TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGÔ THỊ THẢO HIỀN ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH... BỘ Y TẾ
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Đị nh ngh ĩ a v ề t ă ng huy ế t áp
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, một người trưởng thành được xác định là mắc tăng huyết áp (THA) khi huyết áp tâm thu (HATT) đạt từ 140 mmHg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương (HATD) từ 90 mmHg trở lên, hoặc đang sử dụng thuốc hạ áp hàng ngày, hoặc đã được bác sĩ chẩn đoán THA ít nhất hai lần.
1.1.2 Phân lo ạ i t ă ng huy ế t áp
- Phân loại THA theo ASH/ISH 2013 [2] như sau:
B ả ng 1.1 Phân lo ạ i THA theo ASH/ISH 2013 [2]
Phân độ theo WHO HATT (mmHg) HATTr( mmHg)
THA tâm thu đơn độc >= 140 = 18 tu ổ i theo JNC 7,8-2014 [2]
Phân độ HATT(mmHg) HATTr(mmHg)
Phân loại huyết áp (HA) được thực hiện dựa trên các chỉ số đo tại phòng khám Nếu huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương (HATTr) không thuộc cùng một phân loại, cần chọn mức huyết áp cao hơn để xác định phân loại chính xác.
1.1.3 Nguyên nhân d ẫ n đế n t ă ng huy ế t áp
Hầu hết các trường hợp tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành không xác định được nguyên nhân, được gọi là THA nguyên phát hoặc THA vô căn Chỉ có khoảng 5-10% trường hợp có thể xác định nguyên nhân, được gọi là THA thứ phát.
Các nguyên nhân có thể gây nên THA được tổng kết lại như sau [2]:
Bệnh thận cấp và mạn tính, bao gồm viêm cầu thận cấp và mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước và suy thận, là những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến tăng huyết áp thứ phát.
- Hẹp động mạch thận.: là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây THA thứ phát
- U tủy thượng thận: là nguyên nhân hiếm gặp
- Cường Aldosterone tiên phát (Hội chứng Conn)
- Hội chứng Cushing: khoảng 80% NB mắc hội chứng Cushing có THA
- Bệnh lý tuyến giáp/ cận giáp, tuyến yên
- Hẹp eo động mạch chủ: là nguyên nhân hiếm gặp
- Do thuốc, liên quan đến thuốc (kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm/ thuốc nhỏ mũi…)
Các nhà khoa học đã xác định nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp gây bệnh và ảnh hưởng đến sự hình thành, tiến triển của tăng huyết áp (THA), bao gồm béo phì, nghiện rượu, hút thuốc và stress.
1.1.4 Các y ế u t ố nguy c ơ Tuổi và giới
Tỷ lệ tăng huyết áp (THA) gia tăng theo độ tuổi, với những người từ 60 tuổi trở lên có nguy cơ cao hơn so với các nhóm tuổi khác Ở độ tuổi dưới 45, nam giới có tỷ lệ THA cao hơn nữ giới Tuy nhiên, từ 45 đến 64 tuổi, tỷ lệ THA giữa hai giới gần như tương đương, và từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ THA ở nữ giới vượt trội hơn so với nam giới.
Tiền sử gia đình luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bệnh tăng huyết áp (THA) thường có liên quan đến tiền sử gia đình, với nhiều bệnh nhân có người thân mắc bệnh này Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây ra THA, cho thấy tính chất gia đình rõ rệt của bệnh.
Béo phì xảy ra khi năng lượng tiêu thụ vượt quá năng lượng tiêu hao trong thời gian dài, dẫn đến tình trạng mất cân bằng năng lượng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng béo phì có mối liên hệ tích cực với huyết áp, với tỷ lệ tăng huyết áp gia tăng theo mức độ béo phì và thừa cân ở cả nam và nữ.
Khi tiêu thụ nhiều muối, cơ thể giữ nước, dẫn đến tăng khối lượng tuần hoàn và lưu lượng tim, gây ra huyết áp cao Natri trong tế bào ảnh hưởng đến độ thấm canxi qua màng, làm tăng khả năng co bóp của tiểu động mạch Giảm muối trong chế độ ăn có thể giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả cho người lớn tuổi đang điều trị huyết áp cao.
