1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hệ thực vật rừng và đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn tại khu di tích lịch sử núi bà rá, thị xã phước long, tỉnh bình phước

169 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hệ thực vật rừng và đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn tại khu di tích lịch sử Núi Bà Rá, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
Tác giả Trần Thị Chinh
Người hướng dẫn TS. Đặng Việt Hùng
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy luận văn: “Nghiên cứu hệ thực vật rừng và đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước” được thực hiện sẽ cho chúng ta

Trang 1

TRẦN THỊ CHINH

NGHIÊN CỨU HỆ THỰC VẬT RỪNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO TỒN TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NÚI BÀ RÁ, THỊ XÃ PHƯỚC LONG,

TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

Đồng Nai, 2022

Trang 2

TRẦN THỊ CHINH

NGHIÊN CỨU HỆ THỰC VẬT RỪNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO TỒN TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NÚI BÀ RÁ, THỊ XÃ PHƯỚC LONG,

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

MÃ SỐ: 862 02 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐẶNG VIỆT HÙNG

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Đồng Nai, ngày … tháng …… năm 2022

Người cam đoan

Trần Thị Chinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều

sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức Tôi vô cùng biết ơn tất cả!

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đặng Việt Hùng, người đã hướng dẫn khoa học tận tình và chu đáo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm liên huyện, thị xã Bù Gia Mập - Phước Long, trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp những thông tin, tư liệu cần thiết trong suốt thời gian thực hiên việc nghiêncứu tại đơn vị

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ Kiểm lâm đang công tác tại Hạt Kiểm lâm liên huyện, thị xã Bù Gia Mập- Phước Long đã tận tình giúp đỡ và tham gia với tôi trong công tác nghiên cứu tại thực địa đề tài tại khu vực Núi Bà Rá

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhà trường, gia đình cùng bạn bè, về sự ân cần, hỗ trợ hết lòng và sự cảm thông đối với công việc nghiên cứu thực địa và học tập của tôi

Đồng Nai, ngày …… tháng … năm 2022

Tác giả

Trần Thị Chinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU MẪU viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 3

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 3

1.1.1.Nghiên cứu về hệ thực vật 3

1.1.2.Nghiên cứu thảm thực vật 4

1.2.Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam 8

1.2.1.Nghiên cứu hệ thực vật 8

1.2.2.Nghiên cứu thảm thực vật 12

1.3.Nghiên cứu yếu tố địa lý thực vật 21

1.4.Nghiên cứu phổ dạng sống 25

Chương 2 27

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 27

Trang 6

2.2.Mục tiêu nghiên cứu

27

2.2.1Mục tiêu tổng quát 27

2.2.2Mục tiêu cụ thể 27

2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.3.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Nội dung nghiên cứu 28

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.3.Xử lý và trình bày mẫu 32

2.4.4.Giám định tên khoa học 32

2.4.5.Lập danh lục thành phần loài 32

2.4.6.Phương pháp đánh giá về đa dạng thực vật 32

2.4.7.Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm, ưu tiên bảo tồn 34

2.4.8 Phương pháp điều tra, đánh giá tác động của người dân địa phương 35

2.4.9 Phương pháp xây dựng đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn tài nguyên thực vật rừng 36

Chương 3 38

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 38

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 38

3.1 Đặc điểm tự nhiên 38

Trang 7

3.1.1 Vị trí địa lý 38

3.1.2 Địa hình 39

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 39

3.1.4 Khí hậu, thủy văn 39

3.2 Dân sinh, kinh tế, xã hội 42

3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động 42

3.2.2 Tình hình Kinh tế 44

3.2.3 Tình hình phân bố dân cư xung quanh Khu di tích lịch sử núi Bà Rá 45

3.2.4 Tình hình xã hội 45

3.3 Giao thông 47

3.3.1 Hệ thống giao thông đường nội bộ trong khu vực 47

3.3.2 Hệ thống giao thông đường thủy 48

3.4 Hiện trạng tài nguyên rừng Khu di tích lịch sử núi Bà Rá 49

3.4.1 Hiện trạng diện tích, trạng thái, chất lượng các loại rừng 49

3.4.2 Tổng trữ lượng, trữ lượng bình quân các loại rừng 52

3.4.3 Hiện trạng phân bố lâm sản ngoài gỗ 53

Chương 4 54

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 54

4.1 Đa dạng hệ thực vật rừng 54

4.2 Đa dạng loài thực vật rừng 56

4.2.1 Đa dạng hệ thực vật ở bậc ngành 56

4.2.2 Đa dạng ở bậc dưới ngành 60

4.2.2.1 Đa dạng bậc họ 60

4.2.3 Đa dạng về dạng sống 64

4.2.4 Đa dạng về công dụng 66

4.2.5 Đa dạng về giá trị bảo tồn 69

4.3 Các tác động của người dân địa phương tới tài nguyên thực vật rừng tại Khu di tích núi Bà Rá 74 4.4 Công tác quản lý, xử lý vi phạm pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ và phát

Trang 8

triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học 75

4.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững 76

4.5.1 Giải pháp về tổ chức quản lý 76

4.5.2 Giải pháp về tuyên truyền, đào tạo nguồn nhân lực, ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng 76

4.5.3 Giải pháp về khoa học, công nghệ 77

4.5.4 Giải pháp về nguồn vốn, huy động nguồn vốn đầu tư 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 93

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN: Bảo tồn thiên nhiên

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU MẪU

Bảng 3.1 Thống kê dân số, dân tộc và lao động 43

Bảng 3.2 Kinh tế nông nghiệp các xã, phường thị xã Phước Long 44

Bảng 3.3 Thống kê về giáo dục và đào tạo địa bàn thị xã Phước Long 45

Bảng 3.4 Hiện trạng giao thông thị xã Phước Long 48

Bảng 3.5 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp Khu di tích lịch sử núi Bà Rá năm 2020 50

