Danh sách một số loài Tuế được bảo tồn trong các khu rừng đặc dụng của Việt Nam .... Chỉ số quan trọng IV của các loài tầng cây gỗ nơi Tuế balansa phân bố tại khu vực nghiên cứu .... T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN ANH VŨ
NGHIÊN CỨU BẢO TỒN LOÀI TUẾ BALANSA
(Cycas balansae Warb.) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
ĐỒNG SƠN - KỲ THƯỢNG, TỈNH QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ NGÀNH: 8620211
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VƯƠNG DUY HƯNG
Hà Nội, 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu cá nhân Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Quảng Ninh, ngàythángnăm 2021
Người cam đoan
Trần Anh Vũ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành từ sự nỗ lực học tập, nghiên cứu của bản thân, sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy giáo hướng dẫn, của các cán bộ Phòng Sau đại học và Khoa QLTNR&MT,Trường Đại học Lâm nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Vương Duy Hưng – Trường Đại học Lâm nghiệp, là người thầy đã dành nhiều thời gian và công sức giúp
đỡ hướng dẫn khoa học cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh, Hạt Kiểm lâm Thành phố Hạ Long, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể học tập và nghiên cứu Cảm
ơn sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện của các Trạm Kiểm lâm địa bàn thành phố Hạ Long, đặc biệt là Trạm Kiểm lâm Đồng Quặng đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất để tôi tiến hành các thí nghiệm
Xin chân thành cảm ơn UBND xã Đồng Lâm, UBND xã Kỳ Thượng, tổ bảo vệ rừng, đồng chí trưởng thôn và người dân hai xã Kỳ Thượng và Đồng Lâm đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra ngoại nghiệp
Cảm ơn sự quan tâm chia sẻ, động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè cả
về mặt tinh thần và vật chất để tôi có thể hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Quảng Ninh, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Trần Anh Vũ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Bảo tồn ĐDSH trên thế giới 3
1.2 Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam và Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 4
1.2.1 Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam 4
1.2.2 Bảo tồn ĐDSH tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 7
1.3 Tổng quan về Tuế - Cycads 8
1.3.1 Thông tin về Tuế - Cycads trên thế giới 8
1.3.2 Các thông tin về Tuế ở Việt Nam 9
1.3.3 Một số thông tin về loài Tuế balansa 15
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu của đề tài 19
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 19
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 19
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học của Tuế balansa 20
Trang 52.4.2 Phương pháp nghiên cứu các tác động đến loài Tuế balansa 25
2.4.3 Phương pháp thử nghiệm nhân giống vô tính bằng hom gốc và chồi thân 26 2.4.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Tuế balansa 31
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 33
3.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi ranh giới 33
3.1.2 Địa hình địa thế 36
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 36
3.1.4 Khí hậu 37
3.1.5 Thuỷ văn 39
3.1.6 Hiện trạng rừng, thực vật và trữ lượng rừng 39
3.1.7 Hệ động vật, thực vật và phân bố của các loài quý hiếm 43
3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 45
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động 45
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 47
3.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng 48
3.2.4 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực 50
3.3 Nhận xét chung 50
3.3.1 Thuận lợi 50
3.3.2 Khó khăn 51
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
4.1 Đặc điểm sinh học và sinh thái học của Tuế balansa 52
4.1.1 Hiện trạng phân bố loài Tuế balansa tại Khu BTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng 52
4.1.2 Đặc tính sinh học của loài Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 57
4.1.3 Đặc điểm sinh thái học của Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 60
4.2 Các mối đe dọa đến Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 66
4.2.1 Đe dọa từ tự nhiên 66
4.2.2 Các mối đe dọa từ con người 67
Trang 64.3 Thử nghiệm nhân giống Tuế balansa 68
4.3.1 Thử nghiệm nhân giống Tuế balansa bằng hom gốc 68
4.3.2 Nhân giống Tuế balansa bằng chồi thân 69
4.3.3 Thử nghiệm loại đất thích hợp cho nhân giống Tuế balansa 70
4.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Tuế balansa tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 74
4.4.1 Giải pháp kỹ thuật 74
4.4.2 Giải pháp về chính sách quản lý 76
KẾT LUẬN – TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên
và Tài nguyên Thiên nhiên (International Union for Conservation
of Nature and Natural Resources)
QLTNR&MT Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các mốc chính thực hiện PTBV và bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam 5
Bảng 1.2 Danh sách các loài Tuế của Việt Nam bị đe dọa trong Danh lục đỏ của IUCN (cập nhật ngày 07.08.2020) 12
Bảng 1.3 Danh sách các loài Tuế trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007 13
Bảng 1.4 Danh sách một số loài Tuế được bảo tồn trong các khu rừng đặc dụng của Việt Nam 14
Bảng 3.1 Hiện trạng tài nguyên, tình hình sử dụng đất tại KBTTN ĐSKT 40
Bảng 3.2 Phân bố diện tích thảm thực vật rừng KBT ĐSKT 41
Bảng 3.3 Thống kê diện tích các loại đất đai và trữ lượng thực vật rừng 42
Bảng 3.4 Thành phần thực vật KBTTN ĐSKT 43
Bảng 3.5 Thành phần thực vật thân thảo KBTTN ĐSKT 44
Bảng 3.6 Thống kê các lớp động vật KBTTN ĐSKT (nguồn KBTTN ĐSKT) 44
Bảng 3.7 Dân số, dân tộc vùng lõi và vùng đệm KBTTN ĐSKT 46
Bảng 4.1 Phân bố Tuế balansa trên tuyến điều tra tại KBTTN ĐSKT 52
Bảng 4.2 Vị trí bắt gặp Tuế balansa trong KBT 53
Bảng 4.3 Chỉ số quan trọng (IV) của các loài tầng cây gỗ nơi Tuế balansa phân bố tại khu vực nghiên cứu 62
Bảng 4.4 Kết quả nhân giống Tuế balansa bằng hom gốc 68
Bảng 4.5 Kết quả nhân giống Tuế balansa bằng hom chồi thân 69
