Học viện nông nghiệp việt nam Khoa Kinh Tế và PTNT TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ BẢO HIỂM ĐỀ TÀI TRÌNH BÀY VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU 1 MỤC LỤC I MỞ ĐẦU 4 II NÔI DUNG 4 1 Khái niệm bảo hiểm thân tàu 4 2 Đối tượng b[.]
Trang 1Học viện nông nghiệp việt nam
Khoa: Kinh Tế và PTNT
-TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ BẢO HIỂM
ĐỀ TÀI
TRÌNH BÀY VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 4
II NÔI DUNG 4
1 Khái niệm bảo hiểm thân tàu 4
2 Đối tượng bảo hiểm 5
3 Phạm vi bảo hiểm 5
a Rủi ro chính 5
b Nhóm rủi ro thông tin được bảo hiểm 5
c Rủi ro riêng 5
d Nhóm rủi ro có thể được bảo hiểm 5
e Rủi ro loại trừ 6
4 Giá trị bảo hiểm (GTBH) 6
5 Số tiền bảo hiểm (STBH) 6
6 Phí bảo hiểm 7
7 Giải quyết bồi thường: tai nạn đâm va 8
`a) Trách nhiệm của chủ tàu trong tai nạn đâm va 8
b) Trách nhiệm của bảo hiểm thân tàu trong tại nạn đâm va 9
c Giải quyết tai nạn đâm va theo trách nhiệm chéo 10
d Giải quyết tai nạn đâm va theo trách nhiệm đơn 11
III KẾT LUẬN 13
Trang 3I MỞ ĐẦU
Cách đây hơn một thế kỷ, một chính khách phương Tây (Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ John Hay) đã lấy biển làm đại lượng không gian để xác định xu thế phát triển của nhân loại Ông nhận định: “Địa Trung Hải là biển của quá khứ, Đại Tây Dương là biển của hiện tại, Thái Bình Dương là biển của tương lai” Tương lai ấy đang diễn ra đúng như ông nhận định: Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đang là khu vực phát triển năng động nhất hành tinh, thế kỷ 21 được mệnh danh là “thế kỷ của đại dương” Đất nước Việt Nam chúng ta may mắn nằm trong không gian năng động đó; Biển Đông là một bộ phận quan trọng của Thái Bình Dương Bất cứ quốc gia nào muốn thúc đẩy
và phát triển kinh tế đều phải có hệ thống giao thông thuận lợi, trong
đó có hệ thống giao thông đường thủy Có thể thấy tàu biển là một trong những phương tiện vận tải quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy, góp phần tích cực trong phát triển kinh tế Tuy nhiên trong quá trình khai thác, quản lý, sở hữu tàu, chủ tàu có thể phải gánh chịu rất nhiều rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển, do hành động chính trị xã hội, do các yếu tố kĩ thuật của tàu… Những điều kiện bất lợi này diễn ra gần như không theo một quy luật nào, vì thế khó nhận thức, dự đoán trước, để phòng tránh Vì vậy tàu có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và chủ tàu phải chịu tổn thất thiệt hại, chịu trách nhiệm dân sự với chủ tàu khác khi đâm va,… hơn thế giá trị của con tàu ngày càng cao, trọng tải lớn, vận tốc chậm, hành trình dài, điều đó dẫn đến nguy cơ rất lớn về mặt tài chính mà chủ tàu không thể khắc phục được Rõ ràng là để đảm bảo khả năng tài chính cho chủ tàu, chủ tàu cần tham gia bảo hiểm thân tàu Bảo hiểm thân tàu không chỉ đảm bảo hoạt động bình thường cho các chủ tàu cho dù có xảy ra sự cố bảo hiểm hay không, mà còn đảm bảo khả năng an toàn
về mặt tài chính cho cả bên thứ ba và góp phần đảm bảo sự ổn định cho hoạt động hàng hải, thương mại nói riêng, ổn định đời sống sản xuất cho cộng đồng nói chung Vì vậy mà nhóm 2 đã chọn đề tài bảo hiểm thân tàu
II NÔI DUNG
1 Khái niệm bảo hiểm thân tàu
