1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

88 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Tác giả Vũ Trọng Lâm
Người hướng dẫn GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thầy đã mở ra cho em những vấn đề xã hội bổ ích, hướng em vào nghiên cứu các lĩnh vực thiết thực đồng thời thầy cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập và nghiên cứu Em đã học hỏi ở thầy được rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp em đã được thầy cung cấp các tài liệu và em luôn nhận được sự hướng dẫn tận tình chu đáo của thầy

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo khoa Sau Đại học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thận lợi cho em hoàn thành khoá học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Mặc dù em đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn bằng tất cả nhiệt tình và năng lực của mình nhưng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được những đóng góp của quí thầy cô và các bạn Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2013

Học viên

Vũ Trọng Lâm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

3.1 Khách thể nghiên cứu 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT 2

5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 2

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 2

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 3

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học 3

8 Đóng góp của luận văn 3

8.1 Về mặt lý luận 3

8.2 Về mặt thực tiễn 4

9 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NỮ SINH THPT 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

Trang 5

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 7

1.2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức 7

1.2.1.1 Đạo đức 7

1.2.1.2 Giáo dục đạo đức 9

1.2.2 Quản lý và quản lý giáo dục 11

1.2.2.1 Quản lý 11

1.2.2.2 Quản lý giáo dục 13

1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 14

1.2.4 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 14

1.2.4.1 Biện pháp 14

1.2.4.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 15

1.3 Một số vấn đề về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 15

1.3.1 Khái quát về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 15

1.3.1.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 15

1.3.1.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh THPT 15

1.3.1.3 Nội dung GDĐĐ học sinh THPT 16

1.3.1.4 Các con đường GDĐĐ học sinh 17

1.3.1.5 Phương pháp GDĐĐ cho học sinh 18

1.3.2 Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT 18

1.3.2.1 Ý nghĩa của việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT 18

1.3.2.2 Nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT 19

1.3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐ cho nữ sinh ở trường THPT 20

1.4 Đặc điểm nữ sinh Trung học phổ thông 23

1.4.1 Những biến đổi về thể chất của nữ sinh THPT 23

1.4.2 Những biến đổi về tâm sinh lý 25

1.4.3 Sự khác nhau về tâm sinh lý giữa nữ sinh THPT ở thành phố và ở nông thôn 27 Kết luận chương 1 30

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NỮ SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ THÁI

BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH 31

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục của thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 31

2.1.2 Tình hình giáo dục của thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 34

2.2 Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 41

2.2.1 Thực trạng đạo đức của nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 41

2.2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức cho nữ sinh ở các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 45

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh ở các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 47

2.4 Nguyên nhân thực trạng 51

Kết luận chương 2 53

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NỮ SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH 54

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 54

3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu 54

3.1.2 Nguyên tắc thực tiễn 54

3.1.3 Nguyên tắc khả thi 54

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 54

3.2.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 55

3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp 55

Trang 7

3.2.1.2 Nội dung của biện pháp 55

3.2.1.3 Cách thức thực hiện 56

3.2.2 Tổ chức tốt hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 58

3.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp 58

3.2.2.2 Nội dung của biện pháp 58

3.2.2.3 Cách thức thực hiện 58

3.2.3 Tổ chức việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường, ngoài xã hội đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 59

3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 59

3.2.3.2 Nội dung của biện pháp 59

3.2.3.3 Cách thức thực hiện 60

3.2.4 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 62

3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp 62

3.2.4.2 Nội dung của biện pháp 62

3.2.4.3 Cách thức thực hiện 62

3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 63

3.2.5.1 Mục tiêu của biện pháp 63

3.2.5.2 Nội dung của biện pháp 63

3.2.5.3 Cách thức thực hiện 63

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 64

3.4 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 65

3.4.1 Mục đích khảo sát 65

3.4.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 65

3.4.2.1 Nội dung khảo sát 65

3.4.2.2 Phương pháp khảo sát 65

3.4.2.3 Đối tượng khảo sát 65

Trang 8

3.4.3 Kết quả khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 66

3.4.3.1 Sự cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 66

3.4.3.2 Mức độ khả thi của các giải pháp đã đề xuất 67

Kết luận chương 3 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Khuyến nghị 71

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 71

2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình 72

2.3 Đối với các trường THPT 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 75

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Cơ sở vật chất Giáo dục đạo đức Giáo dục học sinh Giáo dục và Đào tạo Giáo viên chủ nhiệm Giáo viên - công nhân viên Hội đồng nhân dân

Học sinh Học sinh giỏi Ngoài giờ lên lớp Phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ Phụ huynh học sinh

Quản lý giáo dục Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thể dục - thể thao

Ủy ban nhân dân

Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê tỷ lệ nữ sinh và xếp loại hạnh kiểm của nữ sinh trong 3

năm học gần đây 41

Bảng 2.2 Thống kê các lỗi mà nữ sinh thường mắc phải 42

Bảng 2.3 Cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá mức độ rất quan trọng 42

Bảng 2.4 Cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá mức độ không quan trọng 43

Bảng 2.5 Nhận thức của phụ huynh về công tác giáo dục đạo đức cho nữ sinh 43

Bảng 2.6 Nhận thức của nữ sinh cho là rất cần 43

Bảng 2.7 Nguyên nhân dẫn tới việc nữ sinh vi phạm đạo đức 44

Bảng 2.8 Các yếu tố tác động đến rèn luyện đạo đức của nữ sinh 44

Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý 45

Bảng 2.10 Ý kiến của CBQL và GV các nhà trường 45

Bảng 2.11 Các nội dung và hình thức GDĐĐ mà nữ sinh rất thích 46

Bảng 2.12 Các nội dung và hình thức GDĐĐ mà nữ sinh không thích 46

Bảng 2.13 Khảo sát GV và HS về sự chưa thường xuyên sử dụng các PPGDĐĐ 46

Bảng 2.14 Vai trò rất quan trọng của các lực lượng GD trong nhà trường 47

Bảng 2.15 Khảo sát các bà mẹ nữ sinh 49

Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất (n= 100) 66

Bảng 3.2 Đánh giá sự khả thi của các biện pháp đề xuất (n= 100) 68

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Luật Giáo dục 2005 sửa đổi, bổ sung đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…”

-: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạ

Trong mấy năm trở lại đây trên mạng Internet đã liên tục đăng tải các vụ

nữ sinh trung học phổ thông (THPT) vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực đạo đức như:đánh nhau, lột quần áo làm nhục bạn ở nơi công cộng; bắt bạn gái quỳ trong nhà vệ sinh; đánh hội đồng, không can ngăn, thậm chí còn cổ động, quay clip tung lên mạng; nữ sinh sống tự do, chơi bời, buông thả, quan hệ tình dục,

có thai ngoài ý muốn Các hành vi trên đã làm ảnh hưởng lớn cả thể xác lẫn tinh thần của nữ sinh

Trang 12

các biện việc giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho nữ sinh THPT, đặc biệt là ở trường THPT nơi tôi đang công tác

sinh

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp quản lý

hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

4 Giả thuyết khoa học

Có thể nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nếu đề xuất được các biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT

5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh các trường THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Trang 13

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu 5 trường THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thời gian từ năm 2010 đến năm 2013

Khách thể điều tra: Cán bộ quản lí, cán bộ Đoàn thanh niên, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, mẹ nữ sinh và nữ sinh THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng

cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu

- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp toán học để xử lí các kết quả thực nghiệm hoặc các dữ liệu thống kê nhằm rút ra các kết luận khoa học và thực tiễn

8 Đóng góp của luận văn

8.1 Về mặt lý luận

Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức; làm rõ

ý nghĩa, nội dung và phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

8.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn đã khảo sát toàn diện thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NỮ SINH THPT 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khái niệm “đạo đức” đã xuất hiện trong triết học Trung Quốc, Ấn độ

và Hy Lạp cổ đại với các nhà đạo đức học kinh điển Khổng Tử (551-478

Tr.CN) đã đưa ra học thuyết Đức trị và triết lý giáo dục nổi tiếng “Tiên học lễ, hậu học văn” Mạnh Tử (371-289 Tr.CN) đưa ra học thuyết Nhân chính, xem

trọng việc xây dựng một xã hội gồm toàn người tốt Còn Socrate (469-399 Tr.CN) nhấn mạnh tính thiện của đạo đức…

Đến thế kỷ XVII, J.A.Komenxky, nhà giáo dục học Tiệp Khắc lỗi lạc, trong tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” của mình đã đề cập đến nhiều biện pháp GDĐĐ, làm nền tảng cho việc xây dựng nền giáo dục hiện đại sau này

Trong thế kỷ XX, các nhà sư phạm nổi tiếng của Xô Viết như N.K Crúpxkaia, A.C Macarenkô, V.A Xukhomlinxky cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho thế hệ trẻ

Ở Việt Nam, vấn đề GDĐĐ cho học sinh cũng đã được quan tâm từ lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Dạy cũng như học phải chú ý cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc rất quan trọng” Nếu như tư tưởng phong kiến của Khổng Tử đặt ra chuẩn mực Tam cương, Ngũ thường cho nam giới và Tam tòng, Tứ đức cho nữ giới thì với tư tưởng tiến bộ, khoa học, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư… Người nhấn mạnh, đạo đức cách mạng không từ trên trời rơi xuống, dưới đất mọc lên mà nó là kết quả của quá trình rèn luyện, phấn đấu không ngừng của cán bộ, đảng viên

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, GDĐĐ nói chung và GDDĐ cho

nữ sinh nói riêng là một nội dung giáo dục quan trọng, góp phần hình thành con

người phát triển toàn diện “vừa hồng, vừa chuyên” Từ đó, vấn đề GDĐĐ cho

học sinh đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho học sinh phổ thông các cấp

Trang 16

Tác giả Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách của học sinh, xem

đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục

Tác giả Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ

Có những tác giả tuy không đi sâu vào vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong các nhà trường, nhưng khi bàn về giáo dục đã đề cập tới giáo dục đạo đức Ví

dụ, tác giả Hồ Ngọc Đại, khi nghiên cứu vấn đề “công nghệ giáo dục”, tìm kiếm những giải pháp hiện đại hóa “nền giáo dục giành cho 100% dân cư” đã công bố một số công trình có liên quan tới giáo dục đạo đức cho học sinh

Nhìn chung, vấn đề giáo dục đạo đức trong xã hội cũng như trong trường THPT là việc làm cần thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục, đó không phải là nhiệm vụ của riêng các trường THPT Để làm tốt công tác GDĐĐ cần phải có các biện pháp phối hợp GDĐĐ phù hợp mới mang lại hiệu quả cao trong tình hình hiện nay

Từ những nghiên cứu trên có thể khẳng định: Vấn đề GDĐĐ học sinh đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà quản lý, nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục Nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu sâu về lĩnh vực GDĐĐ nói chung và học sinh THPT nói riêng, các tài liệu nghiên cứu đã nêu lên nhiều số liệu cụ thể chứng minh các tình trạng suy thoái đạo đức của học sinh, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, bỏ học, chán học, mục đích động cơ học tập chưa rõ, bạo lực học đường… là những vấn đề nổi cộm trong những năm gần đây

Trang 17

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức

1.2.1.1 Đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của bản thân và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người và con người với tự nhiên

Đạo đức có thể định nghĩa theo các khía cạnh sau:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội

Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên

Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên

và với cả bản thân mình

Nghĩa vụ của đạo đức thể hiện ở chỗ khi con người tham gia vào hoạt động sản xuất và hoạt động sống, chúng ta ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với người khác và đối với cộng đồng Ngay từ thế kỷ XVII - XVIII các nhà duy vật Pháp đã chỉ rõ “Nghĩa vụ đạo đức là cái tất yếu đối với tất cả mọi người thực hiện trách nhiệm của mình” Nghĩa vụ đạo đức đã xuất hiện rất sớm và nó tồn tại với thời gian, tồn tại qua các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người

Điều đó cho thấy, ở bất kỳ chế độ xã hội nào, ở thời kỳ phát triển xã hội nào thì nghĩa vụ đạo đức cũng rất cần thiết

Nghĩa vụ thể hiện như là ý thức, tình cảm con người về mối quan hệ hài hoà giữa nhu cầu và lợi ích cá nhân với nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, xã

Trang 18

hội Điều đáng chú ý là việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng mang tính tự giác và do chính bản thân đã nhận thức rõ vấn đề Do vậy, khi thực hiện nghĩa vụ đạo đức con người luôn có cảm giác hạnh phúc, hài lòng vì tình cảm cao thượng, vì lòng tự trọng và phẩm giá của con người

Nghĩa vụ đạo đức là ý thức và tình cảm của con người tự nguyện, tự giác thực hiện các hành động của mình theo các chuẩn mực chung của xã hội Nghĩa vụ đạo đức của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lý của con người đều có chung mục đích là nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội

Nghĩa vụ không hình thành một cách tự nhiên, nhất thời mà nó được hình thành và hoàn thiện trong cả quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân, thậm chí qua quá trình đấu tranh, thử thách của cuộc sống

Lương tâm có thể được hiểu như tiếng nói bên trong, thôi thúc con người làm những điều tốt; ngăn cản, chỉ trích con người ta làm những điều xấu

Theo quan điểm biện chứng của đạo đức học thì lương tâm là ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức của cá nhân về sự tự đánh giá những hành vi, cách cư

xử của mình trong đời sống xã hội Sự hình thành lương tâm là quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội

Có thể nêu ra các mức độ phát triển của lương tâm như sau:

Ý thức về cái cần phải làm do sự sợ hãi bị trừng phạt bởi thiết chế xã hội hoặc ý niệm tâm linh

Ý thức về cái cần phải làm, cần phải tránh vì xấu hổ trước người khác và trước dư luận xã hội

Ý thức về cái cần phải làm vì xấu hổ với bản thân Khi cá nhân xấu hổ với bản thân, với những hành vi của mình là bước đầu của cảm giác lương tâm Từ cảm giác đó đến sự phán xét các suy nghĩ, hành vi của mình thì đó chính là lương tâm Vì thế lương tâm có quan hệ chặt chẽ với ý thức nghĩa vụ của con người

Trang 19

Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt Trái lại khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phúc và tiêu chí sống của con người

Thiện và ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời sống đạo đức của mọi cá nhân Thiện và ác cũng là phạm trù cơ bản làm thước đo đời sống đạo đức của con người

Cái thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hàng ngày Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội Cái thiện phải được thể hiện qua việc góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người trong xã hội Hồ Chí Minh đã nói: “Việc thiện thì dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh” [9; tr.55]

Cái thiện là phấn đấu cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên cao thượng hơn, tốt đẹp hơn và giàu tính nhân văn hơn

Cái ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân

và xã hội Cái ác làm mất đi cái văn minh, cao thượng của cuộc sống con người

Quan điểm về thiện và ác mang tính lịch sử và có thể hoán đổi cho nhau Cái thiện và ác được chúng ta đánh giá tuỳ vào nó có thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của xã hội, hạnh phúc của con người

1.2.1.2 Giáo dục đạo đức

GDĐĐ là một bộ phận hợp thành nền tảng của nội dung giáo dục toàn diện, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch bằng các phương pháp khoa học của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở người học ý thức, tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức nhờ đó mà tạo ra các phẩm chất đạo đức

- Quá trình giáo dục đạo đức là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục trong nhà trường Quá trình giáo dục trong nhà trường được chia làm nhiều

Trang 20

quá trình bộ phận: giáo dục đạo đức (đức dục), giáo dục trí tuệ (trí dục), giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ (mỹ dục) giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp Trong đó, giáo dục đạo đức được xem là nền tảng gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo dục khác

- Quá trình giáo dục đạo đức có các thành tố, cấu trúc nhất định và cùng vận động trong hệ thống Các thành tố cơ bản đó là hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, kết quả giáo dục… nhà giáo dục là chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu sau:

+ Đưa học sinh vào hệ thống các hoạt động và quan hệ thực tiễn, quan hệ xã hội

+ Ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực, định hướng lựa chọn các ảnh hưởng tích cực trong quá trình lĩnh hội các giá trị đạo đức của học sinh

+ Tổ chức các hoạt động cho học sinh để chuyển những yêu cầu của xã hội thành phẩm chất đạo đức của học sinh

- Mục tiêu của giáo dục đạo đức trong nhà trường là giúp cho học sinh nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nước

- Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì những chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH có thể xác định thành 5 nhóm phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết đó là nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị; nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự hoàn thiện bản thân; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc; nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến xây dựng môi trường sống

Trang 21

Con đường giáo dục đạo đức, phương thức giáo dục đạo đức bao gồm: Củng cố tăng cường giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho mọi người trong đó có học sinh THPT

Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT còn phải bằng con đường tự rèn luyện, tự giáo dục của bản thân người học sinh: “Nhà trường cần phải tổ chức quá trình giáo dục, đào tạo theo hướng đẩy mạnh quá trình tự đào tạo của thế hệ trẻ, coi trọng vai trò chủ thể của thế hệ trẻ trong quá trình giáo dục” [3; tr 73-74]

Tóm lại: Giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường là một bộ phận

cực kỳ quan trọng của quá trình hình thành nhân cách, giáo dục đạo đức cho học sinh phải tuân thủ theo các quy luật phát triển nhân cách để đạt được tới mục tiêu giáo dục

1.2.2 Quản lý và quản lý giáo dục

1.2.2.1 Quản lý

Quản lý là một hoạt động đặc trưng bao trùm lên mọi mặt đời sống xã hội, là công việc vô cùng quan trọng, nhưng rất khó khăn và phức tạp Sở dĩ như vậy, vì công tác quản lý liên quan đến nhân cách của nhiều cá nhân trong tập thể xã hội, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm và cuộc sống của mỗi một con người

Thực tế khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Do đối tượng quản lý rất đa dạng, phong phú, phức tạp, tùy thuộc từng lĩnh vực hoạt động cụ thể và ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội cũng có quan niệm khác nhau về quản lý :

- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [22; tr 580]

Trang 22

- Còn theo Mary Parker Follet, “quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”

- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý

là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức

đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [7; tr.6]

- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường

- Định nghĩa kinh điển nhất: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một số chức năng nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức

- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt gắn với lao động tập thể và kết quả của sự phân công lao động xã hội, nhưng lao động quản lý lại có thể phân chia thành hệ thống các dạng lao động xác định mà theo đó chủ thể quản lý có thể tác động đối tượng quản lý Các dạng hoạt động xác định này được gọi là các chức năng quản lý Một số nhà nghiên cứu cho rằng trong mọi quá trình quản lý, người cán bộ quản lý phải thực hiện một dãy chức năng quản

lý kế tiếp nhau một cách logic bắt đầu từ lập kế hoạch tổ chức, chỉ đạo thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá Quá trình này được tiếp diễn một cách tuần hoàn Chu trình quản lý bao gồm các chức năng cơ bản sau:

+ Lập kế hoạch

+ Xây dựng tổ chức thực hiện kế hoạch

+ Chỉ đạo thực hiện kế hoạch

+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Trang 23

Tuy nhiên các chức năng trên kế tiếp nhau nhưng chúng thực hiện đan xen nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Ngoài ra chu trình quản lý thông tin chiếm một vai trò quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu được trong quá trình hoạt động của quản lý

Quản lý vừa là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển (quy luật tự nhiên hay xã hội) của các đối tượng khác nhau, vừa là một nghệ thuật, đòi hỏi phải có sự tác động thích hợp với từng khách thể quản lý

- Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục

- “Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, gồm: kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục”

Thực chất của quản lý giáo dục là quá trình tổ chức, điều chỉnh sự vận hành của các yếu tố cơ bản sau đây:

- Đường lối, chiến lược phát triển giáo dục của đất nước

- Tập hợp những chủ thể và khách thể quản lý, bao gồm cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh

- Cơ sở vật chất (đồ dùng, trang thiết bị dạy học, trường lớp )

Nội dung quản lý giáo dục là quản lý tất cả các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục, bao gồm: mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục; tổ chức giáo dục; người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị; môi trường giáo dục; các lực lượng giáo dục; kết quả giáo dục

Trang 24

Bản chất của quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục Nơi thực hiện quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường

1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là quá trình lãnh đạo, tổ chức, điều khiển toàn bộ hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, nhằm đảm bảo cho công tác giáo dục này đạt được kết quả mong muốn

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là hoạt động bao gồm quản lý trong nội bộ trường THPT (vi mô) và quản lý của các cấp, ngành, tổ chức đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của các trường THPT (vĩ mô) Ở phạm vi thứ nhất, chủ thể quản lý là cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) trường THPT, còn đối tượng quản lý là công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Ở phạm vi thứ hai, chủ thể quản lý là cơ quan giáo dục các cấp, còn đối tượng quản lý là trường THPT

Luận văn của chúng tôi nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở phạm vi thứ nhất với chủ thể quản lý là cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) trường THPT

1.2.4 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

1.2.4.1 Biện pháp

Theo Từ điển tiếng Việt, đó là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [23; tr.64]

Để hiểu rõ hơn khái niệm biện pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một

số khái niệm tương tự như phương pháp, giải pháp

Theo Từ điển tiếng Việt, “giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn

đề cụ thể” [23; tr 265]

Còn theo Nguyễn Văn Đạm, “giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [8; tr 325] Phương pháp được hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích nhất định” [8; tr 325]

Trang 25

Điểm giống nhau của các khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi

đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích

1.2.4.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là hệ

thống các cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nhằm đảm bảo cho việc quản lý hoạt động này đạt kết quả cao nhất

1.3 Một số vấn đề về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các

trường THPT

1.3.1 Khái quát về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

1.3.1.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT hướng vào mục tiêu bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, rèn luyện các thói quen hành vi đạo đức ở học sinh, từ đó hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách các em

1.3.1.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh THPT

Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT có các nhiệm vụ sau đây:

- Giáo dục ý thức đạo đức

Hình thành ở HS một hệ thống các tri thức đạo đức mà các em cần phải có: Hệ thống các khái niệm cơ bản của phạm trù đạo đức XHCN; Hệ thống các chuẩn mực đạo đức được quy định cho HS phổ thông, các cách thức thực hiện chúng; Các cách ứng xử trong tình huống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức

đã quy định

- Giáo dục thái độ và tình cảm đạo đức

Ý thức về đạo đức chỉ là điều kiện “cần” chứ chưa “đủ” để HS thực hiện hành vi đạo đức một cách tự nguyện Một hành vi đạo đức chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi nó xuất phát từ tình cảm lành mạnh, trong sáng bên trong con người

Trang 26

Nếu một hành vi chỉ đúng với chuẩn mực không thôi mà không xuất phát từ tình cảm, từ xúc cảm thực sự thì hành vi ấy sẽ khô khan, cứng nhắc, chỉ mang tính chất hình thức chứ không có ý nghĩa nhân văn, nhân ái Ngược lại, thái độ

và tình cảm đạo đức trong sáng, lành mạnh, cao thượng sẽ thôi thúc HS thực hiện hành vi đạo đức một cách tự nguyện HS sẽ thấy day dứt băn khoăn khi không được thực hiện hành vi đạo đức

- Giáo dục hành vi và thói quen đạo đức

Mục đích cuối cùng của GDĐĐ là hình thành được hành vi và thói quen đạo đức trong cuộc sống hàng ngày của HS Hành vi đạo đức được thực hiện bởi sự chỉ đạo của ý thức đạo đức và sự thôi thúc của tình cảm mới là hành vi đích thực, mới dễ dàng ổn định, được lặp lại một cách tự nguyện và trở thành thói quen, thành thuộc tính của nhân cách

Các nhiệm vụ trên liên quan gắn bó chặt chẽ với nhau và cần phải được thực hiện đồng bộ Việc thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ sẽ tạo ra ở HS những hành vi đạo đức trọn vẹn, chân chính và bền vững

1.3.1.3 Nội dung GDĐĐ học sinh THPT

Đạo đức vừa là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một loại hình quan hệ xã hội Vì thế nội dung GDĐĐ thực chất là giáo dục các mối quan hệ

xã hội, bao gồm:

- Quan hệ cá nhân đối với xã hội: GD HS về tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; có tinh thần quốc tế vô sản

- Quan hệ cá nhân đối với lao động: GD HS tinh thần yêu lao động, coi lao động là quyền lợi và nghĩa vụ thiêng liêng, tôn trọng người lao động và các loại hình lao động

- Quan hệ cá nhân đối với những người xung quanh: GD HS thái độ ứng

xử chuẩn mực với những người thân trong gia đình và những người xung quanh, tôn trọng và biết ơn thầy cô giáo

Trang 27

- Quan hệ cá nhân đối với môi trường xung quanh: GD HS ý thức bảo vệ môi trường, ý thức giữ gìn tài sản công cộng

- Quan hệ cá nhân đối với bản thân: GD HS ý thức sống có trách nhiệm với bản thân và các phẩm chất đạo đức tốt đẹp

1.3.1.4 Các con đường GDĐĐ học sinh

- Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động dạy học

Dạy học vừa là con đường vừa là phương tiện để GDĐĐ cho HS Chức năng cơ bản của dạy học là hình thành tri thức cho HS, trong đó có cả tri thức đạo đức Ngoài ra thông qua các hoạt động nhận thức trong dạy học, HS có điều kiện để thực hiện các quan hệ và hành vi đạo đức

Trong nhà trường phổ thông, môn học nào cũng đều có khả năng giáo dục đạo đức cho học sinh, tùy theo đặc trưng và thế mạnh của mình

- Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp (NGLL) Các hoạt động NGLL ở nhà trường phổ thông rất phong phú về nội dung

và loại hình bao gồm các hoạt động tập thể, vui chơi, lao động sản xuất, sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ, thể dục thể thao…

Thông qua các hoạt động NGLL giúp HS thực hành và thể nghiệm các quan hệ đạo đức, tập luyện, rèn luyện các hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội Thông qua hoạt động này các em có điều kiện thử thách và kiểm tra các phẩm chất đạo đức của mình: rèn luyện ý chí, nghị lực, tinh thần trách nhiệm Cũng qua hoạt động nói trên, các em có cơ hội để mở rộng các mối quan hệ và giao lưu của mình với những tầng lớp khác nhau trong xã hội như người lao động, nhà khoa học, văn nghệ sĩ,… nhờ thế mà tâm hồn, ước vọng, tình cảm các em phát triển cao hơn

- GDĐĐ thông qua sự phối hợp với gia đình và các lực lượng ngoài xã hội

Sự phối hợp này thể hiện chức năng xã hội hóa trong vấn đề GDĐĐ và

nó có tầm quan trọng đặc biệt Nhiệm vụ của các cán bộ quản lý (CBQL) là phải thường xuyên phối hợp, tạo mối đồng thuận thống nhất cao giữa nhà

Trang 28

trường, gia đình và xã hội Nhằm tổ chức nhiều hình thức và biện pháp GDĐĐ

HS, nhà trường cần phải thường xuyên thông tin, trao đổi kịp thời với gia đình

và các lực lượng GD khác về tình hình đạo đức HS để tìm ra biện pháp tốt nhất trong việc GD các em, chú ý lắng nghe ý kiến đóng góp của các bậc phụ huynh học sinh (PHHS) để phát huy vai trò xã hội hóa trong vấn đề GDĐĐ

1.3.1.5 Phương pháp GDĐĐ cho học sinh

Phương pháp GDĐĐ trong nhà trường là cách thức hoạt động và giao lưu giữa GV, tập thể HS và từng cá nhân HS giúp các em lĩnh hội được nền văn hóa đạo đức của loài người và của dân tộc để trở thành một nhân cách toàn vẹn

Có các nhóm phương pháp GDĐĐ sau đây:

- Nhóm phương pháp tác động đến ý thức, tình cảm, ý chí nhằm hình thành ý thức cá nhân cho HS, bao gồm: Phương pháp diễn giảng, phương pháp đàm thoại, phương pháp tranh luận và phương pháp nêu gương

- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và tích lũy kinh nghiệm ứng xử xã hội cho HS, bao gồm: Phương pháp nêu yêu cầu sư phạm, phương pháp tạo dư luận xã hội, phương pháp tập thói quen, phương pháp rèn luyện, phương pháp giao công việc, phương pháp tạo tình huống giáo dục

- Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của HS, bao gồm: Phương pháp thi đua, phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt

1.3.2 Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT

1.3.2.1 Ý nghĩa của việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT

- Giúp cho cán bộ QLGD và GV nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của việc GDĐĐ cho HS trong trường THPT Khi đã có nhận thức đúng

về vấn đề này thì CBQL sẽ chú ý nhiều hơn đến công tác GDĐĐ chứ không chỉ ở công tác chuyên môn như thói quen từ trước tới nay và người GV cũng

sẽ phát huy hết trách nhiệm của mình trong việc “dạy người” song song với nhiệm vụ “dạy chữ”

Trang 29

- Đưa công tác GDĐĐ cho HS trong trường THPT đi vào nền nếp, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác này Việc đảm bảo nền nếp thể hiện ở chỗ hoạt động GD phải xuất phát từ mục tiêu GD toàn diện, nhà trường phải có kế hoạch

GD ngay từ đầu, CBQL phải tổ chức chỉ đạo một cách khoa học, chặt chẽ việc thực hiện đầy đủ kế hoạch đồng thời có sự đánh giá kết quả GDĐĐ một cách khách quan và đầy tinh thần trách nhiệm

- Góp phần khắc phục hiện tượng vi phạm đạo đức của HS THPT hiện nay bởi sự sa sút đạo đức ở HS cũng đánh dấu sự thất bại trong công tác GD ở nhà trường Do đó các trường cần phải đổi mới nội dung, chương trình GD, tăng cường các biện pháp GDĐĐ phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS, chú ý

GD các em về nhận thức, về động cơ, thái độ và tình cảm đạo đức để các hành

vi đạo đức trở thành thói quen hành động hàng ngày của các em

1.3.2.2 Nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT

- Quản lý mục tiêu GDĐĐ cho HS THPT

Quản lý mục tiêu GDĐĐ là nhiệm vụ hàng đầu nhằm định hướng cho mọi hoạt động của nhà trường đi đến mục tiêu đã đề ra Nhiệm vụ của CBQL các trường là phải nhận thức đúng đắn về công tác GDĐĐ trong nhà trường và thường xuyên tuyên truyền, quán triệt đến toàn thể tập thể sư phạm và các thành phần GD ngoài nhà trường về tầm quan trọng và nhiệm vụ GDĐĐ cho thế hệ trẻ để từ đó chung tay chăm lo cho sự nghiệp GD

Việc quản lý mục tiêu GDĐĐ còn đòi hỏi CBQL phải có sự tổ chức chỉ đạo xuyên suốt hoạt động GD này trong mọi hoạt động sư phạm của nhà trường

từ việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ, sắp xếp bộ máy tổ chức cho đến việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả GDĐĐ để chuẩn bị cho giai đoạn

GD tiếp theo

- Quản lý chương trình, kế hoạch GDĐĐ cho HS THPT

Chương trình, kế hoạch GDĐĐ HS là sự kết hợp giữa chương trình GD chung của Bộ GD&ĐT và chương trình GD cụ thể tùy theo tình hình thực tế ở

Trang 30

từng trường Do đó, CBQL phải đảm bảo sao cho hoạt động GD tại trường vừa đáp ứng chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vừa phải có sự sáng tạo riêng ở đơn vị mình

Việc quản lý kế hoạch GDĐĐ đòi hỏi phải có sự thống nhất từ trên xuống dưới CBQL có các loại kế hoạch GDĐĐ nào, mục tiêu ra sao thì GV cũng phải xây dựng các loại kế hoạch tương ứng như kế hoạch tuần, tháng, năm

- Quản lý phương pháp, phương tiện GDĐĐ cho HS THPT

Phương pháp GD xuất phát từ nội dung GD, do đó tùy theo từng chủ điểm và mục tiêu GD mà Hiệu trưởng chỉ đạo cho các GV hay các bộ phận thực hiện các phương pháp GD khác nhau Việc quản lý phương pháp GD được thể hiện qua công tác dự giờ thăm lớp, qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ hay qua các đợt phát động phong trào thi đua dạy tốt học tốt

Để giúp GV tiến hành thuận lợi các phương pháp GD, Hiệu trưởng cần phải đảm bảo đầy đủ các phương tiện GD cần thiết, trong đó đặc biệt chú ý xây dựng trường lớp xanh - sạch - đẹp - an toàn, thiết lập hệ thống phát thanh học đường, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng phòng truyền thống, gắn các bảng vàng thành tích cá nhân, tập thể

Việc quản lý này đòi hỏi Hiệu trưởng phải xây dựng chuẩn đánh giá ngay từ đầu và việc đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, công bằng tạo động lực để GV phấn đấu Để việc đánh giá đạt chất lượng và mang lại ý nghĩa thiết thực, trường cần đưa tiêu chí đánh giá kết quả GDĐĐ vào thang điểm thi đua đối với GV và các lớp học

1.3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐ cho nữ sinh ở trường THPT

Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐ cho

nữ sinh ở trường THPT giúp cho nhà quản lý biết cách hạn chế các yếu tố tiêu cực đồng thời biết cách phát huy các mặt tích cực nhằm nâng cao hiệu quả công việc Nhìn chung, ở trường THPT, việc ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐ cho nữ sinh gồm có các yếu tố sau đây:

Trang 31

- Các yếu tố từ phía nhà trường

Nhà trường là môi trường đóng vai trò chủ đạo trong việc GDĐĐ bên cạnh môi trường gia đình và xã hội Yếu tố chủ đạo thể hiện ở chỗ việc GD ở nhà trường mang tính sư phạm, có nội dung, chương trình hẳn hoi HS tiếp thu kiến thức và rèn luyện nhân cách dưới sự hướng dẫn của những nhà giáo chuyên nghiệp Sự phát triển nhân cách của HS còn chịu ảnh hưởng từ môi trường sư phạm: Trường lớp, phòng ốc, trang thiết bị dạy học, cây cảnh, vệ sinh môi trường, an toàn học đường, các mối quan hệ liên nhân cách

Do đó, có thể nói trong nhà trường phổ thông, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐ HS gồm có 2 phần: yếu tố con người và yếu tố vật chất Yếu tố con người bao gồm CBQL, đội ngũ GV - CNV đóng vai trò cực kỳ quan trọng bởi họ quyết định việc sử dụng nội dung, phương pháp, con đường

và phương tiện GDĐĐ Nếu nhà trường có CBQL giỏi, có đội ngũ GV có trình

độ chuyên môn sâu, có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết với nghề thì việc GDĐĐ HS dễ mang lại kết quả tốt; ngược lại thì chất lượng GD sẽ chẳng đi đến đâu Không phải ngẫu nhiên mà xã hội gán cho các trường câu nói “Thầy nào, trò nấy” Vì vậy, để đạt chất lượng GD tốt, Hiệu trưởng các trường ngoài việc phải tự học hỏi trau dồi nghiệp vụ quản lý, còn phải chú ý xây dựng đội ngũ GV - CNV đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và nâng cao nhận thức về tinh thần trách nhiệm đối với nghề

Yếu tố còn lại là yếu tố vật chất cũng không kém phần quan trọng Trong ngôi trường đầy đủ trang thiết bị dạy học, khang trang, sạch đẹp, an toàn, cây xanh bóng mát tạo bầu không khí trong lành, HS sẽ cảm thấy phấn chấn sinh ra tâm lý yêu trường, mến lớp, xem “mỗi ngày đến trường là một niềm vui”, các

em sẽ tự phát huy tinh thần tự quản trường lớp và giữ gìn bầu không khí tích cực này Vì vậy, việc tăng cường xây dựng CSVC trường lớp là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng GDĐĐ HS trong trường THPT

Trang 32

- Các yếu tố từ phía gia đình

Gia đình được xem là cái nôi ươm mầm và nuôi dưỡng nhân cách của trẻ Mọi sinh hoạt trong gia đình đều ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của các em Gia đình nào cũng vậy, nếu các bậc phụ huynh lúc nào cũng dành hết tình thương yêu, lo lắng cho con, quan tâm, chăm sóc, uốn nắn từng lời ăn tiếng nói của con, chú ý đến nền nếp sinh hoạt, học tập của con, giúp đỡ con từ tinh thần cho đến vật chất, động viên con luôn cố gắng vượt khó vươn lên trong học tập, rèn luyện, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc QLGD con em mình thì xã hội sẽ có những con ngoan, trò giỏi Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế ở một vài trường THPT chúng tôi thấy phần lớn HS cá biệt xuất thân trong những gia đình có cha mẹ bất hòa, sống ly thân, mồ côi cha mẹ hay những gia đình không mấy quan tâm đến việc học hành của con cái, bố mẹ chỉ quan tâm làm kinh tế, phó mặc việc dạy con cái cho nhà trường, “ trăm sự nhờ thầy, nhờ cô”, chỉ biết cho con tiền mà không biết các em đã sử dụng đồng tiền vào những việc tai hại Điều này cho thấy một khi HS xuất thân trong những gia đình thiếu sự chăm sóc đầy đủ và việc dạy dỗ HS được khoán trắng cho nhà trường thì công tác quản lý GDĐĐ HS sẽ gặp rất nhiều khó khăn và khó mong có kết quả GD tích cực

- Các yếu tố từ phía xã hội

Ngoài phạm vi nhà trường và gia đình, HS còn được “dạy dỗ” một cách tích cực ở môi trường thứ ba, đó là môi trường xã hội Đây là môi trường để các em hoạt động và lớn lên Tâm lý học trẻ em cho rằng hoạt động của cá nhân

là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách Nội dung, phương thức hoạt động, mục đích và ý thức của cá nhân trong hoạt động đã tạo nên những nét tính cách của từng người Con người hoạt động như thế nào thì nhân cách của họ được phát triển như thế ấy Thực tế hiện nay HS đang sống trong môi trường có nhiều cạm bẫy chỉ chực chờ có cơ hội là sẽ nhuộm đen tâm hồn ngây thơ, trong trắng của các em: Games online, chơi bời đàn đúm trác táng, cờ

Trang 33

bạc, rượu chè, ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi… cùng các dịch vụ bát nháo bao quanh các khu vực trường Tình trạng HS giết người lấy tiền chơi games,

nữ sinh đánh nhau lột quần áo, làm nhục nhau trong nhà vệ sinh, ở ngoài đường phố hay rất nhiều nữ sinh đi nạo phá thai trong thời gian qua là những minh chứng cụ thể cho điều này Nếu mỗi ngày gia đình phó thác việc GD con em mình cho nhà trường và nhà trường chỉ có 4 giờ đồng hồ để “lên lớp” với các

em, rồi sau đó các em dành phần lớn thời gian còn lại để buông mình trong môi trường phức tạp như thế thì các em hư hỏng là chuyện đương nhiên Cho nên trách nhiệm của nhà trường là hết sức nặng nề: vừa phải phối hợp GD, tư vấn cho gia đình cách thức GD HS, vừa phải trông giữ để các em không bị sa ngã trước những cạm bẫy ngoài xã hội Do đó có thể khẳng định xã hội có tác động rất lớn đến chất lượng GDĐĐ HS ở các trường THPT hiện nay

1.4 Đặc điểm nữ sinh Trung học phổ thông

1.4.1 Những biến đổi về thể chất của nữ sinh THPT

Sự phát triển về thể chất của con người đã đạt đến mức hoàn thiện ở tuổi thanh niên Số lượng lớn các nơ-ron thần kinh cũng như số lượng xi-nap của các tế bào thần kinh có chất lượng hoàn hảo đảm bảo cho khả năng liên lạc rộng khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa vô số các kênh Hoạt động của não

bộ vì thế trở nên nhanh, nhạy và đặc biệt chính xác so với các lứa tuổi khác Đây là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương, cơ bắp, tạo ra nét đẹp hoàn mĩ ở người thanh niên Các yếu tố về thể lực như: sức nhanh, sức bền,

độ dẻo dai, linh hoạt đều phát triển đến mức đỉnh cao, tạo điều kiện thuận lợi cho những thành công rực rỡ của thanh niên trong các lĩnh vực hoạt động

Tuy nhiên, sự phát triển thể chất ở hai giới là không giống nhau Chân tay của nữ ngắn hơn nam; tổ chức cơ bắp chân tay của nữ kém hơn nam; xương và khớp chi nhỏ hơn nam; phổi của nam lớn gấp rưỡi nữ; nam trung bình có 4,5 lít máu, nữ là 3,6 lít máu; 40% trọng lượng cơ thể nam do cơ bắp tạo nên, còn ở nữ con số này là 35% (theo Don Baucum, 2002)

Trang 34

Có thể nói nữ sinh THPT đã trải qua thời kỳ biến đổi về tâm sinh lý khá phức tạp Dưới góc độ sinh học, giai đoạn dậy thì chính thức được đánh dấu bằng hiện tượng kinh nguyệt lần đầu, báo hiệu trứng đã bắt đầu rụng và có khả năng sinh con Giai đoạn này diễn ra những biến đổi quan trọng cho việc chuẩn

bị làm mẹ sau này Cơ thể em gái dần phát triển thành cơ thể một người phụ

nữ Dậy thì ở nữ bắt đầu từ 9 - 10 tuổi, kết thúc năm 13 - 14 tuổi có người muộn hơn hoặc sớm hơn (từ 2 - 3 năm) Nếu có biểu hiện dậy thì trước 10 tuổi

là dậy thì sớm, nguy cơ ung thư sinh dục cao, nếu 15 tuổi mà chưa có biểu hiện dậy thì là dậy thì muộn, cần phải được kiểm tra sức khoẻ, khám phát hiện vấn

Đối với thanh niên thì tuổi thanh niên là thời kì từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi Trong đó chia là 2 giai đoạn :

- Từ 14, 15 tuổi đến 17,18 tuổi : giai đoạn đầu tuổi thanh niên (thanh niên học sinh)

- Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi : giai đoạn tuổi thanh niên

Tuổi đầu thanh niên là tuổi đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự khác biệt về cơ thể giữa thanh niên mới lớn với người lớn không đáng kể Nhưng sự phát triển thể lực của các em còn kém so với người lớn

Tuổi đầu thanh niên bắt đầu thời kì phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lí:

- Sự phát triển của hệ xương được hoàn thiện Cơ bắp được tiếp tục phát triển Chiều cao và trọng lượng đã phát triển chậm lại Các em gái đạt được sự tăng trưởng đầy đủ vào khoảng 16-17 tuổi, các em trai vào khoảng 17-18 tuổi Sức mạnh cơ bắp của các em trai tăng nhanh

Trang 35

- Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Số lượng dây thần kinh liên hợp, liên kết các phần khác nhau của vỏ não tăng lên…

- Hệ tuần hoàn đi vào hoạt động bình thường Sự mất cân đối giữa tim và mạch đã chấm dứt

- Đa số các em đã qua thời kì phát dục; hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường

Tóm lại, đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, hài hòa và đẹp nhất Cơ thể nữ có những thay đổi về vóc dáng, chiều cao tăng nhanh, hông rộng ra, tuyến bã phát triển tạo nên trứng cá, tiếng nói trong trẻo, cơ quan sinh dục phát triển bắt đầu có kinh nguyệt, muốn mình hấp dẫn hơn Ngoài ra còn rất nhiều biến đổi của các cơ quan phủ tạng khác, song biến đổi này không đồng bộ nên gây ra nhiều vấn đề mà chúng ta vẫn được nghe như “tuổi thần tiên”, “ tuổi trăng tròn”, “ tuổi hồi hộp” Cung lượng tim tăng gấp 2 lần nhưng cung lượng mạch máu chỉ tăng gấp 1,5 lần, vỏ não phát triển thuỳ chẩm mạnh

mẽ nhưng tuỷ sống, các dây thần kinh phát triển không kịp thời với sự phát triển đột biến của cơ và xương nên dẫn đến " đi vỡ nồi ngồi vỡ vung"

1.4.2 Những biến đổi về tâm sinh lý

Cùng với những biến đổi về thể chất, đời sống tinh thần và tình cảm của

nữ sinh cũng trải qua những biến đổi sâu sắc Khi bước vào tuổi dậy thì, các em đang bước tới ngưỡng của của người lớn nên có sự nổi loạn về tâm lý Các em thường có cảm giác sâu sắc rằng mình không còn trẻ con nữa Các em muốn được đối xử như người lớn, muốn thoát ra khỏi những "ràng buộc" của cha mẹ

và gia đình Ở giai đoạn này, thường xảy ra những xung đột giữa con và cha mẹ

vì họ vẫn coi các em còn là trẻ con Các em muốn được độc lập suy nghĩ và hành động, muốn thử sức mình và khám phá những cái mới để khẳng định mình là người lớn Các em thích giao tiếp với bạn bè cùng lứa hay người lớn tuổi hơn và

dễ dàng tâm sự với bạn bè Đây là những đặc điểm mà người lớn cần biết để hiểu

rõ những nhu cầu, những mối quan tâm, những vướng mắc và những khát khao của các em để có thể cho những lời khuyên và phương hướng giải quyết

Trang 36

Cũng chính giai đoạn phát triển này, nữ sinh bắt đầu quan tâm nhiều đến bạn khác giới và xuất hiện những cảm xúc giới tính mới lạ Điều này khiến các

em có ý thức về cơ thể, về giới tính của mình và có những rung cảm khi nghĩ tới một người bạn khác giới Có lúc những rung cảm này trở nên quá mãnh liệt

và khi lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được những cảm xúc mới mẻ này, các em có thể có những hành vi sai trái trong quan hệ với bạn khác giới

Cá tính có những thay đổi thất thường: Vui buồn vô cớ, dễ bị kích động, hay cáu gắt hoặc có những biểu hiện thái quá; còn dư âm cố hữu của tính trẻ con, đó là tính ỷ nại, song đôi lúc muốn tỏ ra làm người lớn, thể hiện khả năng của mình với mọi người

Trí tuệ phát triển mạnh mẽ, tự suy đoán và có khả năng tích hợp, hay suy diễn, hay lý tưởng hoá

Ở tuổi vị thành niên nữ sinh THPT có những thay đổi trong 5 lĩnh vực sau: + Tính tự lập: Ít phụ thuộc vào cha mẹ, thích giao lưu với bạn bè hoặc tín ngưỡng để nhằm đạt được sự độc lập Sự thay đổi này cần được sự giúp đỡ vì

tỏ tâm sự của mình, luôn tỏ ra thân mật dịu dàng với mọi người đặc biệt là người khác giới

+ Tích hợp: Những ý kiến của cha mẹ, nhà trường, người thân, bạn bè, Đoàn thanh niên đã cung cấp để tự tạo cho mình các giá trị, các chuẩn mực về đạo đức về tác phong sống, xây dựng cho mình một thần tượng lý tưởng

+ Trí tuệ: Các nếp nhăn trên vỏ não phát triển mạnh, đặc biệt là có khả năng phân tích, tổng hợp tác động đến sự phát triển của đức tính tự trọng và thường nhìn sự vật theo quan điểm lý tưởng hoá

Trang 37

Những khó khăn về tâm sinh lý mà nữ sinh THPT thường gặp

+ Những lo lắng về thay đổi cơ thể và tâm lý

+ Lo lắng băn khoăn trước những cảm xúc nảy sinh từ tình bạn khác giới, băn khoăn về mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục

+ Bị xâm hại tình dục, bị lạm dụng tình dục hoặc quan hệ tình dục sớm

do không biết kìm nén các xúc cảm, các xao động giới

+ Nguy cơ có thai ngoài ý muốn

+ Nạo phá thai do có thai ngoài ý muốn với nhiều tai biến, biến chứng nguy hiểm

+ Sinh con và lập gia đình sớm

+ Nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS

+ Băn khoăn hoặc mặc cảm sẽ gặp trở ngại khi tiếp cận các thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản

+ Nạn bạo lực học đường trong nữ sinh THPT

Về thể chất: Phần lớn nữ sinh thành phố cao hơn, cơ thể phát triển đầy

đặn hơn, nước da trắng và sáng hơn

Về hình thức: Nữ sinh thành phố chăm chút từ đầu tóc, quần áo, giày

dép, nhiều em còn sử dụng mỹ phẩm Các em rất chú ý đến việc làm đẹp cho bản thân, điều này cũng làm phân tán tư tưởng, mất nhiều thời gian và tiền bạc Không ít nữ sinh thành phố ăn mặc phản cảm, cố tình khoe những đường cong trên cơ thể, muốn mình giống các ca sỹ, người mẫu, diễn viên điện ảnh và được coi là “sành điệu” trước mắt bạn bè

Trang 38

Về giao tiếp và hoạt động tập thể: Nữ sinh thành phố bạo dạn, năng nổ

và tự tin hơn trong giao tiếp và các hoạt động tập thể Điều này thể hiện rõ nhất khi các em đi tham quan du lịch, biểu diễn văn nghệ, sinh hoạt câu lạc bộ, cắm trại Ngược lại trong lao động và trong các công việc của tập thể mà các em cho là “vô bổ” thì lại lười nhác, đùn đẩy né tránh

Trong cuộc sống hằng ngày ở gia đình: Nữ sinh thành phố chú ý và

chăm lo đến cá nhân mình nhiều hơn, ít quan tâm và chia sẻ công việc với người khác nhưng lại muốn người khác quan tâm đến mình Không ít nữ sinh THPT hiện nay không biết nấu cơm, giặt quần áo, tự giác giúp đỡ cha mẹ các công việc trong gia đình, trông nom dạy bảo em nhỏ Trong quan hệ họ hàng, dòng tộc thì lạnh nhạt, điều này chính là do người bố, người mẹ lúc nào cũng

ưu tiên việc học tập của con mà đã quên đi việc giáo dục truyền thống, lễ nghĩa

Có một thực tế là các em ở thành thị được chăm bẵm, chiều chuộng, hầu như không phải làm bất cứ một việc gì ngoài việc học, ngược lại, ở nông thôn các em gần như là một lao động chính Kì nghỉ hè, các nữ sinh ở thành phố được nghỉ ngơi, vui chơi, tham gia các lớp học khiêu vũ, tập thể dục thẩm mỹ

để làm tăng vẻ đẹp về hình dáng Trong khi đó các nữ sinh ở nông thôn phải lao động cùng với gia đình rất vất vả

Nữ sinh ở nông thôn có tính tự lập cao hơn rất nhiều so với nữ sinh ở thành thị, và tình trạng nữ sinh thành thị không thể “tự đứng vững” mỗi khi có một biến cố nào đó xảy ra, dường như ngày càng gia tăng.“Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”, có lẽ câu thành ngữ ngữ này sẽ rất phù hợp với những “cậu ấm, cô chiêu” thành thị sống trong sự bao bọc yêu thương của cha

mẹ Chính vì vậy, khi trưởng thành các em sẽ không chịu nổi áp lực từ cuộc sống, thiếu thốn nhiều kỹ năng sinh tồn và tự phát triển

Các chuyên gia tâm lý, giáo dục học nghiên cứu và đưa ra một phép so sánh: phải chăng nữ sinh nông thôn có nhiều kỹ năng sống hơn nữ sinh thành thị? Và kết quả thật bất ngờ: Tỷ lệ nữ sinh biết giúp cha mẹ làm việc nhà, thói

Trang 39

quen ứng xử có đạo đức và tinh thần tập thể đối với bạn bè đồng trang lứa ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao hơn thành thị Các em ở nông thôn có điều kiện để tự lập hơn vì hoàn cảnh gia đình thường gắn những công việc lao động chân tay Chính từ sự tự trải nghiệm của các em đã hình thành các kỹ năng cần thiết.Tinh thần tập thể với bạn bè ở nữ sinh nông thôn cũng được hình thành từ rất sớm, bởi khi còn nhỏ, các em cùng chơi với nhau các trò dân gian đòi hỏi có sự tham gia của nhiều người Các em sống trong cộng đồng tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau” Chính vì vậy, hầu hết các em ở nông thôn hay quan tâm nhiều đến bạn bè xung quanh, các em cũng hình thành thái độ, trách nhiệm với cộng đồng (phương châm 5 cùng: cùng đi, cùng học, cùng chơi, cùng làm việc, cùng chia sẻ khó khăn)

Còn ở thành thị thì sao? Tất nhiên, những ngõ hẻm, những cụm dân cư vẫn có mối quan hệ ấm áp trong cộng đồng, nhưng không thể cho các em ở thành thị nhiều kỹ năng trong mối quan hệ này Bên cạnh đó, cũng nhận ra rằng chính tư tưởng “đèn nhà ai, nhà nấy rạng” đã làm cho không ít nữ sinh thiếu hụt

kỹ năng quan tâm, giúp đỡ mọi người

Ở trường các em được thầy, cô giáo dạy phải ngoan ngoãn, sống hoà thuận, yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em; gần gũi, thân tình với thôn xóm, láng giềng, quan tâm giúp đỡ mọi người… Nhưng nếu hỏi nhà bên cạnh các bác làm nghề gì?, ở đâu?, các em học lớp mấy? thì chưa chắc các em trả lời được đầy đủ

Như vậy, có thể thấy, sự tự lập của nữ sinh ở nông thôn cao hơn ở thành thị là do hoàn cảnh môi trường sinh sống Trong đó phải kể đến yếu tố quan trọng nhất là sự giáo dục gia đình, rồi mới đến nhà trường và xã hội Làm thế nào để trẻ em Việt Nam nói chung và trẻ em thành thị nói riêng có thể phát triển một cách toàn diện, tạo được tính tự lập trong cuộc sống luôn là một vấn

đề đặt ra đối với những nhà quản lý giáo dục hiện nay

Trang 40

Kết luận chương 1

Từ kết quả nghiên cứu của chương 1, chúng tôi rút ra những kết luận sau đây:

1 Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nói chung và GDĐĐ cho nữ sinh THPT nói riêng hiện đang trở thành vấn đề toàn xã hội quan tâm nhằm hướng tới “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách

và trách nhiệm công dân”

2 Giáo dục đạo đức cho nữ sinh THPT không chỉ giúp cho các em có được những nhận thức về các chuẩn mực xã hội đối với mỗi con người trong xã hội mà quan trọng hơn là phải hình thành cho các em những thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự trong tập thể, trong cộng đồng, biết sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật

3 Hoạt động GDĐĐ cho nữ sinh THPT có thể quản lý dưới góc độ chức năng (xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá), cũng có thể quản lý theo các yếu tố (mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp, kết quả)

Ngày đăng: 30/05/2014, 01:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - văn hóa Trung ương (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
2. Đặng Quốc Bảo (1998), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ QLGD và Đào tạo I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1998
4. Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ (2007), Đại cương khoa học quản lý, NXB Nghệ An, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2007
5. Nguyễn Hữu Châu (2007), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
6. Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương (2007), Đạo đức học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
7. Nguyễn Quốc Trí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Lí luận đại cương về quản lý. Trường cán bộ quản lý GD ĐT TW 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Trí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Trường cán bộ quản lý GD ĐT TW 1
Năm: 1996
8. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1999
9. Nguyễn Minh Đạo (1996), Cơ sở khoa học quản lý, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1996
10. Giáo trình Nghiệp vụ quản lý trường phổ thông (2006), Trường Cán bộ QLGD và Đào tạo TW2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ quản lý trường phổ thông
Tác giả: Giáo trình Nghiệp vụ quản lý trường phổ thông
Năm: 2006
11. Hội Khoa học tâm lý - Giáo dục Việt Nam (2008), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp”, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Hội Khoa học tâm lý - Giáo dục Việt Nam
Nhà XB: Đồng Nai
Năm: 2008
12. Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của khoa học QLGD, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học QLGD
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
13. Thanh Lê (biên dịch), Giáo dục thời đại và Phát triển văn hóa, NXB Thanh niên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thời đại và Phát triển văn hóa
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2003
14. Makarenkô (1980), Sách dành cho các bậc cha mẹ, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách dành cho các bậc cha mẹ
Tác giả: Makarenkô
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1980
17. Hoàng Phê (2000), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2000
19. Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình, Báo cáo tổng kết năm học 2011 - 2012 20. Cung Kim Tiến (2001), Từ điển Triết học, NXB Văn hóa - Thông tin,Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Triết học
Tác giả: Cung Kim Tiến
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
21. Trường THPT Nguyễn Đức Cảnh, Lê Quí Đôn, Nguyễn Thái Bình, Chuyên Thái Bình, Nguyễn Công Trứ Báo cáo tổng kết năm học 2011 - 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2011 - 2012
Tác giả: Trường THPT Nguyễn Đức Cảnh, Lê Quí Đôn, Nguyễn Thái Bình, Chuyên Thái Bình, Nguyễn Công Trứ
Năm: 2012
22. Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Tập 3, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2003
23. Viện Ngôn ngữ (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003
24. Vụ công tác lập pháp (2005), Những nội dung mới của Luật Giáo dục năm 2005, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới của Luật Giáo dục năm 2005
Tác giả: Vụ công tác lập pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
25. Vụ Giáo dục trung học, Đổi mới phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực (Tài liệu tham khảo dành cho CBQL và GV phổ thông trung học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Thống kê các lỗi mà nữ sinh thường mắc phải - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Bảng 2.2. Thống kê các lỗi mà nữ sinh thường mắc phải (Trang 52)
Bảng 2.11. Các nội dung và hình thức GDĐĐ mà nữ sinh rất thích - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Bảng 2.11. Các nội dung và hình thức GDĐĐ mà nữ sinh rất thích (Trang 56)
Bảng 2.15. Khảo sát các bà mẹ nữ sinh - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Bảng 2.15. Khảo sát các bà mẹ nữ sinh (Trang 59)
Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất (n= 100) - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất (n= 100) (Trang 76)
Bảng 3.2. Đánh giá sự khả thi của các biện pháp đề xuất (n= 100) - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho nữ sinh trung học phổ thông thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Bảng 3.2. Đánh giá sự khả thi của các biện pháp đề xuất (n= 100) (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w