Báo cáo phân tích quy trình kiểm toán hệ thống
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã tạo ra một xu thế cạnhtranh mới cho các doanh nghiệp trong nước lẫn ngoài nước, đó chính là trình độ và khảnăng ứng dụng công nghệ mới trong mọi thao tác, hoạt động của doanh nghiệp Sứcmạnh về khả năng lưu trữ và phân tích thông tin để tìm ra những quy luật, những xuhướng hỗ trợ đắc lực cho hoạt động đầu tư sản xuất, một điều có thể thấy hơn nữachính là doanh nghiệp nào ứng dụng công nghệ càng hiện đại thì càng chiếm được lòngtin của các nhà đầu tư và những người sử dụng sản phẩm
Trong đó, tin học hóa các quy trình kế toán đã giúp ích rất nhiều cho doanh nghiệpcũng như các nhân viên kế toán hằng ngày phải xử lý với những con số, không tránhkhỏi những sai sót khi phải nhập liệu nhiều lần, Ứng dụng công nghệ thông tin vàoquy trình kế toán đã tạo nên một sinh khí mới, các hệ thống thông tin kế toán ra đời hỗtrợ đắc lực cho hoạt động kế toán, tiết kiệm được thời gian, nhân lực khi các máy tính
và các phần mềm tham gia phần lớn vào các công việc xử lý, đặc biệt là các công việc
có tính chất lặp đi lặp lại
Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng đồng hành với những đóng góp to lớn đó củacông nghệ cũng chính là những rủi ro mà công nghệ có thể phát sinh, như những sai sótcủa phần mềm, những tác động tiêu cực của con người nhằm mang lại những lợi ích cánhân, sự dựa dẫm, tin tưởng quá mức của con người, sự kém hiểu biết của người sửdụng có thể dẫn đến những sai sót trầm trọng đối với kết quả của kế toán, ảnh hưởngđến báo cáo tài chính Và khi đó kiểm toán hệ thống thông tin ra đời như là một giảipháp hoàn hảo nhất đáp ứng cho nhu cầu hiện tại, hỗ trợ cho các vấn đề mà kiểm toánbáo cáo tài chính đang gặp khi hầu hết các báo cáo tài chính đều được xuất ra từ hệ
thống Đề tài “Phân tích quy trình kiểm toán hệ thống” với mong muốn đem đến
một cái nhìn tổng quan về quy trình kiểm tra tính hiệu quả của hệ thống thông tin kếtoán mà hiện tại các doanh nghiệp đang áp dụng
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ERNST AND YOUNG
1.1 Một vài nét sơ lược về lịch sử hình thành:
Ernst & Young, tên công ty được ghép từ tên của 2 nhân vật có công đầu tạotiền đề cho sự ra đời của công ty là A.C Ernst và Athur Young Họ chưa hề gặp nhaunhưng cùng quan điểm và đều mất năm 1948, chỉ sống hơn nửa thế kỷ, nhưng những disản họ để lại – sự sáng tạo và nỗ lực, sự nhạy cảm và quan tâm, lòng nhiệt tình và niềmtin – đã làm nên nét đặc trưng riêng của tập đoàn Ernst & Young ngày hôm nay
Arthur Young sinh ra ra tại Glasgow, Scotland Ông tốt nghiệp ngành luật nhưnglại quan tâm tới ngân hàng và đầu tư Năm 1890, ông chuyển đến Mỹ để theo đuổinghề kế toán Năm 1906 cùng với anh trai là Stanley, ông thành lập hãng kế toánArthur Young & Company
Alwin C Ernst sinh năm 1881 ở Mỹ, bang Cleveland Ông là một người tự mìnhlàm nên sự nghiệp Sau khi tốt nghiệp trung học, ông khởi nghiệp là nhân viên kế toán.Bốn năm sau, vào năm 1903, ông cùng người em trai của mình là Theodore thành mộtlập hãng kế toán nhỏ Ernst & Ernst
Cả Ernst & Arthur đều là những người canh tân và hiểu rõ tầm quan trọng củachất lượng dịch vụ trong nghề nghiệp của họ Ernst là người tiên phong với ý tưởngrằng thông tin kế toán có thể được sử dụng để đưa ra các quyết định kinh doanh Ôngluôn yêu cầu nhân viên của mình cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.Young cũng khẳng định vị trí của mình là một chuyên gia tư vấn kinh doanh như vị trí
mà ông có được với tư cách là một kế toán viên
Cả hai hãng kiểm toán của họ nhanh chóng tham gia thị trường toàn cầu Đầu năm
1924, họ liên kết với các hãng nổi tiếng của Anh: Young liên kết với Paterson & Co,Ernst liên kết với Whinney Smith & Whinney Năm 1879, bản hiệp định đầu tiên củaErnst đã dẫn tới sự thành lập tập đoàn Ernst & Whinney Đây là những tập đoàn liên
Trang 3kết đầu tiên trong số rất nhiều tập đoàn khác trên thế giới và chúng là khởi nguồn củanhững tập đoàn thống trị toàn cầu hiện nay.
Sau khi mất đi, những triết lý mà họ để lại vẫn tiếp tục được áp dụng và đến năm
1989, các hãng do họ lập nên đã liên kết tạo thành Ernst & Young Ernst & Youngnhanh chóng khẳng định vị trí của mình trên thị trường toàn cầu, năm 2000, Ernst &Young công khai tuyên bố là một tập đoàn toàn cầu mới và đến nay là một trong 4hãng kế toán kiểm toán lớn nhất thế giới Hơn 130,000 nhân viên của hãng trên toànthế giới, làm việc trên 140 quốc gia và được chia thành 7 khu vực chính Châu Mỹ,Trung Âu, Tây Âu, Viễn Đông, Ấn Độ và châu Phi , Nhật Bản và Châu Úc luôn chia sẻ
lý tưởng và niềm đam mê giúp khách hàng của mình phát triển kinh doanh
1.2 Quá trình hình thành của Ernst and Young tại Việt Nam.
Ernst & Young đã có văn phòng đại diện tại Việt Nam ngay từ năm 1989 Ernst &Young Việt Nam chính thức được thành lập và trở thành công ty kiểm toán và tư vấndoanh nghiệp vơi 100% vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam theo Giấy phépđầu tư số 448/GP ngày 3/11/1992 và Giấy phép đầu tư điều chỉnh số 448/GPDC1 ngày23/01/2002 do Ủy ban Nhà nước và hợp tác đầu tư, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp.Ernst & Young đi vào hoạt động với số vốn đầu tư là 21 tỉ đồng Với chủ trương thamgia vào quá trình phát triển lâu dài của đất nước và con người Việt Nam cũng như chấtlượng dịch vụ đã được kiểm định trên toàn thế giới, Ernst & Young Việt Nam đã nhanhchóng chiếm lĩnh thị trường thị trường kiểm toán tại Việt Nam
Tên giao dịch chính thức của công ty: Công ty TNHH Ernst & Young VietNam
Điện thoại liên lạc (chi nhánh tại TPHCM): (08)-38.245.254
Website chính thức của công ty: http://www.ey.com/vn
Trang 4Công ty kiểm toán TNHH Ernst and Young VietNam có văn phòng tại cả thànhphố Hồ Chí Minh và Hà Nội:
Trụ sở chính đặt tại lầu 8, trung tâm Sài Gòn Riverside Office – 2A-4A TônĐức Thắng, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng tại Hà Nội: tầng 15 Daeha Business Centre, 360 Kim Mã, Hà Nội
Khởi đầu lúc thành lập Công ty chỉ có 10 người (năm 1992) nhưng hiện nay Công
ty đã phát triển với số lượng nhân viên lên tới hơn 600 nhân viên trong và ngoài nước.Ernst & Young là công ty quốc tế đầu tiên chuyên cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp
có chủ phần hùn (partner) là người Việt Nam Tổng giám đốc hiện nay là ông TrầnĐình Cường
Công ty hiểu rõ tầm quan trọng của khách hàng và điều này được phản ánh trongbản tuyên ngôn sứ mệnh doanh nghiệp của Công ty:
“Trước mắt Ernst & Young Việt Nam tận tâm cung cấp các dịch vụ về kiểm toàn và tư vấn có chất lượng cao nhất cho các khách hàng quốc tê, đồng thời tham gia vào tiến trình phát triển lâu dài của Việt Nam thong qua việc cung cấp dịch vụ tới một lượng ngày càng tăng các khách hàng trong nước Trọng tâm của chúng tôi là hỗ trợ khách hàng đạt được mục tiêu đã đặt ra, đồng thời đảm bảo mức tăng trưởng đạt được như mong muốn của đội ngũ nhân viên và công ty của chúng tôi.”
Với mười sáu năm kinh nghiệm tại Việt Nam, Ernst & Young Việt Nam có khảnăng đáp ứng nhu cầu họat động của các khách hàng Công ty đã tích lũy được sự hiểubiết sâu sắc về những vấn đề của các công ty tại Việt Nam trong bối cảnh kinh doanh ởViệt Nam bao gồm khả năng cung và cầu, các vấn đề về thuế, các rủi ro và cơ hội củacác khách hàng…
1.3 Quá trình hoạt động và phát triển tại Việt Nam.
Trang 51.3.1 Loại hình, dịch vụ kinh doanh
Ernst & Young Việt Nam hướng trọng tâm vào việc cung cấp các dịch vụ cóchất lượng cao với giá cạnh tranh Các dịch vụ mà Ernst & Young cung cấp rất phongphú đat dạng, bao gồm:
Dịch vụ kiểm toán và tư vấn kinh doanh : Là loại hình dịch vụ đem lại phần lớn
doanh thu cho Công ty Dịch vụ này bao gồm:
Kiểm toán các báo cáo tài chính theo luật định và kiểm toán các báo cáotài chính cho các công ty, tập đoàn
Dịch vụ đánh giá rủi ro an toàn công nghệ
Đánh giá tài chính và kiểm toán cho mục đích đặc biệt
Kiểm toán phân tích và đánh giá doanh nghiệp
Soát xét hệ thống kiểm soát nội bộ
Soát xét đặc thù và đưa ra ý kiến
Soát xét báo cáo hàng quý và nửa năm
Dịch vụ kiểm toán nội bộ
Dịch vụ thuế: Khi môi trường kinh doanh tại Việt Nam trong giai đoạn phát
triển, các chính sách thuế còn chồng chéo và đang trong quá trình hoàn thiện thìnhu cầu về tư vấn thuế rất tiềm năng Nắm bắt được nhu cầu cùng với việc cóđược đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và có hiểu biết sâu sắc về kinh tế ViệtNam, Ernst & Young đã cung cấp tới khách hàng các dịch vụ thuế Cụ thể, dịch
vụ này gồm:
Chiến lược thâm nhập thị trường
Tư vấn về tác động của thuế trực thu và gián thu đối với hoạt động kinhdoanh hiện tại cũng như theo kế hoạch đề xuất
Cung cấp các dịch vụ kê khai thuế
Trang 6 Lập kế hoạch nhằm giảm thiểu thuế phải nộp.
Lập và nộp các báo cáo thuế cho các cơ quan chức năng
Liên hệ và giải trình với các cơ quan thuế
Dịch vụ tư vấn kinh doanh: Là một đất nước rất tiềm năng để đầu tư, Việt Nam
ngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài Nhằm hỗtrợ các nhà đầu tư, Ernst & Young cung cấp dịch vụ tư vấn kinh doanh Dịch vụnày bao gồm các dịch vụ:
Nghiên cứu khả thi và xin giấy phép đầu tư
Thực hiện cơ cấu đầu tư
Lựa chọn thiết kế và triển khai phần mềm
Triển khai hệ thống thông tin
Triển khai hoạt động – Phân tích, tái cơ cấu, cải thiện và thay đổi quytrình kinh doanh
Chiến lược doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
Các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: đưa ra thị trường loại hình kinh doanhmới, kế hoạch kinh doanh, ngân sách, xâm nhập thị trường quốc tế
Các dịch vụ hỗ trợ kế toán
Sáp nhập và mua lại công ty, liên doanh, liên kết
Định giá doanh nghiệp, bất động sản và tài sản vô hình
Trang 7Các dịch vụ nói trên được thực hiện bởi những kiểm toán viên có năng lực trình
độ và kinh nghiệm vì vậy chất lượng của công việc thực hiện được đảm bảo ở mức độcao Ernst & Young đã dựa vào những điều kiện hiện có của Việt Nam để cung cấpmột cách có hiệu quả nhất và đáp ứng một cách tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng
1.3.2 Đặc điểm thị trường và khách hàng
Trải qua chặng đường hơn 16 năm phát triển, Ernst & Young Việt Nam đã trởthành một trong những công ty tư vấn kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, với gần 700nhân viên, gồm nhiều chuyên viên đến từ Hoa Kỳ, Châu Âu, Australia Singapore,Malaysia và Philippines và các văn phòng tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Viêng Chăn(Lào) và Phnôm-pênh (Campuchia).Với uy tín lâu đời của mình cũng như sự hiểu biếtsâu sắc về thị trường Việt Nam, đến nay số lượng khách hàng của Ernst & Youngchiếm một số đáng kể, thị phần kiểm toán đứng ở loại lớn nhất Việt Nam hiện nay Sốlượng khách hàng thường xuyên của Công ty khoảng 300 khách hàng bao gồm cảkhách hàng trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Trên thế giới nói chung
và tại Việt Nam nói riêng, Ernst & Young cung cấp dịch vụ cho nhiều doanh nghiệpvới nhiều quy mô, lĩnh vực và loại hình khác nhau như ngân hàng, bảo hiểm, quản lýtài sản, sản xuất, thương mại, bất động sản
Tại Việt Nam hiện nay, Ernst & Young đang dẫn đầu trong kiểm toán các ngânhàng Công ty đã kí kết hợp đồng kiểm toán với hầu hết các ngân hàng lớn của ViệtNam như: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam,Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàngNông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Quânđội, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, Bảo việt Việt Nam, Habu Bank Đặcbiệt trong năm nay công ty cũng cung cấp các dịch vụ giúp một số ngân hàng thươngmại quốc doanh tái cơ cấu lại
Trang 8Trong các lĩnh vực khác tuy không đứng ở vị trí đầu tiên nhưng Ernst & Youngcũng có được những khách hàng lớn và chiếm một thị phần đáng kể.
Về năng lượng: BP, CNOOC, ConocoPhillips, Ferrexpo, Kazakhmys, Total,Westinghouse Electric Coporation,…
Về giải trí: Khu giải trí Trump, tập đoàn giải trí Magna
Về dịch vụ tài chính: ING, ICBC, ING Group, CIBC, Man Group, AMRO, VTB, UBS, US Bank,
ABN- Về chăm sóc sức khoẻ: HCA, CVS Caremark, Lifepoint, Cleveland Clinic,…
Về sản xuất: Tập đoàn Delphi, tập đoàn Eaton, Syngenta, TetraPak, tập đoànKinh Đô, Hoàng Anh Gia Lai group, Vincom, REE, bút Thiên Long, Phở 24,Vina Capital, tập đoàn AA, công ty Canon Việt Nam, công ty Cocacola ViệtNam
Với số lượng lớn các khách hàng như vậy, Ernst & Young vẫn vững vàng là mộttrong 4 công ty kiểm toán và tư vấn lớn nhất Việt Nam (BigFour)
1.3.3 Tổ chức bộ máy quản lí và kiểm toán của Ernst & Young Việt Nam
1.3.3.1 Bộ máy quản lí
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty Ernst & Young được áp dụng theo
mô hình tổ chức của Ernst & Young toàn cầu, song có sự điều chỉnh để phù hợp vớiđiều kiện của Việt Nam
Trang 9TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
BỘ PHẬN HÀNH CHÍNH
BỘ PHẬN NGHIỆP VỤ
BỘ PHẬN KIỂM TOÁN
BỘ PHẬN
TƯ VẪN THUẾ
BỘ PHẬN
TƯ VẤN KINH DOANH
BỘ PHẬN VĂN PHÒNG
Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy quản lý tại Ernst & Young Việt Nam
Ban Giám đốc
Ban giám đốc bao gồm Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc Các thànhviên của ban giám đốc đều là các chủ phần hùn Ernst & Young Việt Nam là công tydịch vụ chuyên nghiệp quốc tế đầu tiên có lãnh đạo là người Việt Nam; là công ty đầutiên, duy nhất trong số 4 tập đoàn dịch vụ chuyên nghiệp hàng đầu thế giới mà ngườiViệt Nam tham gia sở hữu, quản lý và giữ vị trí lãnh đạo cao nhất Tổng giám đốc hiệnnay của Ernst & Young Việt Nam là ông Trần Đình Cường
Trang 10Tổng Giám đốc (Country managing partner) là người quản lý toàn diện mọi hoạt
động của Công ty tại Việt Nam, là người quyết định các chiến lược kinh doanh, cácloại hình dịch vụ mà Công ty sẽ cung cấp Tổng giám đốc sẽ là người chịu trách nhiệmtrước Bộ tài chính và pháp luật về mọi hoạt động của Công ty
Phó Tổng Giám đốc (Partners) cũng là người tham gia vào hoạt động quản lý các
hoạt động của Công ty, thực hiện hỗ trợ cho Tổng giám đốc khi cần thiết Phó tổnggiám đốc chịu trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch chiến lược chung của Công ty, báocáo tình hình hoạt động và tiềm năng lên Tổng giám đốc
Các thành viên ban giám đốc là những người trực tiếp đánh giá rủi ro kiểm toán,quyết định ký hợp đồng kiểm toán, thực hiện việc rà soát cuối cùng đối với các hồ sơkiểm toán, là người đại diện của Công ty ký và ban hành Báo cáo kiểm toán và Thưquản lý đối với khách hàng
Bộ phận Hành chính
Bộ phận hành chính tuy không phải bộ phận góp phần tạo nên doanh thu trực tiếptrong công ty nhưng sự hoạt động của bộ phận này là nền tảng hỗ trợ giúp bộ phậnnghiệp vụ phát triển Bộ phận này bao gồm: bộ phận kế toán, bộ phận tin học, bộ phậnvăn phòng
Bộ phận Kế toán chịu trách nhiệm ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phátsinh hàng ngày một cách kịp thời chính xác, tạo điều kiện hỗ trợ nâng cao hiệu quảquản lý tài chính ở Công ty Bộ phận này còn có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thu –chi, phối hợp với các bộ phận khác để thực hiện và hoàn thiện quy chế tài chính, đềxuất các biện pháp cho lãnh đạo phục vụ công tác quản trị tài chính
Trang 11Bộ phận Tin học chịu trách nhiệm cung cấp các thiết bị phần cứng, phần mềmquản lý, đảm bảo hoạt động mạng nội bộ, trợ giúp việc sử dụng cũng như sửa chữamáy tính khi cần thiết.
Bộ phận Văn phòng có chức năng quản lý công văn, các văn bản hành chính,quyết định quản lý, phối hợp với bên kế toán về vấn đề nhân sự, chuẩn bị và cung cấpcho nhân viên Công ty các văn phòng phẩm cần thiết
Bộ phận nghiệp vụ
Bộ phận nghiệp vụ là bộ phận trực tiếp đem lại doanh thu cho Công ty Bộ phậnnày được chia thành 3 bộ phận tương ứng với các loại dịch vụ mà Công ty cung cấp: bộphận kiểm toán, bộ phận thuế, bộ phận tư vấn kinh doanh
Bộ phận Kiểm toán thực hiện cung cấp dịch vụ cho một khối lượng lớn kháchhàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: ngân hàng, sản xuất, khách sạn,bất động sản…Đây là bộ phận hiện có số lượng nhân viên lớn nhất
Bộ phận Tư vấn thuế: bộ phận này thực hiện tư vấn về thuế, giúp khách hàngnâng cao trình độ quản lý thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng,thuế thu nhập cá nhân… theo quy định hiện hành
Bộ phận Tư vấn kinh doanh: bộ phận này thừ hiện tư vấn về kế toán và tư vấn tàichính doanh nghiệp, thực hiện cơ cấu vốn doanh nghiệp, định giá doanh nghiệp…
1.3.3.2 Bộ máy kiểm toán
Đối với bất kỳ công ty kiểm toán nào, bộ máy kiểm toán đóng vai trò quan trọngkhông chỉ đối với hoạt động kiểm soát của công ty mà còn đóng vai trò quan trọngtrong việc giữ uy tín của công ty đối với khách hàng Tổ chức bộ máy của công tyErnst & Young được tổ chức như sơ đồ dưới đây:
Trang 12GIÁM ĐỐC KIỂM TOÁN
Sơ đồ 1.2: Tổ chức bộ máy kiểm toán tại Ernst & Young Việt Nam
Bộ máy tổ chức kiểm toán của Công ty Ernst & Young được chia thành nhiều cấp phùhợp với trình độ khác nhau của nhân viên
Trợ lý kiểm toán: Trợ lý kiểm toán tuy được chia làm 2 cấp tùy thuộc vào trình
độ song các trợ lý kiểm toán đều là những người kinh nghiệm chưa nhiều Họ sẽ
là người trực tiếp tham gia vào các phần hành kiểm toán trong giai đoạn thựchiện kiểm toán
Trưởng nhóm kiểm toán: là người có nhiều kinh nghiệm hơn, trưởng nhóm
kiểm toán cùng các trợ lý kiểm toán sẽ là những người trực tiếp thực hiện giaiđoạn Thực hiện kiểm toán tại khách hàng Trưởng nhóm kiểm toán sẽ trực tiếpphân công nhiệm vụ cho các trợ lý kiểm tóan, theo dõi tình hình công việc và
Trang 13báo cáo cho chủ nhiệm kiểm toán Trưởng nhóm kiểm toán cũng sẽ là người ràsoát lại công việc của các trợ lý kiểm toán.
Chủ nhiệm kiểm toán: Trong quá trình và sau quá trình nhóm kiểm toán làm
việc tại khách hàng, chủ nhiệm kiểm toán là ngừơi thường xuyên theo dõi tiến
độ công việc, rà soát các công việc mà nhóm kiểm toán thực hiện, sau đóchuyển cho chủ nhiệm kiểm toán cao cấp
Chủ nhiệm kiểm toán cao cấp: Trong một số hợp đồng phức tạp thì trước khi
các công việc kiểm toán được chuyển tới giám đốc kiểm toán soát xét lần cuốithì chủ nhiệm kiểm toán cao cấp sẽ là người rà soát các công việc và đưa ra kếtluận kiểm toán sơ bộ Chủ nhiệm kiểm toán cao cấp cũng là người có nhiều kinhnghiệm, trình độ chuyên môn cao
Giám đốc kiểm toán: là người trực tiếp tham gia đánh giá rủi ro kiểm toán, ký
hợp đồng kiểm toán và các báo cáo kiểm toán Giám đốc kiểm toán là ngườicuối cùng soát xét lại công tác kiểm toán, đưa ra kết luận kiểm toán cuối cùng.Giám đốc kiểm toán là những người có nhiều năm kinh nghiệm, có được chứngchỉ kiểm toán viên hành nghề và là thành viên của ban giám đốc
Ngoài ra, trong một số hợp đồng kiểm toán phức tạp và nhạy cảm, trước khi phát hànhbáo cáo kiểm toán, các công việc sau khi được giám đốc kiểm toán rà soát sẽ có mộtgiám sát viên độc lập rà soát lại công việc nhằm đảm bảo hiệu quả công việc
1.3.4 Tình hình hoạt động kinh doanh
Trải qua chặng đường hơn 18 năm phát triển, Ernst & Young Việt Nam đã trởthành một trong những công ty tư vấn kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam Trong nhiềunăm liên tục, Công ty luôn duy trì là một trong những công ty kiểm toán và tư vấn códoanh thu hàng đầu tại Việt Nam, liên tục mở rộng thị phần, thị trường, nâng caodoanh thu, tăng cường nguồn nhân lực và đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nước.Tốc độ tăng doanh thu trung bình qua các năm của Công ty khoảng 10% và thường
Trang 14đứng thứ 2 ở Việt Nam sau PWC Năm 2008 doanh thu của Ernst & Young toàn cầu là24,523 tỉ USD.
Ta có bảng tổng kết kết quả hoạt động kinh doanh của Ernst & Young Việt Nam sosánh với các Big 4 khác từ năm 2004 trở lại đây như sau:
Biểu đồ so sánh doanh thu giữa các công ty thuộc Big 4
Nhìn vào bảng trên ta thấy được tình hình hoạt động của Ernst & Young trong nhữngnăm vừa qua Ernst & Young luôn tự hào là 1 trong những công ty có doanh thu đứngđầu về thị trường tư vấn và kiểm toán trên thế giới nói riêng và Việt Nam nói chung.Qua đó khẳng định được vị trí của Công ty trên thị trường kiểm toán Việt Nam cũngnhư quốc tế
1.3.5 Phương hướng phát triển
Phương châm làm việc của Ernst & Young Việt Nam là “cam kết cung cấp nhữngdịch vụ chuyên nghiệp có chất lượng cao nhất nhằm hỗ trợ khách hàng đạt được mục
Trang 15tiêu của mình, đồng thời thực hiện thành công kế hoạch phát triển của công ty và đónggóp tích cực cho cộng đồng” Ông Trần Đình Cường, Tổng Giám đốc Ernst & YoungViệt Nam (EYVN), Phó Chủ tịch Hiệp Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam(VACPA) đã nhấn mạnh Với phương châm đó mục tiêu chính của công ty là giữ vững
vị thế trên thị trường kiểm toán, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ cungcấp hơn nữa dưới sự trợ giúp của Ernst & Young toàn cầu để đáp ứng nhu cầu trongnền kinh tế hội nhập quốc tế đang phát triển ở Việt Nam, đóng góp rất tích cực vàoviệc xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch ở Việt Nam, tạo nền tảng cho
sự phát triển của một thị trường chứng khoán và một nền kinh tế khỏe mạnh, là ngườibạn đồng hành, là đối tác của doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng chiếnlược, tổ chức hoạt động và quản trị công ty hiệu quả trên cơ sở những thông lệ quốc tếtốt nhất, đồng thời duy trì mối quan hệ tốt đẹp và vị thế trên thị trường với các Công tykiểm toán khác
Công ty cũng tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cung cấp, đồngthời định hướng phát triển tăng số lượng khách hàng là doanh nghiệp Nhà nước, doanhnghiệp cổ phần, phù hợp với chiến lược tài chính, phát triển xã hội ở Việt Nam
Chương 2 Quy trình kiểm toán tại công ty Ernst and Young
Là thành viên của Ernst & Young toàn cầu, Công ty Ernst & Young áp dụngphương pháp kiểm toán của Ernst & Young toàn cầu – GamX Điểm nổi bật củaphương pháp kiểm toán này là đánh giá rủi ro kết hợp và từ đó xác định bản chất, phạm
vi và thời gian cho công việc kiểm toán, trong từng bước công việc có những chỉ dẫn
cụ thể, rõ ràng giúp cho các kiểm toán viên có thể bám sát được cuộc kiểm toán Côngtác kiểm toán tại Công ty Ernst & Young Việt Nam được tổ chức theo quy trình gồm 4giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch và xác định rủi ro (Planning and Risk Identification)
Trang 16 Giai đoạn 2: Lập kế hoạch chiến lược và đánh giá rủi ro (Strategy and Risk
Assessment)
Giai đoạn 3: Thực hiện kiểm toán (Execution)
Giai đoạn 4: Kết thúc kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán (Conclution and
Reporting)
Quy trình kiểm toán áp dụng tại Ernst & Young toàn cầu cũng như Ernst & YoungViệt Nam qua từng bước cụ thể được mô tả thông qua sơ đồ sau:
Trang 182.1 Giai đoạn lập kế hoạch và xác định rủi ro Ở giai đoạn này, Công ty tìm hiểu
mong muốn của khách hàng và yêu cầu công việc, xác định phạm vi kiểm toán banđầu, thiết lập nhóm kiểm toán Cụ thể giai đoạn này gồm các bước công việc:
P01 Tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, phạm vi kiểm toán và thiết lập nhóm
kiểm toán
Đại diện Công ty gặp và thỏa thuận với những người có thẩm quyền của kháchhàng để tìm hiểu mong muốn, yêu cầu về dịch vụ nhằm xác định phạm vi dịch vụ.Thêm vào đó, các cuộc họp với các lãnh đạo quản lý cao cấp cũng được tổ chức
để xác định những mối băn khoăn của ban quản lý và các vấn đề họ đang gặpphải Kế tiếp, Công ty xác định quy mô ban đầu của cuộc kiểm toán, cân nhắc yêucầu về dịch vụ của khách hàng, yêu cầu về pháp lý… Khi đã hiểu được nhu cầucủa khách hàng, một nhóm kiểm toán sẽ được thiết lập để thực hiện dịch vụ
P02 Đánh giá việc chấp nhận kiểm toán
Công ty thực hiện một số thủ tục để đánh giá việc chấp nhận một khách hàng mớihoặc tiếp tục hợp tác với khách hàng cũ Những hiểu biết về khách hàng cũng nhưlĩnh vực mà khách hàng hoạt động là cơ sở để Công ty chấp nhận hợp tác với mộtkhách hàng mới cũng như tiếp tục hợp tác với khách hàng cũ
Công ty cũng cân nhắc các vấn đề được ghi lại trong quá trình thực hiện đánh giákhách hàng bởi chúng có thể giúp xác định rủi ro kinh doanh, để từ đó Công tycân nhắc nguồn lực cần thiết cho cuộc kiểm toán Một số vấn đề cần cân nhắc:
o Tính chính trực : Tính chính trực của chủ sở hữu cũng như của ban lãnh đạocủa khách hàng có ảnh hưởng đáng kể tới kết quả kiểm toán cuối cùng cũngnhư có thể ảnh hưởng đến uy tín của Công ty sau này
o Rủi ro : rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến danh tiếng của Công ty ở khu vựccũng như trên toàn cầu, những rủi ro về mặt tài chính từ việc hợp tác vớikhách hàng
Trang 19o Khả năng thực hiện công việc : Công ty cần cân nhắc nguồn lực cần thiết đểthực hiện và giám sát công việc Công ty cũng cần cân nhắc sự sẵn có về độingũ nhân viên có những hiểu biết chuyên biệt về lĩnh vực mà khách hàng hoạtđộng.
P03 Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng
Những hiểu biết về hoạt động kinh doanh cũng như môi trường kinh doanh màkhách hàng tham gia sẽ giúp Công ty xác định được những rủi ro kinh doanh ảnhhưởng đến khách hàng cũng như khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu đối với báocáo tài chính Để thực hiện bước này, Công ty tiến hành phân tích các thông tin tàichính và phi tài chính bằng cách phỏng vấn khách hàng cũng như thông qua cácnguồn thông tin đáng tin cậy từ bên thứ ba độc lập
P04 Tìm hiểu tình hình sử dụng công nghệ thông tin của khách hàng và khả
năng cần có sự trợ giúp của chuyên gia công nghệ thông tin
Công ty tìm hiểu mức độ sử dụng công nghệ thông tin của khách hàng và mức độphức tạp của công nghệ thông tin mà khách hàng đang sử dụng Những hiểu biếtnày sẽ hỗ trợ Công ty trong việc quyết định việc sử dụng chuyên gia về công nghệthông tin trong nhóm kiểm toán
P05 Đánh giá kiểm soát nội bộ
Công ty tiến hành thực hiện các thủ tục để tìm hiểu kiểm soát nội bộ của kháchhàng Những hiểu biết về kiểm soát nội bộ của khách hàng sẽ làm cơ sở để thựchiện các thủ tục nhằm thỏa mãn một số mục tiêu Điều này sẽ giúp có được nhữnghiểu biết chi tiết hơn về kiểm soát nội bộ của khách hàng và từ đó hỗ trợ việc thiết
kế các thủ tục kiểm toán
Tìm hiểu kiểm soát nội bộ
Trang 20Tìm hiểu kiểm soát nội bộ bao gồm đánh giá những kiểm soát nội bộ trong doanhnghiệp có ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán, đánh giá xem những kiểm soát đó cóđược thực hiện hay không Những kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp có ảnhhưởng quan trọng tới cuộc kiểm toán bao gồm những kiểm soát có hiệu quả trongviệc ngăn chặn và phát hiện những sai phạm trọng yếu.
P06 Thảo luận nhóm kiểm toán
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, các thành viên của nhóm kiểm toán sẽthảo luận khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu do gian lận và các sai sót
P07 Xác định rủi ro xảy ra gian lận và biện pháp xử lý
Nhiệm vụ của kiểm toán viên chỉ là tiến hành kiểm toán để có được sự đảm bảohợp lý rằng báo cáo tài chính không chứa những sai phạm trọng yếu Do đó, kiểmtoán viên tiến hành xác định rủi ro xảy ra gian lận từ những hiểu biết về kháchhàng, về môi trường kinh doanh, và từ việc thảo luận nhóm
P08 Xác định mức trọng yếu, sai sót có thể bỏ qua
Kiểm toán viên tiến hành xác định mức trọng yếu ở 2 cấp độ:
o Mức độ tổng quát cho toàn bộ báo cáo tài chính: mức trọng yếu kế hoạch( PM)
o Mức độ cụ thể cho từng tài khoản: sai sót có thể bỏ qua (TE)
Xác định PM và TE đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược kiểm toán bởi vì:
Nó giúp xác định tài khoản trọng yếu
Nó giúp xác định quy mô của các thủ tục kiểm toán
Nó giúp đưa ra kết luận về tổng hợp các chênh lệch kiểm toán(SAD) để
từ đó kết luận xem báo cáo tài chính có được trình bày trung thực hợp lýhay không
Trang 21Ghi chú: PM (Planning Materiality) = 5% của lợi nhuận trước thuế
TE (Tolerable Error) = 50% cho đến 70% của PM (tùy thuộc vào quá
nó có thể gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối với những tài khoản khác Cáckhoản mục trọng yếu thường là những khoản mục có số dư lớn hơn TE hoặcnhững khoản mục nhạy cảm
2.2 Giai đoạn lập chiến lược kiểm toán và đánh giá rủi ro Giai đoạn này gồm các
Trang 22 S03 Tìm hiểu quá trình luân chuyển chứng từ, những sai phạm có thể xảy ra
trong quá trình luân chuyển và sự kiểm soát
Trong doanh nghiệp, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường được chia thành: cácnghiệp vụ thường xuyên, nghiệp vụ bất thường và các nghiệp vụ ước tính kế toán.Kiểm toán viên tìm hiểu quy trình xử lý bao gồm cả việc kiểm soát các nghiệp vụ
kể từ khi bắt đầu cho tới khi các nghiệp vụ được phản ánh trên sổ sách kế toán vàcuối cùng là lên báo cáo tài chính
S04 Walkthrough - Thực hiện kiểm toán nghiệp vụ từ khi bắt đầu đến khi được
phản ánh trên sổ sách kế toán
Kiểm toán tiến hành kiểm toán một số nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi chúngđược phản ánh trên sổ sách kế toán Để thực hiện, kiểm toán viên tiến hành phỏngvấn, quan sát, kiểm tra tài liệu để đảm bảo rằng những hiểu biết về quy trình xử lýnghiệp vụ có được được áp dụng hiệu quả trong thực tế, những kiểm soát đối vớinhững nghiệp vụ đó hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thờicác sai phạm trọng yếu
S05 Tìm hiểu và đánh giá quá trình lập báo cáo tài chính
Quá trình lập báo cáo là việc chuyển những nghiệp vụ kinh tế đã được phản ánhtrong sổ sách kế toán lên các báo cáo tài chính Quá trình này hoàn toàn độc lậpvới các thủ tục kế toán khác Do vậy, kiểm toán viên tìm hiểu và đánh giá nhữngthủ tục và các hoạt động kiểm soát khi lập báo cáo tài chính Từ đó kiểm tra bảngcân đối thử và báo cáo tài chính
S06 Chọn các quy trình kiểm soát (các kiểm soát nội bộ của khách hàng) để
tìm hiểu, kiểm tra
Khi chọn phương pháp kiểm toán dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ thì kiểm toánviên tìm hiểu, kiểm tra những quy trình kiểm soát đó Kiểm toán viên có thể lựachọn các quy trình kiểm soát theo phương pháp chọn mẫu hoặc toàn bộ tùy thuộc
Trang 23vào hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Thông thường các quy trình kiểmsoát được chọn mẫu và là những kiểm soát quan trọng tức là nếu thiếu nhữngkiểm soát này thì sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối với hoạt động của kháchhàng.
S07 Tìm hiểu và đánh giá hoạt động kiểm soát của hệ thống công nghệ thông
tin (ITGCs)
Hệ thống công nghệ thông tin có thể trở thành công cụ kiểm soát hiệu quả Dovậy đối với những khách hàng có sự dụng hệ thống công nghệ thông tin, kiểmtoán viên tiến hành đánh giá hiệu quả của hệ thống này
S08 Xác định rủi ro kết hợp kiểm toán
Với những hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng và hệ thống kiểmsoát nội bộ, kiểm toán viên đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Từ đókiểm toán viên xác định rủi ro kiểm toán kết hợp
S09 Thiết kế thử nghiệm trên kiểm soát của khách hàng
Kiểm toán viên thiết kế các thử nghiệm xem các kiểm soát nội bộ của khách hàng
có hoạt động chính xác hay không cho tất cả các công đoạn thực hiện( hay còn gọi
là cơ sở dẫn liệu –assertion) Kiểm toán viên sẽ dựa vào các hướng dẫn chungcũng như khả năng phán xét nghề nghiệp để quyết định bản chất, quy mô và thờigian của các thử nghiệm kiểm soát
S10 Thiết kế các thử nghiệm đối với các bút toán và các thủ tục bắt buộc khác
Kiểm toán viên đặc biệt quan tâm đến các nghiệp vụ kinh tế và các bút toán điềuchỉnh bất thường bởi rất có thể nhà quản lý hay nhân viên có thể lợi dụng chức vụ
và quyền hạn để làm sai lệch báo cáo tài chính thông qua các nghiệp vụ và các búttoán điều chỉnh đó
Trang 24 S11 Thiết kế các thủ tục kiểm toán cơ bản
Thử nghiệm cơ bản được thiết kế để thu thập các bằng chứng liên quan đến sự tồntại, tính trọn vẹn, tính chính xác và tính có thật của số liệu, sự hợp lý của các ướctính kế toán cũng như các thông tin khác trên báo cáo tài chính
S12 Thiết kế các thủ tục kiểm toán toàn diện
Các thủ tục kiểm toán này tập trung chủ yếu vào việc xem xét các hợp đồng, cácbên hữu quan, các vụ kiện tụng trách chấp, các sự kiện phát sinh sau ngày lập báocáo tài chính, các thủ tục theo chuẩn mực
S13 Lập báo cáo về các chiến lược kiểm toán
Báo cáo này bao gồm kết quả các kế hoạch thủ tục và chiến lược kiểm toán
2.3 Giai đoạn thực hiện kiểm toán Giai đoạn này bao gồm các bước sau:
E01 Họp nhóm sau kiểm toán giữa kỳ
Đối với những khách hàng mà kiểm toán viên có thực hiện kiểm toán giừa kỳ thìthường có một buổi họp nhóm sau đó Trong buổi họp này, các thành viên nhómkiểm toán sẽ rà soát lại kết quả của các thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơbản đã thực hiện Từ đó sẽ đánh giá xem kế hoạch kiểm toán ban đầu có còn phùhợp hay không, cân nhắc xem kết quả của các thử nghiệm có ảnh hưởng đếnnhững đánh giá về rủi ro trước đó không
E02 Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để kết luận xem hệthống kiểm soát nội bộ có thật sự hoạt động hiệu quả hay không Sau khi thựchiện xong các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên đánh giá lại về hệ thống kiểmsoát nội bộ
Trang 25 E03 Thực hiện các thử nghiệm đối với các bút toán và các thủ tục kiểm toán
bắt buộc khác
Kiểm toán viên thực hiện các thử nghiệm để xác định rủi ro nhà quản lý vượt quácác kiểm soát hay không, các thử nghiệm bao gồm:
o Kiểm tra các bút toán và các bút toán điều chỉnh khác
o Rà soát lại các ước tính kế toán
o Đánh giá sự hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế bất thường
Nếu kết quả của các thử nghiệm chỉ ra rằng có sai phạm trọng yếu thì kiểm toánviên sẽ thảo luận với nhà quản lý có trách nhiệm và mở rộng các thủ tục kiểmtoán
E04 Cập nhật các thử nghiệm kiểm soát
Đối với những kiểm soát đã được đánh giá là hiệu quả khi thực hiện kiểm toángiữa kỳ, kiểm toán viên cập nhật đánh giá đối với những kiểm soát đấy sau khithực hiện kiểm toán cuối kỳ
E05 Thực hiện thử nghiệm cơ bản
Khi thực hiện các thử nghiệm này, kiểm toán viên sử dụng các phương pháp như:phỏng vấn, quan sát, kiểm tra tài liệu, tính toán lại…
E06 Thực hiện thử nghiệm toàn diện
Kiểm toán viên sẽ tiến hành thực hiện các thử nghiệm này nếu các chuẩn mựcnghề nghiệp hoặc do Công ty yêu cầu
2.4 Giai đoạn kết thúc kiểm toán Giai đoạn này được thực hiện bởi các chủ nhiệm
kiểm toán và cấp cao hơn bởi giai đoạn này cần những người có kinh nghiệm lâu năm
và trình độ chuyên môn cao Giai đoạn này gồm các bước công việc sau:
Trang 26 C01 Tổng hợp công việc
Kiểm toán viên tiến hành thực hiện các việc sau:
o Yêu cầu thực hiện các công việc còn lại theo kế hoạch
o Xem lại giấy tờ làm việc
o Lọai bỏ giấy tờ làm việc không hỗ trợ cho việc ra kết luận kiểm toán
o Đánh giá lại rủi ro kiểm toán
o Xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập báo cáo tài chính
o Thiết kế các công việc cho lần kiểm toán sau
o Đánh giá chất lượng công việc do nhóm kiểm toán thực hiện
o Lập bảng tổng hợp các sai lệch
Kiểm toán viên lập bảng tổng hợp các sai lệch không được điều chỉnh để đánh giáảnh hưởng đến việc trình bày trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính
C02 Thực hiện rà soát lần cuối báo cáo tài chính
Kiểm toán viên tiến hành rà soát lần cuối báo cáo tài chính trước khi đưa ra kếtluận kiểm toán Kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục phân tích đối với nhữngkhoản mục quan trọng
C03 Lập bảng tổng hợp các soát xét
C04 Hoàn thiện các rà soát và phê duyệt bảng tổng hợp
C05 Lập và gửi khách hàng báo cáo kiểm toán
C06 Hoàn tất hồ sơ kiểm toán và kết thúc hợp đồng kiểm toán
Chương 3 Quy trình kiểm toán hệ thống thông tin
Quy trình kiểm toán hệ thống thông tin cũng tương tự như quy trình kiểm toán trongbáo cáo tài chính vừa được trình bày trong phần 3 của báo cáo (quy trình kiểm toánchung) Tuy nhiên vì đặc thù của công việc kiểm toán hệ thống, do vậy ứng với mỗigiai đoạn cũng sẽ có những bước tiến hành kiểm toán riêng biệt