Trang 4Bảo hiểm thân tàu là loại hình bảo hiểm tài sản, là một trong ba loại bảo hiểm hàng hải Bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những rủi ro tổn thất, thiệt hại xảy ra với vỏ tàu, máy tàu, trang thiết bị trên tàu, một số chi phí mà chủ tàu phải bỏ ra trong quá trình kinh doanh khai thác tàu
và một phần trách nhiệm của chủ tàu trong tai nạn đâm va
2 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm thân tàu bao gồm :
Tàu lớn, tàu vừa và tàu bé, chuyên chở hàng hóa và hành khách, sà lan, thuyền máy, thuyền buồm, tàu dùng để lai dắt, cứu hộ, cầu nổi, Toàn bộ con tàu biển gồm: vỏ tàu, máy móc trang thiết bị thông thường đi biển và phục vụ kinh doanh
3 Phạm vi bảo hiểm
Những rủi ro được bảo hiểm thường là 4 rủi ro chính, 3 rủi ro thông thường và rủi ro riêng về chiến tranh Ngoài ra, theo đặc thù của hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác tàu biển người bảo hiểm còn đề
ra các rủi ro có thể được bảo hiểm Đó là những rủi ro nếu không khai báo kịp thời để mua bảo hiểm thì chúng là rủi ro có loại trừ
a. Rủi ro chính
Nhóm rủi ro chính là những rủi ro được bảo hiểm ngay từ những ngày sơ khai của bảo hiểm hàng hải Những rủi ro đó thường gây nên những tổn thất lớn Rủi ro chính bao gồm: mắc cạn, chìm đắm, đâm va,…
b. Nhóm rủi ro thông thường được bảo hiểm
Nhóm rủi ro này bao gồm các rủi ro sau: hành vi phi pháp của thuyền trưởng và thủy thủ đoàn là những người không đồng sở hữu với chủ tàu đối với con tàu, mất tích, rủi ro cướp biển,…
c. Rủi ro riêng
Là rủi ro không được bảo hiểm với điều kiện bảo hiểm thông thường trừ khi người bảo hiểm chấp nhận tham gia thêm rủi ro này Phí bảo
Trang 5hiểm cho rủi ro này thường rất cao Rủi ro riêng trong bảo hiểm thân tàu như là rủi ro trong chiến tranh
d. Nhóm rủi ro có thể được bảo hiểm.
Đây là những rủi ro nếu như không khai báo kịp thời để mau bảo hiểm thì chúng là rủi ro loại trừ Bao gồm các rủi ro sau đây:
- Vi phạm về phạm vi hoạt động hoặc hành trình của con tàu bảo hiểm nếu không phải là được thể hiện trong hợp đồng bằng điều khoản riêng Xây ra trong trường hợp thủy thủ đoàn không thể khống chế được, là điều kiện cần thiết hợp lý thực hiện các đảm bảo hoặc ngụ ý đảm bảo cho con tàu đủ khả năng đi biển Để cứu người hoặc con tàu khác đnag thực sự bị nạn, do hành vi phi pháp của thuyền trưởng và thủy thủ đoàn
- Vi phạm về kinh doanh và khai thác tàu: chở quá tải, xếp hàng trên boong không theo tập quán thương mại, vi phạm thủ tục hải quan xuất nhập cảnh…
- Vi phạm về lai dắt
- Vi phạm về hàng hóa chuyên chở: đó là những hàng hóa cấm chuyên chở (vũ khí, chất độc hại, chất dễ cháy, hàng lậu, hàng phá bao vây…)
e. Rủi ro loại trừ
Trong bảo hiểm thân tàu còn có những rủi ro mà người bảo hiểm không nhận bảo hiểm,gọi là những rủi ro loại trừ Bao gồm: hành vi sơ suất, lỗi lầm, cố ý của người được bảo hiểm, chậm trễ hành trình, tàu không đủ khả năng đi biển, tàu đi chệch hướng
4 Giá trị bảo hiểm (GTBH)
Giá trị bảo hiểm thân tàu bằng tổng giá trị của con tàu khi tham gia bảo hiểm và các chi phí khác:
Vỏ tàu, máy tàu, trang thiết bị của tàu
Các vật phẩm cung ứng cho hành trình của tàu
Phí tổn điều hành, quản lý, lãi hoặc trị giá gia tăng (≤ 25% giá trị tàu)
Cước thu nhập (≤25%)
Tiền lương ứng trước cho sỹ quan thuỷ thủ
Có thể xác định bằng các cách sau:
Trang 6 Căn cứ vào giá trị thực tế thị trường tại thời điểm tham gia bảo hiểm
