Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là một địa bàn còn lưu giữ được một diện tích rừng nguyên sinh khá lớn với 4.200 ha, nơi phân bố của nhiều loài cây hạt trần có giá trị khoa học và
Trang 1NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
NGHIÊN CỨU BẢO TỒN CHUYỂN CHỖ LOÀI LAN
THỦY TIÊN HƯỜNG (Dendrobium amabile O'Brien.),
LAN HÀI LÔNG (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl ex Hook.)
Stein) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: 8620211
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN NGỌC HẢI
Hà Nội, 2021
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu cá nhân Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Tôi xin cam đoàn rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Quảng Ninh, ngày 08 tháng 09 năm 2021
Người cam đoan
Nguyễn Đăng Khánh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành từ sự nỗ lực học tập, nghiên cứu của bản thân, sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy giáo hướng dẫn, của các cán bộ Ban lãnh đạo khoa Sau đại học và khoa QLTNR&MT trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Ngọc Hải – Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ hướng dẫn khoa học cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở, vật chất để tôi có thể học tập và nghiên cứu Cảm ơn ông Phạm Anh Tám chủ trì đề tài quỹ gen Quốc gia về bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen 3 loài lan vùng Bắc Trung Bộ đã cho phép tôi cùng tham gia một số hoạt động và ông Nguyễn Đức Thắng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu
Cảm ơn sự quan tâm chia sẻ, động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè để tôi có thể hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Quảng Ninh, ngày 08 tháng 09 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Đăng Khánh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặc điểm về họ Lan (Orchidaceae) 4
1.2 Trên thế giới 6
1.3 Ở trong nước 8
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 13
2.1 Điều kiện tự nhiên 13
2.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 13
2.1.2 Địa hình, địa mạo 13
2.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng 14
2.1.4 Khí hậu, thủy văn 14
2.1.5 Đa dạng sinh học Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 15
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
2.2.1 Dân số 16
2.2.2 Cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội 16
2.2.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 17
Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19
Trang 53.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp phỏng vấn 20
3.4.2 Phương pháp điều tra phân bố 02 loàitại Khu BTTN Xuân Liên 20
3.4.3 Phương pháp xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của 02 loài lan 24
3.4.4 Phương pháp xác định mối đe dọa đến bảo tồn 24
3.4.5 Tổng hợp kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc 02 loài lan Thủy tiên hường và Lan hài lông 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của 02 loài lan Hài lông và lan Thủy tiên hường 25
4.1.1 Một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Lan hài lông25 4.1.2 Một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Lan Thủy tiên hường 31 4.2 Đặc điểm phân bố của 02 loài lan tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 34
4.2.1 Đặc điểm sinh cảnh rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 34 4.2.2 Đặc điểm phân bố của 02 loài Lan hài lông và Lan Thủy tiên hường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 36
4.3 Các mối đe dọa và đề xuất giải pháp bảo tồn 02 loài Lan Hài lông và Thủy tiên hường 40
4.3.1 Các mối đe dọa đến quần thể 02 loài Lan Hài lông và Thủy tiên hường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 40
4.3.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn 02 loài Lan Hài lông và Thủy tiên hường 41
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6SĐVN: Sách đỏ Việt Nam
VQG: Vườn quốc gia
Tiếng Anh
CITES: Công ước Quốc tế về buôn bán Động thực vật
hoang dã nguy cấp IUCN: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tuyến điều tra hiện trạng phân bố 21 Bảng 4.1: Phân bố của 02 loài Lan quý hiếm Thủy tiên hường và Lan hài lông tại Khu BTTN Xuân Liên 37 Bảng 4.2: Kích thước quần thể Hài lông tại Khu BTTN Xuân Liên 39 Bảng 4.3: Kích thước quần thể Thủy tiên hường tại Khu BTTN Xuân Liên 39 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của thời vụ đến tỷ lệ sống và hệ số nhân chồi của 02 loài Lan hài lông và lan Thủy tiên hường 43 Bảng 4.6: Ảnh hưởng của thời vụ tách chồi đến động thái ra lá, ra chồi của của 02 loài Lan hài lông và lan Thủy tiên hường 44 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống và hệ số nhân chồi của của 02 loài Lan hài lông và lan Thủy tiên hường 44 Bảng 4.8: Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của của 02 loài Lan hài lông và lan Thủy tiên hường 45 Bảng 4.9: Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sinh trưởng của 02 loài Lan hài lông và Thủy tiên hường 46 Bảng 4.10: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của của 02 loài Lan hài lông và lan Thủy tiên hường 48
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Lan Hài lông 25
Hình 4.2: Lan Hài lông 27
Hình 4.3: Lan Hài lông 28
Hình 4.4: Lan Hài lông 31
Hình 4.5: Lan thủy tiên hường 32
Hình 4.6: Lan thủy tiên hường 33
Hình 4.7: Lan Thủy tiên hường 34
Hình 4.8: Mô hình thử nghiệm nhân giống các loài lan tại KBTTN Xuân Liên 43
Hình 4.9: Quá trình nhân giống loài lan Thủy tiên hường tại KBTTN Xuân Liên 46
Hình 4.10: Lan Hài lông phát triển tốt sau khi được trồng thử nghiệm tại KBTTN Xuân Liên 47
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên(sau đây viết tắt là Khu bảo tồn) được thành lập theo Quyết định số 3029/QĐ-UB ngày 17/12/1999 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa với diện tích 27.668ha,nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung bộ nên có tính đa dạng sinh học cao Ban đầu đã phát hiện có 1.142 loài thực vật bậc cao (thuộc 620 chi, 180 họ) Trong đó có 45 loài thực vật quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, với35 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (năm 2007); 12 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (năm 2012); 08 loài có tên trong Nghị định 06/2019/NĐ-
CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính Phủ Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là một địa bàn còn lưu giữ được một diện tích rừng nguyên sinh khá lớn với 4.200 ha, nơi phân bố của nhiều loài cây hạt trần có giá trị khoa học và kinh tế cao như Pơ mu, Bách xanh, Sa mu, Giẻ tùng sọc trắng, Khu bảo tồn nằm trong khu vực có khí hậu gió mùa quanh năm ẩm ướt, địa hình
có nhiều dãy núi cao trên 1.000 m đã tạo ra vùng tiểu khí hậu đặc trưng cho
sự tồn tại của kiểu rừng thường xanh á nhiệt đới, với nhiều loài lan sinh sống Kết quả điều tra ban đầu cho thấy, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Liên hiện có 85 loài Lan, trong đó có nhiều loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao như Thủy tiên hường, Hài vân bắc, Lan kim tuyến, Lan hài lông… Hiện nay tại Khu bảo tồn chưa có nghiên cứu, đánh giá chi tiết nào
về hiện trạng phân bố, giá trị sử dụng và giá trị bảo tồn của các loài lan để có
cơ sở dữ liệu phục vụ công tác bảo tồn bền vững các loài lan tự nhiên hiện đang phân bố trong khu vực
Do thị hiếu thị trường và lợi kinh tế có được từ các loài lan mang lại, đặc biệt là giá trị đặc biệt của một số loài lanđang phân bố trong tự nhiên như:
sử dụng làm thuốc biệt dược chữa bệnh nan y (Lan kim tuyến); sử dụng làm cây sinh vật cảnh (Lan hài, Lan thủy tiên)… do vậy nhu cầu nuôi trồng và mở
Trang 10rộng phát triển các loài lan tự nhiên là rất lớn Mặt khác, thực trạng đói nghèo, thiếu việc làm và cuộc sống khó khăn của người dân địa phương sống gần rừng đang là làm cho tình trạng khai thác các loài lan trở nên kém bền vững, đây cũng là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm số lượng các loài lan phân bố
tự nhiên, đặc biệt là dẫn đến nguy cơ cạn kiệt một số loài lan quý hiếm, có giá trị kinh tế cao trên địa bàn KBTTN Xuân Liên nói riêng và trong khu vực tỉnh Thanh Hóa nói chung
Vì vậy, để xác định được hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh thái học, sinh vật học đối với các loài lan quý hiếm là thực sự cần thiết, là cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững những loài lan hiện có tại
địa phương, tôi đã triển khai thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài là: “Nghiên cứu bảo tồn chuyển chỗ loài Lan Thủy tiên hường (Dendrobium amabile O'Brien.), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl ex Hook.)
Stein) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý n gh ĩa khoa học của nđề tài
Cung cấp dữ liệu khoa học về 02 loài lan quý hiếm Lan Thủy tiên
hường (Dendrobium amabile O'Brien), Lan hài lông (Paphiopedilum
hirsutissimum (Lindl.ex Hook) Stein, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của nđề tài
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo
tồn và phát triển 02 loài lan quý hiếm Lan Thủy tiên hường (Dendrobium amabile O'Brien.), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex
Hook.) Stein, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
3 Đóng góp mới của luận văn
Cung cấp thông tin về phân bố, sinh cảnh sống và các yếu tố tự nhiên
có liên quan đến sự có mặt của 02 loài lan quý hiếm Lan Thủy tiên hường
(Dendrobium amabile O'Brien.), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum
(Lindl.ex Hook.) Stein)trong Khu bảo tồn
Trang 11Đề ra biện pháp bảo tồn và phát triển quần thể loài thông qua nghiên cứu về thử nghiệm nhân giống loài lan quý hiếm Lan Thủy tiên hường
(Dendrobium amabile O'Brien),Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum
(Lindl.ex Hook) Stein) tại Khu bảo tồn
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm về họ Lan (Orchidaceae)
Họ Lan (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây (Asparagales), lớp thực vật Một lá mầm (Monocotyledons) Họ Orchidaceae là một trong những họ có số lượng loài lớn nhất, khoảng trên 20.000 loài (theo A.L.Takhtajan 1987), trong nhóm thực vật có hoa; có phân bố rộng khắp trên toàn thế giới Chúng gồm các loài cây thân thảo, sống lâu năm (đôi khi hóa gỗ một phần ở gốc), chúng thường sống ở đất, nơi hốc vách đá, hoặc sống phụ-hoại sinh
Hệ rễ: Hệ rễ khí sinh ở đây vừa làm nhiệm vụ lấy nước, muối khoáng
trên vỏ cây gỗ, vừa bám chặt vào giá thể để giữ cây khỏi bị gió cuốn đi, ngoài
ra nó lại còn chống đỡ cho cây mọc cao vươn ra chỗ có nắng giữa đám tán cây Để làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bởi một lớp
mô hút ẩm dày, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc Với lớp mô xốp đó, rễ không những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây gỗ, mà còn lấy được nước lơ lửng trong không khí
Thân cây: Theo M E PrIIzer (1882) Lan có hai loại thân, mà đa số đều
thuộc loại sinh trưởng hợp trục (nhóm không thân) Thân này gồm một hệ thống của nhiều nhánh lâu năm, với bộ phận nằm ngang, bò dài trên giá thể hoặc ẩn sâu trong lòng đất gọi là thân rễ Ở thân các loài Lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) Đó là bộ phận dự trữ nước, các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong hoàn cảnh khô hạn khi sống bám trên cao
Lá: Hầu hết các loài lan đều là cây tự dưỡng, do đó, nó phát triển rất
đầy đủ hệ thống lá Lá mềm mại, duyên dáng và hấp dần Lá hoặc mọc đơn độc, hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả Hình dạng lá thay đổi rất nhiều từ loại lá mọng nước, nạc, dai, hình kim, hình
Trang 13trụ dài, tiết diện tròn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dải, mềm, xanh bóng đậm hay nhạt tùy theo vị trí sống của cây Lá tận cùng bằng một cuống hay thuôn dài xuống thành bẹ ôm thân Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung (như cái quạt) hay chỉ gấp lại theo một gân giữa (hình chữ V) Những lá dưới sát gốc, thường giảm đi chỉ còn những bẹ không có phiến, hay giảm hẳn thành các vẩy
Hoa: Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn Đa số các loài
lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp lại thành chùm (đôi khi phân nhánh thành chùy), phân bố ở đỉnh thân hay nách lá Gốc cuống chính thường có lá bắc dạng vẩy hay mo Cuống chính đôi khi rút ngắn lại, làm cụm hoa có dạng tán giả, hay cuống chính vừa ngắn vừa mập, cụm hoa có dạng gần như hình đầu Hoa lan có cấu trúc cơ bản của hoa mẫu 3 Hoa lan thuộc loại hoa lưỡng tính,
và đơn dạng, rất hiếm các loại lan đơn tính, tạp tính và nhị dạng Bao hoa có 2 vòng, mỗi vòng 3 mảnh, chia ra: Ba cánh đài thường có dạng cánh hoa Cả 3 cánh đài hoặc giống nhau, hoặc cánh đài lưng hơi khác với 2 cánh đài bên (đôi khi cả 3 cánh đài đều dính lại với nhau); còn 3 cánh tràng thì hai cánh bên rất giống với cánh đài rời hay dính với cánh đài bên
Quả: Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc, có dạng tù quả cải nạc dài ở Vanilla (Lan vani) đến dạng hình trụ ngắn phình ở
giữa (ở đa số các loài khác) Khi chín quả mở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc Ở một số loài quả chỉ mở theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra, và hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này mục nát Hạt rất nhiều, nhỏ bé Hạt chỉ cấu tạo bởi một phôi chưa phân hóa, trên một máng lưới nhỏ, xốp chứa đầy không khí Phải trải qua 2 - 18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt bị chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nẩy mầm Do đó, hạt thì nhiều, có thể gieo giống di rất xa nhờ gió, nhưng hạt nẩy thành cây lại rất hiếm Chỉ ở trong các cánh rừng già, ẩm ướt, vùng nhiệt đới mới có đủ điều kiện để cho hạt giống nẩy mầm
Trang 141.2 Trên thế giới
Cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông, theo Bretchacider thì từ đời vua Thần Nông (2800) trước công nguyên, lan rừng này được dùng làm thuốc chữa bệnh Cùng với vẻ đẹp và tác dụng chữa bệnh, sau đó Robut Bron (1773 – 1858) là người đầu tiên đã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác Đặt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là Joanlind (1979 – 1985) Năm 1836, ông công bố sắp xếp các tông họ Lan (A tabuler view of the Tribes of Orchidaceae) tên của họ lan do ông đưa ra đựơc dùng cho đến ngày nay Hiện nay họ Lan (Orchidaceae) trên thế giới được chia làm 5 phân họ Apostasioideae, Cypripedioideae, Neottioideae, Epidendroideae và Orchidoideae Họ Lan (Orchidaceae) bao gồm 750-800 chi và khoảng 20.000 loài, phân bố rộng khắp thế giới từ 680 vĩ độ Bắc đến 560 vĩ độ Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới châu Á, và nhiệt đới châu Mỹ (Mau – RFL 1983) Ở khu vực nhiệt đới họ Lan phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 2000 m
Tác giả Jonh Haris và Weich đã biết đến vai trò của nấm Fungus trong việc nảy mầm của hạt lan trong điều kiện tự nhiên Ngày nay, nghiên cứu nhân giống hữu tính các loài họ Lan bằng gieo hạt đã nhiễm nấm cộng sinh trên môi trường dinh dưỡng được thực hiện thành công ở nhiều nước như Trung Quốc, Mỹ, Pháp
Nghiên cứu nhân giống In vitro cây họ Lan tác giả Knudson người Mỹ