Thói quen uống rượu bia, thuốc lá
Sử dụng rượu bia có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành Thuốc lá không chỉ làm giảm nồng độ HDL trong máu mà còn giảm cung cấp oxy cho mô, gây tổn thương tế bào nội mạc động mạch và tạo điều kiện cho xơ vữa động mạch phát triển Nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm, dẫn đến tăng nhịp tim và co mạch, từ đó gây ra THA Ngược lại, hoạt động thể lực thường xuyên là yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe, giúp tăng nồng độ HDL trong huyết tương và có tác dụng chống xơ vữa động mạch, từ đó giảm nguy cơ mắc THA và các bệnh chuyển hóa khác.
Các yếu tố tâm lý xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến huyết áp (HA) Cảm xúc và stress cấp tính có thể dẫn đến sự gia tăng tạm thời của HA Mặc dù stress mạn tính không gây tăng HA lâu dài, nhưng khi kết hợp với yếu tố di truyền hoặc sự gia tăng tiêu thụ natri, nó có thể dẫn đến tăng huyết áp thực sự.
1.1.5 Tri ệ u ch ứ ng c ủ a t ă ng huy ế t áp 1.1.5.1 Triệu chứng lâm sàng
Người bệnh bị tăng huyết áp (THA) thường không có triệu chứng cho đến khi phát hiện bệnh Triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu ở vùng chẩm và hai bên thái dương, kèm theo hồi hộp, mệt mỏi, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi, và một số triệu chứng khác tùy thuộc vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA.
Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn, liên quan đến hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ, hoặc thận to, thận đa nang, là những nguyên nhân gây tăng huyết áp (THA) Đo huyết áp là phương pháp chẩn đoán quan trọng, thường sử dụng huyết áp kế thủy ngân hoặc các dụng cụ đo huyết áp khác, theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch Việt Nam.
1.1.5.2 Triệu chứng cận lâm sàng
Cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp (THA), phát hiện các dấu hiệu của THA, nghi ngờ THA thứ phát và xác định xem THA đã gây tổn thương cơ quan đích hay chưa.
Các xét nghiệm cần làm cho người bệnh THA:
-Xét nghiệm máu: sinh hóa máu, công thức máu, đường máu
-Xét nghiệm nước tiểu: tổng phân tích nước tiểu
-Xét nghiệm khác: X - quang tim phổi, điện tâm đồ, siêu âm tim, soi đáy mắt nếu cần
Chỉ định cận lâm sàng cần được thực hiện dựa trên từng bệnh nhân cụ thể, đặc biệt trong các trường hợp điều trị khó khăn, nghi ngờ có nguyên nhân gây tăng huyết áp, hoặc khi bệnh nhân là người trẻ tuổi với chỉ số huyết áp cao.
1.1.6 Biến chứng của tăng huyết áp [2]
Một số biến chứng của bệnh tăng huyết áp như:
-Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử vong cao nhất của THA
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Th ự c tr ạ ng t ă ng huy ế t áp và tuân th ủ đ i ề u tr ị t ă ng huy ế t áp trên Th ế gi ớ i
Bệnh tăng huyết áp (THA) đang gia tăng trong cộng đồng, đặc biệt là ở các nước phát triển và cả các nước đang phát triển, bao gồm khu vực châu Phi Nghiên cứu năm 2011 của Osamor Oauline và Owumi Bernard tại Tây Nam Nigeria cho thấy chỉ có 51% đối tượng nghiên cứu đạt tiêu chuẩn điều trị (TTĐT) do thiếu tuân thủ, như việc không đi khám thường xuyên và thiếu sự hỗ trợ từ gia đình hoặc bạn bè trong việc nhắc nhở uống thuốc.
Lalie J., Radovanonie R V., Mitie B., Nikolic V., Spasic A and Koracevic G.(2013) đã thực hiện phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang với
Trong chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Serbia, 170 bệnh nhân điều trị tăng huyết áp (THA) cho thấy rằng thiếu hụt kiến thức về tuân thủ điều trị dẫn đến một số vấn đề nghiêm trọng Cụ thể, 27,27% bệnh nhân không tuân thủ liều dùng điều trị, 22,73% thường xuyên quên liều, và 11,36% không kiểm tra sức khỏe định kỳ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân thiếu kiến thức về tuân thủ chế độ điều trị gặp phải nhiều tác dụng không mong muốn hơn so với nhóm có kiến thức đầy đủ.
Theo nghiên cứu của Manal Ibrahim Hanafi Mahmoud tại Đại học Taibah năm 2012, tỷ lệ kiến thức về tuân thủ điều trị chung chỉ đạt 35,1% Nhóm bệnh nhân tuân thủ tốt được xác định qua điện tâm đồ và siêu âm Doppler Đáng chú ý, người bệnh thiếu kiến thức về tuân thủ, đặc biệt là trong việc tập thể dục, với chỉ 14,4% có mối liên hệ tốt với bác sĩ Hơn nữa, 83% bệnh nhân mắc các bệnh kèm theo có kiến thức về tuân thủ điều trị kém.
Theo nghiên cứu của Lee Seng Esmond BA và cộng sự năm 2015 trên
Tại Singapore, một nghiên cứu trên 2688 người cao tuổi cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) lên tới 74,1% Đáng chú ý, 24% trong số họ thiếu kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị Hơn một nửa, cụ thể là 51,1%, trường hợp THA vẫn chưa được kiểm soát.
Nghiên cứu toàn cầu cho thấy rằng việc nâng cao kiến thức về tuân thủ điều trị có thể giúp kiểm soát huyết áp và giảm thiểu biến chứng Tuy nhiên, một tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị do khó khăn về kinh tế trong việc mua thuốc.
1.2.2 Th ự c tr ạ ng ki ế n th ứ c c ủ a ng ườ i b ệ nh v ề t ă ng huy ế t áp và tuân th ủ đ i ề u tr ị t ă ng huy ế t áp ở Vi ệ t Nam
Nghiên cứu của Trần Văn Long tại Nam Định (2011-2012) cho thấy sự tuân thủ điều trị thuốc của người cao tuổi mắc tăng huyết áp là tương đối Cụ thể, tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối chỉ đạt 15.6%, trong khi đó, tỷ lệ thực hiện thể dục thể thao là 58.7% Đáng chú ý, việc hạn chế uống rượu/bia và không hút thuốc lá ở cả nam và nữ không có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của Trần Thị Kim Xuân (2017) tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy 59,4% bệnh nhân THA có kiến thức tốt về bệnh Trong số đó, 75,5% tuân thủ điều trị, với 100% tuân thủ uống thuốc, 85,2% tuân thủ chế độ ăn nhạt, 79,8% tuân thủ chế độ uống rượu/bia, và 83% tuân thủ việc bỏ thuốc lá.
Năm 2017, nghiên cứu của tác giả Kiên Sóc Kha tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Trà Vinh cho thấy bệnh nhân (NB) tăng huyết áp (THA) có kiến thức về điều trị tăng huyết áp đạt 48,57% Cụ thể, tỷ lệ NB tuân thủ giảm ăn mặn khi bắt đầu điều trị THA là 72,57%, 95,4% tuân thủ hạn chế rượu/bia, và 74,3% bỏ thuốc lá hoặc không hút thuốc lá Tỷ lệ tuân thủ chế độ tập luyện cũng cao, đạt 89,71% Hầu hết NB được quản lý và điều trị tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh, với tỷ lệ tái khám định kỳ hàng tháng đạt 99,1%.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy, kiến thức về tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người cao tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2018 còn hạn chế, với điểm trung bình chỉ đạt 4,88 trên tổng điểm 10 trước khi can thiệp giáo dục sức khỏe.
Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp (THA) ở nước ta có kiến thức hạn chế về bệnh và điều trị Hầu hết bệnh nhân chỉ điều trị khi có triệu chứng khó chịu và thường ngừng thuốc khi huyết áp trở về bình thường, dẫn đến tình trạng tái nhập viện, tàn phế hoặc tử vong ngày càng gia tăng Các yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế và điều kiện sống của bệnh nhân có ảnh hưởng đáng kể đến việc điều trị bệnh THA.
Bệnh tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính cần điều trị liên tục và lâu dài, thường được quản lý ngoại trú nếu không có biến chứng nghiêm trọng Để giảm thiểu gánh nặng bệnh tật, việc tăng cường giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân THA và cộng đồng là rất quan trọng Điều này giúp mọi người thực hiện lối sống tích cực, giảm tỷ lệ mắc bệnh THA, phát hiện sớm và kiểm soát huyết áp hiệu quả.
1.2.3 Mô hình ki ể m soát và đ i ề u tr ị huy ế t áp ngo ạ i trú
Nhiều bệnh viện tuyến Trung Ương và tỉnh hiện đang áp dụng mô hình quản lý và điều trị ngoại trú cho bệnh nhân, trong đó bệnh nhân tự đến mà không qua khám sàng lọc Họ có thể đến từ các khoa lão khoa hoặc các khoa khác khi khám các bệnh lý khác, hoặc sau khi có kết quả khám từ tuyến dưới Bệnh nhân sẽ được khám và làm xét nghiệm để chẩn đoán xác định tình trạng bệnh và mức độ cần điều trị, với chi phí khám thường được tính theo chế độ bảo hiểm hiện hành Tại một số bệnh viện như Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân sử dụng thẻ bảo hiểm y tế và chi trả theo tỷ lệ quy định của luật bảo hiểm.
Bệnh nhân tự nguyện chuyển tuyến từ các bệnh viện hoặc do bệnh nặng thường có khả năng chi trả tốt và sống tại khu vực thành thị gần Hà Nội Tình hình này cũng diễn ra tại Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương và các bệnh viện tuyến tỉnh như Bắc Giang, Thái Nguyên, Hưng Yên, cũng như các bệnh viện khu vực như Đức Giang, Nông nghiệp, nơi có phòng khám ngoại trú cho bệnh nhân tăng huyết áp Tuy nhiên, các chương trình này chỉ bao phủ một phần nhỏ bệnh nhân có khả năng tiếp cận bệnh viện, chủ yếu là ở khu vực thành thị Hiện tại, chưa có đánh giá rộng về tỷ lệ bỏ điều trị tại các phòng khám ngoại trú, nhưng nghiên cứu của Vũ Xuân Phú tại Hà Nội cho thấy hơn 60% bệnh nhân bỏ điều trị sau 6 tháng, tương tự như nghiên cứu của Lý Huy Khanh tại Bệnh viện Trưng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Mô hình bệnh viện
Hình 1 B ệ nh vi ệ n Đ a khoa t ỉ nh Nam Đị nh
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, được thành lập vào năm 1965 với tên gọi ban đầu là Nhà thương Nam Định, đã chính thức đổi tên thành Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định từ năm 2001.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định là bệnh viện loại 1, thuộc hệ thống vệ tinh của bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng Ủy và Ban Giám đốc, bệnh viện hoạt động hiệu quả với quy mô 39 khoa phòng, bao gồm 08 phòng chức năng và 33 khoa lâm sàng.
Bệnh viện không chỉ có nhiệm vụ khám chữa bệnh mà còn tham gia vào nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế, chỉ đạo tuyến và quản lý kinh tế y tế Đây cũng là cơ sở thực hành chính cho trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, trung cấp Y tế tỉnh Nam Định, trường Đại học Y Thái Bình và một số trường khác.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đố i t ượ ng nghiên c ứ u Đối tượng nghiên cứu là NB THA đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
- Người bệnh được quản lý và điều trị THA tại phòng khám và điều trị ngoại trú THA, Khoa khám bệnh- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có khả năng trả lời phỏng vấn
- Người bệnh tăng huyết áp nặng phải điều trị nội trú
- Người bệnh có vấn đề về rối loạn tâm lý
- Người bệnh từ chối phỏng vấn
2.2.4 Th ờ i gian và đị a đ i ể m nghiên c ứ u
- Thời gian: Từ tháng 6/2020- tháng 7/2020
- Địa điểm: Khoa khám bệnh- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
Nghiên cứu bằng phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.6 C ỡ m ẫ u và ph ươ ng pháp ch ọ n m ẫ u
Nghiên cứu được tiến hành trên 60 NB THA đang điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
2.2.7 Ph ươ ng pháp đ i ề u tra s ố li ệ u
Sử dụng phiếu khảo sát (Phụ lục 1) để phỏng vấn trực tiếp 60 đối tượng nghiên cứu tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
2.2.8 Ph ươ ng pháp thu th ậ p s ố li ệ u
Sau khi nhận được sự đồng ý từ Hội đồng khoa học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, cùng với sự đồng thuận của người bệnh, nghiên cứu viên đã bắt đầu thu thập số liệu Thời gian phỏng vấn diễn ra vào các buổi sáng trong tuần, với 5 buổi phỏng vấn mỗi tuần, mỗi buổi phỏng vấn 6 người trong vòng 10 ngày.
Thời điểm phỏng vấn: Người bệnh THA ngồi chờ khám và lĩnh thuốc
Các biến số trong nghiên cứu gồm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, trình độ học vấn, công việc hiện tại, hoàn cảnh gia đình
- Thông tin liên quan đến quá trình điều trị
- Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị
STT Tên biến Định nghĩa Phương pháp thu thập Phần 1: Thông tin về nhân khẩu học
1 Tuổi Tuổi của NB được tính theo năm dương lịch= năm hiện tại- năm sinh
2 Giới tính Nam hay nữ Quan sát
3 Trình độ học vấn Là bậc học cao nhất của NB(theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo)
4 Công việc hiện tại NB còn đi làm có hưởng lương hay đã nghỉ hưu hoặc không đi làm
NB đang sống cùng gia đình hay sống một mình
Phần 2: Các biến về thông tin liên quan đến điều trị
1 Các biến về thông tin liên quan đến điều trị THA của đối tượng nghiên cứu về bệnh
Là các thông tin của NB về điều trị bệnh tăng huyết áp
Phần 3: Các biến về kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị
1 Các biến về kiến thức bệnh THA của đối tượng nghiên cứu
Là các kiến thức của NB về bệnh tăng huyết áp
2 Các biến về các nội dung của tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Là các kiến thức của NB về các nội dung của tuân thủ điều trị tăng huyết áp
2.2.10 B ộ công c ụ , tiêu chu ẩ n, tiêu chí đ ánh giá 2.2.10.1 Bộ công cụ
Bộ công cụ được thiết kế dựa trên: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
-Hướng dẫn của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều tị tăng huyết áp năm
Bộ công cụ gồm 25 câu hỏi, chia thành 3 phần (cụ thể phụ lục 1)
-Phần A: Thông tin về nhân khẩu học của người bệnh: Gồm 7 câu hỏi từ A1 đến A7
-Phần B: Thông tin liên quan đến điều trị: gồm 4 câu hỏi từ B1 đến B4
-Phần C: Kiến thức về bệnh và kiến thức về tuân thủ điều trị tăng huyết áp: gồm 2 phần:
• Mục C1: Kiến thức về bệnh tăng huyết áp gồm 4 câu hỏi từ C1 đến C4 Gồm các câu hỏi liên quan đến bệnh tăng huyết áp
Mục C2 cung cấp kiến thức quan trọng về tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp, bao gồm 9 câu hỏi từ C5 đến C13 Những câu hỏi này tập trung vào việc nâng cao nhận thức và hiểu biết về cách tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp.
2.2.10.2 Tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
Nghiên cứu áp dụng phương pháp gán điểm để đánh giá nhận thức của đối tượng, với bộ câu hỏi gồm 13 câu Mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai không được tính điểm Tổng điểm tối đa có thể đạt được là 13 Tỷ lệ người tham gia trả lời đúng được phân loại thành 2 nhóm để đánh giá dựa trên thang điểm đã định.
