Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả ba yếu tố triệu chứng suy kiệt, tình trạng chức năng và hỗ trợ xã hội đều có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại Đà Nẵng p...
Trang 1TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu về chất lượng cuộc sống, các yếu tố ảnh hưởng đến và mối tương quan giữa các yếu tố đó với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú Nghiên cứu được thực hiện trên 100 người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả ba yếu tố triệu chứng suy kiệt, tình trạng chức năng và hỗ trợ xã hội đều có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại Đà Nẵng (p<0,01) Trong đó, yếu tố tình trạng chức năng có mối tương quan thuận chặt chẽ (r= 0,664, p<0,01) với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú, trong đó nổi bật là mối tương quan thuận với các chức năng thể chất (r= 0,682, p<0,01) và chức năng tâm lý (r= 0,433, p<0,01) Triệu chứng suy kiệt (r=- 0,510, p<0,01) có mối tương quan nghịch chặt chẽ với chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu, trong đó các triệu chứng được ghi nhận
có ảnh hưởng nhiều nhất là: chán ăn(r=-0,418, p<0,01), phiền muộn (r= -0,423, p<0,01), lo lắng (r=-0,373, p<0,01) và đau (r=-0,358, p<0,01) Riêng yếu tố hỗ trợ
xã hội (r=0,279, p<0,01) có mối tương quan thuận nhưng tương đối thấp với chất lượng cuộc sống Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, trên đây chính là những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu để giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại Đà Nẵng
Abstract The aim of this study was to examine health-related quality of life, the related factors and the correlation of this factors with health-related quality of life (HRQOL) among breast cancer patients The cross-sectional study used self-report data from 100 breast cancer patients treating at Da Nang Oncology Hospital The major findings show that, total functional status (r= 0,664, p<0,01) have a strong positive effect on health-related quality of life of breast cancer patients with physical function (r= 0,682, p<0,01) and psychological function (r= 0,433, p<0,01).Moreover, experience several symptoms (r=- 0,510, p<0,01) have a strong negative effect on on patient’s health-related quality of life Symptoms- pain (r=-0,358, p<0,01), depression (r= -0,423, p<0,01), loss of appetite (r=-0,418, p<0,01), anxiety (r=-0,373, p<0,01) were among the most common effected symptoms reported However, Social support (r=0,279, p<0,01) have slightly positive effect on health-related quality of life of breast cancer patients In conclusion, strategies to improve health-related quality of life of breast cancer patients in Da Nang should be given priority and well addressed some problems that mention in this study result luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài : “Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng”làdo bản thân tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh.Kết quả công trình nghiên cứu của tôi không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố trước đây.Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được đồng ý và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc lấy số liệu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này !
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Diệu Hằng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(American Cancer Society)
(Food and Drug Administration)
HER 1 Gen nắm mã của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì số 1
(Human epidermal growth factor receptor 1)
HER 2 Gen nắm mã của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì số 2
(Human epidermal growth factor receptor 2)
(International Agency for Research on Cancer)
mTOR Đích tác dụng của Rapamycin trên động vật có vú
(Mammalian target of Rapamycin
TMD1 Trastuzumab có gắn hoá chất Emtansine
(Trastuzumab emtansine)
(Tissues - Lymph nodes - Metastases)
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
(World Health Organization) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn Lời cam đoan Danh mục các chữ viết tắt Danh mục bảng
Danh mục sơ đồ, biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.Định nghĩa 4
1.2.Các giai đoạn của ung thư vú 4
1.3.Điều trị ung thư vú 5
1.3.1.Phẫu thuật: 6
1.3.2.Xạ trị 7
1.3.3.Hóa trị liệu 7
1.3.4.Liệu pháp nhắm trúng đích 8
1.3.5.Liệu pháp Hormone 9
1.4.Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người bệnh 9
1.5.Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người bệnh ung thư vú 10
1.6.Tác động của điều trị lên chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú 11 1.7.Chăm sóc tích cực trong ung thư vú 12
1.8.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú12 1.8.1.Tuổi 13
1.8.2.Tình trạng lao động 13
1.8.3.Giai đoạn bệnh 14
1.8.4.Tình trạng chức năng 14
1.8.5.Triệu chứng suy kiệt 15
Trang luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 51.8.6 Hỗ trợ về mặt xã hội 15
1.9.Mô hình học thuyết chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ 16
1.10.Địa bàn nghiên cứu 19
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 20
2.3 Thiết kế 20
2.4 Cỡ mẫu 20
2.5 Phương pháp chọn mẫu 20
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.7 Các biến số nghiên cứu 21
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 22
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 25
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 25
2.11 Biện pháp khắc phục sai số 26
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 27
3.2 Đặc điểm về bệnh học của đối tượng nghiên cứu 29
3.3 Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 31
3.4 Biểu hiện triệu chứng suy kiệt của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 31
3.5 Tình trạng chức năng của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 36
3.6 Tình trạng hỗ trợ xã hội của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 38 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 63.7 Mối tương quan giữa triệu chứng suy kiệt, tình trạng chức năng và hỗ trợ xã hội với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 40 Chương 4:BÀN LUẬN 43 4.1 Đặc điểm chung của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 43 4.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 45 4.3 Tình trạng chức năng, tình trạng triệu chứng và hỗ trợ xã hội và mối tương quan với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng 47 Chương 5:KẾT LUẬN 53 KHUYẾN NGHỊ 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤCluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.2 Phân bố trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân của đối
tượng nghiên cứu 28 Bảng 3.3.Giai đoạn bệnh tại thời điểm chẩn đoán 29 Bảng 3.4 Đặc điểm về thời gian điều trị của đối tượng nghiên cứu 29 Bảng 3.5 Phân bố giai đoạn bệnh theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 29 Bảng 3.6 Phân bố các loại hình điều trị của đối tượng nghiên cứu 31 Bảng 3.7 Mô tả về chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.8 Sự khác nhau về chất lượng cuộc sống giữa các nhóm hôn nhân, các
giai đoạn bệnh và các hình thức điều trị 32
Bảng 3.9 Mô tả về biểu hiện triệu chứng suy kiệt của đối tượng nghiên cứu 34 Bảng 3.10.Sự khác nhau về biểu hiện triệu chứng giữa các nhóm tuổi, giai đoạn
bệnh và hình thức điều trị 35 Bảng 3.11 Mô tả về tình trạng chức năng của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.12 Sự khác nhau về tình trạng chức năng tổng quát giữa các nhóm tuổi,
giai đoạn bệnh 36
Bảng 3.13 Sự khác nhau về chức năng thể chất, chức năng tâm lý giữa các
nhóm tuổi, giai đoạn bệnh và hình thức điều trị 37 Bảng 3.14 Mô tả về tình trạng hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.15 Sự khác nhau về hỗ trợ xã hội giữa các yếu nhóm hôn nhân, hình
thức điều trị của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.16 Mô tả mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và các triệu chứng
suy kiệt của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.17 Mô tả mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng chức
năng của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.18 Mô tả mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và hỗ trợ xã hội
của đối tượng nghiên cứu 42
Trang
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Mô hình học thuyết chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ
(Wilson và Cleary (1995)) 17
Hình 1.2: Khung nghiên cứu về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người bệnh ung thư vú 18
Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 27
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tôn giáo của đối tượng nghiên cứu 27
Biểu đồ 3.3 Phân bố thời gian điều trị của đối tượng nghiên cứu 30
Biểu đồ 3.4 Phân bố mức độ đánh giá về chất lượng cuộc sống 32
Biểu đồ 3.5 Phân bố về mức độ biểu hiện triệu chứng suy kiệt của đối tượng nghiên cứu 33
Trang
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là một bệnh lý ác tính, hiện đang là mối quan tâm của mọi quốc gia vì nó
có ảnh hưởng đến tất cả mọi người và đã trở thành một gánh nặng lớn đối với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội Ung thư là một trong những nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển[103] Theo ước tính của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế [IARC], năm 2012 có khoảng 11,4 triệu ca ung thư mới trên toàn thế giới Ước tính có 8,2 triệu ca tử vong, xuất độ nam giới cao hơn 25% so với nữ giới [103],[104] Theo Báo cáo về ung thư thế giới năm 2014, hơn 60% tổng số các trường hợp ung thư mới của thế giới hàng năm xảy
ra ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ Tỷ lệ tử vong do ung thư ở các vùng này chiếm 70% các ca tử vong do ung thư trên thế giới [102]
Ung thư vú là một trong 5 bệnh ung thư phổ biến nhất được chẩn đoán ở phụ nữ Năm 2012, ước tính có 1,67 triệu ca ung thư vú mới chiếm 25% tổng số các loại ung thư, ung thư vú được xếp vào loại gây tử vong đứng hàng thứ năm trong các loại ung thư với 522.000 ca tử vong [102] Theo ước tính của Hiệp hội Ung thư Hoa
Kỳ [ACS], năm 2008, có khoảng 2,6 triệu phụ nữ Mỹ có tiền sử ung thư vú còn sống sót tính đến tháng 1 năm 2008, tỷ lệ sống sót của phụ nữ ung thư vú được ước tính như sau: 89% phụ nữ sống trong 5 năm sau khi chẩn đoán, 83% sau 10 năm và 78% sau 15 năm [8]
Ở các nước châu Á, ước tính có khoảng 3,6 triệu nam giới và 4,0 triệu phụ nữ mắc ung thư nói chung Trong đó, phổ biến nhất ở nam giới là ung thư đại, trực tràng và
nữ giới là ung thư vú Tỷ lệ phụ nữ bị ung thư vú cao nhất ở Đài Loan, Singapore và Philippines [83] Ở Việt Nam, Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Y tế năm
2015, số ca ung thư là 68.810 vào năm 2000, con số này đã lên tới 126.307 ca vào năm 2010 và ước tính vào năm 2020, số mắc ung thư sẽ là 189.000 Hầu hết người bệnh được chẩn đoán ung thư ở giai đoạn muộn dẫn đến tỷ lệ tử vong cao, chỉ có 14% người bệnh ung thư phát hiện ở giai đoạn sớm [6] Tỷ lệ tử vong do ung thư trong dân số Việt Nam được ghi nhận vào khoảng 102,3/100000 người năm 2000 và luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10112,1/100000 người vào năm 2012 [102] Tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú ở Việt Nam
đã tăng lên đều đặn trong thập kỷ qua từ 13,8/ 100.000 phụ nữ trong năm 2000 đến 28,1/ 100.000 phụ nữ trong năm 2010 [76]
Theo thống kê của Tổ chức Y Tế Thế giới [WHO] (2014), năm 2012,Việt Nam có khoảng 11,067 phụ nữ mắc ung thư vú và tỷ lệ phụ nữ chết do ung thư vú chiếm 12,5 % tổng tỷ lệ chết do ung thư các loại [100] Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Ytế (2015), ước tính ở nước ta có khoảng 15.000 ca mắc ung thư vú mới mỗi năm [1]
Mặc dù các phương pháp điều trị ung thư vú có thể giúp chữa trị, kéo dài tuổi thọ hoặc kiểm soát triệu chứng, nhưng nó cũng gây ra các tác dụng phụ lên người bệnh
về mặt tình cảm, tâm lý và xã hội, chúng kết hợp lại và tương tác lẫn nhau dẫn đến làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh [61]
Dữ liệu về chất lượng cuộc sống cung cấp bằng chứng khoa học cho việc đưa ra quyết định lâm sàng và chuyển tải thông tin hữu ích liên quan đến trải nghiệm của người bệnh ung thư vú trong suốt quá trình chẩn đoán bệnh, điều trị, thời gian sống sót, và tái phát [89] Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe đưa ra giả thuyết
để dự đoán thời gian tiến triển và nguyên nhân gây tử vong ở những người bệnh ung thư vú [76] Hiện nay, vẫn còn ít nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư ở Việt Nam nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng Kết quả nghiên cứu có thể có ích cho người điều dưỡng cũng như các nhân viên y tế, giúp họ hiểu hơn về chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú Hơn nữa, từ kết quả thu được có thể góp phần vào việc phát triển các chiến lược hoặc những can thiệp nhằm thúc đẩy chất lượng cuộc sống cho những người bệnh ung thư vú Nghiên cứu này sẽ giúp theo dõi tiến độ đạt được của mục tiêu y tế quốc gia, cũng như phân tích về chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú, xác định các phân nhóm có nhận thức về sức khỏe kém, giúp hướng dẫn để có các can thiệp nhằm cải thiện tình hình của người bệnh đồng thời khắc phục những hậu quả nghiêm trọng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng năm 2016
2 Xác định mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng năm 2016
Câu hỏi nghiên cứu
1 Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại Đà Nẵng năm 2016 như thế nào?
1 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư
và mối tương quan giữa những yếu tố đó với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại Đà Nẵng năm 2016 như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu
1 Tình trạng chức năng có mối tương quan thuận với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú
2 Triệu chứng suy kiệt có mối tương quan nghịch với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú
3 Hỗ trợ xã hội có mối tương quan thuận với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa Ung thư vú là do các tế bào bất thường phát triển từ những tế bào ống hay những tế bào nang của vú Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư này sẽ phát triển nhanh chóng trong vú, đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, lan tới các hạch,
và có thể lây lan đến các bộ phận khác, gây ra tắc nghẽn, đau đớn, và cuối cùng dẫn đến tử vong [4],[8]
Theo ACS (2015), Ung thư vú là một khối u ác tính bắt đầu từ trong các tế bào của
vú Một khối u ác tính là một nhóm các tế bào ung thư có thể phát triển và xâm chiếm các mô xung quanh hoặc di căn tới các cơ quan khác trong cơ thể Bệnh ung thư vú xảy ra gần như hoàn toàn ở phụ nữ nhưng nam giới cũng có thể mắc phải [8]
1.2 Các giai đoạn của ung thư vú Theo ACS (2015), mức độ nghiêm trọng của ung thư vú xâm lấn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi giai đoạn của bệnh thể hiện ở mức độ lây lan của ung thư trong lần chẩn đoán đầu tiên [8]
Giai đoạn cục bộ được xác định là giai đoạn mà ung thư vú chưa di căn đến các mô lân cận, tỷ lệ sống sót 5 năm là 99% đối với ung thư giai đoạn này Giai đoạn lân cận được xác định là ung thư vú đã di căn chỉ đến xung quanh mô hoặc hạch bạch huyết lân cận với tỷ lệ sống sót 5 năm là 84% Giai đoạn xa được xác định là ung thư vú đã di căn đến các mô và các cơ quan khác, tỷ lệ sống sót trong 5 năm của giai đoạn này là 23%
Ngoài ra, hệ thống phân giai đoạn TNM thường được sử dụng trong các thiết lập lâm sàng dựa vào các thông tin về kích thước khối u, mức độ lan rộng tại vú, các cơ quan lân cận, sự tham gia của hạch bạch huyết và có di căn đến các cơ quan xa hơn hay không? Các giai đoạn được đánh số từ 0 đến IV theo mức độ nghiêm trọng tăng dần Giai đoạn 0 tương ứng với ung thư cục bộ hay là tại chỗ, khi ung thư còn
bị giới hạn trong ống dẫn sữa mà chưa lan vào những mô vú hay mô nâng đỡ bên luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13ngoài ống dẫn sữa Giai đoạn I tương ứng với ung thư xâm lấn giai đoạn đầu, khi khối u còn nhỏ hơn 2 cm và chưa lan vào hạch nách, giai đoạn I có thể được chia thành giai đoạn IA và IB Giai đoạn II khi khối u nhỏ hơn 2 cm và đã lan vào một số hạch nách, hay từ 2cm đến 5 cm và chưa lan vào hạch nách, giai đoạn II cũng được chia thành giai đoạn IIA và IIB Giai đoạn III khi khối u lớn hơn 5cm, đã lan vào thành ngực, dưới da, ít nhất 10 hạch nách, hạch lympho cạnh xương ức và trên, dưới xương đòn nhưng chưa lây lan đi xa, giai đoạn III được chia thành giai đoạn IIIA, IIIB,IIIC Giai đoạn IV là giai đoạn nặng nhất, khi ung thư đã lây lan đến các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, thường thấy ở gan, phổi, xương và não, giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn di căn [4],[9],[22]
Kích thước lớn hơn của khối u lúc chẩn đoán cũng có liên quan với sự giảm xuống
về tỷ lệ sống sót, tỷ lệ sống sót 5 năm là 95% đối với các khối u nhỏ hơn hoặc bằng 2,0 cm, 82% đối với các khối u 2,1-5,0 cm và 63% cho các khối u lớn hơn 5,0 cm [9]
1.3 Điều trị ung thư vú Những tiến bộ trong điều trị và phát hiện sớm ung thư đã dẫn đến sự cải thiện về tỷ
lệ sống sót cho mọi người bệnh ở mọi lứa tuổi, chủng tộc và ở tất cả các giai đoạn của ung thư vú từ năm 1989 đến năm 2012 Nhờ vậy, ở Hoa Kỳ, tỷ lệ phụ nữ tử vong do ung thư vú giảm được 36% [8] Hơn 70% các ca tử vong do ung thư xảy ra
ở các nước thu nhập thấp và trung bình, nơi mà nguồn lực sẵn có để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị ung thư không có hoặc còn nhạn chế [7],[99]
Việc điều trị ung thư vú phụ thuộc vào loại ung thư vú và khối u đã lan toả được bao xa Có hai phương pháp chính trong điều trị ung thư vú, bao gồm: Liệu pháp cục bộ và liệu pháp bổ trợ Liệu pháp cục bộ loại bỏ các bệnh ung thư từ một khu vực có giới hạn (cục bộ) giúp để đảm bảo ung thư không quay trở lại khu vực đó
Nó bao gồm phương pháp phẫu thuật, có hoặc không có xạ trị vào vùng ngực Liệu pháp bổ trợ nhằm mục đích loại bỏ các tế bào ung thư có thể đã lây lan từ ngực đến các bộ phận khác của cơ thể thông qua việc sử dụng thuốc điều trị bao gồm hóa trị liệu, liệu pháp hormone và liệu pháp nhắm trúng đích Tuy nhiên, việc điều trị ung luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14thư cho mỗi người bệnh còn tuỳ thuộc vào từng cá nhân, loại ung thư, tình trạng bệnh và các thuốc đang được dùng [3], [4],[7],[8]
1.3.1 Phẫu thuật:
Phẫu thuật điều trị ung thư vú có lịch sử lâu đời nhất trong các lĩnh vực ngoại khoa nói chung và ngoại khoa ung thư nói riêng [7] Tuỳ vào mức độ xâm lấn của ung thư để có thể lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp Các phương pháp phẫu thuật bao gồm:
Cắt bỏ khối u vú còn được gọi là phẫu thuật bảo toàn vú, cách giải phẫu này chỉ lấy khối u ở vú ra với một vòng mô bình thường chung quanh Thường thì sau đó người bệnh cần được xạ trị để giảm bớt nguy cơ tái phát bệnh trở lại Ưu điểm của cắt bỏ u
vú là có thể giữ lại hầu hết bầu vú [4],[7]
Cắt bỏ một phần vú: Cách phẫu thuật này chỉ cắt bỏ khối u cùng với màng mô bình thường chung quanh nó, có khi cả một ít da, mô lót của bắp cơ ngực ngay dưới khối
u Cách này cũng tương tự như phương pháp cắt bỏ khối u nhưng có thể phải lấy ra nhiều mô hơn
Cắt bỏ toàn bộ vú: Loại phẫu thuật này cắt bỏ toàn thể vú Thường thì các hạch ở dưới nách không bị cắt bỏ Tuy nhiên, nếu có một số nhỏ ở gần sát vú, những hạch này có thể bị lấy ra khi cắt bỏ vú Thường thì loại giải phẫu này được dùng điều trị ung thư vú tại vị, tức là ung thư vú chưa có tính xâm lấn
Giải phẫu hạch bạch huyết: Là cắt bỏ các hạch bạch huyết ở dưới nách, số hạch bạch huyết lấy ra ở mỗi phụ nữ khác nhau Càng lấy nhiều hạch dưới nách ra thì nguy cơ bị sưng nề cánh tay càng cao, bởi vì sự lưu thông của các mạch bạch huyết
đi từ bàn tay, cánh tay, qua nách vào đến mạch máu trong lồng ngực để được bài tiết qua thận, bị cắt đứt
Phẫu thuật tạo hình: Tạo lại hình dáng của vú sau khi vú thật bị cắt bỏ hoàn toàn hay một phần và gây ra sự dị dạng của vú Có nhiều cách tạo hình khác nhau: dùng chất độn silicone, hay chính mô tế bào của người bệnh để tái tạo vú [3],[4],[7],[8] luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 151.3.2 Xạ trị
Xạ trị là một phần của liệu pháp bảo tồn vú Xạ trị hay còn gọi là quang tuyến trị liệu là phương pháp trị liệu bằng năng lực quang tuyến X cao độ để giết chết tế bào ung thư Cách trị liệu này được dùng để ngăn chặn ung thư tăng trưởng trước khi giải phẫu, hay tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau cuộc giải phẫu Xạ trị thường được chia ra làm nhiều ngày Mỗi ngày, một phần nhỏ của tổng số quang tuyến sẽ được chiếu vào cơ phận bị bệnh Đối với ung thư vú, người bệnh thường được chiếu quang tuyến khoảng từ sáu đến bảy tuần [4],[8]
Từ 17 nghiên cứu ngẫu nhiên với 10.081 phụ nữ có xạ trị và không xạ trị sau khi phẫu thuật ung thư vú, kết quả cho thấy xạ trị giúp giảm bớt nguy cơ tái phát lần đầu trong vòng 10 năm (đối với cả ung thư tại chổ hoặc di căn) từ 35% xuống còn 19,3% và làm giảm bớt nguy cơ tử vong do ung thư vú trong vòng 15 năm từ 25,2% xuống 21,4% [32]
1.3.3 Hóa trị liệu Hóa trị liệu được sử dụng để làm giảm nguy cơ tái phát ung thư vú, ngăn chặn sự nhân lên của tế bào ung thư và sự di căn của tế bào ung thư đến các mô khác Hóa trị liệu gần như luôn luôn được khuyến cáo trong các trường hợp nếu có ung thư trong các hạch bạch huyết, bất kể kích cỡ của khối u như thế nào hay thời kỳ mãn kinh Mỗi loại thuốc dùng trong hoá trị liệu sẽ hoạt động theo mỗi cách thức khác nhau và tác động lên tế bào ung thư ở những thời điểm sinh trưởng khác nhau Đó là
lý do vì sao người ta thường phối hợp các loại thuốc trong quá trình điều trị ung thư.Ung thư vú có xu hướng xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ tiền mãn kinh, và do đó hóa trị liệu thường là một phần của kế hoạch điều trị [3],[4],[7],[8]
Hóa chất dùng trong hoá trị liệu là những dược liệu đặc biệt được dùng để tiêu diệt những tế bào ung thư Hóa trị liệu thường được dùng thêm với việc giải phẫu, xạ trị thường được dùng để chống ung thư khi nó tái phát hay lây lan Hóa chất trị liệu được dùng sau hay trước khi mổ sạch ung thư thuộc thời kỳ I, II, hay III, đã được chứng minh là có thể gia tăng cơ hội chữa lành bệnh cho nhiều người bệnh [4],[7] luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16Người bệnh thường được bắt đầu nhận hóa chất trong vòng sáu tuần sau khi phẫu thuật Thuốc được cho vào mỗi hai hay ba tuần, và thường hoàn tất trong vòng ba đến sáu tháng Nhiều trường hợp hóa chất được cho trước khi giải phẫu để việc giải phẫu được dễ dàng hơn nếu bướu ung thư quá lớn, hay nếu cho thuốc trước giúp người bệnh giữ được ngực bằng cách giải phẫu một phần thay vì toàn phần [4] 1.3.4 Liệu pháp nhắm trúng đích
Những yếu tố di truyền hay kết quả của những yếu tố di truyền trong cơ thể được xem như những yếu tố gây ra bệnh ung thư có thể trở thành mục tiêu trị liệu Chẳng hạn như yếu tố di truyền gen HER2 là yếu tố tăng trưởng các tế bào biểu bì, trong
đó có các tế bào ung thư vú Khoảng 25% các phụ nữ mang ung thư vú là ung thư
vú HER2 dương tính, với khuynh hướng phát triển mạnh và tiên lượng xấu Ngoài yếu tố HER2, còn có yếu tố HER1 cũng có ảnh hưởng trên sự tăng trưởng biểu bì Những tế bào ung thư vú có sự phát triển bất thường của HER2 là những loại ung thư vú nguy hiểm nhất [3],[7]
Năm 1998, FDA chuẩn nhận điều trị ung thư vú HER2 dương tính di căn Trastuzumab là kháng thể đơn dòng nhân hoá chống lại HER2 biểu hiện quá lố trên mặt ung thư vú Sự thành công của Trastuzumab đã rộng mở cho kiểu can thiệp sinh học chính xác trong điều trị ung thư vú
Liệu pháp nhắm trúng đích tiếp nối Trastuzumab là Everolimus, đây là thuốc ức chế mTOR (Kinaz giúp mọi tế bào cả lành lẫn ác tính nhận được năng lượng cần thiết) nhằm ngăn chặn sự tăng trưởng của các tế bào ung thư [3] Năm 2012, FDA chuẩn nhận dùng Pertizumab điều trị bước 1 cho ung thư vú di căn HER2 dương tính, có phối hợp Trastuzumab và Docetacel
Năm 2012, FDA chuẩn nhận dùng Lapatinib TMD1 cho điều trị ung thư vú HER2 dương di căn trước đó có điều trị với Trastuzumab và Taxane TMD1 là Trastuzumab có găn hoá chất Emtansine có tác dụng như một thuốc hoá trị, TMD1 nhả Emtansine đến các tế bào ung thư theo kiểu nhắm trúng đích do gắn vào Trastuzumab [3]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 171.3.5 Liệu pháp Hormone Liệu pháp hormone (nội tiết tố) được sử dụng để ngăn chặn sự hoạt động của các tế bào ung thư và ngăn chặn chúng phát triển thành ung thư vú dương tính Liệu pháp hormone có thể ngăn chặn các tác động của estrogen hoặc giảm nồng độ estrogen Giảm nguy cơ ung thư tái phát là mục tiêu cơ bản của điều trị bổ trợ bằng liệu pháp nội tiết tố Các liệu pháp hiện có: Kháng Estrogen (thụ thể Estrogen và Progesterol hiện diện càng nhiều thì ung thư càng nhạy cảm với liệu pháp này), kháng Aromataz (điều trị ung thư vú tiến xa ở các phụ nữ mãn kinh có thụ thể Estrogen dương tính), cắt buồng trứng (phẫu thuật, xạ trị nội khoa với goserelin) [3],[4] Tất cả các phương pháp điều trị bổ trợ ung thư vú đều rất hiệu quả và có tỷ lệ sống sót cao Tuy nhiên, mặc dù đã có những tiến bộ về các yếu tố tiên lượng, chụp, chiếu nhũ ảnh, phẫu thuật và đặc biệt là phương pháp điều trị bổ trợ đã làm tăng tỷ
lệ sống sót, ung thư vú và việc điều trị vẫn còn gây ra các tác động về thể chất và tâm lý xã hội đáng kể cho người bệnh [9]
1.4 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người bệnh Chất lượng cuộc sống là một khái niệm phức tạp và chưa được phát triển triệt để Chất lượng cuộc sống đã là một hiện tượng triết học và chính trị-xã hội đã được phát triển cách đây hàng trăm thậm chí là hàng ngàn năm Phạm trù về chất lượng cuộc bao gồm rất nhiều khía cạnh khác nhau về điều kiện vật chất, việc làm, sức khoẻ, giáo dục, quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường sống, quyền con người…[35] Chất lượng cuộc sống ở đây chỉ đề cập đến khía cạnh sức sức khoẻ, tuy nhiên nó cũng là một khái niệm đa chiều với sự kết hợp của các lĩnh vực liên quan đến hoạt động thể chất, tinh thần, tình cảm và xã hội Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực điều trị ung thư, vấn đề điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh ung thư không còn mang ý nghĩa ngắn hạn mà là một quá trình trị liệu lâu dài Do đó, khái niệm “chất lượng cuốc sống” cũng ngày càng được
sử dụng rộng rãi Chất lượng cuộc sống không chỉ là tập trung vào những tác động của các phương pháp điều trị ung thư và tác dụng phụ nó gây ra mà còn nhấn mạnh đến mỗi cá thể người bệnh là một sự tổng hoà của thể chất, tinh thần và tâm linh Ý luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18nghĩa về chất lượng cuộc sống của người bệnh có thể được diễn giải bao gồm các khía cạnh về kinh tế xã hội, nhân khẩu học, các yếu tố về lối sống, đặc điểm cá nhân, về môi trường xã hội và cộng đồng cũng như sự toàn vẹn về cả thể chất và tinh thần Tuy nhiên, khái niệm chất lượng cuộc sống vẫn chưa được xác định rõ ràng bởi bất cứ học thuyết gia nào cho nên rất khó để định nghĩa và mô tả [78],[80] WHO (1948) đã định nghĩa về sức khoẻ là "Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế " Cũng tương tự như vậy, chất lượng cuộc sống còn đề cập đến sự thoả mãn về mặt tình cảm và thể chất của người bệnh sau khi điều trị ung thư [80]
Có thể thấy rằng chất lượng cuộc sống được dùng để phản ánh các khái niệm hạnh phúc, sự hài lòng về cuộc sống, sự thoả mãn, tự hiện thực hoá, mong muốn tự do, sự hoàn thiện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật Đánh giá chi tiết về chất lượng cuộc sống có thể cung cấp một mô tả toàn diện hơn các vấn đề tiềm tàng đang và có thể xảy ra có ảnh hưởng đến người bệnh và có thể có ích trong việc cân nhắc những rủi ro và lợi ích của việc lựa chọn điều trị
1.5 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ của người bệnh ung thư vú Ung thư có tầm ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của chất lượng cuộc sống Hiện nay, ung thư là một vấn đề lớn trên toàn thế giới Thời điểm mới chẩn đoán, giai đoạn đầu của điều trị và những tháng sau khi hoàn thành điều trị là những thời điểm rất khó khăn cho người bệnh cả về thể chất và tinh thần Trong giai đoạn này, khả năng tự kiểm soát kém và chất lượng cuộc sống giảm đi ở người bệnh ung thư
vú có thể dễ dàng xảy ra [80] Một số nghiên cứu cho thấy, chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư nghèo nàn có thể dẫn đến những ảnh hưởng kèm theo [57]
Ở những ghi chép về ung thư vú cho thấy người bệnh trẻ thường xuyên trải qua nhiều khoảng thời gian bị trầm cảm [14]
Ở người bệnh được điều trị bảo tồn vú cho thấy sự hài lòng hình ảnh cơ thể tốt hơn [34],[33] Vấn đề đau cánh tay sau phẫu thuật nách cũng có ảnh hưởng nghịch đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú [74] Một mô hình toàn diện về chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú có thể chỉ ra cho bác sĩ cũng như luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19nhân viên y tế về những vấn đề nào là vấn đề ưu tiên cần giải quyết để cải thiện về chất lượng cuộc sống và có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu một số chỉ dẫn, dự đoán để sử dụng trong các mô hình nghiên cứu thống kê [106]
1.6 Tác động của điều trị lên chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú Việc điều trị có tác động không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú về cả thể chất, tâm thần và xã hội
Ảnh hưởng về thể chất: đau, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ là những triệu chứng về thể chất phổ biến nhất [21],[32] Ngoài ra, ảnh hưởng của điều trị còn được đề cập đến với những thay đổi về da, hình ảnh cơ thể và rụng tóc [10] Trước khi đợt hoá trị liệu bắt đầu, các triệu chứng đau, rối loạn giấc ngủ được xem là triệu chứng làm phiền người bệnh nhiều nhất Sau đợt điều trị lần 1,2,3,4 buồn nôn là triệu chứng nổi bật, cho đến đợt cuối của liệu trình điều trị có sự tăng lên đáng kể về rối loạn khả năng tập trung được ghi nhận ở người bệnh ung thư vú [27] Một số tài liệu nghiên cứu cho thấy triệu chứng ngày càng phổ biến do tác động muộn của bệnh ở phụ nữ bị ung thư vú là đau cánh tay và vai, hậu quả của nó dẫn đến chất lượng cuộc sống về thể chất của người bệnh trở nên nghèo nàn [48],[72],[74],[90]
Ảnh hưởng về tinh thần: Đối với ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng, thực tế cho thấy các triệu chứng về cảm xúc bao gồm trầm cảm ngày càng trở nên trầm trọng hơn và mức độ tuỳ thuộc vào sự tiên tiến của liệu pháp xạ trị [48],[79] Thêm vào đó, sự mệt mỏi liên quan đến ung thư là một trong những tiệu chứng thường gặp, chiếm tỷ lệ 30-80% người bệnh ung thư nhận được xạ trị bất kể khu vực chiếu
xạ nào [53] Như vậy, mệt mỏi, lo âu, trầm cảm là những tác dụng phụ về tâm lý và thể chất điển hình của các bà mẹ mắc bệnh ung thư vú, và nó có thể thấy rằng những triệu chứng này cần phải được can thiệp tích cực cùng với việc điều trị [78] Chức năng về xã hội và vai trò trong gia đình có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề hỗ trợ xã hội và được cân nhắc trước khi đi vào chẩn đoán ung thư vú [66] Trong một nghiên cứu về mạng lưới xã hội và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư cho thấy phần lớn người bệnh ung thư vú đều lo sợ về việc phải phụ thuộc vào người khác và không tự chăm sóc được bản thân, họ không cảm thấy thoải mái về luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20những thay đổi trên cơ thể, những vấn đề này có thể có ảnh hưởng nghịch đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú [101] Hơn nữa, người phụ nữ còn đóng một vai trò rất quan trọng bởi vì họ là người vợ, người mẹ, người chị trong gia đình Vì vậy, khi người phụ nữ bị ung thư vú cũng có ảnh hưởng đên sức khoẻ của những thành viên khác trong gia đình, ung thư vú không chỉ có tác động đến cá nhân người bệnh mà còn có ảnh hưởng đến toàn thể gia đình [78]
1.7 Chăm sóc tích cực trong ung thư vú Chăm sóc giảm nhẹ là một khía cạnh quan trọng của việc quản lý người bệnh ung thư Chẩn đoán, đánh giá và điều trị sớm cùng với việc chăm sóc về thể chất, tinh thần và xã hội là rất quan trọng đối với người bệnh ung thư [16],[101] Chăm sóc giảm nhẹ đáp ứng các nhu cầu của tất cả người bệnh và gia đình với mong muốn giảm nhẹ các triệu chứng cũng như chăm sóc hỗ trợ về tâm lý xã hội Điều này đặc biệt quan trọng khi người bệnh đang trong giai đoạn di căn và có cơ hội rất thấp được chữa khỏi hoặc khi họ đang phải đối mặt với giai đoạn cuối của bệnh Người bệnh cần được chăm sóc giảm nhẹ không hoàn toàn có nghĩa là vì họ sẽ chết, bệnh ung thư để lại hậu quả lớn về mặt thể chất, tình cảm, tinh thần, xã hội và kinh tế do
đó việc quản lý nó và dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ góp phần giải quyết các nhu cầu của người bệnh và gia đình của họ từ lúc mới chẩn đoán để có thể đối phó hiệu quả với bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống [20] Tuy nhiên, chỉ có khoảng 6% tất cả các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ nằm ở châu Á và châu Phi nơi mà tập trung phần lớn dân số thế giới sinh sống và chết [16]
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư
Trang 21chất lượng cuộc sống Tất cả những yếu tố này đã cung cấp một mô hình khái niệm
về chăm sóc toàn diện không chỉ giành cho những người bệnh ung thư vú mà còn các người bệnh mắc bệnh mạn tính khác Mặc dù tầm quan trọng của các yếu tố đó
đã được công nhận, tuy vậy các mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội, triệu chứng suy, tinh thần và chất lượng cuộc sống của những người sống sót ung thư vú vẫn còn nhiều tranh cãi
1.8.1 Tuổi:
Khối lượng cơ, sức mạnh và tình trạng chức năng có xu hướng giảm khi tuổi tác ngày càng tăng, và chúng ta mặc nhiên công nhận rằng phụ nữ lớn tuổi hơn sẽ bị giảm rõ rệt hơn trong sức mạnh và chức năng thể chất trong suốt quá trình hóa trị liệu [30]
Tuy nhiên, người bệnh ung thư vú lớn tuổi có nhận thức về bản thân đối với việc suy giảm các chức năng cơ thể hơn so với những người bệnh trẻ tuổi, do đó họ dễ dàng có được nhận thức nhiều hơn để cải thiện sức khoẻ
Nghiên cứu của tác giả Benton, Schlairet và Gibson (2014) cũng cho thấy nhóm người bệnh trẻ bị ảnh hưởng ngay tức thì sau khi được xạ trị về cả thể chất và tinh thần nhiều hơn những nhóm người bệnh trung niên và lớn tuổi [19] Kết quả nghiên cứu của tác giả Antema-Joppe và cộng sự (2012) cho biết tỷ lệ đau thành ngực sau 1 năm xạ trị ở người bệnh trẻ cao hơn so với nhóm người bệnh lớn tuổi tuy nhiên, về chức năng tình dục thì nhóm người bệnh lớn tuổi lại kém hơn nhóm người bệnh trẻ [10] Tác giả Sammarco (2009) đã tiến hành nghiên cứu với 163 người bệnh ung thư vú trên 50 tuổi và 129 người bệnh dưới 50 tuổi, tại thời điểm nghiên cứu cho thấy những người bệnh ung thư vú trẻ tuổi mới được ghi nhận có sự xáo trộn về chất lượng cuộc sống nhiều hơn nhóm người bệnh ung thứ vú lớn tuổi [87]
1.8.2 Tình trạng lao động:
Những người bệnh ung thư vú phải đối mặt với một loạt các thách thức liên quan đến việc làm Hầu hết các người bệnh ung thư đều trở lại làm việc sau khi điều trị, nhưng nghiên cứu của Short, Vasey và Tunceli (2005) cho thấy gần 20% người bệnh bị hạn chế khả năng làm việc 1-5 năm sau điều trị [91] Tác giả Bouknight và luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22cộng sự (2006) đã tiến hành một nghiên cứu trên 416 người được chẩn đoán ung thư
vú, kết quả cho thấy 80% người bệnh đã trở lại làm việc sau quá trình điều trị và nơi làm việc đóng một vai trò rất quan trọng trong sự hoà nhập trở lại của người bệnh Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử trong sử dụng lao động lại có tác động tiêu cực đến sự trở lại làm việc của người bệnh ung thư vú [23]
1.8.4 Tình trạng chức năng:
Thông thường, 4 lĩnh vực chính của chức năng bao gồm thể chất, chức năng xã hội, vai trò cá nhân và yếu tố tâm thần hay tâm linh [80] Hoạt động thể chất là một trong những yếu tố lối sống đã được chứng minh là có lợi ích đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú, phối hợp làm tăng tỷ lệ sống sót, giảm nguy cơ tái phát và tử vong [55],[84],[106] Từ kết quả nghiên cứu của Fangel và cộng sự cho thấy hơn 56% phụ nữ bị ung thư vú thuộc phân loại bán độc lập, có nghĩa là họ cần một ai đó bên cạnh để giúp đỡ bất cứ lúc nào khi thực hiện các hoạt động hàng ngày [36] Sự thay đổi về thể chất được đề cập đến là thay đổi về hình ảnh cơ thể và nguy cơ béo phì Tình trạng phù bạch huyết kéo dài ở những người ung thư vú chiếm tỷ lệ đến 50% [81] Mặc dù rất khó để dự đoán sự xuất hiện của phù bạch huyết sau khi điều trị Hơn nữa, sự giảm đi các hoạt động thể chất cũng có thể đi cùng với những hạn chế trong chức năng thể chất kết hợp với phù bạch huyết,
do đó những người bệnh ung thư vú có nguy cơ tăng cân cao [18] Trong một nghiên cứu của Montazeri (2008) cho thấy 46% phụ nữ cảm thấy không thoải mái với những sự thay đổi trên cơ thể của họ [70] Ngoài ra, một vấn đề rất quan trọng trong tình trạng chức năng đó là các yếu tố tâm thần/ tâm linh của người bệnh, hầu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23hết những người phụ nữ bị ung thư vú cũng đều đã trải qua nhiều lần đau khổ tinh thần trong suốt quá trình họ được chẩn đoán và điều trị Những căng thẳng tâm lý
xã hội này có thể liên quan đến các vấn đề về thể chất như bệnh tật hoặc khuyết tật, vấn đề tâm lý, và các vấn đề về mối quan tâm của gia đình và xã hội [46]
1.8.5 Triệu chứng suy kiệt:
Theo nghiên cứu của Janz và cộng sự (2007) trên 314 phụ nữ cho thấy mức độ biểu hiện của các triệu chứng suy kiệt càng nhiều thì chất lượng cuộc sống của người bệnh càng giảm Trong đó, mệt mỏi là triệu chứng có ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú [49]
Tần suất cao của các triệu chứng suy kiệt liên quan đến bệnh tật và quá trình điều trị
đã có một ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú[26]
Người bệnh ung thư vú thường xuyên phải trải qua những triệu chứng buồn nôn, nôn, tăng cân, rụng tóc và mệt mỏi [24] Cũng trong một nghiên cứu của Caffo và cộng sự có 40% phụ nữ (n=529) bị những cơn đau hành hạ không phân biệt loại hình điều trị, điều này có ảnh hưởng nghịch đến chất lượng cuộc sống của người bệnh [28] Những triệu chứng suy kiệt có thể làm suy yếu cảm xúc và ngăn cản các hoạt động như việc duy trì chế độ dinh dưỡng hay các hoạt động thể chất hàng ngày Nhìn chung, các triệu chứng suy kiệt có thể có ảnh hưởng nghịch và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú [78]
1.8.6 Hỗ trợ về mặt xã hội:
Khái niệm về hỗ trợ xã hội đã được sử dụng trong những nghiên cứu điều dưỡng từ những năm 1970 Hỗ trợ xã hội được định nghĩa như là sự trao đổi các nguồn lực giữa ít nhất hai cá nhân hoặc nhiều hơn, sự hỗ trợ xã hội được xem như là mối quan
hệ tương tác giữa một bên là nhà cung cấp và bên còn lại là người được nhận hỗ trợ nhằm để tăng cường phúc lợi cho người nhận
Đã có những bằng chứng cho rằng, việc nhận được các hỗ trợ xã hội có tác động tích cực đến hoạt động thể chất, tâm lý, xã hội và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú [13],[86] Hỗ trợ xã hội đã được ghi nhận như một phần giải pháp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24để bảo vệ cá nhân người bệnh khỏi những ảnh hưởng có hại và bệnh lý cũng như những căng thẳng trong cuộc sống [44] Một nguồn hỗ trợ về tinh thần lớn lao đối với người bệnh ung thư vú là từ vợ chồng, con cái, bạn bè và anh chị em ruột [12],[88] Có nhiều nghiên cứu trong đó chỉ ra rằng những phụ nữ bị ung thư vú thiếu sự hỗ trợ xã hội cả trước khi chẩn đoán và trong quá trình điều trị có nguy cơ gia tăng tỷ lệ tử vong Một nghiên cứu định lượng được thực hiện bởi Epplein và cộng sự (2011) đã cho rằng hình thức can thiệp bằng cách duy trì hoặc tăng cường
hỗ trợ xã hội sớm cho những người bệnh ngay sau khi chẩn đoán ung thư vú có thể giúp cải thiện hậu quả của bệnh tật [33]
Tuy các yếu như tuổi, trình độ học vấn, loại hình điều trị hay giai đoạn bệnh cũng
có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, song những yếu tố này là tố thuộc về nhân khẩu học mà các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ có thể lưu ý để đưa ra lựa chọn can thiệp điều dưỡng phù hợp Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến vai trò ảnh hưởng quan trọng của triệu chứng suy kiệt, tình trạng chức năng và hỗ trợ xã hội với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú Do đó, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố này và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị ở Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng Tìm hiểu về mối quan hệ giữa các biến sẽ giúp người điều dưỡng thấu hiểu hơn cảm nhận của người bệnh khi họ phải trải qua những triệu chứng suy kiệt và suy giảm về chức năng cũng như tầm quan trọng của sự hỗ trợ xã hội và yếu tố tinh thần đối với người bệnh ung thư vú
1.9 Mô hình học thuyết chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ
Đề tài nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình ‘Health - Related Quality of Life’ phát triển bởi Wilson và Cleary (1995) Mô hình này bao gồm bốn lĩnh vực chính với thứ tự sắp xếp như sau: yếu tố sinh lý học, tình trạng chức năng, tình trạng về các triệu chứng, nhận thức về sức khoẻ và cuối cùng là tổng thể về chất lượng cuộc sống Sự xuất hiện của các lĩnh vực được biểu thị trên mô hình học thuyết đều tuân theo một thứ tự nhất định và nối với nhau bằng mũi tên chỉ mối quan hệ nhân quả, tuy nhiên những thành phần không kế cận nhau vẫn tồn tại mối luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25quan hệ liên kết qua lại và tạo thành một tổng thể liên quan chặt chẽ với nhau Ngoài ra tất cả bốn lĩnh vực chính này còn chịu sự chi phối của các đặc điểm cá nhân và đặc tính của môi trường (hỗ trợ từ xã hội) Như vậy, chất lượng cuộc sống cao hay thấp đấy chính là kết quả của một quá trình tương tác lâu dài và toàn diện, bởi nếu một trong những yếu tố thuộc các lĩnh vực trên thay đổi nó sẽ kéo theo sự thay đổi của cả hệ thống và làm cho chất lượng cuộc sống cũng bị biến chuyển tuỳ vào mức độ và tầm ảnh hưởng của yếu tố đó [80],[98]
Hình 1.1 Mô hình học thuyếtchất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ
(Wilson và Cleary (1995))
Đặc điểm cá nhân
Yếu tố sinh lý học
Tình trạng chức năng
Tình trạng triệu chứng
Nhận thức về sức khoẻ
Đặc điểm môi trường
Chất lượng cuộc sống luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26Hình 1.2: Khung nghiên cứu về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ
của người bệnh ung thư vú
Dựa trên tổng quan tài liệu, ba biến độc lập có liên quan mật thiết đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đã được xem xét và lựa chọn đó là: Tình trạng chức năng (bao gồm chức năng thể chất và chức năng tâm lý và chức năng xã hội), Triệu chứng suy kiệt (bao gồm 12 triệu chứng đặc trưng) và yếu tố hỗ trợ xã hội (thuộc phần đặc tính của môi trường) có mối liên quan nhân quả mật thiết với chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú (chất lượng cuộc sống ở đây được đề cập đến là chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ)
Tình trạng chức năng Chức năng về thể chất Chức năng về tâm lý Chức năng về xã hội
Triệu chứng suy kiệt
12 triệu chứng điển hình
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ
Hỗ trợ xã hội
Hỗ trợ từ gia đình
Hỗ trợ từ bạn bè
Hỗ trợ từ người khác luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 271.10 Địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng Bệnh viện nằm trên khuôn viên 15 ha tại phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, là cơ
sở khám chữa bệnh cho người bệnh ung thư lớn nhất khu vực miền trung với quy
mô 550 giường bệnh
Ngày 19-1-2013, Bệnh viện Ung thư Đà Nẵnghay còn gọi là Bệnh viện từ thiện với
cơ chế khám chữa bệnh miễn phí cho người bệnh ung thư nghèo đầu tiên tại Việt Nam được thành lập.Ngày 1-9-2015, Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng chính thức đổi tên thành Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng trên cơ sở sát nhập Bệnh viện Ung thư và Khoa Ung bướu của Bệnh viện Đà Nẵng
Năm 2016, bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng có tổng số 28.657 người bệnh điều trị nội trú, trong đó có 2.461 ca ung thư vú
Khoa Vú – Phụ khoa (Khoa ngoại III) thuộc Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng có hơn
60 giường bệnh điều trị với số lượng ca ung thư vú bình quân giao động vào khoảng
40 giường bệnh
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Người bệnh đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng với các tiêu chuẩn chọn bệnh như sau:
- Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú
- Người bệnh >= 18 tuổi
- Người bệnh có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt
- Người bệnh tình nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu
- Người bệnh không có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt
- Người bệnh có rối loạn về nhận thức, tâm thần
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện trong vòng 6 tháng (15/4/2016- 15/10/2016)
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Vú- Phụ khoa, Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trong nghiên cứu này
2.4 Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu gồm 100 người bệnh ung thư vú đang điều trị tạiKhoa Vú- Phụ khoa, Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
2.5 Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Trong thời gian 2 tháng, từ 15/4/2016-15/6/2016, Số liệu sẽ được lấy liên tục cho đến khi hết thời gian 2 tháng thì dừng số người bệnh thoả mãn những tiêu chí chọn mẫu tham gia vào nghiên cứu là 100
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 292.6 Phương pháp thu thập số liệu:
Sau khi tiếp xúc địa bàn và được tập huấn về phương pháp điều tra thu thập số liệu, các điều tra viên sẽ đến từng bệnh phòng giải thích cho người bệnh về các bước cần làm và các thuật ngữ mà người bệnh chưa hiểu rõ trong bộ phiếu điều tra Mỗi người bệnh được phát một bộ phiếu điều tra với nội dung gồm các bộ câu hỏi đã được soạn sẵn (bộ câu hỏi có phiên bản gốc tiếng Anh đã được chứng minh về tính giá trị và độ tin cậy và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu, đã có sẵn phiên bản tiếng Việt) Người bệnh sẽ có 30 phút để hoàn thành phiếu điều tra dưới sự giám sát của điều tra viên Điều tra viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với người bệnh không tự viết được
2.7 Các biến số nghiên cứu:
Biến độc lập:
- Tình trạng chức năng (functional status)
+ Chức năng thể chất + Chức năng tâm lý + Chức năng xã hội
- Tình trạng triệu chứng (symptom status)
+ Đau + Mệt mỏi + Nôn/ buồn nôn + Phiền muộn + Lo lắng + Thiếu ngủ + Ngứa ngáy, tê bì + Cảm thấy không thoải mái + Chán ăn
+ Khó thở + Hạn chế vận động khớp + Rụng tóc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30- Hỗ trợ xã hội (social support)
+ Hỗ trợ từ gia đình + Hỗ trợ từ bạn bè + Hỗ trợ từ người khác Biến phụ thuộc:
- Chất lượng cuộc sống
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 2.8.1 Công cụ đo lường về đặc điểm cá nhân và đặc điểm bệnh:
Bao gồm các mục: 1) Tuổi, 2) Giới, 3) Tình trạng hôn nhân, 4) Tôn giáo, 5) Trình
độ học vấn, 6) Nghề nghiệp, 7) Ngày chẩn đoán, 8) Giai đoạn bệnh, 9) Hình thức điều trị
2.8.2 Bộ công cụ đo lường về chất lượng cuộc sống:
Sử dụng bộ công cụ “Chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống cho những người bịbệnh ung thư– III” (Quality of life Index-Cancer Version III) được phát triển bởi Ferrans
và Powers (1985) [37],[54] Bộ câu hỏi gồm 2 phần, phần thứ nhất bao gồm 33 mục dùng để đo lường sự hài lòng của người bệnh ung thư vú với các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Thang Likert 6 điểm được sử dụng để đo lường mức độ hài lòng với thứ tự là 1= Rất không hài lòng, 2= Không hài lòng, 3= Hơi không hài lòng, 4= Hơi hài lòng, 5= Hài lòng, 6= Rất hài lòng Phần thứ hai bao gồm 33 mục dung để
đo lường mức độ quan trọng của các lĩnh vực khác nhau đối với người bệnh Thang Likert 6 điểm được sử dụng để đo lường mức độ quan trọng lần lượt là 1 = Rất không quan trọng, 2 = Không quan trọng, 3 = Không quan trọng lắm, 4 = Hơi quan trọng, 5 = Quan trọng, 6 = Rất quan trọng Mỗi bộ câu hỏi gồm 33 mục đề cập đến
4 lĩnh vực khác nhau bao gồm Sức khoẻ và chức năng (13 mục), Kinh tế và xã hội (8 mục) trong đó đối tượng chỉ chọn mục 21 hoặc 22 để trả lời, Tâm lý / tâm linh (7 mục) và Gia đình (5 mục)
Theo Ferrans, mức chất lượng cuộc sống sẽ được diễn giải bằng cách so sánh điểm
số của người bệnh được tính theo công thức của Ferrans (được đính kèm ở phần phụ lục) với tiêu chí điểm số trung bình của mỗi phần lĩnh vực theo tiêu chuẩn quốc tế luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31Tiêu chuẩn điểm số trung bình
2.8.3 Bộ công cụ đo lường về tình trạng chức năng:
Sử dụng bộ công cụ đo lường chỉ số chức năng sống phiên bản ung thư (Functional Living Index–Cancer) được phát triển bởi Bektas và cộng sự (2008) [17], Leanen và Alonso (2010) [58] Bộ công cụ bao gồm bốn lĩnh vực chính: chức năng về thể chất, chức năng về tâm/tinh thần, chức năng về xã hội và chức năng về hệ tiêu hoá Toàn
bộ gồm 22 mục nhỏ, phần đo lường về chức năng thể chất bao gồm 9 mục, chức năng về tâm/tinh thần gồm 9 mục, phần chức năng về xã hội gồm 2 mục, chức năng
về hệ tiêu hoá gồm 2 mục
Mục 1,2,3,4,8,9,13,15,21,22 phản ánh các biểu hiện chức năng tích cực được đánh giá trên thang Likert năm điểm từ 0 đến 7 với mức độ tốt tăng dần Mục 5,6,7,10,11,12,14,16,17,18,19,20 phản ánh các biểu hiện chức năng nghịch được đánh giá trên thang Likert năm điểm từ 0 đến 7 mức độ tốt giảm dần Tổng điểm cho phần chức năng thể chất là 9-63, Tổng điểm cho phần chức năng về tinh thần là 9-63, Tổng điểm cho phần chức năng xã hội là 2-14 và chức năng về hệ tiêu hoá là 2-14 Tổng số điểm cho tất cả các phần là 22-154 Tổng điểm thấp tương ứng với tình trạng chức năng kém, tổng điểm cao tương ứng với tình trang chức năng tốt luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 322.8.4 Công cụ đo lường về tình trạng triệu chứng:
Sử dụng bộ công cụ Thang đánh giá về triệu chứng Edmonton (Edmonton Symptom Assessment Scale) được phát triển bởi Moro và cộng sự (1991) [71] Bộ công cụ bao gồm 12 mục tương ứng với 12 triệu chứng thường gặp khác nhau bao gồm: đau, mệt mỏi, nôn/ buồn nôn, phiền muộn, lo lắng, thiếu ngủ, ngứa ngáy, Cảm thấy khỏe mạnh, hạnh phúc, ngon miệng, khó thở, hạn chế vận động và những triệu chứng khác bao gồm,tê bì, táo bón, rụng tóc, cứng khớp Mỗi triệu chứng được đánh giá trên thang điểm số từ 0-10 0 với ý nghĩa không xuất hiện triệu chứng đã đề cập và
10 tương ứng với mức độ tồi tệ nhất mà người bệnh cảm nhận được Tổng điểm đánh giá của Edmonton Symptom Assessment Scale nằm trong khoảng từ 0 đến
120 Điểm số cao chỉ ra triệu chứng suy kiệt cao và điểm thấp tương ứng với triệu chứng suy kiệt thấp Tương ứng với thang từ 0 đến 10 cho mỗi triệu chứng, mức đánh giá sẽ được chia làm 3 khoảng tương ứng, điểm trung bình triệu chứng thuộc khoảng 1-3 điểm thể hiện mức độ biểu hiện triệu chứng thấp hay mức độ ưu tiên chăm sóc thấp, khoảng 4-6 điểm thể hiện mức độ biểu hiện triệu chứng trung bình hay mức độ ưu tiên chăm sóc trung bình, khoảng 7-10 điểm thể hiện mức độ biểu hiện triệu chứng cao hay mức độ ưu tiên chăm sóc cao
2.8.5 Công cụ đo lường về các hỗ trợ xã hội đa chiều:
Sử dụng bộ công cụ thang đánh giá hỗ trợ xã hội đa chiều (Multidimensional Scale
of Perceived Social Support) được Phát triển bởi Zimet và cộng sự (1988) [25] Bộ công cụ có 12 mục đề cập đến 3 nguồn hỗ trợ bao gồm gia đình, bạn bè và những người cần thiết khác Bộ công cụ được xây dựng để đo lường mức độ nhận thức của
cá nhân về các hỗ trợ xã hội Phần hỗ trợ từ gia đình gồm các mục 5, 6, 7, 8, phần
hỗ trợ từ bạn bè gồm mục 9,10,11,12 và phần hỗ trợ từ những người cần thiết khác gồm mục 1, 2, 3, 4 Mỗi mục được đo lường bằng thang Likert 5 điểm từ 1= rất không đồng ý đến 5= rất đồng ý Tổng điểm từ 12 đến 60, điểm ghi nhận được thấp tương ứng với nhận được hỗ trợ xã hội thấp và điểm ghi nhận được cao tương ứng với việc người bệnh nhận được sự hỗ trợ từ xã hội tốt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 332.8.6 Độ tin cậy và giá trị hiệu lực Các phiên bản tiếng Việt của các bộ công cụ đã được kiểm tra về tính nhất quán trước khi được tiến hành nghiên cứu trên thực tế thông qua một nghiên cứu thí điểm trên 30 người bệnh ung thư vú ở Bệnh viện tỉnh Thái Nguyên Kết quả cho thấy: Cronbach’s alpha của Bộ công cụ đo lường về chất lượng cuộc sống là 0,91, Công
cụ đo lường về các hỗ trợ xã hội đa chiều là 0,88, Công cụ đo lường về tình trạng triệu chứng là 0,86 [75]
2.9 Phương pháp phân tích số liệu:
- Nhập liệu: Các số liệu sau khi điều tra sẽ được mã hoá và nhập vào máy tính bằng phần mềm SPSS 16
- Làm sạch số liệu: Trong quá trình nhập số liệu, các số liệu sẽ liên tục được kiểm tra, làm sạch và các thiếu sót sẽ được điều chỉnh ngay trong quá trình thực hiện
- Kết hợp sử dụng phần mềm Excel để vẽ một số biểu đồ
- Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
- Nghiên cứu là của chính tác giả, thông tin số liệu sử dụng trong nghiên cứu là có
cơ sở, nghiên cứu không sao chép, đạo văn từ những nghiên cứu khác
- Đảm bảo tính riêng tư và quyền được từ chối tham gia phỏng vấn của người đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu sau khi được thông qua ở hội đồng thẩm định đề cương Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, phải được sự đồng ý nghiên cứu của Hội Đồng Đạo Đức của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34- Phải được sự giới thiệu của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và sự cho phép của ban lãnh đạo bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng trước khi tiến hành thu thập
số liệu tại bệnh viện
2.11 Biện pháp khắc phục sai số:
Hạn chế của nghiên cứu:
- Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian tương đối ngắn với cỡ mẫu còn hạn chế
- Hiện tại chưa có nhiều đề tài tương tự được thực hiện ở Việt Nam để lấy làm tư liệu so sánh
Sai số:
- Đối tượng nghiên cứu không hiểu rõ yêu cầu của phiếu điều tra
- Đối tượng nghiên cứu bỏ sót các thông tin cần khảo sát trong phiếu điều tra
- Các đối tượng nghiên cứu trao đổi thông tin trong quá trình hoàn thành phiếu điều tra
- Nhầm lẫn, bỏ sót trong quá trình nhập liệu
Biện pháp khắc phục sai số:
- Điều tra viên phải tiếp xúc và tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra
- Điều tra viên trực tiếp giám sát quá trình hoàn thành phiếu điều tra của người bệnh
để tránh sai sót do sự trao đổi thông tin giữa các đối tượng điều tra
- Toàn bộ phiếu điều tra sẽ được kiểm tra lại kỹ lưỡng trước khi kết thúc buổi điều tra, những thông tin thiếu sót sẽ được bổ sung ngay sau đó
- Các thuật ngữ sẽ được mã hoá trước khi nhập số liệu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Tuổi trung bình của các đối tượng điều tra là 51,61 ± 12,046, độ tuổi nhỏ nhất là 19 và tuổi lớn nhất là 83
Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu Nhận xét: Nhóm tuổi từ 35 đến 54 chiếm tỷ lệ cao nhất với 51%, nhóm từ 19 đến 34 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 8%
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tôn giáo của đối tượng nghiên cứu
Trang 36Nhận xét: Đối tượng phỏng vấn không theo tôn giáo nào chiếm tỷ lệ cao nhất với 59%, 34 % đối tượng theo Phật giáo, đối tượng theo Thiên chúa giáo chiếm tỷ lệ thấp nhất với 7%.
Bảng 3.2 Phân bố trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân của đối
tượng nghiên cứu
Trình độ học vấn
Mù chữ Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung học chuyên nghiệp/ Cao đẳng/ Đại học/ Sau đại học
Đã kết hôn
Ly hôn Goá
Trang 37Nhận xét: Phần lớn đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn ở mức trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 39%, có 37% đối tượng thuộc thành phần có học vấn trung học chuyên nghiệp/ Cao đẳng/ Đại học/ Sau đại học, chỉ có 1 đối tượng mù chữ chiếm 1% 25% đối tượng nghiên cứu là nông dân và nội trợ chiếm 23 % Nghề nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất là viên chức với 8% Ba thành phần nghề nghiệp còn lại gồm công nhân, thương nhân và hưu trí /Già chiếm tỷ lệ xấp xỉ nhau lần lượt là 12%, 15% và 17%.Phần lớn đối tượng phỏng vấn đang trong tình trạng đã kết hôn với tỷ
lệ 73%, theo sau là đối tượng ở goá chiếm tỷ lệ 18% và thấp nhất là đối tượng độc thân với 9%
3.2 Đặc điểm về bệnh học của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3.Giai đoạn bệnh tại thời điểm chẩn đoán
Trang 38Bảng 3.5 Phân bố giai đoạn bệnh theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.3 Phân bố thời gian điều trị của đối tượng nghiên cứu
]
Nhận xét: Đa số các đối tượng nghiên cứu có khoảng thời gian điều trị dưới 1 năm chiếm tỷ lệ 76% Chỉ có 1% đối tượng có khoảng thời gian điều trị kể từ khi chẩn đoán từ 5 đến 10 năm
Trang 39Bảng 3.6 Phân bố các loại hình điều trị của đối tượng nghiên cứu
3.3 Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
Bảng 3.7 Mô tả về chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
giá
Sức khoẻ chức năng Kinh tế xã hội Tinh tâm thần/ tâm linh Gia đình
20,9 22,9 22,5 24,5
18,38 18,79 18,06 21,77
2,21 2,62 3,04 3,23
Thấp Thấp Thấp Thấp
Nhận xét: Điểm trung bình chung về chất lượng cuộc sống người bệnh ung thư vú đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng là 18,93 ± 2,55 thấp hơn điểm trung bình chung của tiêu chuẩn về chất lượng cuộc sống của Ferrans (21,4) Trong đó chất lượng về sức khoẻ chức năng (18,38 ± 2,21), chất lượng về đời sống kinh tế xã hội (18,79 ± 2,62), chất lượng về đời sống tâm thần, tâm linh (18,06 ± 3.04), luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40chấtlượng về đời sống gia đình (21,77 ± 3,23), có các giá trị trung bình đều được ghi nhận ở mức thấp
Biểu đồ 3.4 Phân bố mức độ đánh giá về chất lượng cuộc sống
Nhận xét: Đa số đối tượng nghiên cứu được đánh giá có mức độ chất lượng cuộc sống thấp chiếm tỷ lệ 88%, trong khi đó chỉ có 12% đối tượng nghiên cứu có chất lượng cuộc sống đạt mức cao
Bảng 3.8 Sự khác nhau về chất lượng cuộc sống giữa các nhóm hôn nhân, các
giai đoạn bệnh và các hình thức điều trị