Bảng 3.6 Tổng trữ lượng và trữ lượng bình quân theo các trạng thái rừng 52

Bảng 4.1 Thành phần các taxon của hệ thực vật tại núi Bà Rá 57

Bảng 4.2 Tỷ trọng của hệ thực vật KVNC so với hệ thực vật Việt Nam 58

Bảng 4.3 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật KVNC 59

Bảng 4.4 Tỷ trọng của lớp Ngọc lan so với lớp Hành 60

Bảng 4.5 Các họ đa dạng nhất của hệ thực vật núi Bà Rá 61

Bảng 4.6 Các chi đa dạng nhất hệ thực vật KVNC 62

Bảng 4.7 Xác định các chỉ số đa dạng về loài thực vật trong các ÔTC 63

Bảng 4.8 Phổ dạng sống của hệ thực vật núi Bà Rá 65

Bảng 4.9 Giá trị sử dụng của hệ thực vật núi Bà Rá 67

Bảng 4.10 Thành phần các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 70

Mẫu biểu 01 Biểu điều tra tuyến 30

Mẫu biểu 02 Phiếu điều tra thực thân gỗ tại khu vực nghiên cứu 30

Mẫu biểu 03 Tọa độ các ÔTC điều tra 31

Trang 12

MỞ ĐẦU

Khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh núi Bà Rá (sau đây gọi tắt là Khu di tích lịch sử núi Bà Rá) tỉnh Bình Phước được thành lập theo Quyết định số 194/CT ngày 09/08/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) và Quyết định số 1959/QĐ-UB ngày 16/10/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước Khu di tích lịch sử núi Bà Rá được công nhận là di tích lịch sử và thắng cảnh theo Quyết định số 1568/BT ngày 20/04/1995 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin thuộc địa bàn các phường Sơn Giang, phường Thác Mơ và xã Phước Tín

Theo quyết định 3444/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 của UBND tỉnh Bình Phước về việc phê duyệt hồ sơ (Dự án điều tra đánh giá diện tích rừng, trạng thái rừng theo đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước), diện tích rừng

và đất chưa có rừng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá là 1.238,50 ha bao gồm rừng tự nhiên là 662,93 ha và rừng trồng là 406,74 ha và đất chưa có rừng là 168,83 ha Toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp tại khu vực này được quy hoạch đất rừng đặc dụng và giao cho Hạt Kiểm lâm liên huyện, thị xã Bù Gia Mập - Phước Long làm đơn vị chủ rừng quản lý

Hiện nay khu rừng này có ý nghĩa rất quan trọng về môi trường, văn hóa tâm linh, du lịch sinh thái trong đời sống của nhân dân tỉnh Bình Phước nói riêng và các tỉnh thành trên cả nước nói chung Hàng năm người dân địa phương, khách thập phương về đây để ngắm cảnh, đi chùa rất nhiều đặc biệt

là vào các dịp lễ, tết, rằm tháng riêng

Trong những năm qua Hạt Kiểm lâm liên huyện, thị xã Bù Gia Mập - Phước Long, UBND thị xã Phước Long đã có nhiều nỗ lực để triển khai thực hiện các nhiệm vụ về quản lý, bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó tập trung bảo tồn đa dạng hệ thực vật đang hiện hữu ở đây Tuy nhiên,

do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đa dạng sinh học tại khu vực này vẫn

Trang 13

đang có dấu hiệu bị suy giảm, tình trạng lấy cắp lâm sản gỗ đặc biệt là các loài

gỗ nguy cấp, quý, hiếm, khai thác lâm sản ngoài gỗ, vẫn còn xảy ra chưa thể ngăn chặn triệt để Nếu tình trạng này vẫn kéo dài sẽ làm thất thoát các nguồn tài nguyên thực vật, suy giảm đa dạng sinh học và kéo theo sự mất cân bằng

về sinh thái tại khu vực này

Bên cạnh đó qua rà soát, thì từ trước đến nay, tại Khu di tích lịch sử núi

Bà Rá chưa có công trình, đề tài, dự án nghiên cứu nào liên quan đến thực vật

rừng Vì vậy luận văn: “Nghiên cứu hệ thực vật rừng và đề xuất giải pháp

quản lý bảo tồn tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước” được thực hiện sẽ cho chúng ta thấy cái nhìn tổng quan, toàn

diện và cập nhật đầy đủ hơn về thảm thực vật, các loài thực vật bậc cao có mạch nhất là loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, đặc trưng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá Luận văn cũng nhận định, phân tích nhằm xác định các mối

đe dọa cả từ các hoạt động của con người và từ tự nhiên từ đó đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn có hiệu quả tài nguyên thực vật rừng của Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới

sở thực vật" đã mô tả được khoảng 500 loài cây cỏ Sau đó nhà bác học La

Mã Plinus (79-24 TCN) viết bộ "Lịch sử tự nhiên" (Historia Naturalis), đã mô

tả gần 1.000 loài cây Cùng thời này có Dioseoride (20-60) một thầy thuốc của vùng Tiểu Á đã viết cuốn sách "Dược liệu học" chủ yếu nói về cây thuốc với hơn 500 loài cây và xếp chúng vào các họ khác nhau [11]

Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ (XV - XVI) có các công trình của Andrea Caesalpino (1519 - 1603) ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên về thực vật [12]; John Ray (1628 -1705) mô tả được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn "Lịch

sử thực vật” [12] Tiếp sau đó Linnée (1753) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật lúc bấy giờ Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng

và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị phân loại: Giới, ngành, lớp, bộ,

Trang 15

[17] Đáng lưu ý, R K Brummitt (1992), chuyên gia của Bảo tàng Thực vật Hoàng Gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 13.884 chi, 511 họ thuộc

6 ngành là: Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Trong đó Magnoliophyta có 13.477 chi, 454

họ và được chia ra 2 lớp là Magnoliopsida bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Liliopsida bao gồm 2.762 chi, 97 họ [18] V H Heywood (2007) đã ghi nhận thực vật có hoa trên thế giới với ước tính có khoảng 250.000 loài [19] Gần đây, dựa trên sinh học phân tử các nhà nghiên cứu về thực vật phân loại dựa vào chủng loại phát sinh đã phân chia các lớp, phân lớp theo hệ thống APG IV [20]

Ở các nước châu Âu, châu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thổ đã được hoàn thành từ lâu Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (Herbarium) như: Kew (Anh), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga) Vì vậy, khi xây dựng các Khu BTTN và VQG hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ Một số công trình tiêu biểu của một số nước châu Á như: Thực vật chí Ấn Độ [21], Thực vật chí Malaixia (1948-1972) [22], Thực vật chí Thái Lan (1970-2012) [23], Thực vật chí Hải Nam (1971-1980) [24], Thực vật chí Vân Nam (1977- 1997) [25], Thực vật chí Trung Quốc (1994-2013), (1968-2000) [26], [27], Thực vật chí Hồng Kông (2007-2009) [28], Thực vật chí Đài Loan (1993- 2000) [29],…

Như vậy, nghiên cứu về đa dạng thực vật nói chung trên thế giới ở các nước tiên tiến đã có các công trình khá đầy đủ về thực vật chí, phòng tiêu bản thực vật

để giúp cho quá trình tra cứu và nghiên cứu tiếp theo được thuận lợi và dễ dàng

1.1.2 Nghiên cứu thảm thực vật

Nghiên cứu về thảm thực vật, có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan

Trang 16

điểm đều đưa ra những cách thức phân loại riêng theo từng mục đích như phân loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo Đây là hướng cổ điển được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng như A F Schimper (1903) [30], Champion (1936) [31], A Aubréville (1949) [32], Schimithusen (1959) [33], UNESCO (1973) [34],… Cơ sở phân loại của xu hướng này thường là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật Champion (1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn dựa vào nhiệt

độ là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao [31] Bear (1944) đã đưa ra hệ thống 3 cấp là: quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ [35] Forber (1958) đưa ra đề

án hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới dựa vào hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớp quần hệ, quần hệ và phân quần hệ [36] Theo Schimitthusen (1959), ở châu Âu hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu phân loại theo quần xã thực vật Ở Phần Lan, A K Caiande lại dựa vào thực vật thảm tươi để phân loại rừng Ông cho rằng trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phần Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng Tuy thế, điều này không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không

có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như lửa rừng, khai thác,… cũng ảnh hưởng lên thảm tươi [33]

Ở Mỹ, phân loại rừng chủ yếu dựa vào học thuyết cực đỉnh (climax) của Clement Theo học tuyết này, climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu Khí hậu là nhân tố để xác định Climax [33]

Cũng theo Schmitthusen (1959), thảm tươi trên trái đất được chia thành

9 lớp quần hệ là: lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ Sa-van,

Trang 17

lớp quần hệ đồng cỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống 1 năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ đồng rêu, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển [33]

Năm 1973, UNESCO đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên thế giới dựa theo nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, được thể hiện trên bản đồ 1:2.000 000; chia có 5 lớp quần hệ trên thế giới làm 5 lớp quần hệ là lớp quần

hệ rừng rậm, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã gần gũi và lớp quần hệ cây thảo Mỗi lớp quần hệ lại chia

ra thành các phân lớp, mỗi phân lớp lại chia ra thành các nhóm quần hệ và sau

đó mới đến các quần hệ Mỗi quần hệ được phân nhỏ thành các phân quần hệ

và dưới đó là quần hợp [34] Hệ thống đó được sắp xếp như sau:

Đến nay, dù dưới các hình thức phân loại khác nhau, dựa trên những nhân

tố khác nhau, nhưng 14 nhóm thảm thực vật chính trên trái đất được nhiều tác giả công nhận Các nhóm đó đan xen vào nhau và xuất hiện trong các đai khí hậu khác nhau Điều đó được thể hiện khá rõ nét trên cơ sở bản đồ của Udvardy (1975) và sơ đồ phân loại của Holdridge (1867) Chi tiết các nhóm như sau:

Trang 18

1 Rừng mưa nhiệt đới

2 Rừng mưa á nhiệt đới-ôn đới

3 Rừng lá kim ôn đới

4 Rừng khô nhiệt đới

Việc phân loại rừng nhằm các mục đích kinh doanh đều rất đa dạng với nhiều trường phái và phương pháp phân loại khác nhau như: trường phái Liên

Xô cũ, trường phái Pháp, trường phái Hà Lan, trường phái Mỹ, trường phái Canada,… Nói chung tùy mục đích nghiên cứu, mỗi trường phái lựa chọn yếu

tố chủ đạo và đưa ra nguyên tắc phân loại khác nhau

Nga là một nước có lịch sử lâu dài về vấn đề phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ 20, Môrôđốp mới là người đầu tiên đặt nền móng chắc chắn cho vấn đề phân loại rừng phục vụ kinh doanh Theo ông, kiểu rừng là tập hợp các lâm phần có thể khác nhau về những đặc trưng thứ yếu nhưng lại tương tự nhau về lập địa, đặc biệt là nhân tố thổ nhưỡng Ông đã tiến hành phân loại rừng theo 5 yếu tố hình thành rừng: + Đặc tính sinh thái học của cây cao

+ Hoàn cảnh địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất,…)

+ Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ giữa chúng với động vật

Trang 19

+ Nhân tố lịch sử địa chất

+ Tác động của con người

Kế thừa học thuyết của Môrôđốp và dựa trên quan điểm coi rừng là một sinh địa quần lạc, Sucasốp đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng

mà theo ông nó phải dựa vào những đặc điểm tổng hợp để phân loại Theo đó, khi tiến hành phân loại rừng yếu tố đầu tiên cần phải chú ý là địa hình, sau đó

từ năm 1907 tới 1952 bởi nhà thực vật người Pháp là H Lecomte chủ biên cùng cộng sự (1907-1951) [39] Trong công trình này, các tác giả người Pháp

đã thu mẫu và định tên, lập khoá định loại và mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ ba nước Đông Dương Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông

Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê Khu Hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao

có mạch thuộc 1.850 chi và 289 họ Trong đó: ngành Ngọc lan có 3.366 loài (90,9%), 239 họ (82,7%) và 1.727 chi (93,4%) Ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài (8,6%), 42 họ (14,5%) và 205 chi (5,57%); ngành Thông

39 loài (0,5%), 8 họ (2,8%), 18 chi (0,9%) [40], [41]

Tiếp theo phải kể đến bộ sách Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam

"Flore du Cambodge du Laos et du Vietnam" do Aubréville khởi xướng và

Trang 20

chủ biên (1960-2001) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có [42] Năm 1969-1984, Lê Khả Kế và cộng sự công bố bộ sách “Cây cỏ thường thấy

ở Việt Nam” [43] Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) khi nghiên cứu một số đặc điểm của Hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận có 10.192 loài thuộc 2.298 chi,

285 họ của 6 ngành thực vật [44]

Đáng chú ý nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1993)

xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 - 2000), thống kê mô tả 11.611 loài, thuộc 3.179 chi, 295 họ và 6 ngành [45], [46] Năm 2001, 2003, 2005, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Khoa

học và Công nghệ Việt Nam lần lượt công bố 3 tập "Danh lục các loài thực vật Việt Nam", trong đó đã cập nhật, thống kê được tương đối đầy đủ các loài

thực vật có ở Việt Nam Trong tài liệu này, đã công bố 11.238 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 2.435 chi, 327 họ [1], [47]

Những năm gần đây, các tập Thực vật chí Việt Nam về một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Lan (Orchidaceae) ở Việt Nam của L V Averyanov and A V Averyanov (2003) [48], [49], họ Na (Annonaceae) của Nguyễn Tiến Bân (2000) [50], họ Bạc hà (Lamiaceae) (2000) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) (2007) của Vũ Xuân Phương [51], [52], họ Cói (Cyperaceae) của Nguyễn Khắc Khôi (2002) [53], họ Đơn nem (Myrsinaceae) của Trần Thị Kim Liên (2002) [54], họ Trúc đào (Apocynaceae) của Trần Đình

Lý (2007) [55], họ Cúc (Asteraceae) của Lê Kim Biên (2007) [56], Chi Hoàng

thảo (Dendrobium) của Dương Đức Huyến (2007) [57], họ Rau răm

(Polygonaceae) và Bộ loa kèn (Liliales) của Nguyễn Thị Đỏ (2007) [58], [59],

họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) [60],

họ Long não (Lauraceae) của Nguyễn Kim Đào (2017) [61], họ Gừng

Trang 21

(Zingiberaceae) của Nguyễn Quốc Bình (2017) [62], họ Tai voi (Gesreniaceae) của Vũ Xuân Phương (2017) [63], họ Chè (Theaceae) của Nguyễn Hữu Hiến (2017) [64], họ Thiên lý (Asclepiadaceae) của Trần Thế Bách (2017) [65], họ Bồ hòn (Sapindaceae) của Hà Minh Tâm (2017) [66],

họ Cau (Arecaceae) của Trần Thị Phương Anh [67], họ Bông (Malvaceae) của Đỗ Thị Xuyến [68], họ Cà (Solanaceae) và họ Mã tiền (Loganiaceae) của

Vũ Xuân Phương và Vũ Văn Hợp [69], họ Ráy (Araceae) của Nguyễn Văn

Dư (2017) [70]

Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật,

Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập "Cây gỗ rừng Việt Nam"

(1971-1988) [71] Vũ Văn Dũng chủ biên (1996) [72] Trần Đình Lý và tập thể (1993)

công bố "1900 loài cây có ích ở Việt Nam" [73]; Võ Văn Chi (1997) công bố cuốn “Từ điển Cây thuốc Việt Nam”, đã thống kê có hơn 3.700 loài và năm

2012 tái bản bổ sung nâng tổng số lên hơn 4.700 loài cây thuốc [74], [75]; Tập

thể tác giả thuộc Viện Dược liệu (2004) cho ra cuốn "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam" với 3.948 loài thực vật và nấm được sử dụng làm thuốc [76]; Trần Hợp (2003) công bố "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" đã giới thiệu 433

loài cây gỗ có giá trị sử dụng [77]

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở các VQG,

Khu BTTN như “Đa dạng thực vật VQG Cúc Phương” của Phùng Ngọc Lan

và cộng sự (1996) [78], Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù Mát (2004) [79], Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô ở VQG Bạch Mã (2003) [80], Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến ở Khu BTTN Na Hang (2006)

[81] Năm 2008, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự cho xuất bản cuốn “Đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên”, đã thống kê được 2.024 loài thực vật bậc cao có

mạch thuộc 771 chi, 200 họ và 6 ngành [82], Trần Minh Hợi và cộng sự ở VQG Xuân Sơn (2008) [83], Đậu Bá Thìn và cộng sự (2016), Đa dạng thực

Trang 22

vật ở Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa [84]

Gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về các hệ thực vật khác nhau trong cả nước điển hình như: Hệ thực vật trên đá vôi tỉnh Hòa Bình của Nguyễn Nghĩa Thìn, Trần Quang Ngọc (1997) [85]; Hệ thực vật Kon Ka Kinh (tỉnh Gia Lai) của Trần Quang Ngọc (1999) [86]; Hệ thực vật ở Cát Tiên (tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng) của Nguyễn Nghĩa Thìn, Phạm Phú Long, Trần Văn Mùi (2000) [87] Tiếp theo là công trình của Nguyễn Nghĩa Thìn, Vũ Anh Tài (2004) [88]; Hệ thực vật Chư Mom Ray (tỉnh Kon Tum) của Hồ Mạnh Tường, Lê Văn Chẩm, Đỗ Tước, Hoàng Văn Tuệ, Nguyễn Cử (2006) [89]; Hệ thực vật núi đá vôi Bến En (Thanh Hóa) của Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2007) [90]; Hệ thực vật Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) của Đỗ Ngọc Đài, Lê Thị Hương (2008) [91]; Hệ thực vật VQG Núi chúa, Ninh Thuận của Lý Ngọc Sâm (2009) [92]; Hệ thực vật trên núi đá vôi vùng Đông Bắc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ

An của Nguyễn Đức Linh, Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài (2010) [93]; Hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên (Thanh Hóa) của Đỗ Ngọc Đài, Lê Thị Hương (2010) [94]; Hệ thực vật Vân Long (Ninh Bình) của Bùi Thu Hà, Trần Thế Bách (2011) [95]; Hệ thực vật Tà Sùa, tỉnh Sơn La của Đỗ Văn Trường, Lê Văn Phúc (2011) [96]; Hệ thực vật Pù Hu (Thanh Hóa) của Hoàng Văn Sâm, Nguyễn Hữu Cường (2011) [97]; Hệ thực vật Nam Xuân Lạc, Chợ Đồn (Bắc Kạn) của Nguyễn Thị Bích Hạnh, Ma Thị Ngọc Mai, Lê Đồng Tấn (2011) [98]; Hệ thực vật VQG Xuân Sơn, Phú Thọ của Nguyễn Thị Yến (2014) [99],

Hệ thực vật VQG Ba Vì của Trần Minh Tuấn (2014) [100], Hệ thực vật VQG

Vũ Quang, Hà Tĩnh của Lê Thị Hương và cs (2015) [101]; Đa dạng hệ thực vật Khu BTTN Hữu Liên của Chu Hoàng Anh Tuấn và cộng sự (2015) [102];

Hệ thực vật VQG Xuân Thủy, Nam Định của Phan Thị Hà và cộng sự (2015) [103]; Đa dạng thực vật tại Khu BTTN Nà Hầu của Ma Thị Ngọc Mai và cộng

sự (2015) [104]; Hệ Thực vật của tỉnh Bạc Liêu (2016) của Đặng Văn Sơn và

Trang 23

cộng sự [105]; Hệ thực vật Xuân Liên của Đặng Quốc Vũ (2016) [106]; Nghiên cứu tính đa dạng thực vật cấu trúc rừng tại Rừng quốc gia Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh của Phan Thanh Luân (2017) [107]; Đinh Thị Hoa (2017) Hệ thực vật Khu BTTN Xuân Nha [108]; Hệ thực vật tỉnh Bắc Kạn của Nguyễn Chí Hiểu và cộng sự (2017) [109]

Như vậy, nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam nói chung và các vùng sinh thái nói riêng (chủ yếu là các VQG và Khu BTTN) đã và đang được chú trọng Tuy nhiên, cần đầu tư trọng điểm về các phòng tiêu bản mẫu thực vật khô để phục vụ cho công tác nghiên cứu tiếp theo Ngoài ra, cần tập trung nghiên cứu để xuất bản các tập tiếp theo của bộ Thực vật chí Việt Nam

1.2.2 Nghiên cứu thảm thực vật

Nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam, năm 1918, nhà bác học Pháp, Chevalier là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới) [110] Theo bảng phân loại này, rừng ở miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu thảm thực vật Năm 1943, kỹ sư lâm học người Pháp, Maurand đã chia Đông Dương thành 3 vùng thảm thực vật [111]:

 Thảm thực vật Bắc Đông Dương

 Thảm thực vật Nam Đông Dương

 Thảm thực vật vùng trung gian

Theo bảng phân loại này vùng Đông Dương có 8 kiểu rừng

Năm 1953, ở miền Nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam Việt Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil Năm 1956, giáo sư người Trung Quốc, Dương Hàm Nghi đã xếp loại thảm

Trang 24

thực vật rừng miền Bắc Việt Nam theo một bảng phân loại mới [40] Năm

1962, ở miền nam Việt Nam còn xuất hiện một bản phân loại thảm thực vật rừng Nam Trường Sơn Bản phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục Điều tra và Quy hoạch rừng thuộc Tổng cục lâm nghiệp Việt Nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960, theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm bốn loại hình lớn:

+ Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng

+ Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa

+ Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo

+ Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa

 Đai rừng nhiệt đới mưa mùa

 Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa

 Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao

Hiện nay, ngành lâm nghiệp sử dụng hệ thống này để đánh giá chất lượng rừng, làm cơ sở cho công tác điều tra ngoại nghiệp và lập bản đồ hiện trạng rừng và đất rừng

Trang 25

Trên quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng (1978, 1999) [40], [41] đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam Trong hệ thống này, tác giả

đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở Việt Nam vào một khung hợp lý, qui định được trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồng thời lại theo một trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu xấu nhất Đây là một công trình tổng quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái Tuy nhiên theo tác giả thì bảng phân loại này thuộc loại đặc biệt hay mang tính chất địa phương của một vùng hay một khu vực Bảng phân loại được chia làm hai nhóm: Nhóm các kiểu thảm thực vật ở vùng thấp (có độ cao dưới 1000m ở miền Nam và dưới 700m

ở miền Bắc) và nhóm các kiểu thảm thực vật ở vùng cao (có độ cao trên 1.000

m ở miền Nam và trên 700 m ở miền Bắc), cụ thể:

- Nhóm các kiểu thảm ở độ cao dưới 1.000 m ở miền Nam, dưới 700

m ở miền Bắc có các kiểu sau:

+ Các kiểu rừng rú kín vùng thấp:

(1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa hơi ẩm nhiệt đới: Là quần thụ nhiều tầng, cao 25 - 30m, cây gỗ lớn thường xanh, các loài cây chủ yếu: Dầu, Sao, Kiền kiền, Chò chỉ, Chò nâu, Dầu rái, Táu, Vên vên,

(2) Kiểu rừng kín nửa rụng lá khô nhiệt đới: Là quần thụ phải bao gồm có 25%-75% cây rụng lá Loài cây chủ yếu là các loài thuộc các họ: Dầu, Bàng, Tử vi, Dâu tằm, Xoan, Bời lời, Đậu, Trôm, Mỡ, Bồ đề, Lim, Sau sau và Nứa

