TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP NGUYỄN THỊ YẾN ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH CHUYÊN NGÀNH:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN THỊ YẾN
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ NGÀNH: 8440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI XUÂN DŨNG
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này (ngoài những phần được trích dẫn) là
do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực và phù hợp với thực tế, chưa được công bố ở công trình nào
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2022
Người cam đoan
Nguyễn Thị Yến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
và sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Bùi Xuân Dũng, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể cán bộ Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp; các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, cùng các thầy cô giáo ở nhiều bộ môn khác đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình; Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hòa Bình; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lương Sơn; Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hòa Bình; các cơ sở, doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Bờ Trái Sông Đà; Khu công nghiệp Mông Hóa; Khu công nghiệp lương Sơn; Khu công nghiệp Nhuận Trạch đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, cung cấp những thông tin cần thiết để thực hiện nghiên cứu đề tài này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp đã
cổ vũ và động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu học tập và thực hiện luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Nguyễn Thị Yến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu 3
1.1.1 Chất thải rắn 3
1.1.2 Chất thải nguy hại 5
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 6
1.1.4 Ảnh hưởng của các chất thải rắn và chất thải nguy hại đế sức khỏe con người và môi trường 8
1.2 Quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại trên thế giới 9
1.3 Quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại ở Việt Nam 10
1.3.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn tại Việt Nam 10
1.3.2 Các phương pháp xử lý chất thải rắn 12
1.3.3 Cơ chế chính sách và quy hoạch quản lý chất thải ở Việt Nam 18
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20
2.1.1 Mục tiêu chung 20
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Các nội dung nghiên cứu 21
Trang 52.3.2 Phương pháp nghiên cứu 21
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24
3.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới 24
3.1.2 Địa hình, địa thế 24
3.1.3 Khí hậu, thủy văn 26
3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Đặc điểm các khu công nghiệp tỉnh Hòa Bình 33
4.1.1 Số lượng khu công nghiệp và loại hình kinh doanh 33
4.1.2 Thực trạng thoát nước thải và vệ sinh môi trường trong các KCN 53
4.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn, chất thải nguy hại 54
4.2.1 Thành phần, khối lượng CTR,CTNH phát sinh từ các cơ sở sản xuất 54
4.2.2 Hiện trạng thu gom, quản lý và xử lý chất thải nguy hại 66
4.3 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 69
4.3.1 Công tác thực hiện quản lý chất thải nguy hại 69
4.3.2 Kết quả đạt được 72
4.3.3 Các vấn đề còn tồn tại 73
4.4 Đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình 76
4.4.1 Đề xuất về quy trình quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại 76
4.4.2 Đề xuất các biện pháp hỗ trợ nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại 78
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 66
Trang 6RCRA: Resource Conservation & Recovery Act
QĐ - BTNMT: Quyết định - Bộ tài nguyên môi trường
QĐ- TTg Quyết định - Thủ tướng Chính Phủ
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
UNEP United Nations Environmet Programme
WHO World Health Organization
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 13
Bảng 4.1 Các khu công nghiệp đã quy hoạch chi tiết đến năm 2021 33
Bảng 4.2 Phân bố các khu CN tại tỉnh Hòa Bình và dự án đầu tư 49
Bảng 4.3 Các loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN 51
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Vị trí địa lý tỉnh Hòa Bình 25
Hình 4.1 Bản đồ phân bố các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình năm 2021 50
Hình 4.4 Bao bì kim loại có nhiễm TP nguy hại tại KCN Lương Sơn 67
Hình 4.5: Khu vực chứa CTNH tại cơ sở sản xuất KCN Lương Sơn 68
Hình 4.6 Hệ thống quản lý chất thải nguy hại 70
Hình 4.7 Sơ đồ quy trình quản lý kỹ thuật CTRCN - CTNH 76
Hình 4.8 Mô hình cộng đồng tham gia quản lý CTR, CTNH 79
Trang 8MỞ ĐẦU
Tỉnh Hòa Bình là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, là đầu mối giao lưu kinh
tế, văn hóa - xã hội giữa các tỉnh Tây Bắc với vùng đồng bằng Sông Hồng, cũng như vùng Thủ đô Hà Nội (UBND tỉnh Hòa Bình, 2018) Với vị trí địa lý
và điều kiện tự nhiên thuận lợi, tỉnh Hòa Bình có nhiều tiềm năng để phát triển theo hướng vùng kinh tế tổng hợp, bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ trao đổi mua bán và trung chuyển hàng hóa, phát triển du lịch đặc trưng sinh thái núi đồi, bản sắc văn hoá dân tộc Bên cạnh đó, tỉnh Hòa Bình cũng có nhiều điều kiện phát triển nông nghiệp hữu cơ, an toàn; chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và phát triển trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả cũng như rau màu có giá trị kinh tế cao Có nhiều yếu tố thúc đẩy phát triển mạnh công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng do có nhiều loại tài nguyên khoáng sản như: đá vôi, đá xây dựng, đất sét, quặng đa kim…
Trong nhưng năm gần đây, ngành công nghiệp nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, tăng cả về số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp, quy
mô hoạt động và đa dạng cả về loại hình sản xuất Tại Hòa Bình tính đến thời điểm năm 2010, có 02 khu công nghiệp (KCN) có doanh nghiệp hoạt động, với tổng số khoảng 20 cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong KCN Đến nay, Hòa Bình đã có 04 KCN có doanh nghiệp hoạt động, với tổng số khoảng 97
cơ sở, doanh nghiệp hoạt động (UBND tỉnh Hòa Bình, 2019) Ngoài những lợi ích về phát kiển kinh tế do ngành sản xuất công nghiệp mang lại trong những năm gần đây thì quá trình này cũng đang kéo theo những mặt, những tác động hạn chế về môi trường như gia tăng chất thải, thành phần, tính chất nguy hại của chất thải… gây ra những sức ép không nhỏ đối với môi trường Khối lượng chất thải rắn công nghiệp (trong đó có cả chất thải nguy hại) ngày càng lớn (phát sinh khoảng 1.904.066kg/năm Nguy cơ ô nhiễm môi trường
do chất thải rắn (CTR) và chất thải nguy hại (CTNH) gây ra đã và đang trở
Trang 9thành một vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường (UBND tỉnh Hòa Bình, 2018; 2019) Các CTNH không được xử lý an toàn sẽ tích tụ lâu dài trong môi trường, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và không khí, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nói riêng đang tiếp tục nâng cao năng lực trong công tác quản lý, xử lý triệt để CTR, CTNH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2019; UBND tỉnh Hòa Bình, 2017)
Do đó, việc tiến hành đánh giá tình hình phát sinh, thu gom, quản lý và
xử lý CTR, CTNH trong KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình để từ đó đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường là cần thiết và ý nghĩa Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sẽ có cơ sở khoa học và thực tiễn giúp các cơ quan có biện pháp quản lý hiệu quả, hạn chế tác động xấu đến môi trường, góp phần phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường
Để góp phần quản lý CTR và CTNH có hiệu quả, việc chọn đề tài “Đề
xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình” là thực sự cần thiết trong
giai đoạn hiện nay, nhằm thực hiện tốt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng
hợp CTR, gắn liền mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu
1.1.1 Chất thải rắn
Theo Nguyễn Thị Kim Thái và cs (2001), các khái niệm về CTR được định nghĩa như sau:
Chất thải rắn (CTR) là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ
trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…) trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống [12]
Chất thải rắn công nghiệp (CTRCN) là CTR phát thải từ hoạt động sản
xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác Thành phần và tính chất của CTRCN rất đa dạng và phức tạp tùy thuộc vào từng loại công nghệ sản xuất CTRCN có thể là chất vô cơ, chất hữu cơ hoặc
cả hai loại Nghiên cứu thành phần và tính chất của CTR giúp chúng ta có thể
áp dụng công nghệ xử lý phù hợp và hiệu quả Từ nguồn gốc phát sinh, người
ta phân loại kỹ hơn về thành phần, tính chất, mức độ độc hại của chất thải Mục đích của việc phân loại chất thải là nhằm lập “các lý lịch quản lý” và xác định các biện pháp xử lý an toàn CTR [12]
Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): gồm những CTR phát sinh từ hoạt
động hàng ngày của con người Rác sinh hoạt thải ra ở mọi nơi, mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ
và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trường học, các cơ quan nhà nước, CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre gỗ, vải giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả [12]
Trang 11Chất thải rắn nguy hại (CTRNH): là CTR chứa các chất hoặc hợp chất
có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác [12]
Phế liệu: là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu
dùng, được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác [12]
Hoạt động quản lý chất thải rắn: bao gồm các hoạt động quy hoạch
quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người [12]
Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu
giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận [12]
Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh,
thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng [12]
Xử lý chất thải rắn: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ
thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR
Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với
các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh [12]
Hoạt động quản lý chất thải rắn: bao gồm các hoạt động quy hoạch
quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người [12]
Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu
giữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận [12]
Trang 12Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh,
thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng [12]
Xử lý chất thải rắn: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ
thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR
Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với
các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh [12]
1.1.2 Chất thải nguy hại
Khái niệm về thuật ngữ “Chất thải nguy hại” (Hazardous Waste) lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ trước tại các nước Âu - Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác (Lâm Minh Triết và cs, 2006) [14] Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học
kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước hiện nay trên thế giới
mà CTNH được định nghĩa khác nhau theo nhiều cách trong luật và các văn bản dưới luật về môi trường Tuy nhiên, một số định nghĩa thường được sử dụng có thể kể đến như :
- Theo UNEP (The United Nations Environmet Programme): CTNH là
chất thải ở dạng rắn, lỏng, bán rắn và các bình khí do hoạt tính hoá học, độc tính, nổ, ăn mòn, hoặc các đặc tính khác gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khoẻ con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng
hay khi được tiếp xúc với chất khác [14]
- Theo Luật khôi phục và bảo vệ tài nguyên của Mỹ RCRA (Resource Conservation & Recovery Act) thì CTNH là:
Chất thải được liệt kê trong quy chế của EPA
Chất thải được phân tích và có 1 trong 4 đặc tính do EPA đưa ra gồm: cháy - nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính
Chất thải được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) tự công bố là CTNH
Trang 13- Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (US - EPA): Chất thải được cho
là nguy hại theo quy định của pháp luật nếu có một hoặc một số tính chất sau:
Thể hiện đặc tính dễ bắt lửa, ăn mòn, phản ứng, và/hoặc độc hại
Là chất thải xuất phát từ nguồn không đặc trưng (chất thải nói chung từ qui trình công nghệ)
Là chất thải xuất phát từ nguồn đặc trưng (từ các nghành công nghiệp độc hại)
Là các hóa chất thương phẩm độc hại hoặc sản phẩm trung gian
Là hỗn hợp có chứa một CTNH đã được liệt kê
Là một chất được qui định trong RCRA
Phụ phẩm của quá trình xử lý CTNH cũng được coi là chất thải nguy hại trừ khi chúng được loại bỏ hết tính nguy hại
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý CTR thích hợp Theo Nguyễn Thị Kim Thái và cs (2001), CTR phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
- Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư
tách rời Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su, còn có một số CTNH
- Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ
quan, khách sạn, Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton, )
- Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành
chính: lượng rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn
- Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá,
dỡ bỏ các công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt
Trang 14thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa
- Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan,
chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác, Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố
- Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước
rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phân compost,
- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh
từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm, Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc
- Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ
các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây, Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng
trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp
* Ngoài ra, CTR được phát sinh từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách:
- Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà người ta phân ra
rác thải đường phố, rác thải vườn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình
- Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể
phân ra chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, kim loại, phi kim,
- Theo mức độ nguy hại, chất thải được phân thành các loại sau:
+ CTNH: bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, chất thải phóng xạ,
+ Chất thải không nguy hại: Là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 15+ Chất thải y tế nguy hại: Là những chất thải có nguồn gốc từ các hoạt động y tế, mà nó có đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường
và sức khỏe của cộng đồng bao gồm bông băng, gạt, kim tiêm, các bệnh phẩm
Ngoài ra, chất thải làm mất mỹ quan đô thị; có thể chứa các chất độc; là nơi tập trùng của nhiều vi khuẩn, côn trùng gây hại tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh và độc hại cho người tiếp xúc Ảnh hưởng của các CTR và chất thải sinh hoạt đến con người được mô hình hóa như hình 1.1
Hình 1.1 Mô hình hóa mức độ ảnh hưởng của chất thải tới con người
- CTR, CTNH
- Thu gom
- Tái chế, xử lý, phân hủy
Môi trường không khí
Kim loại độc thăng hoa
Ăn uống
Trang 161.2 Quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại trên thế giới
Tùy điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý CTR - CTNH mà mỗi nước có cách thức quản
lý CTR - CTNH riêng Đối với các nước phát triển, quá trình quản lý CTR - CTNH thường áp dụng nhiều phương pháp để xử lý, tỷ lệ xử lý CTR - CTNH bằng phương pháp đốt, xử lý cơ học, hóa lý, sinh học, chôn lấp,… rất khác nhau Chẳng hạn, Nhật Bản là nước sử dụng biện pháp thu hồi CTR - CTNH với hiệu suất cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sĩ (33%), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp sử dụng phương pháp vi sinh lớn nhất (30%),-… Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong quản lý CTR - CTNH là Phần Lan (84%), Thái Lan (Băng Cốc 84%), Anh (83%), Nga (80%), Tây Ban Nha(80%) Dưới đây là những
mô tả tổng quan về tình hình quản lý CTR nói chung và CTNH nói riêng tại một số nước trên thế giới (Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cs, 2012) [8]
- Quản lý CTR - CTNH tại Đức
Để quản lý CTR - CTNH, Đức đã đưa ra các biện pháp chiến lược như ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm số lượng CTR - CTNH, xử lý và tái sử dụng Trong vòng 20 năm gần đây, Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý CTR - CTNH Có khoảng 2.000 điều luật, quyết định, quy định hành chính với nội dung phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải Bên cạnh đó, pháp luật Đức khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hay toàn bộ) nhằm hướng tới một công nghệ không hoặc ít sinh ra CTNH Nhà nước giảm thuế hoặc cho vay với lãi suất thấp khi đầu tư vào việc trang bị công nghệ, thiết bị xử lý CTR - CTNH Thêm vào đó, công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức cho nhân dân biết được tác hại của CTR - CTNH và chính nhân dân
sẽ thay mặt cho nhà nước kiểm tra, phát hiện các nguồn phát sinh và nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết (Bùi Thị Nhung, 2014) [10]
Trang 17- Quản lý CTR - CTNH tại Hà Lan
Việc xử lý chất thải của Hà Lan được sự tham gia tổng lực của chính quyền, xã hội cũng như các cơ quan chuyên ngành CTR - CTNH được xử lý theo nhiều cách khác nhau, trong đó phần lớn được tiêu hủy, một phần được tái chế Trước đây, Hà Lan tiến hành tiêu hủy CTR - CTNH ngoài biển nhưng từ năm 1990 trở lại đây, Hà Lan tiến hành tiêu hủy CTR - CTNH tại 5 khu vực trên phạm vi toàn quốc, thường các doanh nghiệp tư nhân với sự tham gia của các công ty tiến hành dưới sự giám sát của các cơ quan chuyên môn Hàng năm, Hà Lan có tới hơn 20 triệu tấn chất thải, 60% trong số này đổ tại các bãi chứa, phần còn lại được đưa vào lò thiêu hoặc tái chế Để bảo vệ môi trường, chính phủ Hà Lan đã đề ra mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm để giảm chi phí xử lý Công nghệ xử lý CTNH chủ yếu là tiêu hủy, nhiệt năng do các lò tiêu hủy tạo ra sẽ được hòa nhập vào mạng lưới năng lượng chung của đất nước Ngoài ra Hà Lan còn đạt được bước chuyển biến lớn trong việc mở rộng chương trình giáo dục trong trường học, các xí nghiệp công nghiệp và những người nội trợ về việc cần thiết phải bảo vệ môi trường sống được trong sạch ở nhiều năm, các chất thải được phân loại ngay tại nguồn thải nhất là đối với CTNH Việc thiêu hủy CTNH được thực hiện trong các lò đốt hiện đại với
kỹ thuật mới nhất, hoặc việc tổ chức sản xuất được ứng dụng những quy trình đặc biệt nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu mới, thuận lợi cho quá trình sản xuất” (Bùi Thị Nhung, 2014) [10]
1.3 Quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn tại Việt Nam
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021) [2], thực trạng chất thải tại Việt Nam hiện nay rất cao và tăng mạnh tại các đô thị lớn trong cả nước:
1.3.1.1 Chất thải rắn sinh hoạt
Giai đoạn 2016 - 2020, lượng CTRSH phát sinh tiếp tục gia tăng trên phạm vi cả nước Ước tính lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị trên toàn
Trang 18quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm Lượng CTRSH tăng mạnh ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng Tổng khối lượng phát sinh tại khu vực đô thị trong phạm vi cả nước là 35.624 tấn/ngày (13.002.592 tấn/năm), chiếm 55% tổng khối lượng CTRSH phát sinh của cả nước Riêng Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội có tổng khối lượng CTRSH phát sinh lên tới 12.000 tấn/ngày, chiếm 33,6% tổng lượng CTR đô thị phát sinh trên cả nước [1]
1.3.1.2 Chất thải rắn công nghiệp
Chất thải rắn công nghiệp phát sinh chủ yếu từ các cơ sở sản xuất công nghiệp nằm trong KCN, khu công nghệ cao và các cơ sở sản xuất ngoài khu công nghiệp, khối lượng phát sinh khoảng 25 triệu tấn/năm Tuy nhiên, lượng phát sinh thực tế cao hơn nhiều do chưa thống kê đầy đủ từ các cơ sở sản xuất
và chưa bao gồm đất đá bóc, bùn thải từ quá trình khai thác khoáng sản Ngoài ra, CTR từ hoạt động làng nghề theo thống kê chưa đầy đủ khoảng 14-
17 tấn/ngày [2]
1.3.1.3 Chất thải rắn nguy hại
- Lượng CTNH từ công nghiệp phát sinh trong năm 2019 khoảng 1.133.077 tấn (tăng 258.688 tấn so với năm 2018) [1]
- Lượng CTNH từ lĩnh vực y tế phát sinh khoảng 24 nghìn tấn/năm
1.3.1.4 Chất thải rắn y tế
Theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2019 của Bộ Y tế, lượng chất thải y tế thông thường phát sinh khoảng 96 nghìn tấn/năm [1]
1.3.1.5 Chất thải rắn nông nghiệp
CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp như: ni lông che phủ, bao bì phân bón, bao bì thuốc BVTV, chất thải chăn nuôi, phụ phẩm trồng trọt Theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2019) [1], ước tính có 438.032kg bao gói, chai đựng thuốc BVTV sau
sử dụng được thu gom, đã tiêu hủy 346.013kg; CTR từ chăn nuôi khoảng
85-90 triệu tấn, lượng phụ phẩm cây trồng phát sinh gần 95 triệu tấn
Trang 191.3.2 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
Xử lý CTR là phương pháp làm giảm khối lượng và tính độc hại của rác, hoặc chuyển rác thành vật chất khác để tận dụng thành tài nguyên thiên nhiên Xử lý CTR đóng vai trò quan trọng trong BVMT - PTBV, bởi nó không chỉ ngăn chặn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ CTR (nếu không xử
lý hoặc xử lý không hiệu quả, không đúng quy trình, yêu cầu), mà còn có thể thu hồi vật liệu, sản phẩm để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Hiện nay, nhiều nước phát triển trên thế giới đang thực hiện chiến lược 3RVE trong quản lý và
xử lý CTR Đó là: Reduce (giảm thiểu), Reuse (sử dụng lại), Recycle (tái sinh, tái chế), Validate (nâng cao giá trị chất thải bằng cách áp dụng các công nghệ xử lý “sinh lợi” nhằm thu hồi lại vật chất và năng lượng từ CTR Cuối cùng, những thành phần còn lại không thể tận dụng được nữa phải xử lý thải
bỏ (Eliminate), chủ yếu là chôn lấp Tuy nhiên, khi chôn lấp cũng phải xem xét khả năng có thể thu hồi khí gas phục vụ cuộc sống Chiến lược 3RVE được thể hiện thứ tự ưu tiên để lựa chọn phương thức quản lý và công nghệ
xử lý (nghĩa là giảm thiểu, sử dụng lại, tái chế/tái sinh, nâng cao giá trị CRT
và thải bỏ)
Tùy theo thành phần, tính chất, khối lượng CTR và tùy theo điều kiện
cụ thể của từng địa phương mà chọn công nghệ xử lý CTR cho thích hợp
1.3.2.1 Về công nghệ xử lý chất thải nguy hại đang được sử dụng ở nước ta
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2019) [1], công nghệ xử lý CTNH của Việt Nam trong những năm vừa qua đã có những bước phát triển đáng kể (bảng 1.1) Tuy nhiên, các công nghệ hiện có của Việt Nam còn chưa ở mức tiên tiến, phần lớn sử dụng các công nghệ có thể áp dụng để xử lý cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ Vì vậy ở Việt Nam hiện nay chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH
Trang 20Bảng 1.1 Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
1 Lò đốt tĩnh điện 2 cấp 50 - 2000 kg/h
3 Đồng xử lý trong lò nung xi măng 15 - 30 tấn /h
5 Hóa rắn (bê tông hóa) 1 - 5 m3/h
6 Xử lý, tái chế dầu thải 3 - 20 tấn/ngày
7 Xử lý bóng đèn thải 0,2 - 10 tấn/ngày
8 Xử lý chất thải điện tử 0,3 - 5 tấn/ngày
9 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 0,5 - 200 tấn/ngày
* Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh: Chôn lấp hợp vệ sinh là một
phương pháp kiểm soát sự phân hủy của CTR khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt CTR trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4
Các ưu điểm của phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh: Có thể xử lý một lượng lớn CTR; Chi phí điều hành các hoạt động của BCL không quá cao; loại được côn trùng, chuột bọ, ruồi, muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở; Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài ra còn giảm thiểu
Trang 21được mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường không khí; giảm ô nhiễm môi trường nước ngầm và nước mặt; BCL sau khi đóng cửa được sử dụng làm công viên, làm nơi sinh sống hoặc các hoạt động khác; có thể thu hồi khí gas phục vụ phát điện hoặc các hoạt động khác; BCL là phương pháp xử lý CTR
rẻ tiền nhất đối với những nơi có thể sử dụng đất; Chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn các phương pháp khác; BCL hợp vệ sinh là một phương pháp xử lý CTR triệt để không đòi hỏi các quá trình xử lý khác như xử lý cặn, xử lý các chất không thể sử dụng, loại bỏ độ ẩm (trong các phương pháp thiêu rác, phân hủy sinh học…)
Nhược điểm: Các BCL đòi hỏi diện tích đất đai lớn; Cần phải có đủ đất
để phủ lấp lên CTR đã được nén chặt sau mỗi ngày; Các lớp đất phủ ở các BCL thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi xa; Đất trong BCL đã đầy có thể bị lún vì vậy cần được bảo dưỡng định kỳ; Chôn lấp thường tạo ra khí methane hoặc hydrogen sunfite độc hại có khả năng gây nổ hay gây ngạt Tuy nhiên, người ta có thể thu hồi khí methane có thể đốt và cung cấp nhiệt
* Phương pháp chế biến phân vi sinh: Phương pháp này bao gồm các
phương pháp sau: Ủ rác thành phân Compost, Ủ hiếu khí, Ủ yếm khí
Ủ rác thành phân Compost: Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ là một phương pháp truyền thống, được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển hay ngay cả các nước phát triển như Canada Phần lớn các gia đình ở ngoại ô các đô thị tự ủ rác của gia đình mình thành phân bón hữu cơ (Compost) để bón cho vườn của chính mình Các phương pháp xử lý phần hữu cơ của CTR sinh hoạt có thể áp dụng để giảm khối lượng và thể tích chất thải, sản phẩm phân compost dùng để bổ sung chất dinh dưỡng cho đất, và sản phẩm khí methane Các loại vi sinh vật chủ yếu tham gia quá trình xử lý chất thải hữu
cơ bao gồm vi khuẩn, nấm, men và antinomycetes Các quá trình này được thực hiện trong điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí, tùy theo lượng oxy có sẵn
Ủ hiếu khí: Ủ rác hiếu khí là một công nghệ được sử dụng rộng rãi vào khoảng 2 thập kỷ gần đây, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Trung
Trang 22Quốc, Việt Nam Công nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí đối với sự có mặt của oxy Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác khô thực hiện quá trình oxy hóa cacbon thành đioxitcacbon (CO2) Thường thì chỉ sau 2 ngày, nhiệt độ rác ủ tăng lên khỏang 450C và sau
6 - 7 ngày đạt tới 70 - 750C nhiệt độ này đạt được chỉ với điều kiện duy trì môi trường tối ưu cho vi khuẩn hoạt động, quan trọng nhất là không khí và độ
ẩm Sự phân hủy khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau khoảng 2- 4 tuần là rác được phân hủy hoàn toàn Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị phân hủy do nhiệt
độ ủ tăng cao Bên cạnh đó, mùi hôi cũng bị hủy nhờ quá trình phân hủy yếm khí Độ ẩm phải được duy trì tối ưu ở 40 - 50%, ngoài khoảng này quá trình phân hủy đều bị chậm lại
Ủ yếm khí: Công nghệ ủ yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (chủ yếu ở quy mô nhỏ) Quá trình ủ này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí Công nghệ này không đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu tốn kém, song
nó có những nhược điểm sau: Thời gian phân hủy lâu, thường là 4 - 12 tháng; Các vi khuẩn gây bệnh luôn tồn tại với quá trình phân hủy vì nhiệt độ phân hủy thấp; Các khí sinh ra từ quá trình phân hủy là khí methane và khí sunfuahydro gây mùi khó chịu Nước ta hiện có hơn 10 nhà máy chế biến rác thải hữu cơ thành phân bón vi sinh Các nhà máy này thường thực hiện ở các thành phố lớn nhưng với quy mô và công suất nhỏ Đó là nhà máy chế biến rác thải Cầu Diễn (Hà Nội) với công suất xử lý 50.000 tấn rác/năm (công nghệ Tây Ban Nha); Nhà máy xử lý rác thải Nam Định với công suất xử lý