Căn cứ vào giá trị hợp đồng mua bán
Theo định giá của ngân hàng
Giá thoả thuận (thấp hơn giá trị thực tế của tàu)
5 Số tiền bảo hiểm (STBH)
Số tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà bên bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm khi rủi ro bảo hiểm xảy ra, được ghi trong mỗi hợp đồng bảo hiểm
STBH = GTBH BH ngang giá trị
STBH < GTBH BH dưới giá trị
STBH > GTBH BH trên giá trị
Thông thường các chủ tàu thường mua bảo hiểm dưới giá trị hoặc ngang giá trị
STBH bao gồm: STBH thân tàu, STBH cước phí chuyên trở và STBH chi phí điều hành:
STBH = GTBH + Cước phí chuyên chở + phí điều hành
STBH thân tàu là giá trị bảo hiểm của con tàu bao gồm: vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị trên tàu
STBH cước phí chuyên trở tối đa bằng hai năm phần trăm STB thân tàu
STBH chi phí điều hành tối đa bằng hai năm phần trăm STB thân tàu
6 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm hay còn gọi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm là số tiền
mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để đổi lấy
sự bảo đảm trước các rủi ro sẽ chuyển sang cho công ty bảo hiểm Phí bảo hiểm thân tàu bao gồm:
- Phí bồi thường cho tổn thất toàn bộ
- Phí bồi thường cho tổn thất bộ phận: gồm các chi phí sửa chữa tạm thời, chính thức và chưa sửa chữa
Trang 7- Phụ phí: Bao gồm chi phí quản lý, chi phí đề phòng hạn chế tổn thất
Phí bảo hiểm thân tàu căn cứ vào biểu phí hiện hành của Công ty Cách tính phí:
Phí BH = Tỷ lệ phí (%) x Số tiền bảo hiểm
Trong đó: tỷ lệ phí: là mức phí bảo hiểm tính trên một đơn vị của số tiền bảo hiểm trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nó được tính theo tỷ lệ % so với số tiền bảo hiểm
VD: Tàu cấp VR SI, tham gia Điều kiện A – Mọi rủi ro, tỷ lệ phí 1,2%, giá trị tàu tham gia bảo hiểm là 10 tỷ đồng
Phí bảo hiểm = 1,2% x 10.000.000.000 = 120 triệu đồng
Cách tính phí bảo hiểm chuẩn của Hiệp hội BH Anh:
Phí BH = Phí BH tổn thất toàn bộ + Phí BH tổn thất bộ phận
Phí BH tổn thất toàn bộ (Total Loss premium) = TL rate x Giá trị bảo hiểm
Phí BH tổn thất bộ phận (Farticular Average premium) = FA rate x (GT, DWT, HP )
VD: Tàu chở hàng tổng hợp Bulk Carrier, đóng năm 1999, 14.000 DWT Giá trị bảo hiểm là 10.000.000 $
Ta có: TL rate = 0,2%; FA rate = 2,5 $/DWT
Phí BH tổn thất toàn bộ = 0,2% x 10.000.000 $ = 20.000 $
Phí BH tổn thất bộ phận = 2,5 $ x 14.000 DWT = 35.000 $
Phí BH = 55.000 $
Tỷ lệ phí bảo hiểm = 55.000 $ : 10.000.000 $ = 0,55
Trang 87 Giải quyết bồi thường: tai nạn đâm va
`a) Trách nhiệm của chủ tàu trong tai nạn đâm va
Đâm va là loại tai nạn thường xảy ra trong lĩnh vực hàng hải Đó là trường hợp tàu đâm va phải bất kì vật thể gì bên ngoài (chuyển động hay cố định ) trừ nước
Khi tai nạn đâm va xảy ra giữa tàu với tàu, người ta phải xác định nguyên nhân lỗi Lỗi này được chia làm 3 loại:
- Lỗi do khách quan: Do nguyên nhân khách quan dẫn đến hai tàu đâm va vào nhau, hai chủ tàu đều không có lỗi Trong trường hợp này, thiệt hại xảy ra với bên nào, bên đó tự chịu
- Lỗi do một tàu gây nên: Tai nạn đâm va xảy ra nhưng chỉ một tàu
có lỗi Khi đó tàu có lỗi vừa phải tự chịu thiệt hại trên tàu mình, vừa phải chịu trách nhiệm với những thiệt hại trên tàu kia Trường hợp này thường xảy ra khi tàu đang di chuyển đâm va vào tàu đang neo đậu
- Lỗi do cả hai tàu cùng gây nên: Tai nạn xảy ra và cả hai tàu cùng
có lỗi Trường hợp này, mỗi bên phải chịu trách nhiệm về thiệt hại của tàu bên kia do lỗi của mình gây ra tùy theo mức độ lỗi nhiều hay ít Trong thực tế khi xảy ra tai nạn đâm va, không phải chủ tàu nào cũng có đủ khả năng tài chính để bồi thường cho tàu đâm va phải, nhất là khi tàu nhỏ đam va với tàu lớn, khiến các chủ tàu nhỏ rơi vào tình trạng phá sản Vì vậy, Luật nhiều nước đưa ra mức giới hạn trách nhiệm bồi thường cho các chủ tàu Nếu tai nạn đam va xảy ra chỉ do lỗi bấ cẩn trong hành thủy của thuyền trưởng, thủy thủ trên tàu mà không có lỗi thực sự của chủ tàu, người thuê tàu thì họ có quyền giới hạn trách nhiệm của mình Mức giới hạn này được xác định theo độ lớn của tàu thường là theo dung tích đăng kí toàn phần GRT hoặc giá trị con tàu
* Ví dụ: Tàu A có trọng tải 2.000 tấn, gây thiệt hại tài cho tàu B về người là 230.000 bảng, về tài sản là 270.000 bảng
Trang 9Tàu A xin được giới hạn trách nhiệm về người là 100 bảng/ GRT, về tài sản là 270.000 bảng
Mức giới hạn trách nhiệm của tàu A được tính là:
- Về người: 2.000* 100 = 200.000 ( bảng)
- Về tài sản: 2.000 * 50 = 100.000 (bảng)
-> Tổng giớ hạn trách nhiệm của tàu A là 300.000 bảng
Trước hết tàu A bồi thường thiệt hại về người cho tàu B ở mức giới hạn tối đa là 200.000 bảng
Như vậy, thiệt hại về người của tàu B chưa được bồi thường do mức giới hạn là:
230.000- 200.000 = 30.000 ( bảng)
Tổng thiệt hại về người và tài sản của tàu B chưa được tàu A bồi thường là:
30.000 + 270.000= 300.000 (bảng)
Lúc này tàu A tiếp tục bồi thường thiệt hại về người còn lại và thiệt hại tài sản cho tàu B như sau:
- Bồi thường về người: 100.000* (30.000/300.000) = 10.000 (bảng)
- Bồi thường về tài sản: 100.000* (270.000/300.000) = 90.000 (bảng)
Vậy tiền bồi thường của tàu A cho tàu B là:
- Bồi thường về người: 200.00+10.000 = 210.000 (bảng)
- Bồi thường về tài sản: 90.000 bảng
Tổng bồi thường là: 210.000+ 90.000 = 300.000 (bảng)
Luật Hàng Hải Việt Nam 2005: Tại đièu 132 và 222, mức giới hạn trách nhiệm của chủ tàu trong tai nạn đâm va được quy định như sau:
Trang 10(1) Mức giới hạn trách nhiệm đối với các khiếu nại liên quan đến thiệt hại về người được quy định riêng rẽ đối với đối tượng
là hành khách và đối tượng không phải là hành khách
a) Đối với hành khách: trách nhiệm của người vận chuyển trong trường hợp một hành khách bị chết, bị thương hoặc các tổn hại khác về sức khỏe không quá 46.666 SDR với tổng mức đền bù không vượt quá 25.000.000 SDR tính trên một sự cố b) Đối với những người không phải là hành khách:
- 167.000 SDR đối với tàu biển đến 300 GRT
- 333.000 SDR đối với tàu biển từ trên 300 GRT đến 500 GRT
- Đối với từ trên 500 GRT: 333.000 SDR cho 500 GRT đầu tiên; tính thêm 500 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 501 đến GRT thứ 3.000; 333 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 3001 đến GRT thứ 30.000; 250 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 30.001 đến GRT thứ 70.000; 167 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 70.001 trở lên
(2) Mức giới hạn trách nhiệm đối với các khiếu nại hàng hải khác được quy định như sau:
- 83.000 SDR đối với tàu biển không quá 300 GRT
- 167.000 SDR đối với tàu biển từ 300 GRT đến 500 GRT
- Đối với tàu biển từ trên 500 GRT: 167.000 SDR cho 500 GRT đầu tiên; tính thêm 167 SDR cho mỗi GRT kể từ GRT thứ 501 đến GRT thứ 3.000; 125 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 3001 đến GRT thứ 30.000; 83 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 30.001 đến GRT thứ 70.000; 167 SDR cho mỗi GRT từ GRT thứ 70.001 trở lên
Việc xét bồi thường theo mức giới hạn trách nhiệm trước hết được
ưu tiên cho thiệt hại về người, phần thiệt hại con người còn lại cùng với thiệt hại tài sản tiếp tục được bồi thường theo nguyên tắc tỷ lệ
b) Trách nhiệm của bảo hiểm thân tàu trong tại nạn đâm va
Trang 11Khi tại nạn đâm va xảy ra với con tàu mua bảo hiểm thân tàu, trách nhiệm của bảo hiểm trong trường hợp này được xác định như sau:
- Trách nhiệm thiệt hại của tàu mua bảo hiểm: nhà bảo hiểm chi chịu trách nhiệm về tổn thất vật chất của con tàu, thiệt hại máy móc hay trang thiết bị Bảo hiểm thân tàu không chịu trách nhiệm đối với thiệt hại kinh doanh của tàu được bảo hiểm, thiệt hại về hàng hóa và con người trên tàu này
- Trách nhiệm đối với con tàu bị đâm va: khi chủ tàu tham gia các bảo hiểm (FOD,FPA,ITC) có bảo hiểm chi phí cho trách nhiệm đâm
va, bảo hiểm thân tàu có trách nhiệm bồi thường phần TNDS phát sinh do lỗi của họ gây ra với chủ tàu khác Trách nhiệm này bao gồm :
+ Tổn thất thiệt hại vật chất của chiếc tàu bị đâm va
+ Tổn thất và thiệt hại về tài sản hàng hóa trên tàu bị đâm va
+ Thiệt hại về kinh doanh tàu bị đâm va
+ Tổn thất chung, chi phí cứu hộ của tàu bị đâm va do tai nạn đâm
va (nếu có) , vì những chi phí thực tế làm giảm bớt tổn thất cho tàu bị đâm va
Những tổn thất đâm va không thuộc trách nhiệm của bảo hiểm thân tàu là:
+ Bất động sản, động sản ,tài sản hay vật gì khác không phải thân tàu trện tàu được bảo hiểm
+ Hàng hóa hay vật phẩm được chuyên chở trên tàu được bảo hiểm + Chết người ,đau ốm ,thương tật
+ Trách nhiệm về ô nhiễm dầu do tai nạn đâm va
+ Chi phí di chuyển hay phá hủy chướng ngại vật hay xác tàu
+ Chi phí thắp sáng hay đánh dấu báo hiệu tàu đắm
Trang 12Tuy nhiên, để làm tăng trách nhiệm của các chủ tàu trong việc điều hành thận trọng nhằm tránh tai nạn, bảo hiểm giới hạn bồi thường ở mức ¾ trách nhiệm đâm va phát sinh và không được vượt quá ¾ số tiền bảo hiểm
Khi xảy ra tổn thất do tai nạn đâm va, chủ tàu được bảo hiểm thân tàu bồi thường cho phần thiệt hại thân tàu trước Phần trách nhiệm đâm va, các chủ tàu tự bồi thường cho nhau, sau đó trên cơ sở này bảo hiểm thân tàu mới bồi thường cho các chủ tàu theo mức ¾ không vượt quá ¾ số tiền bảo hiểm Việc giải quyết theo trách nhiệm chéo
và giải quyết theo trách nhiệm đơn
c Giải quyết tai nạn đâm va theo trách nhiệm chéo
Điều kiện để giải quyết đâm va theo trách nhiệm chéo là:
- Cả 2 tàu cùng có lỗi và gây tổn thất cho nhau
- Cả 2 tàu đều không giành được quyền giới hạn trách nhiệm
Ví dụ 1: hai tàu A và B đâm va, theo giám định, mỗi bên lỗi 50%
Thiệt hại Thân tàu Kinh doanh Tổng
Xác định số tiền bồi thường thực tế của mỗi công ty bảo hiểm và thiệt hại của mỗi chủ tàu?
Biết rằng: cả hai tàu đều được BH ngang giá trị theo điều kiện ITC
Cả hai tàu không xin được giới hạn trách nhiệm Giả sử 3/4 TNDS < 3/4 số tiền BH
Bài làm
Giải quyết bồi thường theo trách nhiệm chéo do: