Trong những năm qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng DVMTR mang lại những hiệu quả thực tế và quan trọng cho việc bảo vệ rừng.. Nền tảng của chi trả dịch vụ môi trường chính là
Trang 1PHẠM VĂN KHA
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG THÔNG QUA BỘ CHỈ SỐ GIÁM SÁT ĐÁNH GIÁ TẠI HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ NGÀNH: 8440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HẢI HÒA
HàNội, 2021
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hải Hòa Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi
rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của một số các tác giả, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường Đại học Lâm Nghiệp không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện
Hà Nội, Ngày tháng 10 năm 2021
Tác giả
Phạm Văn Kha
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo sau đại học cũng như thầy cô giáo Trường Đại học Lâm Nghiệp, Quỹ Bảo vệ rừng tỉnh Hòa Bình, Hạt Kiểm lâm huyện Đà Bắc, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Ủy ban nhân dân các xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hải Hòa người hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên
và Môi trường, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ rừng tỉnh Hòa Bình, Hạt Kiểm lâm huyện Đà Bắc, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Ủy ban nhân dân các xã của huyện Đà Bắc cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, nghiên cứu và xây dựng luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ còn những hạn chế Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô
và đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2021
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng 3
1.1.1 Các khái niệm về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 3
1.1.2 Đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng 4
1.2 Nguyên lý cơ bản của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 5
1.2.1 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền 5
1.2.2 Sự sẵn lòng chi trả (WTP) 6
1.3 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 9
1.3.1 Thành lập, vận hành bộ máy Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng 9
1.3.2 Tuyên truyền, tập huấn phổ biến chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 9
1.3.3 Lập kế hoạch thực hiện chính sách 10
1.3.4 Giám sát, đánh giá quá trình thực hiện 10
1.4 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 12
1.4.1 Nhận thức của các bên liên quan 12
1.4.2 Khung thể chế pháp lý 12
1.4.3 Năng lực đội ngũ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 13
Trang 51.4.4 Nguồn lực tài chính thực hiện chính sách 13
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 14
1.5.1 Trên thế giới 14
1.5.2 Tại Việt Nam 20
1.6 Những công trình khoa học đã nghiên cứu liên quan đến đề tài 25
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 28
2.1.1 Mục tiêu chung 28
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 28
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 28
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.2 Phạm vi về nội dung 28
2.2.3 Phạm vi về không gian 28
2.2.4 Phạm vi về thời gian 29
2.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.3.1 Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 29
2.3.2 Đánh giá hiệu quả chi trả DVMTR thông qua bộ chỉ số giám sát và đánh giá tại huyện Đà Bắc 29
2.3.3 Xác định các yếu tố thuận lợi, khó khăn trong giám sát, đánh giá tính chi trả DVMTR khu vực nghiên cứu 29
2.3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát và đánh giá hoạt động chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Phương pháp luận 29
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu chi tiết 32
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI 41
3.1 Đặc điểm tự nhiên 41
Trang 63.1.1 Vị trí địa lý 41
3.1.2 Vị trí địa lý về quan hệ vùng 44
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 44
3.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 44
3.1.5 Khí hậu, thủy văn 47
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 48
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
4.1 Thực trạng tài nguyên rừng và công tác bảo vệ, phát triển rừng tại huyện Đà Bắc 51
4.1.1 Thực trạng tài nguyên rừng huyện Đà Bắc 51
4.1.2 Công tác bảo vệ và phát triển rừng 53
4.1.3 Tình hình triển khai chi trả DVMTR 55
4.1.4 Những khó khăn thuận lợi trong thực hiện giao khoán QLBVR 59
4.2 Hiệu quả của hoạt động chi trả DVMTR qua bộ chỉ số giám sát và đánh giá tại huyện Đà Bắc 61
4.2.1 Kết quả điều tra, đánh giá ảnh hưởng của chính sách chi trả DVMTR 61
4.2.2 Hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR đến công tác QLBVR 67
4.2.3 Hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR đến mặt kinh tế 69
4.2.3 Hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR đến mặt môi trường 70
4.2.3 Đánh giá hiệu quả chính sách chi trả DVMR thông qua bộ tiêu chí giám sát, đánh giá 72
4.3 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội thách thức trong hoạt động chi trả DVMTR 75
4.3.1 Thuận lợi, cơ hội 75
4.3.2 Tồn tại, khó khăn 77
4.4 Giải pháp nâng cao thực hiện chính sách chi trả DVMTR 81
4.4.1 Giải pháp tổ chức thực hiện chi trả DVMTR 81
4.4.2 Giải pháp về tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật 82
Trang 74.4.3 Giải pháp bảo vệ và phát triển rừng 83 4.4.4 Giải pháp về cơ chế chính sách 85 4.4.5 Nâng cao năng lực phục vụ giám sát và đánh giá chi trả DVMTR 85
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DVMTR Dịch vụ môi trường rừng
PEES Chi trả dịch môi trường rừng
PES Chi trả dịch vụ hệ sinh thái
HST Hệ sinh thái
CTO Chứng chỉ hấp thụ các bon thương mại
GEF Quỹ Môi trường Toàn cầu
IFAD Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc Tế
ICRAF Trung tâm Nông - Lâm Thế giới
GTZ Tổ chức hợp tác phát triển Việt Nam và Đức
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PAM Chương trình lương thực thế giới
PCCCR Phòng cháỹ chữa cháy rừng
QLRBV Quản lý rừng bền vững
UBND Uỷ ban nhân dân
WTO Tổ chức thương mại quốc tế
ĐHLN Đại học lâm nghiệp
GÐGR Giao đất, giao rừng
HGÐ Hộ gia đình
KNTS Khoanh nuôi tái sinh
NLKH Nông lâm kết hợp
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Chỉ số giám sát và đánh giá tính minh bạch của chi trả DVMTR 35
Bảng 2.2 Các cấp đánh giá mức độ minh bạch chi trả DVMTR 36
Bảng 2.3 Chỉ số giám sát và đánh giá tính công bằng của chi trả DVMTR 36
Bảng 2.4 Các mức đánh giá tính công bằng của chi trả DVMTR 37
Bảng 2.5 Chỉ số giám sát và đánh giá tính hiệu quả của chi trả DVMTR 37
Bảng 2.6 Tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả của chi trả DVMTR 39
Bảng 3 1 Diện tích quy hoạch 3 loại rừng huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 45
Bảng 3.1a Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp huyện Đà Bắc 51
Bảng 4 1 Tổng hợp kết quả chi trả DVMTR năm 2018-2020 63
Bảng 4 2 Mức chi trả DVMTR/1ha 69
Bảng 4.3 Kết quả đánh giá tính minh bạch của hoạch động chi trả DVMTR 72
Bảng 4.4 Kết quả đánh giá tính công bằng của hoạt động chi trả DVMTR 73
Bảng 4.5 Kết quả đánh giá tính hiệu quả của hoạt động chi trả DVMTR 74
Bảng 4.6 Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đổi của hoạt động chi trả DVMTR tại khu vực nghiên cứu (SWOT) 79
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia 7
Hình 1 2 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường 8
Hình 1.3 Sơ đồ chi trả Dịch vụ môi trường rừng 11
Hình 3.1 Vị trí địa lý huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 43
Hình 4.1 Sơ đồ hoạt động chi trả tiền DVMTR tại huyện Đà Bắc 59
Hình 4.2 Loại rừng giao khoán bảo vệ 64
Hình 4.3 Tỷ lệ hộ được chi trả DVMTR 64
Hình 4.4 Đánh giá từ việc được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 65
Hình 4 5 Tham gia các hoạt động liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng 65
Hình 4.6 Hình thức giao khoán nào là phù hợp nhất 66
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta rừng được xem là tài nguyên quý giá của đất nước và chúng
ta tự hào có được “Rừng vàng, biển bạc“ với nguồn tài nguyên phong phú và
đa dạng, có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh của xã hội mà chưa có chiến lược bảo vệ rừng phù hợp với từng giai đoạn khiến nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng Đây là một trong số những nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu Trong những năm qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) mang lại những hiệu quả thực tế và quan trọng cho việc bảo
vệ rừng Hơn 5.226.025 triệu đồng được thu từ DVMTR trong 05 năm qua Đây là nguồn lực to lớn góp phần bảo vệ 5.299.795,41 ha rừng và cải thiện thu nhập cho 506.298 hộ dân sống trong vùng rừng tăng thu nhập cho những người dân sống trong vùng rừng, góp phần cung ứng nguồn nước cho sản xuất thủy điện và nước sạch, cảnh quan thiên nhiên cho du lịch, bảo vệ môi trường
và ứng phó với biến đổi khí hậu
Trong những năm qua chính sách chi trả DVMTR đã mang lại hiệu quả tích cực như đã góp phần vào hạn chế xói mòn, lũ lụt, duy trì nguồn nước, hấp thụ và lưu giữ lượng khí thải các bon, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, bảo về cảnh quan đa dạng sinh học, cung cấp bãi đẻ cho các loài thủy sản, nguồn thức ăn, sử dụng nguồn nước từ rừng và quan trọng nhất là có thể đem lại nguồn thu nhập cho người dân quanh khu vực bảo vệ khu rừng đó Việc triển khai Chính sách và đánh giá hiệu quả chi trả DVMTR cho thấy sự hiệu quả của chính sách mang lại, khẳng định hướng đi đúng đắn, từng bước
đi vào cuộc sống, tạo nên một nguồn lực tài chính mới ngoài ngân sách, mang tính ổn định, bền vững, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần tạo ra nhiều việc làm, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người làm nghề rừng
Trang 12Tỉnh Hòa Bình triển khai chính sách chi trả DVMTR từ năm 2011 Sau
10 năm triển khai thực hiện, chính sách chi trả DVMTR đã tạo nguồn tài chính bền vững cho BV&PTR, gắn kết giữa người cung ứng và người sử dụng DVMTR; cải thiện sinh kế của các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư tham gia làm nghề rừng; góp phần bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn miền núi Đây là một bước tiến mới, thể hiện sự thay đổi đột phá có tính chiến lược, chuyển hướng tiếp cận hoàn toàn dựa vào nguồn ngân sách nhà nước sang tăng cường huy động nguồn vốn xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng
Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách chi trả DVMTR còn có một số khó khăn, tồn tại, vì đây là mô hình hoạt động mới lại có tính chất đặc thù; các văn bản hướng dẫn về cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, thống nhất, một số nội dung chưa sát với tình hình thực tế tại địa phương Xuất phát từ
tình hình thực tế trên Đề tài: “Đánh giá hiệu quả hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua bộ chỉ số giám sát và đánh giá tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện nhằm góp phần xác định những hạn chế
những tồn tại, đồng thời phát huy tốt hơn nữa những kết quả tích cực đạt được, rút ra những bài học kinh nghiệm và cách làm phù hợp, đồng thời chỉ ra nguyên nhân và định hướng cần thiết để chính sách ngày càng thiết thực, hiệu quả và bền vững
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.1.1 Các khái niệm về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.1.1.1 Môi trường rừng
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác
1.1.1.2 Dịch vụ môi trường rừng
Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ được quy định tại Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/911/2018 của Chính phủ, bao gồm:
- Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;
- Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;
- Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững;
- Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch;
- Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản
Trang 141.1.1.3 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là tập hợp những chủ trương và hành động của chính phủ nhằm tạo lập, duy trì, phát triển quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định giúp cho sự bền vững và phát triển của môi trường rừng
1.1.1.4 Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR, Payments for Environmental
Forest Services- PFES) là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có
giàng buộc về mặt pháp lý và hợp đồng này thì một hay nhiều người mua chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái xác định bằng cách trả tiền mặt, hỗ trợ cho một hoặc nhiều người bản và người này có trách nhiệm bảo đảm một loại hình sử dụng nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thỏa thuận Là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân (Nghị Định 156/2018/NĐ-CP)
Tại khu vực nghiên cứu, cùng với hệ thống chi trả DVMTRcủa nhà nước, tỉnh Hòa Bình hiện đang áp dụng hình thức chi trả gián tiếp thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh
1.1.2 Đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng
Theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018: Các đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng, gồm:
- Các chủ rừng là tổ chức được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng
để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Trang 15- Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được Nhà nước giao do Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận theo đề nghị của cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã
- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước (sau đây gọi chung là hộ nhận khoán); hợp đồng nhận khoán do bên giao khoán và bên nhận khoán lập, ký và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã
1.2 Nguyên lý cơ bản của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.2.1 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền
Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lý môi trường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter pays) Cơ chế này yêu cầu những người gây ra các tác động có hại đến môi trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lại môi trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ chế này cũng có một số hạn chế nhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặc không khắc phục các thiệt hại về môi trường
Trái với các cơ chế quản lý trước đây, chi trả dịch vụ môi trường không hoạt động theo cơ chế người đây ô nhiễm phải trả tiền mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng,
sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra Một ví dụ cụ thể
là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây
Trang 16ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu Những người ở hạ lưu trước đây không phải trả tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng thì nay họ sẽ chi trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng
Đây là một cách tiếp cận rất mới của chi trả dịch vụ môi trường, coi dịch vụ môi trường là hàng hoá và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hoá thì hiển nhiên ta phải trả tiền để được tiêu dùng nó Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ môi trường rừng sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn
1.2.2 Sự sẵn lòng chi trả (WTP)
WTP là thước đo độ thoả mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường cầu thị trường tạo nên cơ sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể
Nền tảng của chi trả dịch vụ môi trường chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thoả thuận với bên nhận được lợi ích từ các lợi ích từ môi trường Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm khác của chi trả dịch vụ môi trường,
ví dụ chi trả dịch vụ môi trường là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa ít nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hoá dịch vụ môi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất phân biệt chi trả dịch vụ môi trường với các cách tiếp cận trước đây
Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng cơ sở của chi trả dịch vụ môi trường là dựa trên sự thoả thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra một mức giá hợp lý Thông qua việc thoả thuận, hai bên
có thể đạt được mức lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường Mô hình dưới đây cho thấy các ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên
Trang 17Đường thẳng AB là đường lợi ích cận biên của những người ở vùng thượng lưu (ở đây là chủ rừng) đối với việc chặt cây Có thể nhận thấy lợi ích cận biên của họ giảm dần khi chặt thêm cây, nguyên nhân có thể do giá cả của
gỗ hoặc những cây có giá trị cao đã bị chặt phá trước Đường thẳng OD biểu diễn mức chi phí biên của người ở vùng hạ lưu, chi phí này ngày càng tăng lên cùng với việc nhiều cây bị mất đi Hai đường này cắt nhau tại E, là điểm
mà lợi ích của hai bên là như nhau, tương ứng với mức giá là P Đây là mức giá mà những người ở hạ lưu sẵn lòng chi trả và những người chủ rừng sẵn sàng chấp nhận
Hình 1.1 Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia
(Trích theo tư liệu của Ngân hàng Thế Giới WB năm 2003)
Mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong một nghiên cứu của World Bank năm 2003
Trang 18Hình 1 2 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường
(Trích từ tư liệu của Ngân hàng Thế Giới WB năm 2003)
Trong mô hình này có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng
và sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừng nhưng lại là chi phí của những nhà máy thuỷ điện và cư dân ở hạ lưu Phần màu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác
gỗ, buôn bán động vật hoang dã… Ngược lại phần diện tích màu đỏ cho thấy chi phí hay thiệt hại của các nhà máy thuỷ điện khi rừng bị chặt phá, ví dụ như các thiệt hại về kinh tế do giảm năng suất hay thiên tai, lũ lụt Do đó, những nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừng nhằm duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phải nhỏ hơn phần thiệt hại về kinh tế nhưng không là giảm bớt lợi ích của người chủ rừng Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây Ví dụ, khi các khu rừng đầu nguồn bị chặt phá, chủ rừng thu nhập được 100 triệu đồng, đồng thời các nhà máy thuỷ điện sẽ bị thiệt hại 1,0 tỷ đồng Nếu rừng được các nhà máy này sẽ giảm được thiệt hại là 500 triệu đồng, thì họ sẵn sàng chi trả một mức tiền nhỏ hơn 500 triệu để duy trì rừng đầu nguồn Lúc này mức chi trả hợp lý sẽ lớn hơn 100 triệu đồng và nhỏ hơn 500 triệu đồng Tóm lại, mức chi trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở:
Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích nhà máy thuỷ điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng
Trang 191.3 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.3.1 Thành lập, vận hành bộ máy Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng
Quỹ Bảo vệ phát triển rừng là cơ quan trực tiếp thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Ở cấp trung ương, cơ quan cao nhất được thành lập là Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng ở cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập khi đảm bảo các điều kiện quy định được sau:
- Có nhu cầu thành lập Quỹ để phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng;
- Có khả năng huy động các nguồn tài chính và tổ chức quản lý Quỹ, đảm bảo Quỹ hoạt động ổn định, lâu dài và hiệu quả;
- Có cam kết bảo toàn vốn nhà nước cấp ban đầu;
- Có đề án (phương án) thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
Quỹ trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định Nhà nước khuyến khích thành lập Quỹ ở cấp huyện, xã, thôn; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quỹ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
1.3.2 Tuyên truyền, tập huấn phổ biến chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách cho cộng đồng, tập huấn nghiệp
vụ cho các cán bộ chuyên môn trong việc thực hiện chính sách rất quan trọng Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh, trên trang thông tin điện tử của tỉnh hay tại các hội nghị, cuộc họp giao ban cán bộ chủ chốt, giao ban chuyên môn
Trang 20- Ký kết hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng: Sau khi được UBND tỉnh phê duyệt danh sách các đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng với các đối tượng theo quy định
- Triển khai lập công tác thu, chi tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng: Sau khi ký kết hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh lập kế hoạch thu, chi tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm, trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và thực hiện thu, chi tiền
ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các đơn vị theo quy định Căn cứ theo quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân tỉnh, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh tiến hành thực hiện các nhiệm vụ thu, chi tiền DVMTR
1.3.4 Giám sát, đánh giá quá trình thực hiện
Giám sát, đánh giá thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện nay chưa được Nhà nước quy định cụ thể, do đây là một chính sách tương đối mới mẻ và mới được triển khai trên phạm vi cả nước trong những năm gần đây Hiện nay, các nhà xây dựng chính sách, các cơ quan trực tiếp thực thi chính sách đều thực hiện việc giám sát, đánh giá quá trình triển khai chính sách ở các địa phương được Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, Chi cục Kiểm Lâm triển khai thực hiện theo chỉ đạo qua từng thời kỳ của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương:
Trang 21- Việc giám sát số tiền các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng nộp
về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh do Chi cục thuế quản lý tại địa bàn nơi đơn vị đó hoạt động
- Việc giám sát số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các đơn vị được phân bổ bao nhiêu? Được Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, phê duyệt trên
cơ sở đề xuất của đơn vị được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm
và Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh tham mưu Bên cạnh đó, để giám sát, kiểm tra quá trình sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng của các chủ rừng là tổ chức, hàng năm Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, phối hợp Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng yêu cầu các đơn vị ký cam kết bảo vệ rừng, kiểm tra và nghiệm thu công tác bảo vệ rừng, các nội dung khác theo kế hoạch đề xuất ban đầu của các đơn vị để đảm bảo số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng đúng mục đích
Việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện chính sách được Quỹ Bảo
vệ phát triển rừng Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh và Hội đồng quản lý Quỹ giám sát hàng năm
Hình 1.3 Sơ đồ chi trả Dịch vụ môi trường rừng
(Nguồn: Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, 2016)
Trang 221.4 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.4.1 Nhận thức của các bên liên quan
Việc các tổ chức, cá nhân hiểu và nắm rõ hơn về chính sách chi trả dịch
vụ môi trường rừng sẽ tạo chuyển biến tích cực trong việc thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, góp phần bảo vệ rừng bền vững, cụ thể:
- Đối với các cơ quan chức năng: Việc nhận thức đúng về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, giúp các đơn vị liên quan triển khai tốt hơn trong công tác phối hợp thực hiện chính sách;
- Đối với đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng: Việc nhận thức của các đối tượng này được nâng cao giúp cho công tác thu tiền ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trẻ nên dễ dàng hơn Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để triển khai thực hiện chính sách và là một trong những tồn tại gây khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch
vụ môi trường rừng nói chung trên địa bàn cả nước;
- Đối với các đối tượng cung ứng dịch vụ, các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân khác: Nâng cao nhận thức về thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ giúp cho việc thực hiện công tác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được thuận lợi hơn và góp phần sử dụng nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đúng mục đích, đúng quy định
1.4.2 Khung thể chế pháp lý
Khung thể chế pháp lý là một trong những tiêu chí quan trọng bậc nhất
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Việc hình thành khung thể chế pháp lý nhằm tạo ra một lộ trình chuyển tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng từ doanh nghiệp tới những người dân bảo vệ rừng không qua hệ thống tài chính của Nhà nước để làm nền tảng từng bước thiết lập mối quan hệ chi trả bền vững hơn, chặt chẽ hơn giữa bên sử dụng và bên cung ứng các dịch vụ môi trường rừng
Trang 23Hoạt động của nền kinh tế nói chung và của hệ thống Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng nói riêng, muốn hoạt động có hiệu quả, tồn tại và phát triển được cần phải có một hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất hỗ trợ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, giúp cho mọi hoạt động kinh doanh thuận lợi và
có hiệu quả Trong điều kiện nước ta hiện nay, hệ thống pháp luật chưa đồng
bộ đã phần nào gây khó khăn cho hoạt động ủy thác qua Quỹ BV&PTR, và đặc biệt là hoạt động quản lý thu, chi Quỹ BV&PTR
1.4.3 Năng lực đội ngũ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý thu, chi tại Quỹ BV&PTR trung ương nói riêng và hoạt động quản lý thu, chi của Quỹ BV&PTR nói chung Hoạt động Quỹ phát triển, nguồn thu, nguồn chi phong phú, đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể sử dụng được các máy móc, công nghệ hiện đại Do vậy, việc tuyển chọn nhân sự cần được kiểm tra, sát hạch kỹ lưỡng, cán bộ Quỹ phải là người có tư cách đạo đức tốt,
có trình độ, trách nhiệm cao, chuyên môn nghiệp vụ vững Trình độ cán bộ quản lý điều hành yếu kém sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng thẩm định, không có biện pháp xử lý kịp thời những tình huống bất lợi xảy ra
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách mới Do đó,vai trò của đội ngũ cán bộ thực thi chính sách rất quan trọng Họ là người trực tiếp xây dựng, quản lý và giám sát quá trình thực hiện chính sách Do đó, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách là một trong những tiêu chí quan trọng mà Chính phủ và các bộ, ngành hết sức quan tâm
1.4.4 Nguồn lực tài chính thực hiện chính sách
Một chính sách muốn thực hiện có hiệu quả, vấn đề về nguồn lực tài chính để triển khai thực hiện chính sách thực sự rất quan trọng.Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng muốn thực hiện tốt, hiệu quả và phát huy được các lợi ích cho môi trường, xã hội thì phải có nguồn lực tài chính bền vững Vấn đề này phụ thuộc rất lớn đến đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng
Trang 24trên địa bàn thực hiện chính sách Bên cạnh đó, bên cung ứng dịch vụ cũng có một tác động không hề nhỏ đến việc nguồn lực tài chính cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có bền vững và phát triển dần qua các năm hay không
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Bản chất của hoạt động chi trả DVMTR là tạo ra cơ chế khuyến khích
và mang lại lợi ích cho những người thực hiện sử dụng các hệ sinh thái có ý nghĩa môi trường để đổi lấy việc họ sử dụng các hệ sinh thái này theo cách bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường để phục vụ lợi ích của phần đông dân số Với cách làm này thì từng người dân của cộng đồng có thể được hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ mang lại
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò to lớn của môi trường, trong đó
đã có rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định giá trị to lớn của môi trường rừng Tuy nhiên, với cách tiếp cận sử dụng và hưởng lợi tự do (là một loại hàng hóa công cộng) nhiều quốc gia đã khuyến khích người dân, người làm nghề rừng bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng quá mức dẫn đến ảnh hưởng đến các ngành sản xuất khác
1.5.1 Trên thế giới
Đến nay trên thế giới đã có nhiều chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) Chúng được chia thành nhóm các chương trình PES tự nguyện và PES chính phủ Trong chương trình PES tự nguyện cả nhà cung cấp dịch vụ môi trường và người sử dụng dịch vụ đều tự nguyện trên cơ sở hợp đồng Ngược lại trong chương trình PES chính phủ tài trợ thường chi tự nguyện ở bên các nhà cung cấp dịch vụ còn bên người sử dụng dịch vụ môi trường rừng sẽ chỉ trả qua các dụng phí và lệ phí bắt buộc
Trang 25Hawaii đã áp dụng chính sách mua lại đất hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì, cải thiện nguồn nước mặt và nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt, phát triển du lịch, nông nghiệp và các ngành nghề khác Ở bang Oregon đã áp dụng chính sách bảo tồn và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng Từ việc xác định và đầu tư đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ đã phát triển du lịch sinh thái, lấy dòng sông nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan về sinh thái, lấy các khu rừng bị khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên và du khách
về ý thức bảo vệ rừng Ở New York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và nhiều chương trình hỗ trợ cho các chủ đất áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước cho thành phố… [https://greenblue.org/]
- Tại khu vực Trung Mỹ và Mexico, Chương trình về dịch vụ môi trường thủy văn (PSA-H) là chương trình chi trả dịch vụ môi trường lớn nhất châu Mỹ PSA-H tập trung vào bảo tồn các rừng tự nhiên bị đe dọa nhằm duy trì các dòng chảy và chất lượng nước Mexico đã thành lập Quỹ lâm nghiệp năm 2002, thực hiện chi trả dịch vụ môi trường từ việc sử dụng đất Uỷ ban Lâm nghiệp Quốc gia ký hợp đồng với chủ đất để quản lý nhằm duy trì các dịch vụ đầu nguồn Ngoài ra người nông dân ở Ugada và Mexico đã tiến hành liên kết với nhau để tham gia thị trường cacbon quốc tế, bên mua là công ty sản xuất bao bì Teltra Pak có trụ sở tại Vương quốc Anh Nhóm nông dân này
đã liên hệ với tổ chức phi chính phủ Ecotrust có trụ sở tại Uganda, sau đó tổ chức này lại phối hợp với Trung tâm quản lý các bon Edinburg Theo hợp đồng, nhóm nông dân phải trồng các loài cây bản địa Trong thời gian thực hiện hợp đồng, những cây này sẽ hấp thụ được 57 tấn các bon và ho sẽ nhân được 8 USD/tấn Trong khi cây trồng đang lớn, họ có thể nuôi dê dưới tán cây Khi hợp đồng kết thúc, họ có thể sử dụng hoặc bán số gỗ đó [Juan Manuel Torres-Rojo và cộng sự, 2016]
Trang 26- Tại Brazil, Nhà nước phân bổ ngân sách cho các thành phố để bảo vệ các khu rừng phòng hộ đầu nguồn và phục hồi diện tích rừng nghèo kiệt Ở Parana cũng như ở Minas Gerais, 5% doanh thu từ lưu thông hàng hóa và dịch
vụ (ICMS) một loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ được phân bổ cho các thành phố có cơ quan bảo tồn hay diện tích rừng cần bảo vệ hoặc cho các thành phố cung cấp nước cho các thành phố lân cận Chính phủ cung đã thực hiên “Chương trình ủng hộ môi trường” trong đó , chi trả để thúc đẩy sự bền vững môi trường của khu vực Amazon Một số sáng kiến cacbon cũng đã được thực hiện, như dự án Plantar được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới, nhằm cung cấp các biện pháp kinh tế cho việc cung cấp
gỗ bền vững [Richard E Rice và cộng sự, 2001]
1.5.1.2 Tại châu Âu
- Tại Pháp, Công ty Perrier Vittel (do Nestlé sở hữu) phát hiện ra rằng
bỏ tiền đầu tư vào bảo tồn diện tích đất chăn nuôi xung quanh khu vực đất ngập nước sẽ tiết kiệm chi phí hơn là việc xây dựng nhà máy lọc nước để giải quyết vấn đề chất lượng nước Theo đó, họ đã mua 600 mẫu đất nằm trong khu vực sinh cảnh nhạy cảm và ký hợp đồng bảo tồn dài hạn với nông dân trong vùng Nông dân vùng rừng đầu nguồn Rhine-Meuse ở miền Đông Nam nước Pháp được nhận tiền đền bù để chấp nhận giảm quy mô chăn nuôi bò sữa trên đồng cỏ, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải chăn nuôi và trồng rừng ở những khu vực nước thẩm thấu Công ty Perrier Vittel chi trả cho môi trang trại nuôi bò sữa ở thượng lưu khoảng 230USD/ ha/năm, trong 7 năm Công ty đã chi trả tổng số tiền là 3,8 triệu USD [Maritta Koch-Weser và cộng sự, 2002]
- Tại Đức, Chính phủ đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các chủ đất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cường hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh, gồm Honduras, Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hoà Dominica
Trang 271.5.1.3 Tại châu Á
Trong những năm gần đây, các chương trình về chi trả dịch vụ môi trường đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại các nước châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện để thành lập cơ chế chi trả dịch vụ môi trường Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về chi trả dịch vụ môi trường đối với việc quản lý lưu vực đầu nguồn
Từ năm 2001 - 2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các chương trình chi trả dịch vụ môi trường ở châu Á Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông - Lâm thế giới (ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường bằng Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường (RUPES) ở châu Á RUPES đang tích cực thực hiện các chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal Tại Indonesia, thiết lập cơ chế chuyển giao dịch vụ từ các chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn Khách hàng của Công ty PDAM (40.000 hộ gia đình) ở Mataram đồng ý trả 0,15 - 0,20 USD hàng tháng cho công tác bảo tồn chức năng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Tây Lombok [ISC, 2016]
Năm 1998, Trung Quốc đã bổ sung, sửa đổi Luật quy định hệ thống bồi thường sinh thái rừng Triển khai thí điểm hệ thống bồi thường giai đoạn
2001 - 2004 Năm 2004, thành lập Quỹ bồi thường lợi ích sinh thái rừng [Hongbing Deng và cộng sự, 2011]
Tại Bakun (Philippines), Chính phủ công nhận các quyền sở hữu không chính thức về đất đai do tổ tiên để lại Việc được giao đất ở Bakun được xem
là một hoạt động chi trả cho việc quản lý đất bền vững Về phía cộng đồng, tất cả mọi người đều được chi trả, hưởng lợi trong việc trao đổi cung cấp các dịch vụ đầu nguồn [https://www.cbd.int/]
Từ các mô hình chi trả dịch vụ môi trường ở các nước cho thấy, quản lý
Trang 28và bảo vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học Chi trả dịch vụ môi trường được đánh giá là một
cơ chế có sự gắn kết với các mục tiêu thiên niên kỷ, được xem như một cơ chế tài chính góp phần giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học vì một thế giới phát triển bền vững hơn
1.5.1.4 Xu hướng mới trong phát triển dịch vụ môi trường rừng
Trong những năm gần đây, trên phạm vi toàn cầu nhận thức về vai trò
và giá trị của rừng đã được nhìn nhận một cách đầy đủ hơn, đặc biệt là giá trị DVMTR Theo đó, rừng có tác dụng cung cấp các DVMT gồm: Bảo tồn đa dạng sinh học, hấp thụ cacbonic, bảo vệ rừng đầu nguồn, vẻ đẹp cảnh quan
Cơ cấu giá trị cho các loại DVMT của rừng được các nhà khoa học nghiên cứu xác định cho hấp thụ cacbonic chiếm 27%, Bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%, bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%, Vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và giá trị khác chiếm 10% Giá trị dịch vụ do hệ sinh thái rừng trên toàn trái đất được ước tính 33.000 tỷ USD/năm Riêng ở Bristish Clumbia, rừng đã giúp cho cộng đồng địa phương tránh được chi phí xây dựng các nhà máy lọc nước, ước tính khoảng 7 triệu USD/nhà máy và 300.000 USD vận hành mỗi năm [Russi, Daniela và cộng sự, 2013]
Những kết quả nêu trên cho thấy, giá trị của rừng rất to lớn và đặc biệt
là giá trị môi trường đã và đang mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương và quốc tế Với tầm quan trọng này nhiều tổ chức, quốc gia đã hình thành các cơ chế khác nhau nhằm quản lý DVMT trên quan điểm coi DVMT
là một loại hàng hóa Theo đó, các khái niệm và thuật ngữ được thừa nhận để chỉ sự thương mại các DVMT như: chi trả (Payments), đền đáp (Reward), thị trường (Market), bồi thường (Compensation) Đây được coi là những xu hướng mới nhằm quản lý chi trả dịch vụ môi trường và hướng tới phát triển bền vững đến sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba mặt: Phát triển kinh
tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Trang 29Kết quả của các công trình trên thế giới:
Từ cuộc điều tra toàn cầu về các chương trình chi trả cho các dịch vụ môi trường rừng:
- Mỹ La tinh là khu vực dẫn đầu với 101 chương trình chi trả với 36 chương trình đang hoạt động và được ghi nhận có giao dịch trong năm 2008 với tiền giao dịch là 31 triệu USD cho các biện pháp bảo tồn vùng đầu nguồn
và diện tích là 2.3 triệu ha được thực hiện với sự hình thành của quỹ nước đầu tiên Ecuador sau đó là Colombia Peru và Brazil Việc sử dụng công cụ này để gây quỹ bảo tồn vùng thượng lưu nâng cao chất lượng để đáp ứng được nhu cầu sử dụng của khu vực hạ lưu và khu vực phụ cận Đóng vai trò mô hình nhân rộng tới các khu vực khác trên toàn thế giới [FAO, 2018
- Châu Á là nơi các chương trình dịch vụ môi trường rừng chưa được phát triển như khu vực Mỹ La Tinh khi chỉ có 33 chương trình trong đó có 9 chương trình được ghi nhận vào năm 2008 Tổng số tiền mà chương trình tạo
ra là 1.8 triệu USD (năm 2008) với diện tích rừng là 110.000 ha đất Hoạt động trên được thành lập và giúp đỡ RUPES [FAO, 2008]
- Trung Quốc là nước có giá trị giao dịch về dịch vụ môi trường rừng lớn với số tiền là 7.8 tỉ USD (thực hiện từ năm 1999 - 2008 với số chương trình tăng từ 8 lên 47 chương trình vào năm 2008) Các chương trình chi trả cho dịch vụ môi trường rừng tại nước này hiện nay đều được thực hiện bởi chính phủ [FAO, 2008]
Nhận xét về PFES trên thế giới:
- Cho đến nay các chương trình PFES vẫn chủ yếu là của chính phủ Người cung cấp dịch vụ môi trường rừng ít có khả năng có thể quản lý được giá trị dịch vụ môi trường rừng nên để thực hiện được việc này cần có sự hỗ trợ của chính phủ để có thể hoàn thành nên việc chi trả dịch vụ môi trường rừng được xem là bắt buộc
- Mục tiêu của PFES phổ biến nhưng quan trọng nhất vẫn là bảo vệ
Trang 30nguồn nước Các chương trình PFES tự nguyện chủ yếu cũng hướng vào bảo
- Đối tượng được hưởng lợi từ PFES là cả cộng đồng
- Những đối tượng khởi xướng PFES là các cơ quan và tổ chức có khả năng liên kết và hỗ trợ đàm phán hoặc đưa ra các quyết định và chính sách như: Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, bộ tài nguyên nước, chính quyền các địa phương,
- Vùng thực hiện của PFES là thượng lưu các con sông, các khu vực sinh thải nhạy cảm, đồng cỏ,
- Hình thức của PES phần lớn là chi trả thông qua các tổ chức hoặc cơ quan chính phủ
- Mức chi trả dao động trong phạm vi rộng, phụ thuộc vào kết quả đàm phản giữa bên cung cấp và bên chi trả Tùy theo các loại rừng và điều kiện của chủng, mức chi trả cao nhất là các rừng nguyên sinh, rừng tự nhiên, rừng
ở những nơi có mức phòng hộ cao
- Thời gian chi trả của PFES là vào những khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng hay là thời gian quy định của chính phủ
- Thời gian của PFES ít nhất là 5 năm, một số chương trình kéo dài từ
10 20 năm, có những chương trình không giới hạn thời gian
1.5.2 Tại Việt Nam
1.5.2.1 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Việc đi sau các nước về việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi
Trang 31trường rừng mang lại những lợi ích cho Việt Nam Trên nguyên tắc kế thừa kinh nghiệm của các nước đi trước, trong quá trình nghiên cứu để áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng của Việt Nam có được những bài học kinh nghiệm chính như sau:
- Dịch vụ môi trường liên quan đến nước (thủy điện, nước sạch) là các dịch
vụ có thị trường lớn nhất và các bên sử dụng có mức sẵn lòng chi trả lớn nhất;
- Mặc dù còn nhiều thách thức, các quỹ ủy thác là phương pháp được các bên sử dụng nhiều nhất để hỗ trợ việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường;
- Hệ thống giám sát và đánh giá rất cần thiết cho việc đánh giá tác động của chi trả dịch vụ môi trường lên chất lượng và dịch vụ môi trường cũng như khẳng định niềm tin của các bên có liên quan trong công tác chi trả;
- chi trả dịch vụ môi trường có tác động tích cực đến cải thiện đời sống của người dân nếu được thiết kế và thực hiện hiệu quả;
- Cần kết hợp chặt chẽ giữa thực thi pháp luật và hành pháp hiệu quả với việc tạo ra các cơ chế tài chính hấp dẫn cho người dân thay đổi;
- Tác động của chi trả dịch vụ môi trường đối với bên cung cấp dịch vụ môi trường phụ thuộc vào diện tích họ quản lý
1.5.2.2 Nhận thức về giá trị môi trường rừng
Ở Việt Nam từ bao đời nay người dân ở nhiều nơi đã bảo vệ các khu rừng thiêng, rừng ma và khu vực rừng đầu nguồn để lấy nước sinh hoạt, tưới tiêu cho mọi người, những khu rừng cung cấp củi và nhiều vật dụng cung cấp cho đời sống của người dân Người dân khu vực miền núi hiểu rõ vai trò bảo
vệ và phục hồi đất của rừng Họ đã sử dụng nó như một công cụ để bảo vệ và tái tạo nguồn tài nguyên rừng và đất rừng phục vụ đời sống của họ
Đối với các nhà khoa học đã quan tâm đến hiệu quả môi trường rừng tử những thế kỷ trước trong những lĩnh vực như: sinh thái học, khí tượng thủy văn, trồng rừng, quản lý nguồn nước, lâm học Kết quả nghiên cứu về hiệu quả bảo về đất và giữ nước của rừng đầu nguồn trở thành căn cứ để đưa ra những giải pháp nhằm phục hồi đất rừng, ngăn chặn quá trình suy thoái đất,
Trang 32xây dựng biện pháp canh tác hiệu quả trên đất dốc, các biện pháp nông lâm kết hợp Đối với các nhà nghiên cứu chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đã được các nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam thực hiện như: Báo cáo chuyên đề chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam từ chính sách đến thực tiễn của tác giả Phạm Thu Thủy và các cộng sự (Báo cáo này là sản phẩm của dự án nghiên cứu so sánh toàn cầu về REDD+) Một số nghiên cứu
đã đánh giá các bài học từ việc triển khai PFES ở Việt Nam như Tô và Laslo (2009); Nguyễn (2009); McElwee (2012); Hess và Tô (2010); Nguyễn (2011), các vấn khác liên quan đến chi trả DVMTR như sử dụng đất hoặc biến động
về đa dạng sinh học (McElwee, 2012; Tô và cộng sự, 2012), nghiên cứu về lợi ích kinh tế (MARD, 2010b; Trần, 2010), phân tích về các kết quả tại các tỉnh thí điểm PFES tại Lâm Đồng và Sơn La, các dự án dưới dạng PES trước khi có Nghị định 99 (Hoàng và cộng sự, 2008; Kohinjivadi và Sunderland, 2012; Tô và cộng sự, 2012) Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu đều đứng trên khía cạnh khác nhau khi đánh giá tính hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR, song đều chỉ ra rằng chính sách chi trả DVMTR đã và đang đem lại tính hiệu quả và tích cực trong hoạt động quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay
1.5.2.3 Chi trả dịch vụ môi trường rừng và khung pháp lý ở Việt Nam
Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện thí điểm chính sách chi trả DVMTR ở cấp quốc gia, thí điểmtại hai tỉnh Lâm Đổng và Sơn
La theo quyết định 380/2008/QĐ - TTg, ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ Tính đến tháng 2/2010 sau hai năm thực hiện Lâm Đồng đã chỉ trả được 20,23 % và Sơn La chi trả được 12,9 % của tổng diện tích thí điểm
Từ năm 2008 khung pháp lý quốc gia về chi trả DVMTR gồm các cơ
sở pháp lý, cơ cấu tổ chức, quản lí tài chính và các hợp đồng ủy thác đã được quy định tại hơn 20 văn bản pháp quy ban hành bởi các cấp khác nhau gồm: 4 văn bản pháp quy dưới dạng Nghị định và Quyết định của Thủ Tướng và 16
Trang 33văn bản pháp quy dưới dạng Quyết định và Thông tư của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Trong số các văn bản ban hành có 5 văn bản cung cấp các cơ sở pháp lí và hướng dẫn về việc thành lập, tổ chức và quản lý Quỹ bảo
vệ và phát triển rừng ở cấp tỉnh và Trung ương 11 văn bản hướng dẫn về tổ chức thực hiện chỉ trả dịch vụ môi trường rừng Cơ chế vận hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp Tỉnh và Trung ương Quỹ này kí hợp đồng với bên mua dịch vụ và thu tiền và các bên sử dụng dịch vụ môi trường, chuẩn bị kế hoạch chi tra, giám sát và phổ biến tới người cung cấp dịch vụ, chuẩn bị báo cáo theo từng giai đoạn tới Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Trung ương Bên cung cấp dịch vụ là các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng hay một tổ chức nào đó dựa trên chứng nhận quyền sử dụng đất mà bên cung cấp đưa ra
Năm 2008 dưới sự hỗ trợ của quỹ ủy thác Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 05/2008/ ND - CP ngày 14/01/2008 về Quỹ bảo về và phát triển rừng với mục đích chính là:
“Huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp" Ngày 10/4/2008 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 380/ QĐ - TTg chính sách thí điểm tại Lâm Đồng và Sơn La tạo cơ sở cho việc xây dựng các điều kiện pháp lí để thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Việt Nam là nước đi đầu về thực hiện thí điểm chính sách chi trả môi trường rừng ở Đông Nam Á mà còn là nước ở cấp quốc gia Các chính sách
mà nước ta áp dụng không chỉ là mở rộng địa bàn áp dụng mà còn thêm một
số loại hình dịch vụ khác nữa như: giữ đầu nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói
Trang 34mòn và bồi lắng lòng hổ cho thủy điện, cung cấp nước sạch cho người dân, du lịch sinh thái cảnh quan, du lịch sinh thái, cung cấp bãi đẻ, hấp thụ và lưu giữ cacbon,
Chỉ trả môi trường rừng đang ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều phía giúp khuyến khích người dân địa phương bảo vệ rừng và có thể kiếm được thu nhập ổn định từ lĩnh vực này
Trong những năm gần đây các chương trình nhận được sự quan tâm Tại một số trường đại học, các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đưa ra các biện pháp hợp lí nâng cao việc chi trả dịch vụ môi trường rừng giúp các nhà quản lý, chính quyền địa phương dễ dàng có thể theo dõi được Người dân và các chủ rừng quản lí tài nguyên rừng một cách bền vững và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Cơ chế thực hiện của chương trình là kết nối giữa bên cung ứng dịch vụ
và bền sử dụng các dịch vụ mà bên cung ứng cung cấp thông qua chỉ trả trực tiếp Dựa vào báo cáo của Winrock và GS.TS Vương Văn Quỳnh tiến hành Chính phủ đã đưa ra mức chi trả như sau: 20 đồng/KWh điện thương phẩm đối với các cơ sở sản xuất thủy điện, 40 đồng/m3 nước sạch thương phẩm đối với doanh nghiệp sản xuất nước sạch, 1 - 2% tổng doanh thu đổi với các doanh nghiệp dựa vào rừng, tuy nhiên với các đánh giá này chưa cho thấy hiệu quả của DVMTR mang lại về khía cạnh kinh tế
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam thì trong 10 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR đến nay, toàn quốc đã có 44 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng; trong đó 38 tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức Các Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng là một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong việc thực hiện nhiệm vụ chi trả ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng từ bên sử dụng đến bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đến nay đạt hơn 10.000 tỷ đồng, bình quân trên 1.300 tỷ đồng/năm Tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm đã
Trang 35góp phần quản lý bảo vệ hơn 5 triệu ha rừng, chiếm khoảng 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợ cho chủ hộ gia đình cộng đồng với 86%
là đồng bào dân tộc có điều kiện nâng cao đời sống, cải thiện sinh kế trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở nước ta đã cho thấy tầm quan trọng của chương trình giúp khôi phục diện tích rừng, bước đầu tạo ra nguồn ngân sách để đầu tư, phục hồi và bảo vệ rừng Tạo ra giá trị bền vững giúp cho những người dân tộc ít người, những khu vực vùng sâu, vùng xa xóa đói giảm nghèo, xã hội hóa nghề rừng
Bên cạnh những thành công của chính sách còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế vì là chính sách mới được thực hiện như hiện nay địa vị pháp lý, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng chưa được quy định rõ ràng do thiếu những văn bản hướng dẫn chi tiết Bên cạnh việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo
vệ và phát triển rừng còn các nhiệm vụ khác chưa được nghiên cứu, triển khai theo quy định tại Nghị định 05 Vì vậy cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu
về lĩnh vực này để bổ sung giúp chính sách có thể thực hiện hiệu quả hơn trong thời gian tới, rừng có kinh phí QLBVR; hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho hơn 400.000 đồng/ha/năm
1.6 Những công trình khoa học đã nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu quý giá để luận văn kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên cứu về vấn đề “Đánh giá hiệu quả hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Đài Bắc, tỉnh Hòa Bình” Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau để phân tích, đánh giá thực trạng chính sách Từ đó đưa ra các giải pháp để thực hiện chính sách trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới:
Trang 36- Năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và giao cho các Bộ, ngành triển khai thực hiện thí điểm chinh sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Đây là bước đi tiền đề, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện chính sách trên phạm vi toàn quốc Đến ngày 16 tháng 11 năm 2018, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP đã ra đời để thay thế Nghị định số 99/2010/NĐ-CP
- Lê Quang Việt (2013), Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Sơn La Luận văn thạc sĩ, Đại học
Lâm nghiệp Luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết về thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Sơn La Luận văn phân tích quá trình thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La Từ đó nêu lên các giải pháp nâng cao việc thực hiện chính sách Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả chủ yếu đi sâu vào đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội mà chính sách mang lại trên địa bàn tỉnh Sơn La mà chưa đưa
ra được giải pháp tối ưu về hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các giải pháp hoàn thiện chính sách còn mang tính chất chung chung
- Phạm Thu Thủy, Karen Bennett, Vũ Tấn Phương, Jake Bruner, Lê
Ngọc Dũng, Nguyễn Đình Tiến (2015), Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại
Việt Nam, từ chính sách đến thực tiễn Báo cáo chuyên đề, Tổ chức nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế - CIFOR Báo cáo đã đánh giá chương trình chi trả
dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam với mục tiêu cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách các khuyến nghị thực tiễn nhằm đạt được những kết quả đầu ra hiệu quả, hiệu ích và công bằng Báo cáo tập trung chủ yếu vào ba khía cạnh chủ yếu: cơ cấu thể chế, cơ cấu chia sẻ lợi ích và giám sát, đánh giá Tuy nhiên, báo cáo đánh giá đưa ra các giải pháp mang phạm vi rộng, chưa tập trung cụ thể cho một địa phương
- Cao Cự Thành (2016), Giải pháp hoàn thiện quản lý thu, chi Quỹ bảo
vệ phát triển rừng tại Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An
Luận văn thạc sĩ, Đại học Bách khoa Hà Nội Tác giả tập trung nghiên cứu
Trang 37nội dung quản lý thu, chi nguồn tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Quỹ, từ đó chỉ rõ được những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế và đặt ra các vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới Trên cơ
sở đó tác giả đã đề xuất được những giải pháp về quản lý thu, chi tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên, nội dung của luận văn vẫn chỉ tập trung ở một khía cạnh trong chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Đánh giá chung và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu quý giá để luận văn kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên cứu về vấn đề “chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng” trên các giác độ: cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và trong thực tiễn Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên
đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau để phân tích, đánh giá thực trạng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng… Từ đó đưa ra các giải pháp để thực hiện chính sách trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
Tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn đi sâu tìm hiểu toàn diện và tập trung về thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình và tập trung vào huyện Đà Bắc trong thời gian qua
Nghiên cứu đề tài, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa những quy định liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Luận văn đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình Trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại bất hợp lý trong quá trình thực hiện chính sách trên địa bàn huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình;
- Đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần tiếp tục hoàn thiện thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam nói chung và trên địa bàn huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình nói riêng
Trang 38Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu chung, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng hoạt động chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;
- Đánh giá hiệu quả chi trả DVMTR thông qua bộ chỉ số giám sát và đánh giá (tính minh bạch, công bằng và hiệu quả) tại huyện Đà Bắc;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát và đánh giá (tính minh bạch, công bằng và hiệu quả) hoạt động chi trả DVMTR tại khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chi trả DVMTR, bên cung cấp DVMTR và bên sử dụng DVMTR tại huyện Đà Bắc
2.2.2 Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu tập trung vào phân tích và đánh giá ảnh hưởng của chính sách chi trả DVMTR đến công tác quản lý và bảo tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu, xác định các yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến thực thi chính sách chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của các hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng
2.2.3 Phạm vi về không gian
Toàn bộ các xã có hoạt động chi trả DVMTR thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Trang 392.2.4 Phạm vi về thời gian
Hoạt động chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2018 - 2020
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
- Các loại hình chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc
- Các bên liên quan đến hoạt động chi trả DVMTR (bên sử dụng DVMTR, bên cung cấp DVMTR)
- Hiện trạng tài nguyên rừng có hoạt động chi trả DVMTR
- Cơ chế hoạt động chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc
- Thuận lợi khó khăn của hoạt động chi trả DVMTR
2.3.2 Đánh giá hiệu quả chi trả DVMTR thông qua bộ chỉ số giám sát và đánh giá tại huyện Đà Bắc
- Đánh giá tính minh bạch của chi trả DVMTR
- Đánh giá tính công bằng của chi trả DVMTR
- Đánh giá tính hiệu quả của chi trả DVMTR
2.3.3 Xác định các yếu tố thuận lợi, khó khăn trong giám sát, đánh giá tính chi trả DVMTR khu vực nghiên cứu
- Yếu tố thuận lợi
Trang 40Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ tác động đến việc cải thiện sinh
kế của cộng đồng và hộ dân Đó là sự tác động qua lại giữa bên được hưởng các dịch vụ môi trường và bên cung cấp dịch vụ môi trường.Vì vậy, sử dụng cách tiếp cận hệ thống và khung sinh kế bền vững để áp dụng cho việc phân tích trong nghiên cứu này Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích các môi quan hệ liên quan đến chính sách PFES Trong nghiên cứu này,
để đánh giá tính hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR tại huyện Đà Bắc, nghiên cứu dựa vào bộ chỉ số về tính minh bạch, tính công bằng và tính hiệu quả Cụ thể như sau:
Tính minh bạch của chi trả DVMTR: Tính minh bạch được hiểu là
tính chất có thể nhìn thấu được mọi hoạt động chi trả, nhìn thấu được căn cứ của việc chi trả, thấy rõ được tiến độ và kết quả của việc chi trả DVMTR (Vương Văn Quỳnh và cộng sự, 2016) Qua việc đánh giá tính minh bạch cho chúng ta thấy được sự ưu việt của chính sách chi trả DVMTR, tính nghiêm túc trong thực hiện những quy định của chính sách chi trả DVMTR, tránh được hiện tượng quan liêu, tránh được những hiểu lầm và phát sinh mâu thuẫn trong chi trả DVMTR (Vương Văn Quỳnh và cộng sự, 2016) Tính minh bạch của chi trả DVMTR còn được thể hiện ở tính công khai, dân chủ trong chi trả DVMTR, ở tính dễ tiếp cận với tài liệu, số liệu, thông tin chi trả DVMTR Để đánh giá tính minh bạch, nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ số phản ánh hoặc liên hệ trực tiếp với tính công khai, dân chủ trong chi trả DVMTR, mức dễ tiếp cận với tài liệu, số liệu, thông tin chi trả DVMTR
Tính công bằng trong chi trả DVMTR: Được hiểu là tính phù hợp
giữa mức hưởng lợi từ chi trả DVMTR với công sức tạo ra giá trị DVMTR (Vương Văn Quỳnh và cộng sự, 2016) Tính công bằng trong chi trả DVMTR bao gồm công bằng giữa các chủ rừng được chi trả DVMTR và công bằng giữa những các chủ rừng với các thành viên khác trong cộng đồng sống gần rừng có vai trò nhất định trong bảo vệ và phát triển rừng (Vương Văn Quỳnh