Bảng 4.6 Thử nghiệm loại đất thích hợp cho nhân giống Tuế balansa 70
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mẫu chuẩn tại P (nguồn P); Hình 1.2 Mẫu chuẩn tại K (nguồn K)16
Hình 3.1 Vị Trí KBTTN ĐS - KT trong tỉnh Quảng Ninh 33
Hình 3.2 Ranh giới KBTTN ĐSKT 35
Hình 3.3 Vị Trí KBTTN ĐS-KT so với các KBT lân cận 35
Hình 4.1 Sơ đồ bố trí các tuyến điều tra 52
Hình 4.2 Sơ đồ phân bố Tuế balansa trong KBTTN ĐSKT 56
Hình 4.3 Quần thể Tuế balansa tại 1 điểm nghiên cứu 57
Hình 4.4, 4.5 Thân và tán Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 58
Hình 4.6, 4.7 Cuống và lá Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 58
Hình 4.8, 4.9 Sinh cảnh phân bố Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 65
Hình 4.10, 4.11 Sinh cảnh phân bố Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu 66
Hình 4.12 Tuế balansa trồng tại khu dân cư gần khu vực nghiên cứu 67
Hình 4.13 Tuế balansa trồng tại khu dân cư gần khu vực nghiên cứu 68
Hình 4.14 Chuẩn bị khu vực nhân giống Tuế balansa 71
Hình 4.15 Chuẩn bị vật liệu và hóa chất nhân giống Tuế balansa 72
Hình 4.16 Tách gốc tạo hom để nhân giống Tuế balansa 72
Hình 4.17 Ngâm hom Tuế balansa vào dung dịch IBA 73
Hình 4.18, 4.19 Hom gốc và hom chồi thân Tuế balansa ra rễ, lá sau 8 tuần 73 Hình 4.20, 4.21 Cây hom Tuế balansa tại khu vực thí nghiệm nền đất 74
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có một hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, bao gồm 12.000
- 15.000 loài thực vật Trong đó các loài đặc hữu chiếm tỷ lệ rất cao, một số loài thậm chí còn chưa được định danh Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm diện tích, chất lượng và hệ sinh thái rừng của nước ta bị suy thoái nghiêm trọng Nhiều loài thực vật rừng quý hiếm đang bị khai thác, chặt hạ trái phép nên đang đứng trước nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng
Nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng được thành lập theo Quyết định số: 1672/QĐ-UB ngày 22/5/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích tự nhiên hiện nay là 15.593,81 ha Khu bảo tồn nằm trong địa phận 5 xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai và Hoà Bình Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng là nơi có giá trị ĐDSH cao nhất trên địa bàn tỉnh hiện nay Khu bảo tồn đã và đang mang lại lợi ích không chỉ cho cộng đồng dân cư trong khu vực, mà còn có giá trị to lớn trong bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, cung cấp lâm sản, nguồn dược liệu quý Khu bảo tồn cũng là nơi lưu giữ, bảo tồn các nguồn gen quý, mẫu chuẩn hệ sinh thái có giá trị trong nước cũng như trên thế giới
Tuế balansa là một trong những loài Tuế quý, hiếm của Việt Nam Cây
đã được ghi nhận trong Danh lục đỏ của IUCN, Nghị định 06/2019 của Chính phủ Việt Nam, Sách Đỏ Việt Nam 2007 Cây có phân bố tự nhiên tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng và một số khu vực khác ở phía Bắc của Việt Nam Cây đang có xu hướng bị suy giảm diện tích quần thể và số lượng cá thể
do khai thác trái phép và sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp Tại Việt Nam cũng như Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng hầu như chưa có nghiên cứu nào nhằm điều tra đánh giá hiện trạng quần thể cũng đề xuất giải pháp bảo tồn loài Tuế balansa Việc nghiên cứu bảo tồn Tuế balansa là cần thiết hiện nay
Trang 11Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài
Tuế balansa (Cycas balansae Warb.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng
Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh"
Trang 12là nhiều HST đa dạng, bao gồm cả trên cạn và dưới nước, đã bị suy thoái trầm trọng hoặc bị hủy diệt, nhiều loài động thực vật đã bị tuyệt chủng Hậu quả của suy thoái tài nguyên thiên nhiên và thất thoát ĐDSH này là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới tiến trình PTBV trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDSH trong phát triển trên thế giới, các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức bảo tồn và phát triển khác đã có những cam kết trong công tác bảo tồn ĐDSH, đồng thời thúc đẩy tiến trình PTBV trong mối quan hệ hài hòa Nhiều nỗ lực
đã được thực hiện, như xây dựng nền tảng lý thuyết, đến các hoạt động thực tiễn, có quy mô rộng khắp thế giới đã được triển khai, nhằm đảm bảo vai trò quan trọng của ĐDSH trong sự nghiệp PTBV của con người
Trên thế giới, trong mấy chục năm vừa qua, đặc biệt từ khi Công ước ĐDSH được ký kết, công tác bảo tồn ĐDSH dần dần dịch chuyển từ việc bảo tồn các HST và các loài sang sử dụng tài nguyên ĐDSH theo hướng bền vững, nhằm phục vụ lợi ích của con người
Song song với tiến trình đó, từ năm 1992, khi Chương trình Nghị sự 21 được các nước cam kết thực hiện, sự nghiệp PTBV đã đi vào thực chất, với việc thúc đẩy ba trụ cột là kinh tế - xã hội - môi trường, gắn với bảo tồn
Trang 13ĐDSH như là nền tảng cho sự thịnh vượng của con người Tăng trưởng xanh
là con đường PTBV trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi sự phát triển phải gắn chặt với sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên ĐDSH và giảm phát thải khí nhà kính để ứng phó với biến đổi khí hậu Một hệ thống thể chế chính sách toàn cầu đã được thiết lập, với việc áp dụng các nguyên lý PTBV và cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, làm nền tảng để đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển Hệ thống các KBT trên thế giới ngày càng được phát triển và hoàn thiện để bảo tồn các giá trị ĐDSH cho
sự PTBV cho tương lai Hệ thống các khu dự trữ sinh quyển cũng đang được hình thành và ngày càng phát triển là hình mẫu và là phòng thí nghiệm sống để thực hành PTBV
1.2 Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam và Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng
1.2.1 Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam
Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn ĐDSH và PTBV Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường
và phát triển năm 1992 và sau đó đã ký Công ước ĐDSH Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn ĐDSH và PTBV đã được xây dựng khá đầy đủ ở Việt Nam (Bảng 1.1)
Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV từ năm 2005, là đại diện của các Bộ, ngành địa phương, do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch Văn phòng PTBV, trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm cơ quan thư ký cho Hội đồng Ngoài ra, một số bộ như Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Bộ Công Thương cũng thành lập ban chỉ đạo PTBV ngành và văn phòng PTBV của bộ mình, nhằm thúc đẩy tiến trình PTBV
Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng thành lập Văn phòng Doanh nghiệp vì sự PTBV, nhằm thúc đẩy sự PTBV cho các doanh nghiệp
Trang 14Bảng 1.1 Các mốc chính thực hiện PTBV và bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam
Thời
gian Sự kiện chính
1993 -
nghiệp hóa, hiện đại hóa
(Bộ Công Thương) được thành lập
mại và Công nghiệp Việt Nam) được thành lập
Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững giai đoạn
2013-2015 Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030
2014
Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2020; Quy hoạch tổng thể Bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược Quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt
2014-Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016 - 2030
Trang 15Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế - xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng, bao gồm Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 (năm 2003); Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn
2006-2020 (năm 2007); Chiến lược Quản lý hệ thống KBT thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010 (năm 2003); Kế hoạch hành động ĐDSH (năm 1995)
Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất
là Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993, sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (ban hành năm 1999), Luật ĐDSH (ban hành năm 2009), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (ban hành năm 1991, sửa đổi năm 2005); Luật Lâm nghiệp (năm 2017); Luật Biển (ban hành năm 2015) Đặc biệt là, Luật ĐDSH về bảo tồn và PTBV ĐDSH đã nhấn mạnh sử dụng bền vững HST tự nhiên, các loài sinh vật và tài nguyên di truyền, phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội Chiến lược quốc gia về ĐDSH lại làm rõ hơn về sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ HST và ĐDSH phục vụ cho PTBV
Bảo tồn ĐDSH thường được gắn với quá trình nhận thức về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Công tác bảo tồn ĐDSH và
sự nghiệp PTBV được thúc đẩy khi hệ thống thể chế và các chính sách, luật pháp về bảo tồn và PTBV ngày càng được hoàn thiện Luật ĐDSH được ban hành đã thúc đẩy quá trình sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH phục vụ cho
sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt là hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái cũng bước đầu được áp dụng để làm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, đảm bảo thực hiện đồng thời mục tiêu bảo tồn ĐDSH và PTBV, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện
Trang 16nay ở nước ta Hệ thống các KBT ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và
hệ thống các khu dự trữ sinh quyển đang được xây dựng là những địa chỉ thực hành cho công tác bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển sinh kế địa phương và xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững
1.2.2 Bảo tồn ĐDSH tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng có địa bàn trải rộng trên phạm vi 5
xã Đồng Lâm, Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hòa Bình của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Với diện tích quy hoạch vùng thực hiện Dự án là 16.878,7 ha, trong đó diện tích quy hoạch rừng đặc dụng là 15.637,7 ha và diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 15.593,81ha
Đây là khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng kín lá rộng thường xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam Gồm các kiểu thảm thực vật điển hình sau: Thảm thực vật thường xanh mưa ẩm Á nhiệt đới núi thấp; thảm thực vật thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Kể từ khi thành lập đến nay, Khu bảo tồn đã bố trí 4 trạm Kiểm lâm đóng tại các cửa rừng trên phạm vi quản lý 5 xã, trực tiếp làm công tác tuần tra, bảo vệ rừng Đồng thời, tổ chức cho người dân trực tiếp tham gia vào các hoạt động bảo tồn; như: Tuần tra bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn các hoạt động xâm hại đến các loài động thực vật và các tác động tiêu cực đến HST rừng và môi trường Do vậy, đến thời điểm hiện tại nguồn tài nguyên ĐDSH của KBT được quản lý, bảo vệ tốt; ngăn chặn kịp thời các hành vi chặt phá rừng; ý thức, trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên của cộng đồng được nâng cao
Để nâng cao nhận thức và cải thiện đời sống của cộng đồng dân cư trong vùng đệm, BQL KBT đã chủ động thực hiện tốt các chương trình, dự án đầu tư phát triển rừng, như: Dự ántrồng 5 triệu ha rừng, dự án bảo vệ phát triển rừng, dự án nghiên cứu xây dựng phòng trưng bày bộ 63 loài thực vật nguy cấp quý hiếm, chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trang 17Tuy điều kiện kinh phí cấp cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế, nhưng KBT đã tích cực xây dựng các chương trình nghiên cứu, chủ động xây dựng dự án để thu hút đầu tư nghiên cứu, phát triển rừng đặc dụng; thực hiện
kế hoạch, chương trình nghiên cứu, sưu tập các loài động thực vật có trong KBT đã được triển khai ngay từ khi mới thành lập
1.3 Tổng quan về Tuế - Cycads
1.3.1 Thông tin vềTuế - Cycads trên thế giới
Cycads – Tuế, là nhóm thực vật thuộc bộ Cycadales, đã được ghi nhận tồn tại cách đây 280 triệu năm, giữ một mắt xích quan trọng trong tiến hóa của thực vật Bộ Cycadales tương đối nhỏ, chỉ có khoảng 300 loài phân bố trong 11 chi, 3 hoặc 4 họ: Cycadaceae, Stangeriaceae/Boweniaceae và Zamiaceae Do có cấu tạo noãn trần (trái ngược với khoảng 300 000 loài thực vật có hoa), nên được sắp xếp cùng nhóm với các loài Thực vật hạt trần, nhưng chúng rất ít liên quan về họ hàng với các nhóm cây như Lá kim, Bạch quả, Welwitschia và một số nhóm đã tuyệt chủng Bởi vì có nguồn gốc cổ xưa, nên Tuế thường được xem là 'hóa thạch sống', thậm chí còn được ghi nhận dưới nhãn là 'thức ăn cho khủng long' Điều này là không chính xác khi chỉ dựa vào nguồn gốc xuất hiện của Tuế trong lịch sử sinh giới Trên thực tế, các chi Tuế đã tồn tại qua hàng triệu năm nhờ khả năng thích nghi với các điều kiện thay đổi và khả năng tìm kiếm môi trường thuận lợi để chúng có thể cạnh tranh thành công với các loài thực vật khác Nhiều loài Tuế còn tồn tại
có thể có nguồn gốc khá gần đây
Với khoảng 100 loài, chiCycas L., đại diện duy nhất thuộc họ
Cycadaceae là nhóm lâu đời nhất, lớn nhất, phổ biến nhất và do đó là chi
Cycas giữ vai trò rất quan trọng về mặt thực vật học Chủ yếu là nhóm thực
vật có tán hình cầu, lá đơn xẻ thùy sâu và thân cây hình trụ được bao phủ bởi
một lớp lá hình vảy Các loài Cycas bề ngoài giống cọ nhưng chúng khác rất
nhiều cấu trúc thân, lá và các quá trình sinh sản Tên chi đã được đặt ra năm
Trang 181753 bởi Linnaeus từ tiếng Hy Lạp χμχας (kukas hoặc koikas) Tên này được
sử dụng bởi nhà triết học Hy Lạp Theophrastus người Ai Cập đặt cho loài Cọ
Hyphaene thebaica (L.) Martius; dần dần tên này đã bị thay đổi theo thời gian
đầu tiên là kykas và sau đó là cycas Loài chuẩn của chi hiện nay là Cycas
circinalis L tại Ấn Độ
Sự phân bố ngày nay của Cycas mở rộng từ miền nam Nhật Bản, nam
Trung Quốc, Đài Loan, các nước lục địa Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan); phía tây qua Myanmar, miền nam Ấn Độ, Sri Lanka, một số quần đảo Ấn Độ Dương, Madagascar và bờ biển phía đông châu Phi; Vùng phía nam qua Quần đảo Mã Lai, Philippines, Indonesia, New Guinea, nhiều đảo ở phía tây Thái Bình Dương, và xa hơn về phía nam đến các phần phía bắc của Châu Úc Sự phân bố rộng ở khu vực Châu Đại Dương này chỉ
rằng nhiều loài Cycas mới hơn đã phát tán và chịu tác động của các dòng hải
lưu Tổng thể này phạm vi rất lớn, kéo dài gần 13.000 km từ đông sang tây và hơn 6000 km từ bắc xuống nam
1.3.2 Các thông tin về Tuế ở Việt Nam
Các nghiên cứu về phân loại Tuế ở Việt Nam
Mặc dù người dân Việt Nam đã biết, khai thác và sử dụng Tuế từ lâu đời, tuy nhiên nó chỉ được ghi nhận trên thế giới từ thế kỷ 18 trở đi khi các hiểu biết về Tuế này vươn ra thế giới Hai loài Tuế đầu tiên đến được mô tả là
Cycas circinalis L từ Ấn Độ vào năm 1753 và C revoluta Thunb từ Nhật
Bản vào năm 1782 Năm 1793, linh mục Jesuit và nhà tự nhiên học Joao de
Loureiro xuất bản mô tả về một loài Tuế thứ ba Cycas inermis, dựa trên các
vật liệu ông đã thu thập được ở miền nam Việt Nam (Nam Kỳ) Hai loài khác,
C tonkinensis và C bellefonti đã được sưu tập ở miền Bắc Việt Nam (Bắc
Kỳ) và sau đó được trồng trong các vườn Châu Âu, được Linden và Rodigas
mô tả vào năm 1885 và 1886 nhưng không có mẫu tiêu bản nào được lưu
trữvậy nên tên gọi không còn hợp lệ Năm 1900, Otto Warburg mô tả C
Trang 19balansae từ gần Hà Nội; 5 năm sau, William Thiselton-Dyer công bố loài C micholitzii từ miền Trung Việt Lào (An Nam) Năm 1931, Jacques Leandri
mô tả C chevalieri từ miền Bắc Việt Nam và C pectinata var elongata (nay
là C elongata) từ miền nam Việt Nam Loài C pectinata Buch.-Ham phổ biến ở Đông Nam Á và C siamensis Miq được dựa trên tài liệu từ Ấn Độ và
Thái Lan, mặc dù cả hai loài này đều được biết đến từ Việt Nam Trong một
số thời gian các tên khoa học Cycas circinalis L., C rumphii Miq., C
undulata Desf ex Gaudich., C miquelii Warb và C immersa Craib đã được
sử dụng chưa đúng tại Việt Nam Theo đề xuất của de Laubenfels và Adema
vào năm 1998, tách một số loài Cycas thành một chi mới Epicycas, đã không
được sự chấp thuận của các nhà phân loại Tuế (Chen và cộng sự 2004) và không được hỗ trợ bởi các kết quả nghiên cứu về phân tử (Kokubugata & Forster 2006)
Trong giai đoạn các năm 1900, tổng số loài Tuế ghi nhận được của Việt Nam là dưới 10 loài; năm 1996 trong tài liệu Flora du Cambodge du Laos et
du Vietnam, chỉ liệt kê 8 loài (Hiep & Vidal, 1996) Tuy nhiên, trong giai đoạn năm 1994-2004, bằng những nỗ lực của nhà thực vật học Việt Nam như Nguyễn Tiến Hiệp và Phan Kế Lộc, các nhà khoa học Trung Quốc: Si Lin Yang, Ding Yue Wang, Fan Nan Wei và Chia Jul Chen, nhà thực vật học người Thái Lan: Anders Lindström và đặc biệt là nhà phân loại học người Úc, Ken D Hill, đã công bố một số liệu đáng kinh ngạc là đã phát hiện thêm cho Việt Nam có 22 loài Tuế, nâng tổng số loài Tuế hiện có ở Việt Nam là 27 loài (Hiep & Loc 1997, 1999; Hill et al 2004) Các nghiên cứu, thống kê của Phan
Kế Lộc và cộng sự cho thấy rằng trên 39 tỉnh, thành của Việt Nam có các quần thể phân bố tự nhiên của một hoặc nhiều loài Tuế bản địa
Tuế trong thực vật học dân tộc
Người Việt Nam coi Tuế là thực vật thuộc nhóm cây cảnh, cây trang
trí Các thông tin từ mẫu vật của Cycas revoluta Thunb đã chỉ ra rằng cây đã
Trang 20được sử dụng nhiều trong các đền, chùa, các khu vườn công cộng và tư nhân, trồng trong đất hoặc trong chậu cảnh Quan điểm trước đây đã cho rằng Tuế
là những thực vật có nguồn gốc ở Trung Quốc và gần như tất cả các cây đều
là cây cái (Hiệp & Lộc 1999) Kể từ những năm 1980, một xu hướng mới đã xuất hiện, Tuế được sử dụng ngày càng nhiều trong chùa, nơi công cộng, vườn và trong nhà riêng, với đặc điểm thân và tán lá đặc trưng (Hiệp & Lộc 1999) Điều này đã dẫn đến nhu cầu khai thác sử dụng lớn từ các loài Tuế trong tự nhiên, đã dẫn đến áp lực suy giảm hoặc đe dọa đến quần thểTuế của Việt Nam
Tên tiếng Việt của chi Cycas là là Tuế (nghĩa là năm tuổi); loài C
revoluta được gọi là Vạn Tuế (nghĩa là một vạn năm tuổi) Các loài Tuế bản
địa thường được gọi là Thiên Tuế (một nghìn năm tuổi) Tên Việt Nam của các loài Tuế thường gắn với đặc điểm hình thái đặc trưng hoặc địa danh phân
bố của loài Ví dụ: C pachypoda - Thiên Tuế chân voi (phần gốc phình to
giống chân voi),
C tropophylla - Thiên Tuế Hạ Long (loài phân bố chủ yếu tại khu vực
Hạ Long), Trong quá khứ, người dân Việt Nam đã sử dụng Tuế làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh và có thể được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo Nhưng chi tiết về cách sử dụng này ở Việt Nam ít được phổ biến rộng rãi và không được ghi chép trong tài liệu
Bảo tồn Tuế tại Việt Nam
Sự phổ biến ngày càng tăng của Tuế cho mục đích sử dụng trong nước
và xuất khẩu (chủ yếu từ miền Bắc Việt Nam sang Trung Quốc) đã dẫn đến nhiều quần thểTuế bị khai thác bởi các hoạt động thương mại Điều này, cùng với áp lực mất môi trường sống, đã góp phần làm giảm kích thước của nhiều quần thểTuế Sự suy giảm số lượng các loài thụ phấn và phân tán hạt giống, giảm số lượng cây trồng và thu thập bất hợp pháp các mẫu vật trưởng thành,
là những vấn đề cần được các cơ quan bảo tồn giải quyết
Trang 21IUCN đã xếp 25 loài Tuế bản địa của Việt Nam vào Danh sách bị đe dọa (bảng 1.2)
Bảng 1.2 Danh sách các loài Tuế của Việt Nam bị đe dọa trong Danh lục
đỏ của IUCN (cập nhật ngày 07.08.2020)
Trang 22Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, đã xếp tất cả các loài Tuế phân bố tự nhiên của Việt Nam vào nhóm IIA: nhóm các loài thực vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
Trong Sách đỏ Việt Nam, 2007 có 11 loài Tuế, nhóm Nguy cấp (EN)
có 1 loài, nhóm Sẽ nguy cấp (VU) có 9 loài, nhóm Ít nguy cấp (LR) có 1 loài Danh sách các loài được thống kê trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Danh sách các loài Tuế trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007
Việt Nam
Mức độ nguy cấp
VU A1a,c,d, B1 + 2b,e
D Hill & N T Hiep
Thiên Tuế
(Nguồn: Sách Đỏ Việt Nam, 2007)
Hiện nay một số loài Tuế được bảo tồn khá tốt tại các khu bảo tồn trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam Danh sách các loài Tuế đại diện được bảo tồn trong các khu rừng đặc dụng của Việt Nam được tổng hợp trong bảng 1.4
Trang 23Bảng 1.4 Danh sách một số loài Tuế được bảo tồn trong các khu rừng đặc dụng của Việt Nam
(Nguồn: Cycads of Vietnam, 2007)
Cây Tuế đã được sử dụng ở Việt Nam trong nhiều năm và được bán phổ biến trong các nhà vườn Tuy nhiên, hiện nay xuất hiện nhu cầu ngày càng tăng đối với các loài Tuế bản bản địa; chúng đang được sử dụng làm cây chủ thể vườn cây hoặc cây bonsai đặc trưng trong các chậu cảnh Nhiều loài
Trang 24Tuế bản địa thường bị khai thác từ hoang dã và được mua, bán mà chưa được cấp phép Việc mua bán bất hợp pháp diễn càng nhiều thì nguy cơ cạn kiệt hoặc tuyệt chủng của quần thểTuế tự nhiên cũng cao theo Do nhu cầu sử dụng, các nhà vườn có thể nhân giống và gây trồng Tuế, từ nguồn hạt giống
đã được cấp phép, hoặc tuân thủ các quy định của pháp luật
Tuế là loài cây rất dễ nhân giống và gây trồng Nhu cầu của nhóm thực vật này cũng giống như hầu hết các cây cảnh trong vườn hoặc các trong chậu cảnh, cần: ánh sáng tốt, đất tốt và thoát nước, tưới nước khi cần thiết và bón phân khi bắt đầu mùa sinh trưởng Tuế thường được nhân giống từ hạt giống, mặc dù chúng khá chậm trong thời gian đầu các giai đoạn sinh trưởng Các chồi gốc cũng có thể được sử dụng để nhân giống nếu chúng được tách cẩn thận khỏi cây mẹ và thực hiện các bước để ngăn ngừa thối rữa Các loài côn trùng và bệnh hại nói chung không phải là một vấn đề nghiêm trọng Trong các quần thể hoang dã, có sự cân bằng giữa loài côn trùng này và những kẻ săn mồi tự nhiên của nó Tuy nhiên, côn trùng có thể gây hại nghiêm trọng cho Tuế trồng trong các vườn ươm, vườn sưu tập , nơi những kẻ săn mồi tự nhiên của các loài côn trùng này không còn nữa
1.3.3 Một số thông tin về loài Tuế balansa
Tên khoa học: Cycas balansaeWarb
Cycas balansae đã được trích dẫn hoặc giám định dưới tên khác như: Cycas palmatifida H T Chang, Y Y Huang & Y C.Zhong (1998), C shiwandashanica H T Chang & Y C Zhong(1995), C siamensis Miq
(Chenget al 1975), C siamensis subsp balansae (Warb.) Schuster (1932) và
Epicycas tonkinensis (Linden& Rodigas) de Laub
Cycas balansae được đặt theo tên của nhà tự nhiên học người Pháp
Benedict Balansa (1825-1892), người đã đi nghiên cứu, khám phá rộng rãi ở Châu Á và là người đã phát hiện và thu mẫu loài này ở miền Bắc Việt Nam
Vào tháng 3 năm 1899, Benedict Balansa đã thu thập các bộ phận của một cây Tuế mà ông ấy tìm thấy trong một khu vườn chùa ở một làng gần Hà
Trang 25Nội Chính từ các mẫu vật này này, Otto Warburg đã công bố bản mô tả loài
ngắn gọn của loài Cycas balansae vào năm 1900 Một mẫu vật gửi ở Berlin
(B), có lẽ được tác giả lựa chọn làm mẫu chuẩn (Holo type), những đã bị mất trong Thế chiến II; do đó một mẫu vật (B Balansa 4084), tại Bảo tàng National d'Histoire Naturelle ở Paris (P), được chỉ định isotype (hình 1.1) Các mẫu Isotype khác còn được lưu tại Conservatoire et Jardin Botaniquesde
la Ville Geneva, Thụy Sĩ (G), Bộ sưu tập thực vật Candolle(G-DC) và tại
Royal Botanic Gardens, Kew, Anh (K) (hình 1.2) C balansae là loài thứ hai
trong các loài Tuế của Việt Nam công bố trong các tài liệu khoa học đúng luật
danh pháp quốc tế (C inermis là loài đầu tiên)
Hình1.1 Mẫu chuẩn tại P (nguồn P); Hình 1.2.Mẫu chuẩn tại K (nguồn K)
Thông tin về loài Tuế balansa trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007:
Đặc điểm nhận dạng: Thân hóa gỗ, chủ yếu mọc ngầm dưới đất, phần
trên mặt đất khoảng 0,5m, đường kính 10-20cm, không phân cành, vỏ gồ gề, màu xám đen, mang nhiều vòng lá ở đỉnh thân, mỗi vòng có 4-9 lá Lá vẩy (cataphylls) dài 6-7cm, xốp mềm, có lông rải rác
Trang 26Lá màu xanh thẫm dài 120-240cm với từ90-160 lá chét giả (pinnae), trong đó có 1 đôi ở tận cùng trục lá (rachis), cuống lá dài 40-160cm, có lông mang 25-43 đôi gai nhọn ở từ 90-100% chiều dài cuống Các lá chét giả ở phần giữa trục thường dài 22-30cm, rộng 1-1,5cm, chiều dài phần đính vào trục lá 1,1-2,1cm với góc 75-85˚, mép lá trơn và uốn cong xuống bên dưới hoặc lượn sóng, gốc men theo trục 5-8mm, nhọn đầu Nón đực hình suốt chỉ hẹp thuôn về 2 đầu, màu vàng, dài 25-60cm, đường kính 5-10cm Vảy nhị xốp mềm, không dày ở lưng, dày 1,6-3cm, rộng 1,1-1,4cm, phần hữu thụ (mang túi phấn) ở dưới dài 1,4-2,8cm, phần bất thụ (không mang túi phấn) ở trên dài 2-4mm Vẩy noãn dài 8-12cm, có lông màu nâu, mang 2-4 noãn, nhẵn; phiến vẩy dài 4-6cm, rộng 3-5,5cm, mép xẻ sâu thành 14-24 thùy nhọn bên, xốp mềm, dài 25-27mm, rộng 2-3mm, thùy nhọn đỉnh giống như các thùy nhọn bên Hạt hình trứng, dài 25-27cm, rộng 20mm; vỏ hạt vàng khi chín, không có xơ
Sinh học và sinh thái: Nón xuất hiện tháng 3-5, hạt chín khoảng tháng
10-12 Tái sinh từ hạt và nảy chồi bình thường Cây trung sinh và ưa bóng, trên đất có tầng dày dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa, ở đất thấp cây lá rộng, nhưng có thể chịu hạn và lửa rừng, nơi có nhiều ánh sáng, đất bị thoái hóa và nghèo chất dinh dưỡng trong rừng hay trảng cây bụi rậm thường xanh thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, đất sét nặng thoát nước, sản phẩm phong hóa của đá phiến sét, từ ven suối lên sườn đồi núi, ở độ cao khoảng 300m
Phân bố: Trong nước: Lạng Sơn (Bắc Sơn), Tuyên Quang (Sơn
Dương), Thái Nguyên (Đại Từ), Quảng Ninh (Đông Triều, Hoành Bồ: Tân Dân, Đình Lập, Cẩm Phả, Tiên Yên, Móng Cái), Bắc Giang, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hòa Bình (Chi Nê), Nghệ An (Nghĩa Đàn, Diễn Châu), Hà Tĩnh (Hương Sơn), Quảng Trị (Đa Krông) Thế giới: Nam Trung Quốc (Vân Nam
và Quảng Tây), Bắc Thái Lan, Lào
Trang 27Giá trị: Cây có dáng đẹp, trồng làm cảnh, thân có thể dùng làm thuốc Tình trạng: loài có khu phân bố khá rộng, chủ yếu ở phía bắc cánh
cung Đông Triều, từ Quảng Ninh, Bắc Giang đến Lạng Sơn Trồng rải rác làm cảnh trong vườn ở nhiều gần nơi có cây mọc hoang dại, nhất là dọc đường từ Chí Linh, Đông Triều qua thành phố Hạ Long đến Tiên Yên, Đình Lập, Móng Cái Có nguy cơ bị tuyệt chủng nếu môi trường sống bị xâm hại và việc buôn bán trái phép phát triển
Phân hạng: VU A1a,c
Biện pháp đề xuất bảo vệ: loài đã được đưa vào danh mục thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của nghị định
06/2019/NĐ-CP của thủ tướng chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Nên thành lập các KBTTN về loài và bảo tồn ngoại vi (Ex-situ) bằng việc trồng trong các vùng có điều kiện sinh thái thích hợp
Tuế balansa là loài thường gặp ở một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam và một phần phía nam Trung Quốc Cây chưa có nguy cơ tuyệt chủng ngay lập tức, nhưng đang có xu hướng bị suy giảm diện tích quần thể và số lượng cá thể do khai thác trái phép và sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp Tổng kích thước quần thể được ước tính là hơn 10 000 cá thể, trải rộng trên diện tích khoảng 400 km2, và IUCN Red hiện tại chỉ định trạng thái danh sách là NT (gần bị đe dọa)
Tại Việt Nam nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng hầu như chưa
có nghiên cứu nào nhằm điều tra đánh giá hiện trạng quần thể cũng đề xuất giải pháp bảo tồn loài Tuế balansa Việc nghiên cứu bảo tồn Tuế balansa là cần thiết hiện nay
Trang 28Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài
Thử nghiệm nhân giống vô tính loài bằng hom gốc và chồi thân
Đề xuất được các giải pháp bảo tồn loài Tuế balansa cho KBT
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Tuế balansa (Cycas balansae Warb.) phân bố tự nhiên tại Khu
BTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên các tuyến điều tra và các ô
tiêu chuẩn tại Khu BTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng,tỉnh Quảng Ninh
Thời gian: Từ tháng 02/2020 đến tháng 11/2020
Nội dung: Đề tài nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và thử nghiệm nhân giống loài Tuế balansa bằng hom chồi thân và hom gốc
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài Tuế balansa
Điều tra các tác động đến loài Tuế balansa tại khu vực nghiên cứu Thử nghiệm nhân giống loài Tuế balansa bằng hom gốc và chồi thân
Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Tuế balansa
Trang 292.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học của Tuế balansa
Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn
- Kế thừa các nguồn tài liệu, Các công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo của KBTTN ĐSKT; Sách, tạp chí, các bản báo cáo khoa học có liên quan đến các loài cây Tuế balansa được coi là nguồn thông tin quan trọng, định hướng cho các hoạt động nghiên cứu
- Phỏng vấn cán bộ KBTTN ĐSKT và người dân địa phương 5 xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hòa Bình về các vị trí từng ghi nhận sự xuất hiện của loài, các thông tin về đặc tính sinh học, sinh thái học của Tuế balansa
Phương pháp điều tra thực địa
a Chuẩn bị
- Máy định vị GPS, bản đồ;
- Máy ảnh, bút, bảng biểu điều tra ghi chép;
- Liên hệ người dẫn đường và hỗ trợ điều tra ngoại nghiệp
b Phương pháp điều tra trên tuyến
- Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra phải đại diện, đi qua hầu hết các dạng sinh cảnh chính và địa hình trên toàn bộ diện tích nghiên cứu, theo đai cao và theo sinh cảnh Có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó cắt ngang các vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu
- Số lượng tuyến điều tra là 5 tuyến chính trên địa bàn 5 xã: Đồng Sơn,
Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hòa Bình, mỗi xã 1 tuyến
- Sử dụng bản đồ KBT kết hợp với máy GPS điều tra theo từng tuyến nhằm xác định vị trí phân bố của loài để xây dựng lên bản đồ khu vực phân
bố của Tuế balansa
Kết quả điều tra phân bố loài Tuế balansa trên tuyến được ghi chép theo mẫu biểu 01
Trang 30Mẫu biểu01: Biểu điều tra tuyến Tuế balansa
Số hiệu tuyến: Chiều dài tuyến: Địa điểm: Tọa độ điểm đầu: Tọa độ điểm cuối: Ngày điều tra: Người điều tra:
STT Tọa độ Hvn
(m)
Doo (cm)
Phẩm chất
Cấp tuổi
Vật hậu
Ghi chú
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra đặc điểm hình thái loài Tuế balansa
Tọa độ ghi nhận
Mô tả đặc điểm hình thái và
vật hậu
Đặc điểm khu vực phân bố của loài
Nón
c Phương pháp điều tra trong ô tiêu chuẩn
Để nghiên cứu về đặc tính sinh học của loài, tôi tiến hành lập các ô tiêu chuẩn đại diện tại khu vực có Tuế balansa phân bố Số ô tiêu chuẩn đại diện
đã lập là7 ô, diện tích ô là 1000m² Trong ô tiêu chuẩn điều tra đặc điểm tầng cây cao, cây bụi thảm tươi, cây tái sinh và đặc điểm thổ nhưỡng mà loài Tuế balansa phân bố
Trang 31Điều tra tầng cây cao nơi loài Tuế balansa phân bố
Tiến hành xác định các loài cây tham gia vào tầng tán chính của rừng
nơi có loài Tuế balansa phân bố
Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của các cây trong ô tiêu chuẩn: đường kính 1.3m (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc), đường kính tán (Dt) của tất cả các cây có D1.3 từ 6 cm trở lên theo các phương pháp điều tra rừng hiện hành Đường kính 1.3 m được đo bằng thước vanh, chiều cao được đo bằng máy đo cao
Cùng với việc đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng, tiến hành đánh giá chất lượng cây trong ô bằng cách mục trắc để xác định cây tốt, cây trung bình, cây xấu
- Cây tốt (A) là những cây thân thẳng, tròn đẹp, tán đều, không cong queo sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển tốt
- Cây xấu (C) là những cây thấp, tán lệch, cong queo, cụt ngọn, và sâu bệnh, u bướu, sinh trưởng và phát triển kém
- Cây trung bình (B) là những cây có hình thái trung gian giữa cây tốt
và cây xấu
Các nội dung điều tra tầng cây cao được ghi chép theo mẫu biểu 03
Mẫu biểu 03: Biểu điều tra tầng cây cao
ÔTC: Diện tích OTC:
Độ cao: Địa điểm:
Độ dốc: Hướng dốc:
Vị trí: Tọa độ: Kiểu rừng: Trạng thái rừng:
Độ che phủ: Độ tàn che:
TT Tên cây D1.3
(cm)
Dt (m)
Hvn (m)
Hdc (m)
Phẩm chất
Ghi chú
1
2
Trang 32Điều tra cây tái sinh
Trong OTC bố trí 5 ODB, 4 ô ở bốn góc một ô ở giữa Diện tích mỗi ô
25 m2 (5x5m) Trong mỗi ô dạng bản điều tra tên cây, phẩm chất tái sinh, số cây triển vọng, nguồn gốc Kết quả điều tra được ghi theo mẫu biểu 04
Mẫu biểu 04: Biểu điều tra cây tái sinh
Ô tiêu chuẩn số:
TT
Điều tra cây bụi thảm tươi:
Trong 5 ô dạng bản, tiến hành điều tra cây bụi thảm tươi và kết quả
được ghi theo mẫu biểu 05
Mẫu biểu 05: Biểu điều tra tầng cây bụi, thảm tươi
Trang 33Xác định nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình các tháng, tổng tích nhiệt hoạt động năm, lượng mưa bình quân năm, độ ẩm không khí bình quân tại các điểm nghiên cứu, dựa trên các số liệu tham khảo của tổ Khoa
học, kỹ thuật – KBTTN ĐSKT
Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Mapinfor và nền bản đồ số của KBTTN ĐSKT để xây dựng các bản đồ phân bố của cây Tuế balansa và bản đồ các tuyến điều tra, vị trí các OTC trên tuyến điều tra
Dùng phần mềm MapSoure để chuyển dữ liệu từ máy GPS sang Mapinfo
Từ kết quả ghi nhận tọa độ của Tuế balansa, sử dụng phần mềm Mapinfor thể hiện vị trí phân bố của Tuế balansa tại KBTTN ĐSKT
Dựa vào kết quả điều tra ngoài thực địa tiến hành tổng hợp đặc tính sinh học của loài (vật hậu: mùa ra nón, thời điểm nón chín, ra lá non, nảy chồi, rụng lá, tình hình tái sinh…)
Từ các mẫu biểu điều tra tổng hợp đặc điểm sinh thái học của loài như: đặc điểm rừng, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu…nơi Tuế balansa phân bố
Chỉ số quan trọng của loài cây trong tầng cây gỗ (IV) được tính bằng công thức:
IVi = (Ni% + Gi% + Pi%)/3
Trong đó:
IVi là chỉ số quan trọng của loài i trong các ô tiêu chuẩn điều tra;
Ni% là tỷ lệ % số cá thể của loài i trên tổng số cá thể trong các ô tiêu chuẩn điều tra;
Gi% là tỷ lệ % tiết diện ngang của loài i trên tổng tiết diện ngang của các ô tiêu chuẩn điều tra;
Pi% là tỷ lệ % tần số xuất hiện của loài i trong các ô tiêu chuẩn
Trang 342.4.2 Phương pháp nghiên cứu các tác động đến loài Tuế balansa
Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn
Kế thừa các số liệu đã nghiên cứu, thống kê tình hình sinh trưởng, phát triển, biến động số lượng cá thể loài trước đây so với hiện nay
Phỏng vấn cán bộ, người dân địa phương tại KBTTN ĐSKT về các tác động làm tăng hoặc giảm số lượng Tuế balansa
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Trên các tuyến điều tra tiến hành thu thập các thông tin tác động đến loài Tuế balansa theo mẫu biểu 06
Mẫu biểu 06: Điều tra tác động đến loài Tuế balansa
Tuyến điều tra số: Địa điểm:
động
Tọa độ
Mức độ tác động
Thời gian tác động
Đối tượng tác động
Ghi chú
Hướng dẫn người dân dần thay đổi thói quen sử dụng rừng từ kiểu tàn phá sang hướng sử dụng bền vững hơn
Trang 35Tác động do tự nhiên
Các tác động từ tự nhiên làm cho quần thể loài bị suy giảm như cháy rừng, sạt lở, giông bão, mưa đá, sấm sét,…
2.4.3 Phương pháp thử nghiệm nhân giống vô tính bằng hom gốc và chồi thân
Cơ sở khoa học của thí nghiệm:
Phương pháp nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một đoạn thân, một đoạn cành, đoạn rễ hoặc chồi thân để tạo ra cây mới gọi là cây hom Giâm hom là phương pháp nhân giống vô tính giữ nguyên được tính trạng của cây mẹ (do có kiểu gen hoàn toàn giống cây mẹ ban đầu), kỹ thuật tương đối đơn giản, có hệ số nhân giống tương đối lớn nhưng lại tốn ít chi phí hơn nên
đã và đang được sử dụng khá rộng rãi trong nhân giống cây rừng, cây ăn quả, cây cảnh…
Tuỳ thuộc vào loại hom được sử dụng mà các bộ phận còn thiếu đó có
sự khác nhau nhưng nhìn chung các bộ phận còn thiếu là rễ cây (phần dưới mặt đất) và các bộ phận trên mặt đất như thân, cành, lá… Khả năng ra rễ của hom có ý nghĩa quyết định đến sự thành công trong giâm hom Song khả năng
ra rễ lại tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố nội sinh và ngoại sinh: các đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận lấy hom giống, tuổi cây mẹ, vị trí lấy hom, chất điều hoà sinh trưởng, điều kiện giâm hom, giá thể… Bởi vậy, trong giâm hom khi đã xác định loài cần giâm hom, bộ phận cần lấy hom thì việc chú ý đến các điều kiện giá thể, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ và chất điều hòa sinh trưởng phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho hom ra rễ là vô cùng cần thiết
Trang 36Loài Tuế balansa có phần thân hóa gỗ hình cột, đường kính khoảng 20cm, có một phần mọc ngầm dưới mặt đất và một phần nhô lên trên mặt đất Cây trưởng thành thường mọc nhiều chồi thân xung quanh phần thân sát phía trên mặt đất hoặc ở cây già có vết thương Trong tự nhiên, tái sinh chồi là một trong hai phương thức tái sinh của loài Tuế balansa Do thời điểm nghiên cứu không thu được hạt giống, nên chúng tôi đã lựa chọn phương pháp nhân giống bằng hom Phương pháp lựa chọn hom, xử lý hom và bố trí thí nghiệm chúng
tôi tham khảo tài liệu của Nguyễn Minh Trí, 2009 cho loài Vạn Tuế (Cycas
revoluta) Loại hom sử dụng trong nghiên cứu là hom gốc và hom chồi thân
Chất kích thích sinh trưởng sử dụng trong nghiên cứu là IBA với 3 nồng độ khác nhau là: 0,05%, 0,1% và 0,15% Nghiên cứu nhân giống chia làm 3 thí nghiệm là: Nhân giống bằng hom gốc; Nhân giống bằng hom chồi thân và Đánh giá sinh trưởng của 2 loại hom trên các nền đất khác nhau
a Nhân giống bằng hom gốc
Cơ sở vật chất phục vụ thí nghiệm
- Giá thể: Đất thịt hơi chua, trên có rắc một lớp cát dày 20cm Giữ đất cát ở độ ẩm tương đối 60%, nhiệt độ trên 15˚C
- Vật liệu: Các miếng hom gốc được bổ ra từ thân cây trưởng thành có sức sống tốt không sâu bệnh
- Dự kiến số lượng thân hom: Bố trí mỗi công thức thí nghiệm khoảng
30 hom
- Chất điều hòa sinh trưởng: IBA
Tiêu chuẩn gốc hom
- Gốc hom được lấy từ thân cây mẹ sinh trưởng tốt, không sâu bệnh Khi cây trưởng thành cưagốc cây thành các đoạn dài 15-20cm, tùy theo cây to nhỏ mà bổ ra thành 4,6 hay 8 miếng, sau đó cạo hết phần tủy để tránh chuột, sâu, kiến ăn hại
- Hom gốc sau khi được bổ ra tiến hành dùng benlat 0,1% khử trùng,
hong khô, phần củ dùng thuốc kích thích IBA ngâm trong 2 giờ
Trang 37Quy trình thí nghiệm
Tiến hành bố trí 04 công thức với chất điều hòa sinh trưởng ở các nồng
độ khác nhau và công thức đối chứng Việc bố trí thí nghiệm như sau:
Công thức 1 (CT1 – Đối chứng): Không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Công thức 2 (CT2): Hom giâm được xử lý bằng dung dịch IBA, nồng
Mẫu biểu 07: Ảnh hưởng của IBA đến kết quả thí nghiệm
Thời gian theo dõi:
Công thức
thí nghiệm
Số hom thí nghiệm
Số hom ra rễ Số rễ
/hom
Chiều dài rễ/hom
Các số liệu được thu thập, đo đếm được xử lý theo phương pháp thống
kê toán học và bằng phần mềm Excel cài trên máy tính
Tính các đặc trưng mẫu tỷ lệ (X%): Hom sống, hom chết, hom ra rễ theo công thức:
𝑇ỷ 𝑙ệ (𝑋%) = 𝑆ố hom(𝑠ố𝑛𝑔, 𝑐ℎế𝑡, 𝑟𝑎 𝑐ℎồ𝑖)
Tổng số hom 𝑡ℎí 𝑛𝑔ℎ𝑖ệ𝑚 × 100%
Trang 38Tính giá trị trung bình và các đặc trưng mẫu cho các chỉ tiêu: Số rễ trung bình/hom, chiều dài rễ Sử dụng chương trình Excel để tính toán
b Nhân giống bằng hom chồi thân
Cơ sở vật chất tiến hành thí nghiệm
- Giá thể: Đất thịt hơi chua, trên có rắc một lớp cát dày 20cm Giữ đất cát ở độ ẩm tương đối 60%, nhiệt độ trên 15˚C
- Vật liệu: hom chồi được tách từchồi trên thân những cây đã trưởng thành
- Dự kiến số lượng hom chồi: bố trí mỗi công thức thí nghiệm khoảng
30 hom chồi
- Chất điều hòa sinh trưởng: IBA
Tiêu chuẩn hom
Chồi được lấy từ chồi trên thân cây mẹ sinh trưởng tốt, không sâu bệnh Vào ngày nắng tìm những cây trưởng thành đường kính đạt trên 5cm có chồi
đã thành thục (trên 2 cm) thì tiến hành tách chồi cẩn thận bằng dao sạch
Quy trình thí nghiệm
Trong vòng 4 tiếng sau khi tách chồi lập tức ngâm vào dung dịch thuốc
kích thích IBA nồng độ thích hợp trong 2 giờ sau đó lấy ra để khô vết thương
Tiến hành bố trí 04 công thức với chất điều hòa sinh trưởng ở các nồng
độ khác nhau và công thức đối chứng Việc bố trí thí nghiệm như sau:
Công thức 1 (CT1 – Đối chứng): không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Công thức 2 (CT2): Chồi giâm được xử lý bằng dung dịch IBA, nồng
Trang 39Mẫu biểu 08: Ảnh hưởng của IBA đến kết quả thí nghiệm
Thời gian theo dõi:
Công thức
thí nghiệm
Số chồi thí nghiệm
Các số liệu được thu thập, đo đếm được xử lý theo phương pháp thống
kê toán học và bằng phần mềm Excel cài trên máy tính
Tính các đặc trưng mẫu tỷ lệ (X%): Chồi sống, chồi chết, chồi ra rễtheo công thức:
𝑇ỷ 𝑙ệ (𝑋%) = 𝑆ố 𝑐ℎồ𝑖(𝑠ố𝑛𝑔, 𝑐ℎế𝑡, 𝑟𝑎 𝑟ễ)
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑐ℎồ𝑖 𝑡ℎí 𝑛𝑔ℎ𝑖ệ𝑚 × 100%
Tính giá trị trung bình và các đặc trưng mẫu cho các chỉ tiêu: Số rễ trung bình/chồi, chiều dài rễ Sử dụng chương trình Excel để tính toán
c Đánh giá sinh trưởng của 2 loại hom trên các nền đất khác nhau
Khi các hom ra rễ ổn định, tiến hành cấy cây hom vào bầu đất có bổ sung một số phân vi sinh Cây hom trong bầu đất được để thành 2 khu riêng biệt, là khu hom gốc và khu hom chồi thân Khu vực bố trí thí nghiệm được che sáng bằng lưới đen và hàng ngày chăm sóc cây hom Định kỳ hàng tuần
đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây hom (Số lá, kích thước lá, chất lượng của cây hom ) Đo đếm các chỉ tiêu này liên tục trong 2 tháng Từ các số liệu thu thập trong 2 tháng so sánh, đánh giá tỷ lệ sống, sức sinh trưởng của cây hom từ gốc và chồi thân
Lựa chọn 30 hom có sinh trưởng tốt nhất tại 2 thử nghiệm trên, ký hiệu các hom rồi tiến hành trồng trên 03 nền đất (mỗi loại nền đất trồng 10 hom) là: đất rừng tự nhiên thu tại nơi phân bố Tuế balansa trong KBT, đất pha cát,
Trang 40đất vườn ươm Tiến hành trồng thử nghiệm trong 8 tuần, điều kiện chăm sóc với các hom mẫu giống nhau
Loại hom Gồm 2 loại hom, là hom gốc và hom chồi thân Hom lấy từ gốc bắt đầu bằng chữ C, hom lấy từ chồi thân bắt đầu bằng chữ T
Nồng độ IBA dùng xử lý hom trước khi tiến hành thí nghiệm nhân giống Gồm 3 loại nồng độ: 0,05%, 0,1% và 0,15%
Loại nền đất trồng cây hom đã ra rễ: Nền đất số 1 là đất rừng tự nhiên được thu lấy ở khu vực phát hiện ra Tuế balansa trong KBT; Nền đất số 2 là đất pha cát lấy ở ven suối; Nền đất số 3 là đất tại vườn ươm nơi tiến hành thí nghiệm nhân giống
Các hom được ký hiệu theo thứ tự: Loại hom, nồng độ IBA, số thứ tự hom Ví dụ: Hom được chọn đi trồng là hom gốc, mang số thứ tự 1 trên tổng
số 10 hom được xử lý với nồng độ IBA 0.1% có ký hiệu là C011
Chọn hom từ thí nghiệm nhân giống để thực hiện thí nghiệm tìm nền đất thích hợp phải đảm bảo các hom ban đầu trồng trên 03 nền đất phải có khả năng sinh trưởng tương đối đều nhau
Có 10 hom gốc và 10 hom chồi thân được xử lý bằng IBA nồng độ 0.1% cho khả năng sinh trưởng tốt nhất Tiến hành chia đều 20 hom này cho 03 loại nền đất mỗi nền đất trồng 03 hom chồi và 03 hom thân trong 20 hom này
Những hom gốc và chồi thân xử lý bằng IBA nồng độ 0.05% và 0.15% cho kết quả tương đương nhau về khả năng sinh trưởng Từ kết quả trên chọn
03 hom gốc, 03 hom chồi thân được xử lý bằng IBA nồng độ 0.05% và 03 hom gốc, 03 hom chồi thân được xử lý bằng IBA nồng độ 0.15% có kết quả sinh trưởng tốt nhất chia đều cho 03 nền đất để tiến hành trồng thử nghiệm
2.4.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Tuế balansa
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài và tình hình thực tế tại KBTTN ĐSKT
đã thu thập được, tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn, những tác động từ tự nhiên và con người tới loài Tuế balansa tại