250 tấn/ngày (công nghệ Pháp); công nghệ Dano - Đan Mạch tại Hoóc Môn,
TP HCM công suất 240 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác thải Hải Phòng với công suất 200 tấn/ngày Ngoài ra, một số đô thị khác như Việt Trì, Vinh, Sơn Tây, Huế, Ninh Thuận, cũng có nhà máy xử lý rác thành phân bón, nhựa tái sinh, vật liệu xây dựng hoàn toàn do Việt Nam tự nghiên cứu và chế tạo
* Tái chế/tái sử dụng:
Trang 23Ngoài chế biến rác hữu cơ thành phân bón, các thành phần khác (như nilon, nhựa, cao su ) cũng được chế biến thành hạt nhựa, ống cống và vật liệu xây dựng tại một số nhà máy Đa số các thành phần kim loại, nhựa, nilon, giấy, thuỷ tinh, cao su có trong rác thải (khoảng 20% CTR) được lực lượng
“đồng nát” thu mua và đưa đi tái sử dụng/tái chế tại các làng nghề
* Thiêu hủy
Theo công nghệ này, CTR (sau khi phân loại) được đưa vào lò đốt có buồng đốt sơ cấp (nhiệt độ ≥ 400ºC) và thứ cấp để đốt ở nhiệt độ cao (≥ 950ºC) tạo thành khí cháy và tro xỉ, giảm được 80 - 90% khối lượng chất thải
* Khí hóa
Khí hóa là công nghệ sản xuất cacbua thông qua việc khí hóa chất hữu
cơ thành khí có thể đốt được (CO, H2 , metan, CO2 ) và khí bay hơi (hơi nước) bằng việc nhiệt phân chất thải ở nhiệt độ 400 - 600ºC trong điều kiện không có ôxy Phần rắn còn lại (cacbua) sau khi khí hóa rất giàu cacbon và có thể được sử dụng ở các nhà máy có lò hơi có thể tiếp nhận nhiên liệu rắn Nhìn chung, tỷ lệ cacbua trên tổng khối lượng chất thải tiếp nhận là 20 - 30%,
Trang 24phụ thuộc vào thành phần của chất thải tiếp nhận hoặc công nghệ Khí có thể đốt được sử dụng để làm nóng chất hữu cơ trong quá trình cacbon hóa và/hoặc sấy khô cacbua sau quá trình cacbon hóa và quá trình khử muối bằng quy trình xử lý nước
* Các công nghệ do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo
Trong vài năm gần đây, nước ta xuất hiện một số công nghệ xử lý CTR do Việt Nam tự nghiên cứu, chế tạo Đáng kể là:
- Công ty Cổ phần Môi trường xanh nghiên cứu mô hình xử lý CTR sinh hoạt thành phân Compost theo công nghệ Seraphin tại Đông Vinh (thành phố Vinh - Nghệ An) và tại Sơn Tây (Hà tây cũ)
- Công ty Cổ phần Tâm Sinh Nghĩa - ASC nghiên cứu mô hình xử lý CTR sinh hoạt thành phân compost theo công nghệ An Sinh (ASC) tại Thuỷ Phương (Huế)
- Công ty TNHH Thuỷ lực máy nghiên cứu mô hình xử lý CTR sinh hoạt thành nhiên liệu đốt dân dụng và công nghiệp theo công nghệ MBT - CD
- 08 tại thị trấn Đồng Văn (huyện Duy Tiên - Hà Nam)
Ngoài ra, tỉnh Ninh Thuận cũng tiếp nhận công nghệ xử lý CTR sinh hoạt do Việt Nam nghiên cứu chế tạo (100%), đang hoạt động tốt Vừa qua, Hội đồng KHCN Bộ Xây dựng đã tổ chức thẩm định, đánh giá và đề nghị cấp phép lưu hành công nghệ An Sinh, công nghệ Seraphin và công nghệ MBT -
CD - 08 Xuất phát điểm của các công nghệ này do một đơn vị nghiên cứu thử nghiệm, sau này mới tách ra, nên về cơ bản, ý tưởng công nghệ và loại sản phẩm tạo ra của ASC và Seraphin là giống nhau; chỉ khác nhau về trang thiết
bị máy móc và chất lượng sản phẩm Riêng sản phẩm của công nghệ MBT -
CD - 08 linh hoạt hơn (có thể tạo ra phân bón hoặc nhiên liệu đốt) Do đó Khi tiến hành lựa chọn công nghệ xử lý CTR cần tuân theo những nguyên tắc như : Tiếp cận với những công nghệ tiên tiến và những kinh nghiệm trong xử lý CTR ở trong và ngoài nước (phải hiểu rõ công nghệ trước khi chọn); Công nghệ đơn giản nhưng không lạc hậu, bảo đảm xử lý có hiệu quả, an toàn và
Trang 25không gây ô nhiễm môi trường; Giá thành có thể chấp nhận trong điều kiện
1.3.3 Cơ chế chính sách và quy hoạch quản lý chất thải ở Việt Nam
Trong những năm qua, nhiều cơ chế, chính sách, quy định và hướng dẫn quản lý tổng hợp CTR nói chung và CTRSH nói riêng đã được hoàn thiện và ban hành như: Luật Bảo vệ môi trường (2020) [11], Luật Phí và lệ phí (2018), Nghị định số 09/VBHN-BTNMT/2019 ngày 25 tháng 10 năm 2019 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu [4] Theo quy định của Nghị định số 09/VBHN-BTNMT/2019), CTR hiện đang được phân loại và quản lý theo các loại khác nhau, bao gồm: CTNH, CTRSH, CTR công nghiệp thông thường và các chất thải đặc thù khác như chất thải từ hoạt động y tế, CTR từ hoạt động xây dựng, chất thải từ hoạt động nông nghiệp, chất thải từ hoạt động giao thông vận tải Trong các loại CTR nêu trên, trách nhiệm quản lý Nhà nước về CTNH trên phạm vi toàn quốc đã được thống nhất giao cho Bộ TNMT Đối với CTR khác (bao gồm CTRSH), mặc dù có sự tham gia quản lý của nhiều Bộ, cơ quan liên quan nhưng về cơ bản đang được thực hiện theo hướng Bộ TNMT là cơ quan Nhà nước thống nhất quản lý, các Bộ liên quan quản lý chuyên ngành kỹ thuật theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định
1.3.3.1 Cơ chế, chính sách
Thực hiện Luật BVMT và các văn bản dưới Luật về quản lý CTRSH, Bộ TNMT, Bộ Xây dựng [3] đã xây dựng, ban hành các văn bản, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường như Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTRSH (QCVN 61-MT:2016/BTNMT), quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng hạ tầng liên quan đến các công trình xử lý chất thải Bộ Xây dựng đã chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009) Đến năm 2018, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã phối hợp với Bộ TNMT xây dựng và đồng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm
Trang 262025, tầm nhìn đến năm 2050 (tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018) Bộ Tài chính đã ban hành các quy định về quản lý kinh phí dành cho BVMT nói chung và quản lý CTRSH nói riêng như Thông tư số 02/2017/TT-BTC hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường
1.3.3.2 Quy hoạch quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
Công tác quy hoạch quản lý CTR đã được Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương quan tâm thực hiện khá đầy đủ, từ quy hoạch cấp vùng liên tỉnh (các vùng kinh tế trọng điểm, các lưu vực sông) đến quy hoạch cấp địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới
1.3.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý và phân công trách nhiệm
Ở cấp Trung ương: Tại Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 03/02/2019, Chính phủ đã giao Bộ TNMT thống nhất quản lý Nhà nước về CTR
Tại các địa phương: hiện nay, có 35 tỉnh/thành phố giao Sở Xây dựng
là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc UBND cấp tỉnh trong vấn đề quản lý CTR, bao gồm CTRSH; có 20 tỉnh/thành phố giao Sở TNMT là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc UBND trong vấn đề quản lý CTR, 08 tỉnh/thành phố giao cho cả hai đơn vị trong việc tham mưu giúp việc UBND cấp tỉnh về quản lý CTRSH Theo quy định hiện hành, UBND cấp tỉnh trách nhiệm chính sau:
- Tổ chức quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh
- Ban hành các quy định cụ thể về quản lý CTRSH; các cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ để khuyến khích việc thu gom, vận chuyển và đầu tư cơ sở
xử lý CTRSH phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH của địa phương
Sau khi Chính phủ có Nghị quyết số 09/NQCP ngày 03 tháng 02 năm
2019 trong đó giao Bộ TNMT là cơ quan thống nhất quản lý Nhà nước về CTR, một số địa phương đã bắt đầu định hướng giao cho Sở TNMT là cơ quan chuyên môn giúp việc
Trang 27Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTR và CTNH trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý CTR, CTNH trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất được một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về CTR, CTNH trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình phát sinh, thu gom, quản lý và xử lý CTR công nghiệp, CTNH công nghiệp trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
- Các vấn đề lý luận về, thực tế về quản lý CTR, CTNH công nghiệp tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Phạm vi không gian:
- Tổng hợp, thu thập số liệu, đánh giá tình hình phát sinh, thu gom, quản lý và xử lý CTR, CTNH của cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 28Phạm vi thời gian:
- Đề tài tổng hợp, thu thập số liệu trong năm 2021
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Các nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu đặc điểm các khu công nghiệp của tỉnh Hòa Bình
(2) Đánh giá hiện trạng CTR và CTNH của các khu công nghiệp của tỉnh Hòa Bình
(3) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTR, CTNH trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
(4) Đề xuất một số giải pháp nhằm cao hiệu quả quản lý CTR và CTNH trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên phương pháp kế thừa tài liệu là phương pháp quan trọng nhằm thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu này
- Đặc điểm của các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được kế thừa tài liệu tại Ban quản lý các KCN tỉnh Hòa Bình, bao gồm:
+ Số liệu về cơ sở hạ tầng các KCN trên địa bàn tỉnh
+ Các loại hình hoạt động của các cơ sở, doanh nghiệp trong KCN, số lượng cụ thể từng loại hình, nhóm ngành sản xuất
+ Thông tin về cơ cấu quản lý, tổ chức của các KCN trên địa bàn tỉnh thông qua các báo cáo về cơ cấu quản lý tổ chức từ Ban Quản lý các KCN tỉnh Hòa Bình
- Thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý CTR và CTNH trong các KCN
trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được kế thừa tài liệu từ Ban quản lý các KCN
tỉnh, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Hòa Bình, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện Các tài liệu được kế thừa bao gồm:
+ Số liệu thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý CTR và CTNH tại 45
cơ sở, doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 29+ Bản đồ phân bố dân cư và các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
+ Đặc điểm về địa hình, kinh tế, xã hội, các hoạt động công nghiệp… + Tài liệu về những định hướng phát triển, các chính sách về CTR, CTNH trong tương lai của tỉnh
+ Các thông tin về tình trạng cơ sở hạ tầng, dịch vụ của khu vực
+ Tình trạng CTR, CTNH hiện nay tại trong các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
+ Hệ thống quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR, CTNH
+ Danh mục các công ty, xí nghiệp, các ngành nghề hoạt động trong trong các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Đối với các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTR, CTNH trong các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được kế thừa từ các tài liệu gồm:
+ Các tài liệu, báo cáo thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; Các tài liệu báo cáo thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Các đề tài dự án liên quan đã được nghiệm thu tại cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh
Dựa trên tài liệu thu thập, tiến hành phân tích, kế thừa có chọn lọc các thông tin phục vụ các nội dung nghiên cứu của đề tài
2.3.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn đượcthực hiện nhằm thu thập các thông tin chung về doanh nghiệp (lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; diện tích mặt bằng; số lượng cán bộ
nhân viên; các báo cáo, đề án, kế hoạch…); thông tin về hoạt động sản xuất
(nguyên liệu chính, nguyên liệu sử dụng, nguyên liệu tiêu thụ); các thông tin
về CTR thông thường và CTNH
Đối tượng phỏng vấn gồm 45 người là: cán bộ quản lý, phụ trách kỹ thuật, phụ trách xử lý chất thải tác các KCN, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong 5 KCN đã đi vào hoạt động
Trang 30Các thông tin cần phỏng vấn được sắp xếp theo từng nội dung cần thu thập và tổng hợp vào Phiếu phỏng vấn Thông tin chi tiết về phiếu phỏng vấn được trình bày trong phụ lục 01 Trong nghiên cứu này, 45 phiếu phỏng vấn
đã được phát ra cho các cơ sở sản xuất để thu thập thông tin liên quan đến công tác quản lý CTR, CTNH trong các KCN trên địa bàn tỉnh
2.3.2.3 Phương pháp khảo sát thu thập số liệu tại các khu công nghiệp
Trong nghiên cứu này tiến thành khảo sát 30 trong tổng số 45 doanh nghiệp tại 4 KCN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: KCN Lương Sơn (14 cơ sở), KCN Bờ Trái Sông Đà (8 cơ sở), KCN Mông Hóa (6 cơ sở),
và KCN Nam Lương Sơn (2 cơ sở)
Các số liệu điều tra cần thu thập gồm: Khối lượng CTNH hàng năm, khối lượng CTR hàng năm của các cơ sở sản xuất kinh doanh, công tác quản
lý và định hướng phát triển doanh nghiệp Ngoài ra, trong quá trình khảo sát kết hợp với thu thập số liệu thứ cấp, phỏng vấn để có thông tin đầy đủ và kiểm chứng các thông tin phỏng vấn trước đó
2.3.2.4 Cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR, CTNH trong các KCN trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được đề xuất từ việc phân tích hiện trạng chất thải tại các doanh nghiệp; công tác thu gom, xử lý chất thải, các vấn đề tồn tại và các công cụ quản lý
Các nhóm giải pháp ưu tiên đề xuất gồm: Quy trình quản lý CTR, CTNH; Kế hoạch quản lý; Biện pháp an toàn trong lưu giữ, vận chuyển và quản lý CTR, CTNH; Các biện pháp hỗ trợ và nhóm giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp
Trang 31Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới
Hoà Bình là một tỉnh miền núi, địa hình chuyển tiếp từ vùng đồng bằng Sông Hồng lên vùng Tây Bắc Là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, cách Hà nội khoảng 70 km
Toạ độ địa lý từ 20o18’ đến 21o08’ vĩ độ Bắc, 104o50’ đến 104o52’ kinh
độ Đông Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4.608 km2, có các vị trí tiếp giáp với các tỉnh/thành như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; Phía Đông giáp Hà Nội;
- Phía Tây giáp tỉnh Sơn La; Phía Nam, Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa;
- Phía Nam, Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam và Ninh Bình
3.1.2 Địa hình, địa thế
Ðịa hình tỉnh Hòa Bình chủ yếu là dạng địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, không có các cánh đồng rộng (như các tỉnh Lai Châu, Sơn La), độ dốc lớn theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam
* Địa hình được chia thành ba khu vực rõ rệt:
- Dạng địa hình núi cao phân bố ở phía Tây Bắc, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 600 - 700 m; có một số đỉnh núi cao trên 1.000 m, trong
đó đỉnh cao nhất là Phu Canh, Phu Túc (huyện Đà Bắc) cao 1.373 m, tiếp đến
là đỉnh núi Dục Nhan (huyện Đà Bắc) cao 1.320 m, đỉnh núi Psi Lung (huyện Mai Châu) cao 1.287 m
- Dạng địa hình núi thấp, chia cắt phức tạp do đứt, gãy, lún sụt của nếp võng sông Hồng ở khu vực trung tâm, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 250 - 300m, trong đó ở Tân Lạc là 318 m, Lạc Sơn, Kỳ Sơn là 300 m, Kim Bôi là 310 m, Lương Sơn là 251m
Trang 32Hình 3.1 Vị trí địa lý tỉnh Hòa Bình
- Dạng địa hình đồi gò xen các cánh đồng, phân bố ở khu vực Đông Nam của tỉnh, độ cao trung bình 40 m - 100 m, trong đó ở huyện Lạc Thủy là
51 m, huyện Yên Thủy là 42 m
* Về địa thế: Hòa Bình là một tỉnh có độ dốc tương đối thấp so với các
tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, kết quả xác định trên bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 của tỉnh cho thấy như sau:
+ Đất dốc 0-15o chiếm 44,86%; + Đất dốc 15-20o chiếm 19,25% + Đất dốc 20-35o chiếm 28,02% + Còn lại độ dốc trên 35o
Do có sự phân hóa của địa hình nên đã ảnh hưởng đến khí hậu, thủy văn và các đặc điểm tự nhiên khác của tỉnh
Trang 33Đặc biệt Hoà Bình có vùng Hồ và đập thuỷ điện sông Đà với tầm quan trọng chiến lược trong lĩnh vực năng lượng quốc gia, ảnh hưởng rất lớn đến trữ lượng nước mặt, nước dưới đất và việc điều tiết lũ ở vùng hạ lưu sông Đà
Đường Quốc lộ 6 đi qua tỉnh Hoà Bình, đây là huyết mạch nối liền Thủ
đô Hà Nội và các tỉnh vùng Tây bắc của Tổ quốc Hiện tại Hoà Bình có 7 dân tộc cùng chung sống, có văn hoá, truyền thống riêng tương đối đa dạng và phong phú
3.1.3 Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Khí hậu Hòa Bình mang nét đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 với lượng mưa bình quân 1700
mm-1800 mm, chiếm hơn 90% tổng lượng mưa cả năm Riêng vùng núi cao Mai Châu, Đà Bắc mùa mưa đến muộn hơn và thường kéo dài hơn vùng núi thấp
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa bình quân chỉ
có 100 mm - 200mm, trong đó 3 tháng giữa mùa lạnh là các tháng 12, 1, 2 Lượng mưa trung bình trong các tháng này không quá 30mm
* Nhiệt độ không khí
Chế độ nhiệt ở Hoà Bình tương đối ổn định và có đặc trưng là tương
đối thấp so với các tỉnh vùng lân cận
* Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm ở Hoà Bình qua các năm như sau: tổng lượng mưa năm 2012 đạt 1.670mm; năm 2013 đạt 1.446
mm và năm 2014 đạt 1.255 Trong đó do đặc điểm của địa hình nên lượng mưa phân bố không đều ở các nơi trong tỉnh và cũng không đều ở các tháng trong năm, thường chỉ tập trung vào mùa mưa và chiếm phần lớn lượng mưa của cả năm
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí phụ thuộc vào mùa có nghĩa là
độ ẩm phụ thuộc vào lượng mưa và nhiệt độ không khí Độ ẩm trung bình
Trang 34năm 2012 là 84%; năm 2013 là 83%; năm 2014 là 83% Vào mùa mưa độ
ẩm thường cao Độ ẩm thấp nhất là vào mùa khô khi nhiệt độ không khí thấp
và lượng mưa ít
* Chế độ gió: ngoài việc chịu ảnh hưởng của chế độ gió chung với các
tỉnh vùng đồng bằng bắc bộ, Hoà Bình còn bị ảnh hưởng tương đối rõ nét của chế độ gió Lào Hàng năm số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Hoà Bình gây
ra các thiệt hại đáng kể, nhất là hiện nay trước tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu tình hình thiên tai diễn ra khó dự báo trước được
* Chế độ Thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn của tỉnh Hoà Bình được phản ánh bởi đặc trưng của hệ thống sông Đà, các chi lưu của các sông như: sông Mã, sông Đà, sông Bùi, sông Bưởi, sông Bôi, sông Lạng Ngoài ra tỉnh Hòa Bình còn có một số Hồ lớn đã tạo cho tỉnh có nguồn nước mặt rất phong phú với 335 hồ chứa lớn nhỏ, riêng hồ có diện tích trên 5ha có 135 hồ
Hệ thống sông suối trong tỉnh Hòa Bình phân phối không đều có mật
độ lưới sông bình quân 0,6km/km2 Tuy nhiên, có những nơi mật độ sông suối chỉ đạt 0,3km/km2 chiếm 1541km2 (khoảng 33% diện tích toàn tỉnh), đó
là các địa danh thuộc các huyện Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ và phía Tây huyện Đà Bắc, phía Đông - Nam huyện Lạc Thuỷ
- Sông Đà: Đây là con sông lớn nhất chảy qua tỉnh Hòa Bình bắt nguồn từ
Vân Nam - Trung Quốc, cụ thể chảy qua địa bàn thuộc các huyện Đà Bắc, Mai Châu, Kỳ Sơn, Tân Lạc, Cao Phong và thành phố Hòa Bình với tổng chiều dài khoảng 150 km, diện tích lưu vực tính đến đập thủy điện Hòa Bình là 51.800 km2 Với diện tích mặt nước ngập thường xuyên khoảng 10.000 ha, dung tích 9,45 tỷ
m3 nước, là hồ chứa lớn nhất ở Việt Nam
- Sông Bôi: Sông Bôi là chi lưu cấp I của sông Đáy, bắt nguồn từ xã
Độc Lập, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Hướng chảy của sông hầu như chọn hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông có độ dài trên 100 km, chảy qua địa phận
Trang 35tỉnh Hòa Bình với độ dài 66km Diện tích lưu vực là 1550km2, phần diện tích lưu vực thuộc tỉnh Hòa Bình là 664km2 (trong đó phần đá vôi chiếm 77,9km2) Lưu lượng bình quân nhiều năm của sông Bôi là 44,7m3/s Tổng lượng bình quân nhiều năm là 1,43 tỷ m3
- Sông Bưởi: Sông Bưởi bắt nguồn từ núi Chu độ cao hơn 400m là
thượng nguồn của sông Con, là một chi lưu của sông Mã Sông Bưởi được hình thành từ 3 nhánh chính: nhánh suối Cái bắt nguồn từ xã Phú Cường huyện Tân Lạc, nhánh suối Bìn khởi nguồn từ địa giới giữa hai xã Trung Hòa và Mỹ Hòa, huyện Tân Lạc; Chiều dài lưu vực là 57,5km Diện tích hứng nước là 886km2
- Sông Bùi: Sông Bùi bắt nguồn từ xã Dân Hòa huyện Kỳ Sơn, là chi
lưu lớn của sông Tích, lưu vực sông gần như nằm trọn trong huyện Lương Sơn Lưu lượng bình quân nhiều năm tại trạm thuỷ văn Lâm sơn là 1,1 m3/s
Mô duyn dòng chảy năm là 33,3 l/s/km2
3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020; Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, kết quả hoàn thành cơ bản mục tiêu tổng quát đã đề ra Kinh tế tỉnh Hòa Bình có tốc độ tăng trưởng khá, GRDP bình quân đầu người của tỉnh cao hơn bình quân chung của khu vực miền núi phía Bắc và bằng khoảng 92% GDP bình quân đầu người của cả nước Cơ cấu GRDP chuyển dịch tích cực, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản Kim ngạch xuất nhập khẩu và thu ngân sách Nhà nước tăng trưởng cao Các sản phẩm công nghiệp phụ trợ, sản phẩm công nghệ cao và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao tiếp tục phát triển Diện tích trồng cây lương thực được duy trì ổn định, diện tích trồng cây ăn quả được mở rộng Công tác quản lý, khoanh nuôi bảo vệ rừng
và trồng rừng mới được tăng cường, thực hiện vượt mục tiêu tỷ lệ che phủ rừng Phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân
Trang 36dân, văn hóa, thể thao và bảo vệ môi trường được chú trọng, có nhiều bước tiến tích cực Công tác an sinh xã hội được thực hiện tốt, đời sống nhân dân các dân tộc từng bước được nâng lên Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng được bảo đảm
- GRDP bình quân đầu người đạt 60,3 triệu đồng, bằng 1,5 lần năm
2015, cao hơn trung bình khu vực trung du và miền núi phía bắc và bằng khoảng 92% GDP bình quân đầu người của cả nước
- Thu ngân sách nhà nước đạt 4.512 tỷ đồng, gấp 1,86 lần so với năm 2015; trung bình hàng năm tăng 13,5%
- Số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập, hoạt động có hiệu quả là 2.464 doanh nghiệp gấp 2 lần năm 2015
- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1.907 triệu USD, gấp 3,5 lần so với năm 2015
- Tỷ lệ đô thị hóa đạt 28,69%
- Từ năm 2016 - 2019, đã có thêm 57 xã đạt chuẩn nông thôn mới; lũy
kế đến cuối năm 2019, tổng số xã về đích nông thôn mới là 88 xã (chiếm 46% tổng số xã), trung bình số tiêu chí nông thôn mới trên 1 xã đạt 15,01 tiêu chí Thực hiện Nghị quyết 830/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh, đến cuối năm 2020, có 02 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (thành phố Hòa Bình, huyện Lương Sơn), 57 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới, chiếm 43,5% tổng số xã
Trang 37* Các chỉ tiêu xã hội đến hết năm 2020
- Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn khoảng 59% tổng lao động xã hội
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 56%, trong đó có bằng cấp chứng chỉ
là 22,64%
- Về y tế: Đạt 8,8 bác sỹ và 26 giường bệnh trên một vạn dân
- Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,12%
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 24,38% năm 2016 xuống còn khoảng 8,56% vào năm 2020, trung bình một năm giảm 3,16%/năm
* Các chỉ tiêu môi trường đến hết năm 2020
- Số hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 95,2%
- Tỷ lệ CTNH được xử lý đạt 95%
- Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 98%
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 51,5%
* Thực trạng phát triển công nghiệp
Theo thống kê của Ban quản lý các KCN Hòa Bình đến hết năm 2021, tỉnh hiện có trên 7.100 cơ sở công nghiệp và TTCN Trong đó, bao gồm 383
doanh nghiệp và khoảng 6.718 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và hộ gia đình
Hiện các cơ sở công nghiệp và TTCN của tỉnh tập trung chủ yếu trong ngành chế biến thực phẩm, đồ uống với 3.638 cơ sở, chiếm tới 51,2% tổng cơ
sở công nghiệp toàn tỉnh, tiếp theo là các ngành chế biến gỗ, giấy (21,6%);
dệt may-da giày (9,9%); cơ khí, điện tử và SXKL (8.8%)…
Xét về số lượng doanh nghiệp công nghiệp, tỉnh Hòa Bình hiện có 383 doanh nghiệp công nghiệp Trong đó, tập trung nhiều nhất ở ngành khai thác
và chế biến khoáng sản với 94 doanh nghiệp (chiếm 24,5% doanh nghiệp CN); tiếp theo là các ngành chế biến gỗ, giấy có 63 doanh nghiệp; cơ khí, điện tử và SXKL có 52 doanh nghiệp; sản xuất VLXD có 47 doanh nghiệp
Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng bình quân hằng năm tăng 7,33%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 13,52%/năm; chỉ số
Trang 38sản xuất công nghiệp bình quân tăng 10,5%/năm Cơ cấu trong nội ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác khoáng sản
Sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng phong phú, đa dạng Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh có mức tăng trưởng cao Năm 2020, sản lượng xi măng ước đạt 2.459,9 nghìn tấn, gấp 3,76 lần so với năm 2015; dệt may ước đạt 65.310 triệu sản phẩm, gấp 3 lần so với năm 2015; linh kiện điện tử ước đạt 550 triệu sản phẩm, gấp 2,68 lần so với năm 2015
Ngành công nghiệp hỗ trợ của tỉnh tiếp tục phát triển Bên cạnh các dự
án sản xuất thấu kính quang học, linh kiện điện tử tại khu công nghiệp Bờ trái Sông Đà, khu công nghiệp Lương Sơn đã hoạt động ổn định Trong giai đoạn
5 năm qua tỉnh đã thu hút thêm được 108 dự án công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, cơ khí, chế tạo, may mặc, điện tử Đến cuối năm 2020, trên địa bàn toàn tỉnh có 327 dự án sản xuất công nghiệp, trong đó có trên 61,2% dự
án đã đưa vào sản xuất kinh doanh; riêng trong các khu công nghiệp có 95 dự
án, trong đó có 55 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh, chiếm tỷ lệ 57,9% Tỷ
lệ lấp đầy diện tích KCN Lương Sơn đạt 100% diện tích, KCN bờ trái sông
Đà đạt 80% diện tích, KCN Nam Lương Sơn khoảng 61,16% diện tích và KCN Mông Hoá khoảng 34,63% diện tích
Hiện nay trên địa bàn có 11 làng nghề truyền thống được công nhận, tăng 8 làng nghề so với năm 2015 Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã và đang tiếp tục góp phần quan trọng, trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân vùng nông thôn
Tăng cường, quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Đề án đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu kinh tế thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm,
kế hoạch phát triển từng ngành, lĩnh vực đảm bảo bám sát tình hình diễn biến kinh tế - xã hội của địa phương Kết quả là tăng trưởng kinh tế của tỉnh
Trang 39được duy trì ở mức khá cao; tốc độ tăng GRDP bình quân 5 năm đạt 6,31%/năm Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ tăng; năng suất lao động tăng bình quân 9%/năm; vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hơn; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 25%
Quy mô và tiềm lực kinh tế tiếp tục tăng, giá trị tổng sản phẩm năm
2015 là 33.221 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người là 40,1 triệu đồng, tương ứng tăng lên 51.962 tỷ đồng và 60,3 triệu đồng vào năm 2020 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 41,36% năm 2015 lên 41,42% vào năm 2020, tương ứng tỷ trọng nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 23,68% năm 2015 xuống 23,05%
Sản xuất công nghiệp liên tục phát triển; giá trị gia tăng ngành công nghiệp bình quân 7,47%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng từ 23,4% năm 2015 lên 35,4% năm 2020, công nghiệp khai khoáng ổn định ở mức khoảng 1-2% Khu vực nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững, giá trị gia tăng bình quân 3,98%/năm; độ che phủ rừng đạt 51,5% vào năm 2020 Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, bình quân 6,24%/năm; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 18,8%/năm; tổng doanh thu du lịch tăng bình quân 15,9%/năm; tổng lượng khách du lịch đạt 12,434 triệu lượt, bình quân hàng năm đạt 2,49 triệu lượt
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm các khu công nghiệp tỉnh Hòa Bình
4.1.1 Số lượng khu công nghiệp và loại hình kinh doanh
Đến năm 2021, toàn tỉnh Hòa Bình có 08 KCN được quy hoạch với tổng diện tích đất là 1.507,43 ha (bảng 4.1) Các KCN sản xuất kinh doanh đa dạng các sản phẩm khác nhau, trong đó phần lớn tập trung vào chế biến sơ chế lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, điện, điện tử
Bảng 4.1 Các khu công nghiệp đã quy hoạch chi tiết đến năm 2021
TT Tên Dự án đầu tư Tên nhà đầu tư Ngành nghề kinh doanh
I KCN Lương Sơn: 81 ha
1 Nhà máy SX hàng may mặc xuất
khẩu
Công ty TNHH Seyoung INC Sản xuất hàng may mặc xuất khẩu
2 Nhà máy SX và chế biến hương
nguyên liệu, tăm tre, keo hương và
cac SP khác tại KCN Lương Sơn
Công ty TNHH Việt Nam Fragraces, Hòa Bình Chế biến hương nguyên liệu, tăm tre, keo hương
3 Dự án thành lập công ty TNHH
Dongah Elecomm Việt Nam
Công ty TNHH Dongah Elecom Việt Nam
SX lắp ráp thiết bị nguồn các loại ắc quy; Làm tư vấn thiết kế cung cấp lắp đặt sau bán hàng; cho thuê nhà xưởng và văn phòng