(3) Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới: Kiểu này có cấu trúc đơn giản, gồm 2 tầng, tầng cao gồm những cây rụng lá cao trung bình 25m, tầng dưới cao 15 - 20m Các loài cây chủ yếu: Tử vi, Thung, Dẻ, Sau sau, Gạo,

Sổ, Bồ đề, Xoan, Thầu tấu lông, Thành ngạnh,

(4) Kiểu rú kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới: kiểu này ít gặp ở Việt Nam, thường ở ven biển và Nam Trường Sơn

Trang 26

+ Các kiểu trảng, truông:

(1) Kiểu trảng cây to, cây bụi cỏ cao, khô nhiệt đới (gặp nhiều ở miền Nam, ở miền Bắc gặp ở Hà Giang, Bắc Kạn, Lai Châu, Nghệ An, Hà Tĩnh) Đặc điểm của kiểu này là tầng ưu thế sinh thái là tầng cỏ, trong tầng cây thì mật độ cây to, nhỏ, cây bụi rất thưa thớt Thực vật chủ yếu là các loài thuộc các họ Lúa, họ Tuế, họ Thầu dầu, họ Trôm và họ Cúc

(2) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới (thường gặp ở vùng thấp và cao trung bình) với nét đặc trưng là thành phần thực vật chủ yếu là cây bụi có gai, và thảm cỏ thưa thớt

- Nhóm các kiểu thảm vùng núi có độ cao trên 1.000 m (ở miền Nam)

Trang 27

(4) Đó là các kiểu rừng vùng cao, có các quần thụ cây gỗ kín rậm Thực vật gồm: Dẻ, Re, Mộc lan, Sau sau, Cáng lò, Tre gầy, Giang, Nghiến, Kim giao, Hoàng đàn

+ Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao:

(5) Kiểu quần hệ khô vùng cao: Đó là rừng cây bụi nhỏ, trảng cỏ cao,

cỏ thấp, nhóm loài ưu thế, đặc trưng gồm: Dẻ, Óc chó, Cỏ lách, Cỏ lào, Ngải cứu

(6) Kiểu quần hệ lạnh vùng cao (thường gặp ở đỉnh núi cao như Phan

Si Phăng, Tà Pình, Tây Côn Lĩnh ) nhóm loài ưu thế, đặc trưng gồm: Dẻ, Pơ

mu, Đỗ quyên, Thông

Trong công trình này, các nhân tố sinh thái phát sinh được tác giả Thái Văn Trừng đề cập, làm cơ sở để phân chia các kiểu, kiểu phụ/kiểu trái thảm thực vật Các nhóm nhân tố này sẽ được trình bày ở phần sau

Phan Kế Lộc (1985) [113], dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa ra khung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam có thể thể hiện được trên bản đồ 1:2.000.000 Bảng phân loại gồm có 5 lớp quần hệ Mỗi một phân lớp quần hệ lại phân thành các liên quần hệ, nhóm quần hệ, quần hệ và thấp nhất là phân quần hệ:

- Lớp quần hệ 1: Rừng rậm Lớp quần hệ này gồm 3 phân lớp quần hệ chính là: rừng thường xanh, rừng rụng lá và rừng khô

+ Phân lớp quần hệ rừng thường xanh nhiệt đới

 Nhóm quần hệ rừng mưa thường xanh

 Nhóm quần hệ rừng mưa mùa thường xanh

 Nhóm quần hệ rừng nửa rụng lá nhiệt đới

+ Phân lớp quần hệ rừng rụng lá nhiệt đới

+ Phân lớp quần hệ rừng khô nhiệt đới

Trang 28

+ Phân lớp quần hệ lá rộng rụng lá vùng núi và vùng đất thấp

+ Phân lớp quần hệ rừng thưa khô

 Nhóm quần hệ rừng thưa lá cứng khô

 Nhóm quần hệ rừng thưa có gai

- Lớp quần hệ trảng cây bụi

- Lớp quần hệ trảng cây bụi lùn

- Lớp quần hệ trảng cỏ

M Schmid (1974) [114], trong công trình “Végéstation du Vietnam Le massif Sud-Annamitique et Les Régiónes Limitrophes” đã mô tả các đơn vị thảm thực vật Việt Nam theo các sinh khí hậu khác nhau, gồm:

- Sinh khí hậu nửa khô nóng:

+ Thảm thực vật trên đồi núi ven biển

 Rừng còi khu vực núi Chúa

 Rừng thưa trên sườn núi

Trang 29

 Rừng rụng lá chân sườn núi

 Trảng cây bụi, trảng cỏ thứ sinh

+ Thảm thực vật trên đất không phải bazan

 Thảm tre nứa trên đất dày

 Rừng thưa trên đất mỏng sỏi sạn

- Sinh khí hậu ẩm gần núi: thường ở độ cao 600-1.200 m, mùa khô tương đối dài:

+ Rừng kín thường xanh trên đất dốc thoát nước tốt

Trang 30

 Rừng kín thường xanh trên đá bazan

 Rừng kín thường xanh trên sườn núi không phải là bazan, độ cao dưới

- Sinh khí hậu nửa ẩm gần núi (độ cao 600-1.200 m)

+ Thảm thực vật trên đất bazan dày

 Rừng thưa trên đất sỏi sạn (cây lá rộng) và tro tàn núi lửa

 Rừng thưa trên đất ngập nước tạm thời

+ Thảm thực vật ngập nước

+ Thảm thực vật ven suối

Trang 31

+ Thảm thực vật trên đồng bằng phù sa

- Sinh khí hậu luôn ẩm vùng núi (độ cao trên 1.200 m)

+ Rừng kín thường xanh trên đất xít

+ Rừng kín thường xanh trên đá granit

+ Nhóm thảm thực vật đặc biệt

 Thảm thực vật trên các mỏm và đỉnh

 Rừng rêu

 Thảm thực vật ở thung lũng hẹp trên núi

 Khu phân bố tập trung rừng thông ba lá

 Trảng cây bụi thấp bé theo suối

Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) [78], áp dụng phương pháp của UNESCO đã nghiên cứu và mô tả các kiểu thảm thực vật VQG Cúc Phương (Ninh Bình), gồm 3 lớp chính: lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệ trảng cây bụi, lớp quần hệ trảng cỏ Trong đó gồm nhiều lớp phụ và quần hệ rừng khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) [79], đã xây dựng hệ thống thảm thực vật VQG Pù Mát (Nghệ An), gồm: Thảm thực vật tự nhiên (gồm: Rừng kín thường xanh mưa mùa chưa bị tác động ở đai cao; Rừng thường xanh mưa mùa bị tác động mạnh ở đai cao; Rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất thấp chưa bị tác động; Rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất thấp bị tác động

Trang 32

mạnh; Trảng thường xanh nhiệt đới đai thấp; Trảng cỏ thứ sinh nhiệt đới đai thấp, Thảm thực vật trên đất ướt và Thảm nhân tác (Gồm: Trên sườn đất dốc; Đồng bằng và Thảm thực vật bị dẫm đạp)

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về thảm thực vật ở các vùng, VQG, Khu BTTN như: Thảm thực vật VQG Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) của Nguyễn Nghĩa Thìn - Mai Văn Phô (2003) [80]; Thảm thực vật VQG Ba Vì của Trần Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) [116]; Thảm thực vật VQG Yok Đôn của Ngô Tiến Dũng, Hồ Văn Cử, Nguyễn Nghĩa Thìn, Vũ Anh Tài (2006) [117]; Thảm thực vật tỉnh Quảng Trị của Nguyễn Hữu Tứ (2007) [118]; Thảm thực vật Hoàng Liên - Văn Bàn (tỉnh Lào Cai) của Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Toàn Thắng (2008) [119]; Thảm thực vật tự nhiên VQG Hoàng Liên của Vũ Anh Tài và cộng sự (2008) [120], [121], [122]; Thảm thực vật Khau Ca, tỉnh Hà Giang của Vũ Anh Tài và công sự (2009) [123]; Thảm thực vật núi đá vôi Kiên Giang của Lý Ngọc Sâm, Trương Quang Tâm (2009) [124]; Thảm thực vật rừng thứ sinh ở Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên của Đinh Thị Phượng, Lê Ngọc Công, Trần Đình Lý (2009) [125]; Thảm thực vật VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) của Nguyễn Thế Dũng (2011) [126]; Thảm thực vật Thái Nguyên của Đỗ Hữu Thư, Đỗ Thị Hà (2011) [127]

1.3 Nghiên cứu yếu tố địa lý thực vật

Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, các yếu

tố này thể hiện ở yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư, các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu

tố di cư sẽ chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó

Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu bản chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn giống vật nuôi, cây trồng

Trang 33

Phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý trước tiên phải kể đến các công trình của Gagnepain: “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944) [40] Theo tác giả, hệ thực vật Đông Dương bao gồm các yếu tố: Trung Quốc chiếm 33,8%, yếu tố Xích Kim – Himalaya chiếm 18,5%, yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm 15,0%, yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương chiếm 11,9%, yếu tố nhập nội và phân bố rộng chiếm 20,8%

Theo Pócs Tamás (1965) [128], khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, đã phân biệt 3 nhóm các yếu tố như sau:

- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới: 55,27 %

Năm 1978, Thái Văn Trừng [40] căn cứ vào bảng thống kê các loài của

hệ thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu

Trang 34

phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50% (tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs Tamás), còn yếu tố di cư chiếm tỷ lệ 39% (trong đó từ Malaysia - Indonesia là 15%, từ Hymalaya - Vân Nam - Quí Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới

và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%

Năm 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn căn cứ vào các khung phân loại của Pócs Tamás (1965) và Ngô Chinh Dật (1993), tác giả đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau [129]:

1 Yếu tố toàn thế giới

2 Yếu tố liên nhiệt đới

2.1 Yếu tố Á - Mỹ

2.2 Yếu tố nhiệt đới Á, Phi, Mỹ

2.3 Yếu tố Nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương

3 Yếu tố Cổ nhiệt đới

3.1 Yếu tố nhiệt đới Á – Úc

3.2 Yếu tố nhiệt đới Á – Phi

4 Yếu tố châu Á nhiệt đới

4.1 Yếu tố Đông Dương – Malêzi

4.2 Yếu tố Đông Dương - Ấn Độ

4.3 Yếu tố Đông Dương – Himalaya

4.4 Yếu tố Đông Dương - Nam Trung Hoa

4.5 Yếu tố Đông Dương

5 Yếu tố Ôn đới

5.1 Yếu tố Đông Á – Bắc Mỹ

Trang 35

5.2 Yếu tố Ôn đới Cổ thế giới

5.3 Yếu tố Ôn đới Địa Trung Hải

tố đặc hữu chiếm 25,12%; yếu tố Cây trồng chiếm 1,64% [80] Đối với VQG Pù Mát, năm 2004 các yếu tố Địa lý thực vật chính đã được tác giả và cộng sự chỉ

ra như sau: yếu tố Toàn cầu chiếm 2,40%; yếu tố Nhiệt đới chiếm 65,05%; yếu

tố Ôn đới chiếm 5,35%; yếu tố Đặc hữu chiếm 14,19%; yếu tố Cây trồng chiếm 5,56% [79] Năm 2006, khi nghiên cứu hệ thực vật Na Hang [81], Nguyễn Nghĩa Thìn đã đưa ra các yếu tố địa lý như sau: Yếu tố Toàn cầu chiếm 2,58%; Yếu tố Nhiệt đới chiếm 80,21%; yếu tố Ôn đới chiếm 5,25%; yếu tố Đặc hữu chiếm 8,87%; yếu tố Cây trồng chiếm 0,34% Đỗ Ngọc Đài (2009) khi nghiên cứu hệ thực vật núi đá vôi VQG Bến En, Thanh Hóa đã đưa ra yếu tố địa lý với: yếu tố Nhiệt đới chiếm 63,97%; yếu tố Đặc hữu với 31,56%; yếu tố Cổ nhiệt đới chiếm 6,42%; yếu tố Liên nhiệt đới chiếm 1,96%; yếu tố Ôn đới chiếm 3,07%; thấp nhất là yếu tố Cây trồng 0,34% [130] Khi nghiên cứu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên, Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2010) với các yếu tố chính là yếu tố Nhiệt đới chiếm 66,49%, yếu tố Đặc hữu chiếm 14,50%, tiếp đến là yếu tố Gần đặc hữu chiếm 11,45%; yếu tố ôn đới chiếm 2,10%; yếu tố cây trồng 1,79%; yếu tố chưa xác định 3,26% và cuối cùng là yếu tố Toàn cầu 0,42% [94]; Lê Thị Hương

Trang 36

và công sự (2015), khi nghiên cứu hệ thực vật VQG Vũ Quang đã đưa ra các yếu

tố địa lý gồm yếu tố Nhiệt đới chiếm 71,70%, yếu tố Đặc hữu chiếm 13,73%, yếu tố Gần đặc hữu chiếm 6,86%; yếu tố Ôn đới chiếm 3,28%; yếu tố Cây trồng 2,95%; yếu tố Toàn cầu 0,38% [101]

1.4 Nghiên cứu phổ dạng sống

Phổ dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường Vì vậy, việc nghiên cứu phổ dạng sống sẽ cho thấy mối quan

hệ chặt chẽ của các dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện

sự tác động của điều kiện sinh thái đối với từng loài thực vật

Trên thế giới, người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) [131] về phổ dạng sống, thông qua dấu hiệu vị trí chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm Thang phân loại này gồm 5 nhóm phổ dạng sống cơ bản

1 Cây có chồi trên đất (Ph)

2 Cây chồi sát đất (Ch)

3 Cây chồi nửa ẩn (Hm)

4 Cây chồi ẩn (Cr)

5 Cây chồi một năm (Th)

Trong đó cây chồi trên đất (Ph) được chia thành 9 dạng nhỏ

a Cây gỗ lớn cao trên 30 m (Meg)

b Cây trung bình có chồi trên đất cao 8-30 m (Mes)

c Cây nhỏ có chồi trên đất 2-8 m (Mi)

d Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)

e Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp)

f Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)

g Cây có chồi trên đất thân thảo (Hp)

h Cây có chồi trên đất mọng nước (Suc)

i Cây có chồi trên đất ký sinh và bán ký sinh (Pp)

Trang 37

Ở Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tác giả Pócs Tamás (1965) [128] đã đưa ra một số kết quả như sau:

SB = 52,21Ph + 40,68 (Ch,H, Cr) + 7,11Th

Raunkiaer [131] đã phân tích hơn 1000 loài thực vật trên khắp thế giới

và đưa ra phổ dạng sống tiêu chuẩn sau:

Đối với VQG Bạch Mã, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô (2003) [80]

đã công bố dạng sống như sau:

Khi nghiên cứu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên, Đỗ Ngọc Đài và cộng

sự [94] đã cống bố phổ dạng sống như sau: SB = 84,77 Ph + 4,94 Ch + 2,41

Hm + 3,05 Cr + 4,83 Th

Gần đây, Lê Thị Hương và cộng sự [101] đã công bố về dạng sống của hệ thực vật VQG Vũ Quang như sau: SB = 76,81Ph+ 10,14Ch + 4,35Hm+ 4,20Cr + 4,50Th

Trang 38

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học cung cấp dữ liệu khoa học về tính đa dạng của hệ thực vật, đa dạng các loài thực vật và hiện trạng quản lý, bảo tồn tài nguyên thực vật rừng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

- Ý nghĩa thực tiễn từ kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thực vật rừng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

2.2.1 Mục tiêu tổng quát

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thực vật rừng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

2.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục đích trên, đề tài luận văn cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

- Mô tả được đặc điểm hệ thực vật tại KVNC;

- Xác định được tính đa dạng loài thực vật tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá;

- Xác định được những nhân tố ảnh hưởng tới tài nguyên thực vật rừng;

- Đánh giá được thực trạng và đề xuất được giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn

và phát triển tài nguyên thực vật rừng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ các kiểu thảm thực vật và các loài thực vật bậc cao có mạch; các hoạt động quản lý tài nguyên thực vật rừng và các yếu tố tác động đến tài

Trang 39

nguyên thực vật rừng ở Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

- Phạm vi về không gian

Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi Khu di tích lịch sử núi Bà Rá, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 12/2021 đến tháng 6/2022

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật rừng tại KVNC

- Đánh giá tính đa dạng về các taxon thực vật, dạng sống, giá trị sử dụng, các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và vấn đề bảo tồn

- Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương tới tài nguyên thực vật rừng

- Đề xuất một số giải pháp quản lý tài nguyên thực vật rừng tại Khu di tích lịch sử núi Bà Rá

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

2.4.2.1.Phương pháp kế thừa

Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các kết quả nghiên cứu về tài nguyên thực vật rừng đã có ở khu vực nghiên cứu

Trang 40

2.4.2.2 Phương pháp điều tra thực địa

Chọn tuyến và ÔTC để thu mẫu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Thái Văn Trừng (1999) và Klein R.M., Klein D.T (1975)

- Điều tra tuyến

Điều tra theo 9 tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình; các tuyến lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn, để dễ tiếp cận khu vực hơn (Sơ đồ 2.1) Các tuyến điều tra được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng và được đánh dấu trên bản đồ cũng như đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon

có màu dễ nhận biết Trên các tuyến điều tra đều ghi chép, thu thập tiêu bản của tất cả các loài thực vật bậc cao có mạch với nội dung đề ra

Sơ đồ 2.1 Các tuyến điều tra tại KVNC

Nội dung điều tra theo mẫu biểu 01

Ngày đăng: 14/07/2023, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm