạch 3 loại rừng, chưa có quy hoạch sử dụng đất của xã nên sau này khi có quy hoạch 3 loại rừng được UBND tỉnh phê duyệt thì dẫn đến tình trạng loại đất giao cho hộ gia đình lại là đất rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng [1]
1.2.2.4 Giai đoạn 2003 đến nay
Trong thời gian này Nhà nước ban hành và sửa đổi các văn bản có liên quan đến việc giao đất giao rừng Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đất đai
2003 đã quy định rõ ràng hơn về giao đất với từng đối tượng, mở rộng củng cố quyền giao đất, thuê đất cũng như làm đơn giản hóa thủ tục để có thể thực hiện các quyền của người sử dụng đất Năm 2005 có dự án phát triển ngành Lâm nghiệp hỗ trợ giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho một số địa phương giúp người dân được tiến hành nhanh, có nguồn vốn trồng rừng giúp xóa đói giảm nghèo
Nhìn chung công tác quy hoạch, sử dụng đất lâm nghiệp chưa sát với thực tế, chậm và thường xuyên bị phá vỡ quy hoạch Việc xác định ranh giới các khu rừng phòng hộ, đặc dụng chưa rõ ràng, gây khó khăn và làm chậm tiến độ giao đất lâm nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình và cá nhân bình quân là 3,9
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36ha/hộ Tuy nhiên việc giao đất lâm nghiệp chưa gắn với các chính sách cụ thể về cơ chế hưởng lợi, hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật nên tỉ lệ đất lâm nghiệp được giao đưa vào sử dụng chỉ đạt từ 20 - 30%
Luật đất đai sửa đổi 2013 tăng cường hơn việc vận hành các quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường, tiến tới xóa bỏ bao cấp trong quản lý, sử dụng đất đai thông qua các quy định thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển cơ bản sang áp dụng hình thức thuê đất;
thực hiện cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất khi giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất Việc nhấn mạnh vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cần thiết và là bước tiến của Luật Đất đai năm 2013, vì quy hoạch sử dụng đất đai là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tranh chấp như hiện nay Trong giai đoạn này Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp được phê duyệt nên đã đẩy nhanh quá trình giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh tiến hành cắm mốc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp các nông lâm trường, đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho
hộ gia đình, cá nhân
1.2.3 Kết quả giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình
Thực hiện Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993, Nghị định 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhânsử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp, tính đến tháng 12/2009, kết quả giao đất và cấp GCNQSDĐ của các địa phương trên phạm vi toàn quốc đã có trên 8000 xã tiến hành giao đất nông nghiệp, để sử dụng ổn định lâu dài cho gần 11 triệu hộ nông dân (chiếm hơn 80% tổng số hộ) với khoảng 46 triệu nhân khẩu Trong gần 9,60 triệu ha đất nông nghiệp của cả nước, diện tích đã giao trực tiếp cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng là 8,46 triệu ha (bằng 88,13%) Chỉ có khoảng 1 triệu ha được giao hoặc cho thuê theo các đối tượng khác như:
- Giao cho các tổ chức kinh tế 707.934,70 ha (7,38%)
- Cho nước ngoài và liên doanh với nước ngoài thuê 8.974,39 ha (0,09%)
- UBND xã quản lý sử dụng 16.697,66 ha (2,14%)
- Các đối tượng khác sử dụng 88.770,96 ha (0,92%)
Các địa phương đã căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể để lựa chọn những phương án tiến hành giao đất thích hợp, nhằm đảm bảo yêu cầu vừa ổn định, vừa phát triển sản xuất Ở các tỉnh, thành phố phía Bắc (trừ một số tỉnh Miền núi) và duyên hải Miền Trung đều kế thừa những kết quả giao khoán đất cho hộ nông dân khi thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị, cách giao khoán này phù hợp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37với tinh thần giao đất theo Nghị định 64-CP của Chính phủ, nên các địa phương không phải điều chỉnh nhiều Các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây nguyên và Nam Bộ trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, đã tổ chức các hộ nông dân thương lượng với nhau dưới sự chỉ đạo chính quyền địa phương, nên khi thực hiện giao đất nông nghiệp, chủ yếu là căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất để giao đất cho hộ gia đình
Đối tượng được giao đất lâm nghiệp gồm tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
Khác với đất nông nghiệp, việc xác định đối tượng được giao đất lâm nghiệp ở từng địa phương là hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích sử dụng rừng đã được quy hoạch
Thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 và Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, kết quả giao đất lâm nghiệp trên địa bàn cả nước:
* Kết quả về giao rừng và đất lâm nghiệp Tổng hợp kết quả từ các địa phương, diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện nay là: 17.934.316 ha, kết quả giao rừng và đất lâm nghiệp như sau:
- Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao là: 14.557.021 ha Trong đó: + Đất có rừng là: 11.661.597 ha
+ Đất chưa có rừng là: 2.895.424 ha
- Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa giao là: 3.377.295 ha Trong đó: + Đất có rừng là: 2.292.561 ha
+ Đất chưa có rừng là: 1.084.734 ha Diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho các chủ quản lý đến 31/12/2013, gồm: các tổ chức (Ban quản lý rừng, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang, tổ chức khác) quản lý chiếm đến 51,78% (trong đó diện tích có rừng chiếm 55,34%; chưa có rừng chiếm 39,29%), tiếp đến là giao cho hộ gia đình 24,88% (trong
đó diện tích có rừng chiếm 24,47%; chưa có rừng chiếm 26,35%), cộng đồng dân cư thôn bản 4,5% (trong đó giao diện tích có rừng chiếm 3,76%, chưa có rừng chiếm 7,11%) và Uỷ ban nhân dân xã đang quản lý (chưa giao) 18,83% (trong đó diện tích có rừng chiếm 16,43%, chưa có rừng chiếm 27,26%) [3]
* Tình hình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo số liệu tổng hợp của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng các loại đất chính toàn quốc tính đến tháng 6 năm 2014, kết quả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp như sau:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38Tổng số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đã cấp là 1.971.817 giấy với diện tích đất lâm nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là:
12.268.742 ha.[3]
Nhìn chung tiến độ giao đất lâm nghiệp còn chậm Nhiều địa phương chưa chú trọng đúng mức công tác giao đất lâm nghiệp Cơ chế về giao khoán cho các hộ lâm trường viên, hộ gia đình và cá nhân chưa rõ ràng Tài liệu hồ sơ để quản lý đất có rừng còn thiếu, chưa đồng bộ
Chủ trương giao đất nông, lâm nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài, cùng với việc mở rộng quyền sử dụng đất là chủ trương lớn, có tính chiến lược của đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, nó có tác động tích cực đến việc quản lý và sử dụng đất đai bền vững Sau khi giao đất nông, lâm nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, thì người nông dân thực sự làm chủ trên đất được giao, họ yên tâm đầu tư lao động và vốn vào phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Chủ trương phát triển lâm nghiệp xã hội được thực hiện có kết quả là nhờ chính sách giao đất, giao rừng và khoán rừng cho hộ nông dân Nhiều mô hình trang trại rừng, vườn rừng, kinh doanh nông, lâm nghiệp tổng hợp đã hình thành và pháttriển trên địa bàn Trung du, miền núi phía Bắc, vùng Đông Nam Bộ và Tây nguyên với quy mô ngày càng lớn, kinh doanh có hiệu quả Thực tế cho thấy, tình hình KT - XH nông thôn sau 1993 có nhiều khởi sắc và phát triển nhiều mặt: trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển theo xu hướng đa dạng hoá sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng đất đai và lao động Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp liên tục tăng, năm 2000
so với năm 1990 tăng 2.352.104 ha; riêng trong 5 năm (1995 - 2000), mặc dù gần 4.000 ha đất nông nghiệp đã được chuyển vào các mục đích khác, nhưng diện tích đất nông nghiệp vẫn tăng thêm được 1.351.597 ha (bình quân 1 năm tăng 270.000 ha)
Diện tích đất nông nghiệp tăng trong 5 năm chủ yếu là đất trồng cây lâu năm (chiếm 56,5% so với tổng số diện tích tăng) Sản lượng lương thực tăng nhanh và ổn định, năm sau cao hơn năm trước; tốc độ tăng lương thực bình quân là 5%, trong khi đó tốc
độ tăng dân số chỉ có 2%, nên lương thực bình quân đầu người cũng tăng dần qua các năm: Từ 300 kg năm 1986 lên 324 kg năm 1990, 372 kg năm 1995 và hiện nay là 552
kg Nước ta từ một nước thiếu lương thực, đến nay không chỉ đủ ăn mà còn xuất khẩu một khối lượng lớn, mỗi năm xuất khẩu trên 3 triệu tấn gạo và luôn có tên trong nhóm
3 nước xuất khẩu nhiều gạo nhất trên thế giới
Cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu đều phát triển khá, trong trồng trọt đã thực hiện phương châm “đất nào cây ấy” để tăng hiệu quả sử dụng đất Do việc giao đất lâm nghiệp, khoán rừng được đẩy mạnh, nên đã góp phần bảo vệ, phục hồi và trồng mới rừng, đưa diện tích đất lâm nghiệp, rừng trong giai đoạn 1995-2000 tăng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39754.600 ha Độ che phủ tăng từ 32,61% (năm 1995) lên 35,08% (năm 2000) Khi vấn
đề lương thực, thực phẩm được giải quyết thì nạn phá rừng cũng dần dần được hạn chế, việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và trồng rừng phân tán trong khu dân cư, được quan tâm và ngày càng phát triển
Tất cả những điều đó nói lên rằng: chính sách giao đất nông, lâm nghiệp cho
hộ nông dân sử dụng ổn định lâu dài là sự đổi mới tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ môi trường bền vững cho tương lai
* Vướng mắc, bất cập
- Hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận ở nước ta hiện chủ yếu vẫn là thủ công, thiếu đồng bộ; cơ sở dữ liệu bản đồ, hồ sơ địa chính thiếu về số lượng và kém về chất lượng, không được cập nhật thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai và thị trường bất động sản trong giai đoạn hiện nay
- Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vẫn còn chậm Hệ thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất ở địa phương chưa được kiện toàn và hạn chế về năng lực, kinh phí đầu tư cho việc cấp giấy chứng nhận chưa đáp ứng được nhu cầu
- Tài liệu kỹ thuật, pháp lý về thửa đất, hồ sơ địa chính phục vụ cấp giấy chứng nhận không đầy đủ, không thống nhất, không được lưu trữ, cập nhật theo quy định, nhiều địa phương chưa quan tâm, chưa dành kinh phí cho việc cấp giấy chứng nhận
- Một số địa phương còn tình trạng cán bộ lợi dụng, trục lợi, gây phiều hà, tiêu cực đối với người sử dụng đất xin cấp giấy chứng nhận, cán bộ thi hành nhiệm vụ thiếu trách nhiệm hoặc cố tình kéo dài thời gian, áp dụng không đúng quy định để bắt người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích ngoài hạn mức đất ở khi xác định hạn mức công nhận diện tích đất ở gắn với vườn, ao
1.2.4 Quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế có 46 xã miền núi, trong đó có 33 xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Theo số liệu thống kê 2013, tổng diện tích đất lâm nghiệp địa bàn tỉnh là 325.208 ha trong đó diện tích theo đối tượng sử dụng là 278.100 ha, diện tích theo đối tượng quản lý là 47.108,83 ha
Công tác giao đất, quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trong thời gian qua đã được các ngành, các địa phương quan tâm Diện tích đất trống, đất rừng giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, có sự thuận lợi
dự án Phát triển Ngành lâm nghiệp Lợi nhuận thu được từ rừng trồng trở thành động lực thúc đẩy nhân dân tích cực tham gia trồng rừng, không còn hiện tượng đất trống,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40đồi trọc bỏ hoang hóa Tính đến cuối năm 2013, tổng diện tích giao mới và hoàn thiện
hồ sơ là 25.561 ha bao gồm 70 cộng đồng với diện tích 14.586 ha, 134 nhóm hộ với diện tích 7.118,4 ha; 162 hộ gia đình với diện tích 2.429,6 ha và 02 Đồn Biên phòng với diện tích 1.357 ha Nhiều hộ được giao với quy mô lớn đã thành lập trang trại và
có hiệu quả Đến nay, đã cấp được 14.825,8 ha chiếm 58% so với diện tích 25.561 ha rừng đã giao.[13]
Tuy nhiên việc giải quyết những vấn đề nảy sinh sau khi điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng còn chậm, hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp chưa cao Việc thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp ở tại các địa phương chưa được thực hiện một cách công bằng cả về diện tích và chất lượng đất, thường bỏ qua các bước trong quá trình giao đất Hiện có nhiều hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống ven rừng, cuộc sống phụ thuộc vào rừng, có nhu cầu được giao đất để sản xuất nhưng chưa được giao đất rừng, hoặc không còn đất rừng để giao, trong khi đó, hiện tượng tích tụ đất lâm nghiệp đang xảy ra đối với những hộ giàu có và có trình độ văn hoá; người nghèo phải đi làm thuê, cuộc sống ngày càng khó khăn hơn cho người nghèo Công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp của UBND cấp huyện còn chồng chéo; việc xây dựng đề án thu phí chi trả dịch vụ môi trường rừng còn chậm
Căn cứ pháp lý giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thể hiện trong các văn bản sau:
- Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng
* Từ ngày 1/7/2004 đến 1/7/2014 áp dụng các văn bản pháp luật
- Luật đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc Hội quy định về quản lý và sử dụng đất đai
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai
- Quy định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính
- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 ban hành quy định về GCNQSDĐ
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si