công bố năm 1946, đã mở ra công nghệ sinh học môi trường lan Gần đây Morel (1965) công bố phương pháp nhân giống lan bằng mô phân sinh Nhờ vậy đã tạo ra được khối lượng cây lớn đồng nhất trong thời gian ngắn Ngày nay, nhân giống vô tính In Vitro đã thành công đối với nhiều chi thuộc họ Lan
(Orchidaceae) như Kiếm lan (Cymbidium), Hoàng thảo (Dendrobium), Kiều lam (Calanthe), Kim tuyến trung bộ (Anoectochilus), v.v
Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triển nuôi trồng hoa lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu Có thể nói Thái Lan Lan là
Trang 15nước đi đầu cho ngành nuôi trồng và xuất khẩu hoa lan ở các nước châu Á Các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Philipin cũng đã đến Thái Lan để học hỏi kinh nghiệm Người nghiên cứu để nuôi trồng lan đầu tiên ở Thái Lan là Thong Lor Rakhpa Busobat ở Bangkok, ông cũng chính là người sau này đã đem các tiến bộ kỹ thuật từ các nước Châu Âu về để nghiên cứu và áp dụng cho ngành sản xuất hoa lan của Thái Lan
Sản xuất lan trên thế giới: (dẫn theo Phan Thúc Huân (1989), người đầu tiên thành lập vườn lan thương mại là Loddiges năm 1812 Một vài thập kỷ gần đây, nhờ sự phát triển nhanh của công nghệ sinh học thương mại và giao thông nhiều nước đã trở thành những cường quốc xuất khẩu lan và đã mang lại thu nhập lớn, hàng năm xuất khẩu lan đạt hàng trăm triệu đô la, những nước xuất khẩu nhiều như Thái Lan, Đài Loan, Singapore, Ấn Độ, Hà Lan… Trước hết là Thái Lan, nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, các cơ sở sản xuất của họ có khoảng 200 phòng nuôi cấy In vitro lan thương mại hoạt động ở Bangkok Hàng năm Thái Lan sản xuất 32 triệu cây con, tập trung vào
một số loài của các chi: Dendrobium (80%), Oncium (5) Rồi đến Đài Loan sản xuất nhiều nhất là lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) và lai tạo chọn ra hàng
chục giống mới rất đa dạng và xuất sang nhiều nước Singapore, tiểm năng xuất khẩu hoa lan rất mạnh trên thị trường thế giới chiếm tới 12 % Ấn Độ đã
áp dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào vào nghề trồng lan, hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu cây con các loại Hà Lan, Nhật Bản cũng là những nước đầu
tư lớn cho ngành nuôi trồng hoa lan
Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nước nghiên cứu và phát triển cây lan Trong quá trình sống con người luôn tìm kiếm phát hiện thêm các loài lan mới hoang dại bổ sung danh sách các loài lan đặc biệt bổ xung vào ngân hàng nguồn gen các loài lan Không thể kể hết được các hoạt động của con người tìm kiếm, nghiên cứu bảo tồn và phát triển lan Ngày nay do sự phát triển về công nghệ lai tạo giống nên số loài ngoài thiên nhiên có bao nhiêu thì số loài lai tạo cũng có số lượng tương đương
Trang 161.3 Ở trong nước
Ở Việt Nam, De Loureiro (1790) – nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã mô
tả cây lan ở Việt nam lần đầu tiên vào năm 1790 trong cuốn “Flora cochinchinensis” gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến Nam phần
Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium… mà đã được Ben tham và
Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862 – 1883) Từ thời Pháp thuộc đã có những công trình nghiên cứu cơ bản về thực vật, cuốn “Thực vật chí Đông Dương”- H Lecomte (1932) đã thống kê được 100 loài lan, thuộc
70 chi cho cả khu vực đông dương, Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) trong cuốn cây cỏ Việt Nam cũng đã có những mô tả sơ bộ về họ Lan Họ Lan đang ngày càng gây được sự chú ý của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước vì thế mà nhiều giá trị quý của họ lan đang ngày càng được phát hiện không những về khoa học mà còn có giá trị kinh tế
Trần Hợp (1998) trong cuốn sách Lan Việt Nam đã miêu tả khoảng 800 loài thuộc 138 chi khác nhau theo như tác giả trình bày thì đây chưa phải là cuốn sách thật hoàn thiện về họ Lan của Việt Nam nhưng có lẽ đến thời điểm này đây là một tài liệu khá đầy đủ về họ Lan của Việt Nam vì cuốn sách đã cung cấp các thông tin về đặc điểm nhận dạng, sinh thái, phân bố và có hình ảnh minh họa cho khoảng 800 loài lan khác nhau của Việt Nam
Leonid Averyanov và Anna L Averyanov (2003) trong tài liệu được công bố gần đây theo bảng trích yếu cập nhật hoá về các loài lan ở Việt Nam hiện đã biết 897 loài, 152 chi
Theo Trần Duy Quý (2015) Việt Nam đã thống kê được 160 chi và
1004 loài lan, điều này khẳng định sự phong phú về thành phần loài, chỉ trong
họ Lan ở Việt Nam
Các tác giả Đặng Văn Đông, Chu Thị Ngọc Mỹ, Trần Duy Quý (2009)
đã điều tra thành phần loài và phân bố của Lan ở Việt Nam và nhân định: Việt Nam được chia thành 6 vùng Lan chính khác nhau về tính đa dạng, độc đáo
Trang 17của Lan rừng và sinh thái tự nhiên của các loài lan này, gồm: Tây Bắc Bộ; Đông Bắc Bộ và trung tâm Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung
Bộ và Nam Bộ Đã thu thập được 1.035 giò, chậu gồm 50 giống, 17 chin phong lan và địa bàn của Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm rất phù hợp với nhu cầu sinh thái của các loài lan vì vậy hoa lan đã được người Việt Nam biết đến từ rất lâu đời, nhưng do các bối cảnh lịch sử nhất định của nền kinh tế chưa cao nên từ đời này qua đời khác cây lan Việt Nam chỉ dừng lại trồng để thưởng thức Việc nuôi trồng, nghiên cứu, kinh doanh chưa theo kịp các nước Châu Âu, Châu Á phát triển
Ở miền Bắc việc nghiên cứu về cây lan mới được trú trọng những năm gần đây Thời kỳ trước những năm 1995 miền Bắc chủ yếu là nuôi trồng lan bản địa song nguồn giống chủ yếu được khai thác từ rừng tự nhiên Những năm gần đây do nạn phá rừng, nạn săn lùng, khai thác quá mức từ khắp các cánh rừng nên nhiều loài hoa lan đang có nguy cơ bị mất giống Để giảm áp lực cho việc khai thác giống từ rừng tự nhiên đồng thời góp phần bảo tồn các loài lan quý, tạo công ăn việc làm để nâng cao đời sống của người dân bản địa nên đã triển khai một số đề tài nghiên cứu:
- Nghiên cứu ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong xây dựng bản đồ phân bố lan và cây cảnh tại VQG Phú Quốc
- Khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại Bidoup – Lanbiang và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
- Tham gia chuyến khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại VQG
Ba Bể và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
- Tham gia chuyến khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại VQG Cát Tiên và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
- Khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Núi Chúa và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
Trang 18- Điều tra thành phần phân bố các loài lan tại Vườn Quốc gia Cúc Phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển – 2006
Về những nghiên cứu nhân giống: Phạm Thị Liên (2002) đã nghiên
cứu nhân giống In vitro thành công cho một số loài địa lan ở khu vực phía Bắc Việt Nam và đưa ra quy trình nhân giống cho loài địa lan Hạc đính nâu như sau: Khử trùng mẫu bằng dd HgCl2 0,1% trong 15 phút Đưa mẫu đã khử trùng vào môi trường F + 3% đường saccaro + 0,8% Agar + BAP 1,0 mg/l + Kinetin 0,7% mg/l + IBA 0,5mg/l Môi trường F + 3% đường saccaro + 0,8% Agar + 10% nước dừa + 0,5 mg/l NAA để tạo cây hoàn chỉnh Dùng cát sạch làm giá thể trồng cây con trong giai đoạn vườn ươm
Nguyễn Quang Thạchvà cộng sự (2005) đã tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sau In vitro cho cây địa lan kết quả nghiên cứu cho thấy: để đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt ngoài vườn ươm, cây địa lan in vitro phải đạt được khối lượng ≥ 1,0 gam, giá thể Dớn biển thích hợp nhất để ra cây in vitro, sau 3 tháng trồng ở vườn ươm cấp I chuyển cây sang trồng ở vườn ươm cấp II với giá thể thích hợp nhất là dương xỉ
Khuất Hữu Trung và cộng sự (2007) đã nghiên cứu đa dạng di truyền
tập đoàn Lan Kiếm (Cymbidium swartz) của Việt Nam với 17 giống Lan
Kiếm ở Việt Nam được chia làm 5 nhóm khác nhau dựa vào mức tương đồng
di truyền của chúng
Nghiên cứu thu thập, đánh giá và tuyển chọn một số giống Phong Lan
Hoàng Thảo (Dendrobium) nhập nội tại miền Bắc Việt Nam, Phạm Thị Liên
và cộng sự (2009) đã đã thu thập được 6 giống Lan Hoàng thảo
Nghiên cứu đa dạng di truyền loài Lan Hài đốm (Paphiopedilum concolor Pfitzer) bản địa của Việt Nam, năm 2009, tác giả Khuất Hữu Trung
và cộng sự đã xác định 16 mẫu Hài đốm (P concolor Pfitzer) nghiên cứu
được phân thành 6 nhóm khác nhau
Các tác giả Đặng Văn Đông, Chu Thị Ngọc Mỹ, Trần Duy Quý (2009) điều tra sự phân bố của hoa lan Việt Nam kết luận: Việt Nam được chia thành
Trang 196 vùng lan chính, khác nhau về tính đa dạng, độc đáo của lan rừng và sinh thái tự nhiên của các loài lan này: Phía Tây Bắc Bộ; Phía Đông Bắc Bộ và Trung tâm Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ; Các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ Các tác giả đã thu thập được 1.035 chậu (giò) gồm 50 giống thuộc 17 chi Phong lan, địa lan Việt Nam
Theo Dương Hoa Xô (Trung tâm Công nghệ Sinh học TP HCM), trung tâm đã thực hiện dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các giống hoa Lan”, từ năm 2005, đến nay đã sưu tập được hơn 285 giống hoa
Lan thuộc 12 nhóm giống khác nhau (Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium…), để phục vụ cho công tác bảo quản nguồn gen và lai tạo giống;
đã lai tạo 50 cặp lai, đang tiến hành gieo hạt trong ống nghiệm
Đề tài cấp cơ sở “Thu thập đánh giá nguồn gen hoa Lan Việt Nam và lưu giữ chúng ở hai vùng Miền núi phía Bắc và Đồng Bằng Bắc Bộ” thời gian thực hiện 2007-2009 đã xây dựng được 2 vườn lưu giữ tại Viện nghiên cứu Rau quả và Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây Ôn đới (Viện KHNLN miền núi phía Bắc) mỗi vườn với diện tích 500 m2 Số lượng mẫu đang được lưu giữ là 2.048 giò, chậu
Họ Lan (Orchidaceae) là họ đa dạng bậc nhất của nước ta với xấp xỉ
1000 loài Hầu như tất các các loài lan đều có đa chức năng: có thể làm cảnh, làm thuốc vì vậy sức hút từ các loài lan là đặc biệt hấp dẫn với nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội Có rất nhiều các nghiên cứu về thành phần loài, phân loại, nhân giống đã được thực hiện Tuy nhiên, những nghiên cứu chi tiết ở một phạm vi nhỏ, từ đó chọn lọc ra một số loài có giá trị bảo tồn cao và nhân giống, phát triển loài tại khu vực thì vẫn thiếu
Đề tài được thực hiện ngoài ý nghĩa phục vụ mục tiêu bảo tồn nguồn gen các loài lan tự nhiên, nó còn có ý nghĩa thực tiễn phát triển kinh tế tại địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa gắn phát triển du lịch sinh thái trên cơ
sở nhân giống thành công các loài lan quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao để
Trang 20tạo ra hàng hàng hoá đặc trưng tại địa phương Bên cạnh những giá trị bảo tồn, phát triển kinh tế, còn tạo thêm việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng đệm KBT Việc xây dựng vườn sưu tập và nhân giống các loài lan tự nhiên còn góp phần phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan học tập, giáo dục bảo vệ môi trường và là sản phẩm hấp dẫn thu hút khách tham quan du lịch đến với KBT
Từ những luận cứ khoa học và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu bảo tồn, sản xuất giống một số loài hoa lan và địa lan quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là cần thiết, có ý nghĩa thực
tế và mang tính cấp bách Góp phần thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia
về bảo tồn đa dạng sinh học và là nội dung của Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đến năm
2020 đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tại Quyết định số 2405/QĐ-UBND, ngày 12/7/2013
Trang 21Bu Ta Leo, phía Tây giáp Nghệ An, phần còn lại là xã Bát Mọt, phía Đông được giới hạn bởi dòng Bu Ta Leo - Bù Khang và cửa sông Khao gặp sông Chu
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên phân theo địa giới hành chính gồm có 5 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Cẩm, Vạn Xuân, Lương Sơn Với diện tích 23.815,5 ha
Khu BTTN Xuân Liên có hệ động, thực vật rừng đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loại quý hiếm cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn gen Khu BTTN Xuân Liên còn đóng vai trò quan trọng về phòng hộ đầu nguồn cho đập thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt, công trình thuỷ lợi đập Bái Thượng, cung cấp, điều hoà nguồn nước tưới cho trên 86.000 ha lúa nước, là nguồn nước phục vụ cho hoạt động công nghiệp, sinh hoạt vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hoá
2.1.2 nĐịa n ìg , nđịa nmạo
Do ảnh hưởng của các quá trình địa chất và tạo sơn lâu dài, liên tục nên địa hình, địa mạo của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên khá phức tạp Núi không cao lắm nhưng dốc ngắn, độ chia cắt khá mãnh liệt Trong phạm vi hẹp xuất hiện cả vùng núi đá xen núi đất, núi đồi, thung lũng Do bị chia cắt bởi sông Khao, sông Chu, sông Đạt, sông Đằn nên địa hình được chia thành 2 tiểu vùng khác nhau bao gồm:
- Vùng núi cao gồm các xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, độ cao trung bình từ 500 – 700m, độ dốc từ 250 – 320
Trang 22- Vùng núi thấp gồm các xã: Lương Sơn, Xuân Cẩm độ cao trung bình từ 150 – 200m, độ dốc 150 – 250
2.1.4 nK í n ậu, nt ủy nvăg
* Thuỷ văg
Tổng lượng dòng chảy của các sông suối vùng đệm là 1.276.448 x 106
m3 Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sản xuất và đời sống, nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào mùa mưa nên thường gây ra
lũ quét, xói mòn nghiêm trọng
* Khí hậu
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc huyện Thường Xuân mang những đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng miền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh gần giống vùng đồng bằng sông Hồng
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm 23 - 240C, nhiệt độ trung bình tháng 1 là 15,5 - 16,50C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xuống đến
Trang 2320C Nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27- 280C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối chưa quá 400C - Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 85- 86%, tháng có độ
ẩm cao nhất là tháng 4 khoảng 91%, tháng thấp nhất là tháng 11 và 12 từ 80- 83% Mùa đông có sương muối từ 5-7 ngày
- Lượng mưa: Lượng mưa trong năm là 1600- 2000mm, phân bố mưa trong năm không đều, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 60- 80% tổng lượng mưa cả năm Các tháng có lượng mưa lớn nhất từ tháng 7 đến tháng 9 thường gây lũ lụt cục bộ Các tháng có lượng mưa thấp từ tháng
12 cho tới tháng 2 năm sau, thường gây hạn hán
- Lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi 761- 895mm/năm, tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất đạt 131mm, còn tháng 2 và tháng 3 có lượng bốc hơi thấp nhất 40- 43mm
- Gió: Có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 Ngoài ra, còn
có gió Tây khô nóng xen kẽ với gió mùa Đông Nam
- Sương muối: thường xuất hiện vào mùa đông (tháng 1, 2 và thường xảy ra trong 1, 2 ngày) tuy nhiên, trong những ngày nhiệt độ hạ thấp đột ngột thời gian có thể kéo dài tới 10 ngày
2.1.5 nĐa ndạgh nsig n ọc nK u nbảo ntồg nt iêg ng iêg nXuâg nLiêg
KBT Xuân liên có khu hệ động thực vật rất phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài quí hiếm cần được bảo vệ và bảo tồn phát triển nguồn gen, với các kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đớt đặc trưng cho miền Bắc Việt Nam Hệ thực vật đã ghi nhận 1.142 loài loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 620 chi và 180 họ (trong đó có 38 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam và thế
giới) như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mu (Cunninghamia konishii), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Kim giao (Nageia fleigyi)… Sau gần 14 năm
đi vào hoạt động, Xuân Liên hiện đang lưu giữ được diện tích rừng nguyên sinh lớn nhất so các khu rừng khác trong tỉnh và vùng lân cận (gần 4.000 ha)
Trang 24là nơi phân bố của nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm đặc trưng cho vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung bộ
Điểm gây ấn tượng lớn nhất về khu hệ thú ở Khu BTTN Xuân Liên mà không có hoặc rất ít khu bảo tồn hay VQG khác có được, đó là sự bắt gặp thường xuyên các cá thể trong tự nhiên như: Bò tót, Vượn đen má trắng, Voọc xám, Sơn dương, Gấu ngựa, Gấu chó, Tê tê, Cu li
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1 nDâg nsố
Có thể coi khu vực Xuân Liên là khu vực đa văn hóa và dân tộc Vùng đệm Khu bảo tồn được quy hoạch gồm 5 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân, theo kết quả thống kê năm 2011 tại 12 thôn thuộc 5 xã vùng đệm có dân số 7.584 người Số lao động là 2.981 người chiếm tỉ lệ 39,31% dân số, ngành nghề chủ yếu là trong lĩnh vực nông lâm nghiệp (chiếm gần 98%)
và chưa qua đào tạo nghề Trong đó có ba dân tộc sinh sống: Dân tộc Thái chiếm 82,33%, dân tộc Kinh chiếm 17,45%, dân tộc Mường chiếm 0,22%
2.2.2 nCơ nsở n ạ ntầgh, nvăg n óa nxã n ội
a Cơ sở hạ tầng:
* Giao thông: Hệ thống trục giao thông chính ở xã vùng đệm Khu bảo tồn có: Tỉnh lộ 507 từ thị trấn Thường Xuân đi qua các xã Lương Sơn, Yên Nhân, Bát Mọt với chiều dài 70 km, trong đó: Kết cấu đường nhựa từ thị trấn Thường Xuân
đi qua trung tâm xã Yên Nhân dài 52 km; kết cấu đường đất, đá cấp phối từ Yên Nhân đi cửa khẩu Bản Khẹo, Bát Mọt dài 18 km; tỉnh lộ mới 519 từ thị trấn Thường Xuân đi qua các xã Xuân Cẩm, Vạn Xuân dài 29 km kết cấu đường nhựa; tỉnh lộ Tây Thanh Hóa từ huyện Lang Chánh đi qua xã Yên Nhân đi Nghệ An, với chiều dài 26 km (trong đó đi trong khu bảo tồn là 15 km) kết cấu đường nhựa
* Hệ thống thông tin liên lạc:Hệ thống thông tin liên lạc của các xã vùng đệm Khu bảo tồn: Hiện trạng có 06 trạm bưu điện (trong đó 05 trạm bưu điện nằm ở trung tâm các xã, 01 trạm bưu điện Cửa đạt), hệ thống cột thu
Trang 25phát sóng viễn thông đã lắp đặt 12 cột (của 02 nhà mạng Vinaphone và Viettel), được đặt tại một số thôn vùng đệm Khu bảo tồn
* Công tác giáo dục: Khu vực có 01 trường dạy nghề; 05 trường trung
học cơ sở (cấp 2), 11 trường tiểu học (cấp 1), 24 trường mầm non Tổng số học sinh là 5.386 em trong đó có 1.548 em mầm non, 2.209 em tiểu học và 1.629 em trung học cơ sở Phần lớn đồng bào trong vùng đều biết đọc biết viết, số người mù chữ chiếm tỉ lệ rất nhỏ khoảng 2%
* Y tế:Theo số liệu thống kê, số trạm y tế là 05 trạm tại Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân; trạm y tế Cửa đạt và 01 Phân viện tại xã vùng cao Bát Mọt; số y, bác sĩ là 29 người; số giường bệnh là 28 giường
Công tác giáo dục, y tế, văn hoá thông tin trong khu vực đã có nhiều tiến bộ, tất cả các xã đều có trường học, trạm xã Tuy nhiên trang thiết bị còn nghèo nàn, lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu học tập, chữa bệnh và giao lưu
văn hoá thông tin trong vùng
b Văn hoá- xã hội
Những điểm di tích lịch sử và văn hóa tâm linh trong khu vực có sức thu hút khách đến thăm quan du lịch gồm: Di tích tín ngưỡng Bà chúa thượng ngàn
và Danh nhân Cầm Bá Thước Một số lễ hội truyền thống như: Lễ hội Ca Sa của dân tộc Thái vào tháng giêng âm lịch, lễ hội Lau Kha vào mồng 10 tháng 09 âm lịch của người Thái đen, lễ hội cúng rước Thành Hoàng vào tháng giêng âm lịch tại làng Hạ ở Thọ Thanh, lễ hội Xóc Bùa của dân tộc Mường ở Xuân Cẩm, Lương Sơn…vào đầu tháng 12 âm lịch thường xuyên được tổ chức
2.2.3 nĐág nhiá nc ugh nvề điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
+Thuận lợi:
- Khu BTTN Xuân liên là vùng đầu nguồn của Sông Khao, một phần Sông Đặt và Sông Chu; là vùng đầu nguồn cung cấp nước sạch, nước tưới cho vùng hạ lưu của tỉnh Thanh Hoá
- Cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội đang trên đà phát triển; dân cư trong vùng có kinh nghiệm bảo vệ rừng, trồng rừng; có ý thức bảo vệ môi trường
Trang 26cảnh quan và có tinh thần phục vụ cao…sẽ là hạt nhân và tiền đề vững chắc
để bảo tồn và phát triển rừng, phát triển du lịch sinh thái
- Đồng bào dân tộc nơi đây vẫn còn giữ nhiều phong tục tập quán văn hoá lễ Hội: Lau Kha, Ca Sa của dân tộc Thái; Xóc Bùa của dân tộc Mường; chợ vùng cao xã Bát Mọt; đây sẽ là những tiềm năng cho phát triển du lịch trong thời gian tới
- Một số dự án của chương trình Nông thôn mới đang triển khai trên địa bàn; các công trình dịch vụ, du lịch, các dự án hạ tầng kỹ thuật, sẽ tạo ra cực diện phát triển mới, đồng thời tạo cơ hội cho phát triển rừng bền vững
+ Khó khăn:
- Đời sống của người dân trong khu bảo tồn còn phụ thuộc khá lớn vào nông lâm nghiệp, do đó tạo nên áp lực khá lớn vào rừng Vì vậy, để giải quyết vấn đề bảo tồn, phát triển rừng và đảm bảo cải thiện cuộc sống cho người dân
là việc làm cấp thiết của chính quyền địa phương và Ban quản lý khu bảo tồn
- Một bộ phận người dân còn sống phụ thuộc vào rừng, việc khai thác
gỗ, củi, thu hái dược liệu, cây làm cảnh… vẫn diễn ra là những thách thức trong việc bảo tồn và phát triển bền vững khu rừng trong đó có các loài Lan
Nhìn chung, với đặc điểm địa hình đa dạng, với nhiều đai cao, nhiều kiểu rừng, sinh cảnh khác nhau sẽ là điều kiện để cho nhiều loài thực vật khác nhau trong đó có nhiều loài lan phân bố
Trang 27Chương 3
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Cung cấp dẫn liệu cơ sở khoa học để bảo tồn 02 loài lan quý hiếm Lan Thủy tiên hường (Dendrobium amabile O'Brien), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook) Stein, tại Khu bảo
tồn thiên nhiên Xuân Liên
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định được hiện trạng quần thể 02 loài lan quý hiếm Lan Thủy
tiên hường (Dendrobium amabile O'Brien), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook) Stein, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
+ Xác định được một số đặc điểm sinh thái, sinh học của 02 loài Lan phân bố tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
+ Xác định các đe dọa đối với 02 loài Lan và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.2.1 nĐối ntượgh ngh iêg ncứu
02 loài lan quý hiếm là loài Lan Thủy tiên hường (Dendrobium amabile O'Brien.) và loài Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein
3.1.2 P ạm nvi ngh iêg ncứu
Phạm vi về nội dung:
- Điều tra hiện trạng quần thể của 02 loài lan quý hiếm Thủy tiên hường
(Dendrobium amabile O'Brien.), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum
(Lindl.ex Hook.) Stein tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
- Xác định một số đặc điểm sinh thái học, sinh vật học của 02 loài lan quý hiếm
- Thử nghiệm bảo tồn chuyển chỗ và đề xuất giải pháp quản lý và bảo
tồn 02 loài lan quý hiếm
Trang 28Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tổ chức điều tra tại bảo tồn Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu triển khai thực hiện từ tháng 5-11/
năm 2020
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của 02 loài lan
- Nghiên cứu hiện trạng phân bố của 02 loài lan quý hiếm Thủy tiên hường và Lan hài lông tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
- Phân tích được các mối đe dọa đến quần thể 02 loài lan và đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn 02 loài lan
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 nP ươgh np áp np ỏgh nvấg
Mục đích của phương pháp này là thu thập các thông tin ban đầu về ghi nhận 02 loài Tiến hành phỏng vấn người dân các thôn bản trong và gần Khu bảo tồn theo hình thức phỏng vấn bán cấu trúc Phỏng vấn được thực hiện theo nhóm hoặc đơn lẻ từng người tùy thuộc điều kiện cho phép Sử dụng ảnh màu của 02 loài lan để hỗ trợ người dân khi xác định loài Các địa điểm phỏng vấn trước đây đã ghi nhận do người dân cung cấp được xác định và đánh dấu trên bản đồ địa hình của Khu bảo tồn Xem xét kỹ lưỡng tất cả các mẫu vật (nếu có) hiện nuôi trồng tại nhà dân Các thông tin phỏng vấn được kiểm định qua nhiều người được phỏng vấn khác nhau
Phỏng vấn được tiến hành từ tháng 8-9/2020 tại 10 thôn bản giáp ranh Khu bảo tồn thuộc 5 xã vùng đệm Số lượng phỏng vấn từ 05-10 người/01 thôn Các thông tin phỏng vấn được ghi chép vào phiếu điều tra phỏng vấn 02 loài Lan Thủy tiên hường, Lan hài lông
3.4.2 nP ươgh np áp nđiều ntra np âg nbố n02 nloàitại Khu BTTN Xuân Liên
+ Điều tra theo tuyến: Phương pháp điều tra theo tuyến được thực hiện
để quan sát trực tiếp 02 loài Lan.Phối hợp với cacns bộ của Khu BBTN thiết
Trang 29kế 15 tuyến điều tra đi qua các dạng sinh cảnh rừng của khu vực nghiên cứu, mỗi tuyến khảo sát thường có chiều dài 3-6 km tùy thuộc vào điều kiện địa hình, mỗi tuyến cách nhau 500m (Bảng 01) Bản đồ sử dụng được xây dựng theo các dạng sinh cảnh của khu bảo tồn với tỷ lệ 1/25.000, hệ tọa độ: UTM Zone 48, Northern Hemisphere (WGS84) [EPSG: 32648] và máy định vị GPS cũng cài đặt hệ tọa độ UTM để xác định toạ độ các khu vực điều tra cũng như các điểm quan sát được
Bảng 3.1: Tuyến điều tra hiện trạng phân bố
STT
tuyến Tên tuyến
Tọa độ điểm đầu (hệ tọa độ UTM)
Tọa độ điểm cuối (hệ tọa độ UTM) Chiều
dài (km)
Sinh cảnh rừng
Trang 30STT
tuyến Tên tuyến
Tọa độ điểm đầu (hệ tọa độ UTM)
Tọa độ điểm cuối (hệ tọa độ UTM)
Chiều dài (km)
Sinh cảnh rừng
Lán ông Thường
Trang 31STT
tuyến Tên tuyến
Tọa độ điểm đầu (hệ tọa độ UTM)
Tọa độ điểm cuối (hệ tọa độ UTM)
Chiều dài (km)
Sinh cảnh rừng
+ Xác định hiện trạng quần thể: Trong quá trình điều tra trên tuyến, khi
phát hiện 02 loài lan trên tuyến điều tra, sẽ tiến hành quan sát ghi chép thông