- Tổng số điểm đạt ≤ 6 điểm: Xếp loại không đạt (trả lời đúng < 50%)
- Tổng số điểm đạt > 7 điểm: Xếp loại đạt (trả lời đúng từ 50% trở lên)
2.2.11 Ph ươ ng pháp phân tích s ố li ệ u
Dữ liệu thu thập được được bảo quản an toàn nhằm ngăn chặn mất mát và vi phạm bí mật Tất cả dữ liệu này đều được làm sạch, xác nhận, mã hóa, xử lý và lưu trữ bởi các nhà nghiên cứu.
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu
- Khóa luận đã được sự đồng ý của trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, Khoa Khám bệnh và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được mô tả rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, đồng thời họ cũng đã đồng ý tham gia vào quá trình này.
- Các thông tin thu thập được ghi nhận chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu được bảo đảm bí mật.
Thực trạng kiến thức tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
2.3.1 Đặ c đ i ể m c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u 2.3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Qua khảo sát 60 người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định chúng tôi thu được kết quả như sau:
B ả ng 2.2: Đặ c đ i ể m chung c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u
Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)
Không đi học/ mù chữ 1 1,67
Trong 60 ĐTNC, tỷ lệ nam cao hơn nữ với tỷ lệ là 58,33% và 41,67% Trong 60 người bệnh nghiên cứu, người bệnh có tuổi cao nhất là 80 tuổi, người bệnh có tuổi thấp nhất là 45 tuổi Trong đó, nhóm đối tượng từ 70 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 50%, tiếp đến là nhóm tuổi 60-70 tuổi chiếm tỷ lệ 33,33%, nhóm đối tượng < 60 tuổi chỉ chiếm 16,67% Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy, nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất là 60-70 với 46,4%, tiếp đến là nhóm tuổi > 70 tuổi với tỷ lệ 43,6%, thấp nhất là nhóm < 60 tuổi với 10%
Trong số các đối tượng nghiên cứu, 36,66% có trình độ học vấn là trung học phổ thông (THPT), chiếm tỷ lệ cao nhất Tiếp theo, 25% có trình độ trung học cơ sở (THCS), và 20% có trình độ tiểu học Nhóm có trình độ trung cấp trở lên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.
10 người chiếm tỷ lệ thấp 16,67% Đặc biệt có 1 người không đi học/ mù chữ chiếm tỷ lệ nhỏ 1,67%
B ả ng 2.3 Thông tin liên quan đế n hoàn c ả nh s ố ng c ủ a ng ườ i b ệ nh (n`)
Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Tình trạng hôn nhân của ông/bà
Chưa từng xây dựng gia đình 2 3,33 Đang có vợ/ chồng 30 50
Công việc hiện tại của ông/bà
Nghỉ hưu/ không đi làm 45 75
Hiện tại ông/ bà sống cùng ai
Về công việc hiện tại: Trong 60 đối tượng nghiên cứu có tới 45 người đã nghỉ hưu hoặc không đi làm chiếm 75%, chỉ có 15 người vẫn đi làm chiếm 25%
Trong nghiên cứu về tình trạng hôn nhân, có 30 đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đang có vợ/chồng, chiếm tỷ lệ cao nhất là 50% Số ĐTNC trong tình trạng ly thân và ly hôn bằng nhau, mỗi loại chiếm 6,67% Ngoài ra, có 2 đối tượng chưa lập gia đình, chiếm tỷ lệ 3,33%.
Về người sống cùng với người bệnh, có 50% người bệnh đang sống cùng vợ hoặc chồng, có 46,68% đang sống cùng với con cháu, có 3,34% đang sống một mình
2.3.1.2 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu liên quan đến điều trị
B ả ng 2.4: Đặ c đ i ể m liên quan đế n đ i ề u tr ị (n`) Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ(%)
Hoàn cảnh được chẩn đoán THA
Có triệu chứng và đi khám 40 66,67 Tình cờ phát hiện khi đi khám 1 bệnh khác
Giai đoạn THA lúc mới điều trị
Tiền sử có biến chứng THA
Nhận xét: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trong nghiên cứu về chẩn đoán tăng huyết áp (THA), có 40 đối tượng được chẩn đoán khi có triệu chứng, chiếm 66,67%, trong khi 20 đối tượng được chẩn đoán khi đi khám bệnh khác, chiếm 33,33% Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy (2018), nơi tỷ lệ chẩn đoán THA tình cờ là 54,5% Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu của nghiên cứu chúng tôi chỉ là 60 đối tượng, dẫn đến kết quả không đại diện.
Trong một nghiên cứu về bệnh nhân tăng huyết áp (THA), có 60 người tham gia, trong đó 37 người (61,67%) được chẩn đoán ở giai đoạn THA độ 2, 5 người (8,33%) ở giai đoạn THA độ 1, và 18 người (30%) ở giai đoạn THA độ 3 Tình trạng này rất nghiêm trọng và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe.
B ả ng 2.5 Đặ c đ i ể m b ệ nh kèm theo (n`) Đặc điểm bệnh kèm theo Số lượng Tỷ lệ (%)
Bệnh kèm theo Đột quỵ 20 33,33
Đặc điểm bệnh kèm theo ở người bị tăng huyết áp (THA) cho thấy rằng phần lớn bệnh nhân mắc ít nhất một bệnh lý khác Cụ thể, trong nghiên cứu, 35 người có 1 bệnh kèm theo, chiếm 58,3%, 10 người có 2 bệnh kèm theo, chiếm 16,67%, và đặc biệt có 5 người mắc 4 bệnh kèm theo, chiếm 8,3% Chỉ có 5 người được chẩn đoán mắc bệnh THA đơn thuần.
Trong số các bệnh lý mắc kèm, bệnh đột quỵ và bệnh nhồi máu cơ tim là hai bệnh phổ biến nhất, với 20 người mắc, chiếm tỷ lệ 33,33% Bệnh suy thận có 10 người mắc, chiếm 16,67%, trong khi bệnh suy tim chỉ chiếm tỷ lệ 1,67%.
2.3.1.3 Kết quả nghiên cứu dựa trên tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng theo từng nội dung kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp
B ả ng 2.6: Ki ế n th ứ c v ề b ệ nh t ă ng huy ế t áp (n`)
Nội dung Số lượng Tỷ lệ
1 Định nghĩa về tăng huyết áp 30 50%
2 Hậu quả của tăng huyết áp 35 58,3%
3 Huyết áp mục tiêu cần đạt được 27 45%
4 Những nội dung của điều trị tăng huyết áp 28 46,67%
Trong một nghiên cứu với 60 bệnh nhân tham gia phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy rằng kiến thức về bệnh tăng huyết áp (THA) của họ còn nhiều hạn chế Cụ thể, chỉ có 35 người (58,3%) có kiến thức đúng về hậu quả của THA, 30 người (50%) hiểu đúng về định nghĩa của bệnh, và chỉ 27 người (45%) nắm rõ huyết áp mục tiêu cần đạt được Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy (2018), cho thấy tỷ lệ bệnh nhân biết về biến chứng của bệnh và huyết áp mục tiêu lần lượt là 30,9% và 52,7%.
B ả ng 2.6 K ế t qu ả chung ki ế n th ứ c v ề b ệ nh t ă ng huy ế t áp và tuân th ủ đ i ề u tr ị t ă ng huy ế t áp (n = 60) Đ i ể m Số lượng Tỷ lệ (%)
Kiến thức về bệnh tăng huyết áp (THA) và tiểu đường (TTĐT) của đối tượng nghiên cứu còn hạn chế, với điểm trung bình chỉ đạt 7,3 trên tổng điểm 13 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy, khi điểm trung bình kiến thức chỉ đạt 4,88 ± 1,75 trên tổng điểm 10.
Có 21 đối tượng nghiên cứu có số điểm