1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh nghệ an hiện nay

145 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề Phát Triển Nguồn Lực Con Người Trong Quá Trình Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Ở Tỉnh Nghệ An Hiện Nay
Trường học Đại học Nghệ An
Chuyên ngành Phát triển nguồn nhân lực
Thể loại bài luận
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 234,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, dân tộc, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố cơ bản quyết định các nguồn lực khác; quyết định đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề nguồn lực con người luôn được quan tâm. Hiện tượng các nước công nghiệp mới (NICs) châu Á là những minh chứng rõ ràng nhất cho việc quan tâm đúng mức

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia,dân tộc, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố cơ bản quyếtđịnh các nguồn lực khác; quyết định đến sự thành công hay thất bại của sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung và quá trình tiến hành côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề nguồn lực con người luôn đượcquan tâm Hiện tượng các nước công nghiệp mới (NICs) châu Á là nhữngminh chứng rõ ràng nhất cho việc quan tâm đúng mức đến vai trò quyết địnhcủa nguồn lực con người trong quá trình CNH - HĐH Một trong nhữngnguyên nhân mang tính đặc trưng chung cho tất cả các nước này để đi đếnthành công chính là chỗ họ sớm nhận thức được vai trò quyết định của nguồnlực con người và đầu tư thỏa đáng cho chiến lược con người; đặt lên hàng đầuchất lượng nguồn lao động, đặc biệt là các yếu tố văn hóa, kỹ thuật và kỷ luật,

đi trước một bước về giáo dục và đào tạo, coi đó là chìa khóa của cánh cửatăng trưởng, là điều kiện đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp CNH - HĐH.Đây là một trong những bài học hết sức bổ ích cho Việt Nam Với ý nghĩa đó,tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã xác định, một trongnhững quan điểm chỉ đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là:

“Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững” [27, tr.85]

Hiện nay chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra mộtcách hết sức mạnh mẽ; toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,

đã và đang trở thành xu thế lớn của thời đại Đây không chỉ là thách thức,

mà đó còn là thời cơ, điều kiện, là cơ hội thuận lợi để cho chúng ta có thể

Trang 2

vận dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước theo con đường rút ngắn, đi tắt, đón đầu Để tận dụng

có hiệu quả thời cơ, vượt qua những thách thức đang phải đối mặt, chúng tarất cần có nguồn nội lực mạnh, trước hết là nguồn lực con người với bảnlĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, trí tuệ cao, có năng lựcnắm bắt và vận dụng có hiệu quả khoa học và công nghệ của nhân loại vàođiều kiện cụ thể của nước ta

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam không đơn giảnchỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi sâu sắc, toàndiện mọi mặt đời sống xã hội nhằm đưa xã hội phát triển lên một giai đoạnmới về chất Để đáp ứng yêu cầu đó, phải có nguồn lực con người đủ về sốlượng, phát triển cao về chất lượng với một cơ cấu hợp lý, thật sự là động lựccho sự phát triển nhanh và bền vững Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta chỉ rõ,

một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững là “Phát triển nhanh

nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết chặt chẽ pháttriển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ" [36,tr.32]

Nghệ An hiện vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sốngnhân dân còn gặp nhiều khó khăn, việc làm thiếu, thất nghiệp nhiều, tronglúc đó tiềm năng và lợi thế về nguồn lực con người cũng như tài nguyên thiênnhiên chưa được khai thác, sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, thậm chícòn bị lãng phí Rất nhiều sinh viên khi ra trường không trở về quê hươngNghệ An công tác; rất nhiều nhà khoa học có uy tín là con em xứ Nghệ còncông tác xa quê; không ít doanh nhân thành đạt đang hoạt động, sản xuất,kinh doanh ngoài địa bàn tỉnh Tất cả đó đang ảnh hưởng không tốt đến quátrình phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn Nghệ An nói riêng

Trang 3

Vậy làm thế nào để có được nguồn lực con người phát triển cả về sốlượng lẫn chất lượng, hợp lý về cơ cấu (theo ngành, vùng, lĩnh vực kinh tế,theo trình độ, độ tuổi, ); làm thế nào để khai thác, sử dụng một cách có hiệuquả nhất nguồn lực con người - với tư cách là nguồn lực nội tại, cơ bản và có

ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung, đối với quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng; làm thế nào hướng sự phát triểnkinh tế- xã hội do chính con người tạo ra vào phục vụ con người một cách tốtnhất; làm thế nào thu hút được lực lượng lao động chất lượng cao về Nghệ Ancông tác v.v Đó là những câu hỏi đã và đang được đặt ra và cần sớm có lời

giải đáp Đề tài "Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay" mà nghiên cứu

sinh lựa chọn làm luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành CNDVBC vàCNDVLS muốn góp một phần nhỏ vào việc giải quyết vấn đề lớn trên đây

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng, tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản việcphát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước nói chung, ở tỉnh Nghệ An nói riêng, luận án đề xuất quan điểm địnhhướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con ngườitrong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: phân tích thực trạng, tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản của việc

phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở nước ta hiện nay

Thứ hai: Phân tích thực trạng nguồn lực con người và thực trạng phát

triển nguồn lực con người ở tỉnh Nghệ An trong những năm qua và những vấn

đề đặt ra

Trang 4

Thứ ba: Đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu

nhằm phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở Nghệ An hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa

- Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sảnViệt Nam về con người, nguồn lực con người, phát triển nguồn lực con ngườitrong quá trình phát triển xã hội nói chung, quá trình trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa nói riêng Ngoài ra luận án còn kế thừa những kết quả đạt đượccủa một số công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa DVBC và CNDVLS, kết hợp với các phương pháp lôgíc - lịch sử; quynạp và diễn dịch; khái quát hóa - trừu tượng hóa; thống kê - so sánh; phươngpháp xử lý số liệu.v.v.Trên cơ sở xác định phương pháp như trên, trước khiphân tích thực trạng phát triển nguồn lực con người ở Nghệ An, tác giả luận

án đi từ quan niệm chung về nguồn nhân lực (nguồn lực con người), phát triểnnguồn nhân lực ở Việt Nam - có tham khảo thêm một số tư liệu nước ngoài-lấy đó làm cơ sở để phân tích thực trạng phát triển nguồn lực con người ởNghệ An từ đó đề

Trang 5

xuất quan điểm định hướng và tìm giải pháp để phát triển nguồn lực conngười trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay.

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án góp phần làm rõ vai trò của việc phát triển nguồn lực conngười trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ởtỉnh Nghệ An nói riêng

- Đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm pháttriển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởNghệ An hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần luận giải vai trò, tầm quan trọng của việc phát triểnnguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcnói chung, ở tỉnh Nghệ An nói riêng

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu,giảng dạy và những ai quan tâm đến vấn đề phát triển nguồn lực con ngườitrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ở tỉnhNghệ An nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,Luận án gồm 4 chương, 7 tiết

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

Có thể nói rằng trong nhiều thập niên gần đây vấn đề nguồn lực conngười, phát triển nguồn lực con người đã thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiềuhọc giả ở nhiều nước và vùng lãnh thổ khác nhau Nhóm các công trìnhnghiên cứu liên quan đến vấn đề này chiếm một số lượng khá lớn, có thể nóiđến mức chúng ta không thể nào bao quát hết Trong số đó có thể đề cập đếnmột số công trình sau đây

Các tác giả Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu trong cuốn: Tôn trọng tríthức tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước [52] cho rằngnhân tài là then chốt của phát triển, “Sự hưng suy, thành bại của một quốc gia,một dân tộc không ở nguồn vốn, không ở thiết bị, mà then chốt là ở chỗ cóhay không có hàng loạt nhân tài kiệt xuất” [52, tr.77] Để minh chứng cho lậpluận này, các tác giả đưa ra số liệu: “Tỷ trọng của nhân tố trí lực trong sự tăngtrưởng tổng sản phẩm quốc dân ở các nước phát triển đã tăng từ 5% - 20%đầu thế kỷ này lên 60% - 80% trong những năm 80 của thế kỷ” [52, tr.95].Nghĩa là phải có nguồn lực con người, nhất là nguồn lực chất lượng cao Theocác tác giả việc bồi dưỡng và giáo dục nhân tài liên quan trực tiếp đến nhucầu chiến lược của cách mạng và xây dựng Do đó “giải quyết tốt việc đào tạolớp người kế tục là một vấn đề chiến lược, là một vấn đề lớn quyết định tới lợiích lâu dài và sự sinh tử, tồn vong của Đảng và Nhà nước Trung Quốc”

Không chỉ nêu lên vị trí, vai trò của nhân tài, nhân lực trong cách mạng

và xây dựng Các tác giả còn có những luận giải khá sâu sắc về con đường và

phương pháp tuyển chọn nhân tài; sử dụng và bố trí nhân tài sao cho có hiệu

Trang 7

quả, mang lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc Trong đó các tác giả đặc biệt coitrọng việc “tạo môi trường cho nhân tài phát triển” [52, tr.280] và “cải cáchchế độ nhân sự” [52, tr.323].

“Nhân tài” được đề cập đến trong tác phẩm này bao chứa nội hàm kháphong phú, “nhân tài tuyệt nhiên không chỉ là một số ít những nhân vật thiêntài, nhân vật vĩ đại, mà các nhân tài chuyên môn và công nhân, nông dân tiêntiến đều là nhân tài” [52, tr.28] Về thực chất thì đây là bộ phận tương đối ưu

tú trong lực lượng lao động xã hội, trong nguồn nhân lực

Kết quả nghiên cứu của công trình này giúp cho NCS có được cách nhìnkhái quát hơn về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, nhất lànguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế xã hội, trong quá trìnhCNH, HĐH đất nước cũng như việc tìm kiếm giải pháp để phát triển nguồnnhân lực ở nước ta hiện nay

GS.Geoffrey B.Hainsworth với bài “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứngvới những thách thức của quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một nền kinh tếdựa trên những hiểu biết mới” trong cuốn Lao động, việc làm và nguồn nhânlực ở Việt Nam 15 năm đổi mới [45] Tác giả bài viết có cách tiếp cận kháđộc đáo khi đặt các câu hỏi: Làm thế nào để mở rộng sự lựa chọn nghề nghiệp

và viễn cảnh cuộc sống dân cư nông thôn - những người đang nắm giữ nhữngnguồn lực to lớn nhất và chưa được phát huy của quốc gia? Làm cách nào để

họ hiển nhiên nhận được sự quan tâm đặc biệt của những nhà hoạch địnhchính sách và nhà tài trợ v.v Từ đó, tác giả phân tích 3 vấn đề để tìm câu trảlời: 1) Về phạm vi giáo dục, đào tạo nghề Tác giả khẳng định, nền văn hoáViệt Nam luôn có truyền thống tôn trọng học vấn, trước thời kỳ đổi mới mặc

dù gặp nhiều khó khăn Việt Nam vẫn đạt được mức độ biết chữ và bình đẳng

về giới rất đặc biệt, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) thì

tỷ lệ bỏ học cao ở cấp trung học Từ đó tác giả lập luận: mức học phí, sự thiếu

Trang 8

hụt kinh niên số giáo viên mới vào nghề ở mỗi cấp học, tiền lương thấp so vớicác ngành nghề khác làm hạn chế phạm vi GD - ĐT nghề; 2) Về tăng cường

sử dụng LLLĐ và mở rộng sự lựa chọn nghề nghiệp Tác giả nhận định, mặc

dù tỷ trọng GDP tương đối của ngành nông nghiệp giảm so với công nghiệp

và dịch vụ nhưng sự thay đổi cơ cấu trong sử dụng lao động hầu như khôngbiến động về mặt việc làm Vì vậy, theo tác giả cần thực hiện cải cách chươngtrình đào tạo và các cải cách giáo dục khác bao gồm tăng số lượng phòng học,tăng số lượng giáo viên, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảng dạy, tăng tiềnlương 3) Về cơ cấu ngành nghề, lựa chọn công nghệ và sở hữu doanhnghiệp Tác giả cho rằng, đối với một nước mới thực hiện CNH như ViệtNam nên phát triển ngành chế tạo, chế biến và các dịch vụ đi kèm, đồng thờikhông thể lựa chọn công nghệ cao mà cần lựa chọn công nghệ phù hợp nhưcông nghệ phần mềm, nghiên cứu cơ bản

Ngoài bài viết của GS.Geoffrey B.Hainsworth ra còn có các bài viết củacác nhà nghiên cứu khác như: TS.Nolwen Henaff, TS.Jean - Yves Martin,GS.Geoffrey B.Hainsworth, TS.Fiona Hơwell, TS.Nguyễn Hữu Dũng,TS.Trần Khánh Đức, PGS.Võ Đại Lược, TS.Trần Tiến Cường v.v bàn về laođộng, việc làm và nguồn nhân lực Tuy nhiên chưa có bài viết nào bàn chínhdiện về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt giải pháp để phát triển nguồn nhân lực vẫncòn hết sức mờ nhạt

Năm 2010, Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân có biên dịch cuốn: Chuyểnhóa nguồn nhân lực [109] của các tác giả người Anh là TS WilliamJ.Rothwell - chuyên gia cao cấp về nguồn nhân lực, giáo sư đào tạo và pháttriển lực lượng lao động tại Đại học bang Peennsylvania; TS RobertK.Prescott - chuyên gia cao cấp về nguồn nhân lực, Phó giáo sư ngành quản

lý nguồn nhân lực tại Khoa Kinh tế sau đại học Crummer, Đại học Rollins và

Trang 9

TS Maria W.Taylor - Giám đốc giải pháp học tập của Công ty dịch vụ chuyênnghiệp Raytheon- một trong những công ty hàng đầu trên thế giới về dịch vụhọc tập và thuê ngoài.

Cuốn sách gồm 3 phần, phần một bàn về “Chuyển hóa nguồn nhân lực”;phần hai nói về sự cần thiết phải “Quan tâm đến các xu hướng tương lai”;phần ba “Thiết lập vai trò mới của lãnh đạo nguồn nhân lực”

Mục đích chính của cuốn sách là bàn về Chuyển hóa nguồn nhân lực,không trực tiếp bàn đến phát triển nguồn lực con người, tuy nhiên những luậngiải của các tác giả liên quan đến nguồn lực con người là tài liệu tham khảo

bổ ích, nhất là sự luận giải của các tác giả về quan niệm “con người là tài sảnquý nhất” Theo các tác giả “Để tối đa hóa thành tố con người, phải thiết kế

cơ cấu của tổ chức, hệ thống kế hoạch và kiểm soát, quản lý nguồn nhân lực

và văn hóa… hệ thống và các chính sách được xây dựng cho việc tuyển dụng,duy trì, đào tạo và phát triển nghề nghiệp” [109, tr.56-57] Đây là những gợi

mở cho chúng ta khi bàn về các giải pháp phát triển nguồn lực con ngườitrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đặc biệt các tác giả rất quan tâm đến việc tăng cường tầm quan trọngcủa vốn tri thức Các tác giả đã dẫn lời của Peter Drucker rằng: “Tăng trưởngkinh tế có thể chỉ đến từ sự gia tăng liên tục và mạnh mẽ năng suất lao độngcủa nguồn nhân lực trong đó các quốc gia phát triển vẫn có thể cạnh tranh (và

họ sẽ tiếp tục duy trì được vị thế này trong vài thập kỷ nữa), tri thức và nhâncông có tri thức” [109, tr.72] Quan niệm này dường như có gì đó tương đồngvới chủ trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay ở nước ta.Gần đây, nhà xuất bản Nhân dân Giang Tô (Trung Quốc) có ấn hànhcuốn Nhân tài nguồn tài nguyên số 1 của Trương Hạo Hàm, Hoàng Duy [50].Cuốn sách gồm 12 chương, trong đó Chương II khẳng định “Nhân tài là lựclượng tiên tiến trong nguồn tài nguyên con người” [50, tr.35]; “Nhân tài là

Trang 10

nền tảng cho đất nước phát triển phồn thịnh… ảnh hưởng đến tiến trình tươnglai của thế giới” [50, tr.37-38] Do nhân tài có vị trí quan trọng trong quá trìnhphát triển xã hội, do đó cần có chiến lược đào tạo, sử dụng nhân tài và pháthuy hiệu quả của nhân tài Điều này được trình bày trong Chương VII,Chương VIII, trong đó các tác giả nhấn mạnh “Phải dùng nhân tài vào việcthích hợp và đúng sở trường thì mới thể hiện được giá trị của nhân tài… phảiđặt những nhân tài có sở trường đặc trưng vào các vị trí thích hợp” [50,tr.159] Muốn có nhân tài phải “Học hỏi kinh nghiệm đầu tư cho nhân tài củacác nước phát triển” [50, tr.178]; phải “Chú trọng đầu tư chiến lược cho pháttriển nhân tài… Xây dựng cơ chế đầu tư nhân tài đa nguyên hóa” [50, tr.187-203].

Cuốn sách tuy bàn về “lực lượng tiên tiến trong nguồn tài nguyên conngười” nhưng đây là những gợi mở có giá trị tham khảo để phát triển nguồnlực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiệnnay

Không chỉ có các học giả nước ngoài, trong nhiều thập kỷ gần đây, cáchọc giả trong nước, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng cho ra mắt bạn đọcnhiều công trình khoa học liên quan đến vấn đề nguồn lực con người và pháttriển nguồn lực con người Chẳng hạn, năm 2003, Nxb Khoa học - Xã hội, HàNội có ấn hành cuốn: Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục- đào tạo -Kinh nghiệm Đông Á, của tác giả Lê Thị Ái Lâm [70] Cuốn sách là một côngtrình nghiên cứu khoa học công phu, tiếp cận theo chuyên ngành kinh tế thế

giới và quan hệ kinh tế quốc tế, được chia làm 3 phần: phần thứ nhất, tác giả

đưa ra các luận giải lý thuyết về phát triển NNL thông qua GD - ĐT trên cơ

sở trình bày khái niệm phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người, mốiquan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với CNH đồng thời tác giả đã đưa một

bộ khung lý thuyết với các luận điểm chính: nguồn nhân lực đóng góp chotăng trưởng kinh tế; nguồn nhân lực đóng góp cho nâng cao năng suất LĐ,tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và bất bình đẳng; xu thế phát triển kinh tế

Trang 11

tri thức và toàn cầu hoá tạo ra nhu cầu đại chúng đối với NNL chất lượng

cao; phần thứ hai, với 4 chương, tác giả tập trung vào phân tích thực tiễn

phát triển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT ở Đông Á Chương 1: Vai tròphát triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á Tác giả phân tích vai trò pháttriển NNL thông qua GD - ĐT bằng những dẫn chứng thực tiễn từ các nềnkinh tế, các ngành và công ty đã chứng minh những luận điểm mà tác giả đưa

ra là có cơ sở Chương 2: Chiến lược CNH và sự phù hợp lẫn nhau với pháttriển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT ở Đông Á Ở chương này, tác giảtrình bày 4 điều kiện thuận lợi bên ngoài và lợi thế bên trong để các nướcĐông Á xây dựng chiến lược CNH Đặc biệt, tác giả đã phác thảo 4 giai đoạnCNH và 4 giai đoạn này đặt ra những yêu cầu khác nhau của nguồn nhân lực.Chương 3: Điều chỉnh phát triển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT ở Đông

Á Trên cơ sở phác hoạ 4 giai đoạn của CNH, tác giả cho rằng, mỗi giai đoạn

có những yêu cầu khác nhau về phát triển NNL nên giáo dục cũng cần có sựđiều chỉnh thích hợp Vì vậy, chương này tác giả nghiên cứu quá trình điềuchỉnh ở Đông Á trên các khía cạnh: mở rộng cơ hội đó cũng như xem xét cácyếu tố dẫn đến tiếp nhận giáo dục phổ thông theo tiến trình CNH; phát triển

hệ thống GD - ĐT nghề; xây dựng hệ thống giáo dục ĐH chất lượng cao.Chương 4: Vấn đề và giải pháp hiện nay của phát triển nguồn nhân lực thôngqua GD - ĐT Đông Á Tác giả phân tích một số vấn đề trong hệ thống pháttriển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á Đáng chú ý là tác giả trình bày cácgiải pháp phát triển NNL cho kinh tế tri thức ở Đông Á: nâng cao nhận thức

xã hội về học tập suốt đời; nhấn mạnh đào tạo lại và đào tạo nâng cao; cảicách hệ thống giáo dục chính quy; khuyến khích và phát triển các hệ thống

giáo dục không chính quy; Phần thứ ba, là sự tổng kết toàn bộ những bài học

rút ra từ thực tiễn đã phân tích ở chương 3, 4, 5 Có 5 bài học được rút ra vàphân tích trong chương thứ 6 và chương thứ 7 đưa ra một số lưu ý về bối cảnh

Trang 12

phát triển NNL thông qua GD - ĐT hiện nay của Việt Nam, so sánh nhữngnét tương đồng và khác biệt về phát triển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT

ở Đông Á và Việt Nam, từ đó nêu ra 6 gợi ý để phát triển NNL thông qua GD

- ĐT ở Việt Nam đến 2010

Có thể nói, cuốn sách đã trình bày một cách khá hệ thống nhiều vấn đề lýluận liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhưng chỉdưới tác động của giáo dục - đào tạo, so với vấn đề mà NCS lựa chọn thì cáchtiếp cận này dường như là hẹp hơn rất nhiều Nhưng dẫu sao thì đây cũng làtài liệu tham khảo hết sức bổ ích để tác giả thực hiện luận án của mình

Năm 2004, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội cho ấn hành cuốn

“Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn” doPhạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (chủ biên) [97] Cuốn sách đã đi sâuphân tích cơ sở khoa học về quản lý nguồn nhân lực cũng như các yếu tố tácđộng đến quản lý nguồn nhân lực ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH Ngoài

ra, các tác giả có đưa ra một số kinh nghiệm quản lý phát triển nguồn nhânlực ở một số nước trên thế giới Cho dù các tác giả chưa đề cập một cách trựctiếp đến nội hàm phát triển nguồn nhân lực hay các giải pháp để phát triểnnguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhưngđây là tài liệu quý để tác giả tham khảo khi đề xuất các giải pháp - nhất là vấn

đề sử dụng, quản lý nguồn nhân lực

Cuốn Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, của tác giả Nguyễn Thanh [114], cũng là một trong những côngtrình khoa học bàn một số vấn đề liên quan đến đề tài của luận án Cuốn sách

gồm ba phần, phần thứ nhất, tác giả trình bày một cách khái lược quan niệm

của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng vềphát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, từ đó tác giả cho rằng: trongcác nguồn lực thì nguồn lực con người có vai trò quyết định đối với quá trình

Trang 13

CNH, HĐH ở nước ta; Phần thứ hai, tác giả đánh giá khái quát thực trạng

NNL ở nước ta trên các khía cạnh: về số lượng, cơ cấu, trí lực, trình độchuyên môn kỹ thuật (CMKT) trên cơ sở đó tác giả đưa ra những địnhhướng phát triển NNL có chất lượng đáp ứng được đòi hỏi của CNH, HĐHbao gồm: gắn phát triển NNL với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển KT - XH;gắn phát triển NNL với quá trình dân chủ hoá, nhân văn hoá đời sống xã hội,khai thác có hiệu quả các giá trị văn hoá truyền thống và hiện đại; nâng caochất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ KH - CN; xây dựng chiến lược

con người trên cơ sở đó, phát triển NNL có chất lượng cho CNH, HĐH; Phần thứ ba, làm rõ vai trò của giáo dục với tư cách là yếu tố quyết định trong

chiến lược phát triển con người, phát triển NNL có chất lượng phục vụ sựnghiệp CNH,HĐH đất nước

Tác giả Đoàn Văn Khái có cuốn Nguồn lực con người trong quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam [66] Trong cuốn sách này, tác giả

đã trình bày bản chất, đặc trưng và tính tất yếu của CNH, HĐH ở Việt Namhiện nay, phân tích vai trò của nguồn lực con người - yếu tố quyết định sựnghiệp CNH, HĐH đất nước, tác giả cũng đề ra một số giải pháp cơ bản nhằmkhai thác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH,HĐH ở Việt Nam.

Ở chương 1, tác giả phân tích một số vấn đề chung về CNH, HĐH, nhưng đáng chú ý nhất là sự khái quát các mô hình CNH trên thế giới Ở chương 2, tác giả đưa ra khái niệm nguồn lực con người với nội hàm rộng bao

hàm 6 mặt cơ bản và xuất phát từ vị trí, đặc điểm của nguồn lực con ngườitrong quan hệ so sánh, quan hệ tác động với các nguồn lực khác và nhấnmạnh, trong điều kiện kinh tế tri thức vai trò của nguồn lực con người càngtăng lên gấp bội nhờ phát huy sức mạnh trí tuệ, nó trở thành nguồn lực của

mọi nguồn lực Trong chương 3 và chương 4, tác giả đánh giá một cách toàn

Trang 14

diện thực trạng và đặc điểm nguồn lực con người của nước ta từ năm 2001

- 2005 về số lượng, cơ cấu, chất lượng và rút ra 6 nhận xét, từ đó tác giảcho rằng, nguồn lực con người của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầuCNH, HĐH Để đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đòi hỏi người LĐ phải

có năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng LĐ giỏi, do đó tác giả

đề xuất 3 nhóm giải pháp lớn để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồnlực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH: nhóm giải pháp về khai tháchợp lý, có hiệu quả nguồn lực con người; nhóm giải pháp về phát triểnnguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH; nhóm giải pháp về xâydựng môi trường xã hội thuận lợi, phục vụ cho việc khai thác, sử dụng cóhiệu quả nguồn lực con người

Trong cuốn Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đạihóa - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam [117], tác giả Vũ Bá Thể đãphân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến nguồn nhân lựccũng như kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số nước như NhậtBản, Mỹ, các nước Châu Á - Thái Bình Dương

Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn nhân lực nước ta cả về quy mô,tốc độ, chất lượng; từ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số nước,tác giả đề xuất 4 giải pháp nhằm phát triển NNL của Việt Nam trong thờigian tới: nhóm giải pháp phát triển giáo dục phổ thông; nhóm giải pháp pháttriển giáo dục CĐ, ĐH và trên ĐH; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sửdụng NNL hiện có; nhóm giải pháp nâng cao trạng thái sức khoẻ NNL

Cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực, của Mạc Văn Tiến[120], tập hợp các bài viết trong nhiều năm của tác giả Cuốn sách được chialàm 3 phần: phần thứ nhất tập hợp một số bài viết liên quan đến vấn đề ansinh xã hội; phần thứ hai gồm những bài viết về bảo hiểm xã hội; phần thứ batập hợp những bài viết về phát triển nguồn nhân lực Trong phần thứ ba, có

Trang 15

nhiều bài viết mà NCS có thể tham khảo, kế thừa và phát triển trong quá trìnhthực hiện luận án như: một số vấn đề về phát triển NNL ở nước ta; phát triểnNNL và chính sách phát triển NNL của một số nước; phát triển NNL và chínhsách phát triển NNL thời kỳ CNH, HĐH; thực trạng chất lượng NNL ở ViệtNam Trong đó đáng chú ý là bài viết: Vai trò của nguồn nhân lực trong nềnkinh tế thị trường.

Theo tác giả, nhân loại đang đứng trước thềm của sự phát triển mới của

xã hội loài người là chuyển sang nền kinh tế tri thức, nhưng đối với Việt Nammới bước đầu tiến hành CNH, HĐH, vì vậy phải đi tắt, đón đầu nếu khôngchúng ta sẽ bị tụt hậu xa hơn so với các nước trên thế giới Để làm được điều

đó, theo tác giả không có con đường nào tốt hơn là phải chú trọng phát triểnnguồn nhân lực

Trong cuốn: Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triểnvọng do Nguyễn Văn Khánh (Chủ biên) [67] Cuốn sách gồm 4 chương.Chương 1 giải quyết “Những vấn đề lý luận chung về trí tuệ, nguồn lực trítuệ, xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ” Chương 2 bàn về “Kinh nghiệmxây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của Việt Nam và một số nước trên thếgiới” Chương 3 đề cập đến “Thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong cáclĩnh vực của đời sống xã hội” và chương 4 chủ yếu bàn về “Xây dựng và pháthuy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước” Đối

tượng được các tác giả đề cập đến trong cuốn sách này là nguồn lực trí tuệ,

chứ không phải nguồn nhân lực nói chung, nhưng những luận giải cũng nhưphương pháp tiếp cận vấn đề của các tác giả có nhiều điểm có thể kế thừatrong quá trình NCS triển khai mục tiêu và nhiệm vụ của luận án

Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam là cuốn sách doNguyễn Văn Phúc và Mai Thị Thu, đồng chủ biên [107] Nội dung cuốn sáchđược trình bày trong 3 chương Chương 1 “Tài nguyên nhân lực Việt Nam”

Trang 16

Chương 2 “Thực trạng khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam”.Chương 3 “Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác, phát triểntài nguyên nhân lực Việt Nam giai đoạn 2012-2020” Tuy không thật đồ sộ,nhưng cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta bức tranh khá toàn diện về khaithác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam Những phân tích của các tácgiả về Những nhân tố tác động tới sự phát triển của tài nguyên nhân lực ViệtNam [107, tr.47- 92] hay thực trạng khai thác và phát triển tài nguyên nhânlực Việt Nam [107, tr.93- 161].v.v là tư liệu tham khảo trực tiếp mà NCS cóthể kế thừa.

Tạp chí Triết học (số 2 - 1994) có bài “Nguồn nhân lực trong côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn [10].Trong bài viết này, người viết đã phân tích, làm sáng tỏ nhiều vấn đề liênquan đến nguồn nhân lực, chỉ ra tầm quan trọng, yêu cầu phát triển nguồnnhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong bài “Nguồn lực con người và phát triển nền kinh tế tri thức”,đăng ở Tạp chí Khoa học Xã hội (2008) tác giả Phạm Thị Hồng Điệp [39] đã

có những luận giải về vai trò của nguồn lực con người trong nền kinh tế trithức Theo tác giả trong điều kiện kinh tế tri thức, lợi thế cạnh tranh giữa cácquốc gia, dân tộc thuộc về nguồn nhân lực được đào tạo một cách cơ bản, có

hệ thống và một khi nguồn nhân lực này được khai thác một cách hợp lý thì

nó sẽ không ngừng gia tăng giá trị của nó

Tạp chí Triết học số 1- 2004 có đăng bài viết của Nguyễn Đình Hòa về

“Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa” [53] Trong bài viết này, tác giả đã góp phần làm sáng tỏ một sốkhái niệm, phạm trù trung tâm, như: nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhânlực; công nghiệp hóa, hiện đại hóa v.v cũng như mối quan hệ biện chứnggiữa phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước

Trang 17

Tác giả Phạm Công Nhất trong bài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế”, đăng ở Tạp chí Cộng sản,(2008) (số7/151) http:/www.tapchicongsan.org.vn [101] đã có những đánhgiá về thực trạng phát triển nguồn nhân lực của nước ta trong thời gian qua vàkhẳng định Việt Nam có khả năng trong việc tận dụng các thời cơ để pháttriển kinh tế- xã hội một cách năng động trên cơ sở nguồn nhân lực của mình.Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam đang phải từng bước vượt qua những thách thứcngày càng trở nên gay gắt trong việc xây dựng nguồn nhân lực có chất lượngcao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước đang trong quá trình đổi mới vàhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

Trong luận án tiến sỹ Triết học: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng, (2008), tác giả Dương Anh Hoàng [55]

đã phân tích, bước đầu làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ như nguồn nhânlực, phát triển nguồn nhân lực Theo cách tiếp cận của mình, tác giả cho rằng,nội hàm của khái niệm nguồn nhân lực bao gồm 2 yếu tố cơ bản cấu thành, đó

là số lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực NCS cho rằng đây

là cách tiếp cận hợp lý, mang tính khái quát triết học Đặc biệt trong côngtrình của mình, tác giả đã chỉ ra được 3 điểm tương đồng và 3 điểm khác biệttrong phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam và các nước trong khu vực để

từ đó rút ra 4 bài học kinh nghiệm về phát triển NNL cho Việt Nam nói chung

và Đà Nẵng nói riêng; làm rõ 4 đặc điểm cơ bản của quá trình CNH, HĐH ở

Đà Nẵng và theo tác giả chính những đặc điểm này quy định chiến lược pháttriển NNL của Đà Nẵng Sau khi phân tích thực trạng phát triển NNL của ĐàNẵng thời gian qua, tác giả đưa ra 3 quan điểm có tính chất định hướng và đềxuất 4 giải pháp để phát triển NNL cho CNH, HĐH ở Đà Nẵng trong thờigian tới Các giải pháp được tác giả luận án đề cập đến đó là: phát triển KT -

XH, nâng cao chất lượng GD - ĐT, phát triển KH - CN và xây dựng nếp sống

Trang 18

văn minh đô thị Trong đó giải pháp nâng cao chất lượng GD - ĐT được tácgiả phân tích khá thuyết phục.

Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở một địa phương thuộc khu vực miền trung có nhiều điểm tươngđồng với phạm vi đề tài nghiên cứu của NCS, do đó những kết quả đạt đượccủa luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho NCS trong quá trình thực hiệnluận án của mình

Từ góc độ kinh tế học, tác giả Bùi Sỹ Lợi nghiên cứu vấn đề: Phát triểnnguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hoáđến năm 2010 [78] Đây là Luận án tiến sỹ Kinh tế học của tác giả bảo vệ năm

2002 Với cách tiếp cận liên ngành, tác giả luận án đã tập trung làm rõ một sốkhái niệm công cụ, như khái niệm nhân lực, con người, nguồn nhân lực vàphát triển nguồn nhân lực Một trong những nội dung của luận án là việc phácthảo những đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực; phân tích 3 nhóm nhân tốtác động đến phát triển NNL: nhóm nhân tố về mặt tự nhiên, nhóm nhân tố vềKT

- XH, nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách cũng như việc phân tích, đánhgiá thực trạng phát triển NNL ở tỉnh Thanh Hoá từ năm 1996 đến năm 2000.Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra 4 quan điểm và đề xuất 5 nhóm giải pháp để pháttriển NNL trong thời kỳ CNH, HĐH ở Thanh Hoá đến năm 2010 Đây là mộttrong những gợi mở hữu ích đối với NCS trong quá trình thực hiện đề tàinghiên cứu của mình

Năm 2013, NCS Nguyễn Thị Giáng Hương đã bảo vệ thành công luận ántiến sĩ triết học, chuyên ngành CNDVBC và CNDVLS với đề tài: Vấn đề pháttriển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay [59] Trong luận

án này ngoài việc làm rõ một số khái niệm công cụ, như: nguồn nhân lực;nguồn nhân lực nữ; nguồn nhân lực nữ chất lượng cao v.v tác giả đi sâu phântích tầm quan trọng, nét đặc thù cũng như những yếu tố cơ bản tác động đến

Trang 19

việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay Trên

cở sở khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở ViệtNam, tác giả đề xuất ba nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhânlực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay Đó là nhóm giải pháp kinh tế,văn hóa, xã hội; nhóm giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của chủ thể và toàn

xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Namhiện nay và nhóm giải pháp thuộc về công cụ pháp lý

Khảo sát một số công trình nghiên cứu trên đây cho thấy một số vấn đề

lý luận chung về nguồn lực con người, phát triển nguồn lực con người đãđược một số tác giả đề cập đến trong một số công trình khoa học của mình.Phần lớn các kết quả nghiên cứu đó (trực tiếp hay gián tiếp) đều cho rằngtrong các nguồn lực của sản xuất, nguồn lực con người giữa vai trò quan trọngnhất và, để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồnnhân lực đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, hợp lý về cơ cấu

Tuy nhiên các công trình đó hoặc là nghiên cứu ở tầm vĩ mô, hoặc là ởmột địa phương nào đó chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách

hệ thống, căn bản (từ góc độ triết học cũng như các lĩnh vực khoa học khác)

về phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở Nghệ An hiện nay Đây là vấn đề luận án cần phải đi sâu nghiên cứu

1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là phân tích tầm quantrọng của việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ở tỉnh Nghệ An nói riêng, từ đó đề xuấtquan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lựccon người trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An

Trang 20

hiện nay, nên vấn đề CNH, HĐH - với tư cách là bối cảnh để phát triển nguồnlực con người - không được tác giả tổng quan thành một mục riêng.

Có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu chuyên biệt về giải phápphát triển nguồn lực con người không nhiều, sự nghiên cứu đó thường chiếmmột dung lượng không lớn trong một số công trình có liên quan đến nguồnnhân lực, đến phát triển nguồn lực con người Trong một số cuốn sách, bàiviết nhất là trong các luận án, luận văn có liên quan đến vấn đề này, việc đềxuất các giải pháp để phát triển nguồn lực con người thường xuất hiện sau khikhảo sát thực trạng nguồn nhân lực hay phát triển nguồn nhân lực

Một trong những nghiên cứu trực diện về vấn đề này đó là đề tài nghiêncứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III "Nhữnggiải pháp phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” năm 2005, do Nguyễn Văn Nam làm chủnhiệm [95] Đề tài đã nêu được thực trạng nguồn lực con người ở thành phố

Đà Nẵng, từ những thực trạng đó, đề tài nêu lên các phương hướng, giải phápchủ yếu nhằm phát huy nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố

Tác giả Đoàn Văn Khái trong cuốn: Nguồn lực con người trong quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, HàNội-2005 [66], sau khi trình bày bản chất, đặc trưng và tính tất yếu của côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, phân tích vai trò của nguồn lựccon người - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp lớn để khai thác và sử dụng có hiệuquả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đólà: 1) nhóm giải pháp về khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực conngười; 2) nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và 3) nhóm giải pháp về xây dựng môi

Trang 21

trường xã hội thuận lợi, phục vụ cho việc khai thác, sử dụng có hiệu quảnguồn lực con người.

Cũng trong năm 2005, tác giả Vũ Bá Thể trong cuốn: Phát huy nguồnlực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Kinh nghiệm quốc tế vàthực tiễn Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội [117], đã đề xuất 4 giảipháp nhằm phát triển NNL của Việt Nam trong thời gian tới: nhóm giải phápphát triển giáo dục phổ thông; nhóm giải pháp phát triển giáo dục cao đẳng,đại học và trên đại học; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NNL hiệncó; nhóm giải pháp nâng cao trạng thái sức khoẻ NNL Trong nhóm các giảipháp được tác giả đề cập đến, nhóm giải pháp nâng cao trạng thái sức khoẻnguồn nhân lực là một trong những điểm đáng chú ý, trong điều kiện chophép chúng ta quan tâm đến vấn đề chất lượng dân số

Trong cuốn: Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam cáctác giả Nguyễn Văn Phúc và Mai Thị Thu (đồng chủ biên, được Nxb CTQG

ấn hành năm 2012) [107], đã đưa ra “Định hướng và giải pháp nâng cao hiệuquả khai thác, phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam giai đoạn 2012-2020” Theo đó, nhóm thứ nhất bao gồm “Những giải pháp nâng cao hiệu quảkhai thác, sử dụng tài nguyên nhân lực Việt Nam” [107, tr.198-214]; nhómthứ hai, “Nhóm giải pháp phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” [107,tr.215-245] Trong nhóm giải pháp này, các tác giả đặc biệt quan tâm đến giảipháp “Cải cách và nâng cấp hệ thống đào tạo và phát triển tài nguyên nhânlực” [107, tr.218-223] Điều này xuất phát từ thực trạng “Trình độ chuyênmôn, kỹ thuật thấp… số lao động đã qua đào tạo của Việt Nam thuộc loạithấp trong khu vực cũng như trên thế giới Năm 2010… số lao động được các

cơ sở đào tạo, dạy nghề cấp bằng, chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ (tức là sốlao động có nền tảng kiến thức nghề nghiệp cơ bản) chỉ chiếm gần 17,2%tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế” [107, tr.104]

Trang 22

Từ phương pháp tiếp cận mang tính liên ngành của triết học, sử học, xãhội học, khoa học chính sách và khoa học dự báo, các tác giả trong cuốn:Nguồn lực trí tuệ Việt Nam- Lịch sử, hiện trạng và triển vọng (Nguyễn VănKhánh, chủ biên, Nxb CTQG 2012) [67], đã đưa ra “Các quan điểm và giảipháp chung” [67, tr.309-385] và đề xuất “Một số giải pháp cụ thể” [67, tr.386-426] để xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệpphát triển đất nước Cùng với quan điểm coi trọng cải cách và nâng cấp hệthống đào tạo và phát triển tài nguyên nhân lực các tác giả cuốn: Khai thác vàphát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam, các tác giả Nguồn lực trí tuệ ViệtNam- Lịch sử, hiện trạng và triển vọng cũng coi trọng giải pháp “Đẩy mạnhcải cách, nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục Việt Nam phục vụ sự nghiệpxây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ” [67, tr.342-361].

Năm 2013, trong luận án tiến sĩ kinh tế: Nguồn nhân lực cho công nghiệphoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huếhiện nay, tác giả Hà Thị Hằng [51] sau khi phân tích một số khái niệm côngcụ: nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa vànhững đặc trưng của nó v.v đã chỉ ra nét đặc thù của nguồn nhân lực trong

quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, đó là: 1) tỷ lệ lao động trí óc cao hơn lao động chân tay rất nhiều; 2) người lao động phải có

những tri thức nhất định, tức phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghề

nghiệp cao; 3) người lao động phải có khả năng sáng tạo ra cái mới 4) vai trò

và địa vị của bộ phận lao động trí tuệ trong cơ cấu nguồn nhân lực được đề

cao.Thông qua các số liệu sơ cấp và thứ cấp, đặc biệt là số liệu sơ cấp, tácgiả luận án Hà Thị Hằng đã mô tả một cách toàn diện thực trạng nguồn nhânlực cho CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế.Trên cơ sở phân tích thực trạng NNL, luận án khẳng định, tỉnh Thừa ThiênHuế có lực lượng lao động dồi dào và đang trong giai đoạn “cơ cấu dân sốvàng”, vì

Trang 23

vậy có khả năng cung cấp đủ nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.Tuy nhiên, hiện nay nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐHgắn với phát triển kinh tế tri thức: chất lượng NNL vẫn còn thấp cả ở khíacạnh trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề và kỹ năngbiến tri thức thành sản phẩm của người LĐ; cơ cấu nguồn nhân lực còn dịchchuyển chậm, mất cân đối, nhất là cơ cấu nguồn nhân lực đã qua đào tạo; sựphân bố và sử dụng nguồn nhân lực chưa hợp lý.

Để góp phần khắc phục tình trạng trên, tác giả luận án đề xuất thực hiệnđồng bộ 3 nhóm giải pháp lớn để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế từ nayđến năm 2020: 1) nhóm giải pháp tạo tiền đề để phát triển nguồn nhân lực đápứng yêu cầu CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức; 2) nhóm giải phápnhằm trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,

HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức; 3) nhóm giải pháp nhằm khai thác và

sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH gắn vớiphát triển kinh tế tri thức

Tạp chí Cộng sản số 854 (tháng 12-2013), có bài: Về các giải pháp cơbản phát triển nguồn nhân lực hiện nay [113] Sau khi phân tích thực trạngnguồn nhân lực nước ta hiện nay; xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng củanguồn lực con người trong tất cả các nguồn lực của sản xuất cũng như yêucầu thực hiện “Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020”, các tác giả

đề xuất ba giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một “Đổi mới nhận thức về pháttriển, sử dụng, quản lý nguồn nhân lực” [113, tr.58]; hai “Đổi mới căn bản,toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hộihóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” [113, tr.58] và ba “Huy động tất cả cácnguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển nhân lực” [113, tr.59]

Trang 24

Tạp chí Phát triển nhân lực, số 3 (34)- 2013 có đăng bài: Phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

2011-2020 của tác giả Đặng Hữu Toàn [122] Theo tác giả, để có nguồn nhân

lực chất lượng cao, một trong những giải pháp quan trọng là phải coi trọnggiáo dục, lấy “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” và phải đổi mới cănbản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, dânchủ hóa và hội nhập quốc tế, tác giả nhấn mạnh, chúng ta phải “coi trọng giáodục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lậpnghiệp cho nguồn nhân lực trong tương lai” [122, tr.21]

Tạp chí Giáo dục lý luận số (208) tháng 2-2014 (tr.50) có bài: Phát huynguồn lực con người trong xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở nước ta hiệnnay của Trần Thị Thu Hường [64], theo tác giả để xây dựng nền kinh tế độclập tự chủ, một trong những giải pháp quan trọng là phải phát huy nhân tố,phát huy nguồn lực con người- với tư cách vừa là chủ thể, vừa là động lực đểxây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế hiện nay

Tạp chí Giáo dục lý luận số (209) tháng 3-2014 (tr.46) có bài: Vấn đề

phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nước ta hiện nay [128] Sau khi nêu quan

niệm về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực trẻ, thực trạng nguồn nhân lực trẻnước ta hiện nay, tác giả Nguyễn Thị Tùng đã đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ ở nước ta hiện nay, đó là:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo Đây được coi là giải

pháp quan trọng nhất, cốt yếu nhất, có ý nghĩa quyết định đến việc thực

hiện thành công khâu đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực Thứ hai, sắp xếp, bố trí, sử dụng nguồn nhân lực trẻ Thứ ba, xây dựng và hoàn

thiện hệ giá trị con người Việt Nam nói chung, nguồn nhân lực trẻ ViệtNam nói riêng

Trang 25

Kết quả nghiên cứu liên quan đến giải pháp để phát triển nguồn lực conngười (kể cả nguồn nhân lực trẻ) của một số công trình trên đây nhìn chungkhá toàn diện Có những giải pháp liên quan đến đầu tư cơ sở vật chất - kỹthuật; có những giải pháp liên quan đến đời sống văn hóa - tinh thần; lại cónhững giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách v.v.Tuy nhiên các giải phápnày nhìn chung vẫn ở tầm vĩ mô (trừ một vài luận án có phạm vi nghiên cụthể), do đó khi vận dụng vào tình hình thực tế một địa phương cần có sự cânnhắc, lựa chọn, thậm chí phải đề xuất những giải pháp phù hợp với địaphương mình - như Nghệ An chẳng hạn Đó cũng là nhiệm vụ mà luận ánphải tiếp tục giải quyết.

1.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH, VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở NGHỆ AN

Mặc dù chưa nhiều, nhưng trong những năm gần đây đã xuất hiện một

số công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồnnhân lực ở Nghệ An từ các lát cắt khác nhau, chủ yếu là giác độ kinh tế chínhtrị học Chẳng hạn, năm 2008 học viên cao học Nguyễn Thị Hải Yến có thựchiện đề tài “Hợp tác xã kiểu mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An” [155] Những luận giải của tác giả

về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An từ góc

độ kinh tế chính trị học, ở mức độ nào đó kết quả nghiên cứu này giúp choNCS có cách nhìn đầy đủ hơn về quá trình CNH, HĐH ở Nghệ An

Trong luận án tiến sỹ “Luận cứ khoa học của chiến lược phát triển đàotạo Nghề ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, bảo

vệ năm 2010, tác giả Nguyễn Xuân Vinh [141] đã phân tích cơ sở lý luận củachiến lược, của quy trình xây dựng chiến lược giáo dục nói chung và đào tạonghề nói riêng cho cấp tỉnh/ thành phố cũng như kinh nghiệm quốc tế về xâydựng chiến lược giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục kỹ thuật - nghề

Trang 26

nghiệp Trên cở sở đánh giá thực trạng và nhu cầu phát triển đào tạo nghề vàgiải quyết việc làm ở tỉnh Nghệ An trong thời kỳ CNH, HĐH, tác giả đề xuấtmột số giải pháp nhằm phát triển, đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An hiện nay.

Năm 2010, từ góc độ kinh tế chính trị, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hương

đã bảo vệ thành công đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao ở Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc

tế” [60] Trên cơ sở phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Nghệ An hiện

nay cũng như sự tác động của việc hội nhập kinh tế quốc tế đối với nguồnnhân lực đó, các tác giả tham gia nghiên cứu đã chỉ ra yêu cầu phải phát triểnnguồn nhân lực, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứngyêu cầu hội nhập thế giới trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất những giảipháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầuhội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phảiphát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, chuyên gia kỹ thuật, doanhnhân và những nhà quản lý giỏi

Ngoài một số luận văn, luận án, đề tài đề cập ở góc độ này hay góc độkhác liên quan đến nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ở Nghệ An, còn

có một số bài viết đăng trên một số tạp chí có liên quan đến vấn đề này Năm

2006 tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hương, có bài“Những bất cập trong quá trìnhphát triển nguồn nhân lực ở Nghệ An hiện nay”, đăng ở tạp chí Giáo dục Lýluận số 10 (115) - 2006 [60, tr.42]; hoặc Nguyễn Thị Mỹ Hương và Lê ThịThu Hà với bài “Đào tạo công nhân kỹ thuật bậc cao ở tỉnh Nghệ An hiệntrạng và giải pháp”, tạp chí Lý luận và truyền thông, số tháng 01/2008 [61,tr.36]; hay Th.s Đinh Trung Thành; Th.s Nguyễn Thị Bông với bài “Nhữngbất cập trong quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nghệ An”,tạp chí Giáo dục Lý Luận số 4 (133) - 2008 [116, tr.59] Tạp chí Kinh tế Châu

Á - Thái Bình Dương, số 274 - 275 (8/2009), có bài “Phát triển nguồn nhân

Trang 27

lực ở tỉnh Nghệ An trong bối cảnh hội nhập: Những vấn đề đáng lưu tâm” củaTh.s Nguyễn Thị Mỹ Hương [62, tr.32 ]

Tác giả Xuân Hường (2010) có bài “Nguồn nhân lực Nghệ An’’,http//www.nghean business.gov.vn [65] Nội dung bài viết nói lên vị trí, vaitrò của con người ở vùng Bắc Trung bộ nói chung, Nghệ An nói riêng, trong

đó tác giả nhấn mạnh một số đặc điểm của nguồn lực con người nơi đây, như:

có tay nghề thành thạo, yêu lao động, có phẩm chất đạo đức tốt, hiếu học, cótrí tuệ gắn với quá trình CNH, HĐH v.v

Tạp chí Giáo dục lý luận số (208) tháng 2- 2014 có bài Phát triểnnguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số ở các huyện miền Tây Nghệ An trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Trần Cao Nguyên[99] Những kiến giải của tác giả về nguồn nhân lực trong bài viết này giúpcho tác giả luận án có cái nhìn đầy đủ hơn về diện mạo nguồn lực conngười ở Nghệ An nói chung, ở các huyện miền Tây Nghệ An nói riêngtrong giai đoạn hiện nay

Những kết quả đạt được trong các bài viết, các luận văn - nhất là lýluận về nguồn nhân lực; nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nghệ An - làtài liệu tham khảo có giá trị nhất định để NCS thực hiện đề tài luận áncủa mình

Ngoài một số công trình khoa học trên, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh,một số cơ quan cấp tỉnh cũng ban hành các văn bản (chứ không phải là nhữngcông trình nghiên cứu) ít nhiều có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài.Chẳng hạn Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An (2009), có Báo cáo cơ cấu trình

độ lao động công nghiệp Nghệ An [112] Báo cáo chỉ rõ, tỷ lệ lao động đượcđào tạo khoảng 15%, toàn tỉnh có 105 tiến sỹ, 400 thạc sỹ, gần 24.000 người

có trình độ đại học, 14.000 có trình độ cao đẳng và 60.000 người có trình độtrung học chuyên nghiệp

Trang 28

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (tháng 12/ 2010)tập trung phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và xu thếphát triển chung của nền kinh tế.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 04 - NQ/TU của Tỉnh ủy(khóa XV) về chương trình phát triển nguồn nhân lực Chú trọng nâng caotrình độ tay nghề của người lao động, nhất là nông dân gắn với việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế với cơ cấu lao động trên cơ sở làm tốt công tác đào tạotheo các ngành nghề Chú trọng phát triển nguồn nhân lực đảm bảo cả về thểlực và trí lực trên cơ sở củng cố hệ thống giáo dục từ bậc mầm non, phổthông, đến đào tạo chuyên nghiệp và phát triển hạ tầng xã hội như giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách thu hút nguồnnhân lực có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo điềukiện môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy năng lực

Đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ Trên cơ sở đánh giá kháchquan để bố trí đúng cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt vào các vị tríthen chốt trong bộ máy Đảng và chính quyền từ tỉnh đến cơ sở Nâng caonăng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, hiệu quả và hoạt động của chính quyềncác cấp trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội

UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 65/2010/QĐ - UBND ngày 26 - 8

- 2010 về chính sách thu hút nhân lực cao được đào tạo trong nước về công

tác ở Tỉnh [131] Đây là quyết định được áp dụng trong các cơ quan Đảng,

chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp trên địa bàn Tỉnh Tỉnh hỗ trợkinh phí cho các đối tượng về công tác tại tỉnh nhà

Năm 2011, UBND tỉnh Nghệ An có Đề án quy hoạch phát triển nhân

lực tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011- 2020 [132] Đề án nêu rõ, tỉnh chủ trương

phát triển nguồn nhân lực đảm bảo đủ về số lượng, có cơ cấu phù hợp, cótrình độ chuyên môn cao, có phẩm chất nhân cách, năng lực nghề nghiệp

Trang 29

thành thạo, kỹ năng, tác phong chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo phục vụyêu cầu phát triển Nghệ An, cung cấp nguồn nhân lực một phần cho BắcTrung bộ và duyên hải miền Trung Đó là nguồn nhân lực được phát triểntoàn diện về thể lực và trí lực, năng lực, đạo đức, có năng lực tự học, tự đàotạo cao, khả năng thích nghi và hội nhập vào quá trình phát triển kinh tế - xãhội của cả nước và hội nhập quốc tế.

Năm 2012, UBND tỉnh Nghệ An có Đề án phát triển đội ngũ công chức,

viên chức tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012- 2015 có tính đến 2020 [135].

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết lần thứ 3 Ban chấp hànhTrung ương Đảng khoá VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Nghệ

An đã từng bước xây dựng và trưởng thành, có nhiều đóng góp cho sự pháttriển của tỉnh nhà trong suốt thời gian qua Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm

vụ chính trị trong thời kỳ đổi mới, chất lượng đội ngũ công chức, viên chứccòn bộc lộ nhiều bất cập Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnhkhoá XVI trình Đại hội khoá XVII nhấn mạnh “một bộ phận cán bộ côngchức trình độ năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, một số có biểuhiện: cửa quyền, nhũng nhiễu, quan liêu, vi phạm quy định của pháp luật”;

“công tác tổ chức, cán bộ một số nơi còn bất cập Chất lượng đào tạo, bồidưỡng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế, chậm tăng cường, củng

cố các đơn vị có phong trào yếu kém Công tác quản lý, kiểm tra giám sát độingũ cán bộ Đảng viên có lúc, có nơi chưa chặt chẽ Năng lực phẩm chất củamột bộ phận cán bộ Đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu”

Để thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước với mục tiêu đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại,tỉnh Nghệ An cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, đòi hỏi phải xây dựng độingũ cán bộ công chức, viên chức có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo

Trang 30

đức, đủ trình độ năng lực, có tính chuyên nghiệp cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ trong giai đoạn mới Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XVIIkhẳng định nhiệm vụ nâng cao chất lượng nguồn lực đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước là nhiện vụ thenchốt trong đó xây dựng phát triển đội ngũ công chức, viên chức là một nhiệm

vụ vừa cơ bản, lâu dài vừa cấp bách, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH mở cửa hội nhập tỉnh nhà

Để có nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa, UBND tỉnh Nghệ An đã có Đề án đào tạo lao động kỹ thuật tỉnh Nghệ

An giai đoạn 2011- 2015 có tính đến 2020 (2012) [136] Đề án này “được xây

dựng trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả đào tạo công nhân kỹ thuật giaiđoạn 2006 - 2010 theo Nghị quyết số 04/NQ - TU của Ban chấp hành Đảng

bộ tỉnh khoá XVI

Năm 2013, UBND tỉnh Nghệ An - sở nông nghiệp và phát triển nôngthôn tỉnh Nghệ An đã sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 7 (khoá X) vềnông nghiệp, nông thôn và nông dân.Trong bản Báo cáo sơ kết này, ngoàiviệc đánh giá kết quả 5 năm thực hiện nghị quyết trung ương 7 (khoá X) vềnông nghiệp, nông thôn và nông dân và một số bài học kinh nghiệm thì trongphần Dự báo một số xu thế phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, có

đề cập đến vấn đề phát triển nguồn lực con người trên địa bàn nông thôn tỉnh

Đầu năm 2014, UBND tỉnh Nghệ An - Sở nông nghiệp và phát triểnnông thôn tỉnh Nghệ An đã Tổng kết lý luận và thực tiễn 30 năm đổi mớinông nghiệp, nông thôn tỉnh Nghệ An [140] Ngoài việc đánh giá chung vềkết quả sau gần 30 năm đổi mới về nông nghiệp nông thôn, hội nghị còn tổngkết quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu nội ngànhnông nghiệp; quá trình đổi mới về tổ chức sản xuất và thay đổi quan hệ sảnxuất tại địa phương; quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,

Trang 31

trong đó có đề cập đến vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Trong lĩnh vực công nghiệp, có Quyết định số 1776/Q Đ - UBND ngày24/05/2012 về phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển côngnghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 đến năm 2020” Ngoài việc đánh giáthực trạng, khả năng phát triển công nghiệp Nghệ An và một số nội dungkhác, Quyết định cũng đề cập đến vấn đề phát triển nguồn lực con người đápứng yêu cầu phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong tương lai là cho cảkhu vực Bắc Trung bộ Việt Nam

Có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình, đề tài nào nghiêncứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề phát triển nguồn lựccon người ở tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Điều đó thôi thúc tác giả luận án đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này

Kết luận chương 1

Tổng hợp tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy vấn đề nguồn lực conngười, phát triển nguồn lực con người cho đến nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau [53], [67] [71], [115], [118],v.v Sau khi khảo cứu kết quả của các công trình đó, cho phép tác giả rút ramột số kết luận sau:

Một là, kết quả nghiên cứu của các công trình trên có ý nghĩa nhất định

(cả về mặt lý luận và thực tiễn), nhất là cho những ai quan tâm đến vấn đềnày Tác giả luận án coi đây là những tư liệu tham khảo bổ ích có tính gợi mở

để triển khai nội dung nghiên cứu của mình theo hướng mới

Hai là, giá trị khoa học của các công trình này bao quát phạm vi rộng

lớn, với nhiều bình diện khác nhau, trong đó tác giả luận án tiếp thu, kế thừatrên tinh thần đổi mới phương pháp tiếp cận vấn đề nguồn lực con người; nộihàm các khái niệm “nguồn lực con người”, “phát triển nguồn lực con người”;

Trang 32

tầm quan trọng của việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình CNH,HĐH đất nước.

Ba là, trong một số công trình kể trên ở mức độ này hay mức độ khác,

cách tiếp cận này hay cách tiếp cận khác, một số tác giả, nhà nghiên cứu đã đềcập đến giải pháp phát triển nguồn lực con người Đây là những gợi mở có ýnghĩa nhất định để tác giả luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm pháttriển nguồn lựccon người trong quá trình CNH,HĐH ở Nghệ An hiện nay

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận án, trên cơ sở kế thừa nhữnggiá trị khoa học của các công trình trước đó, luận án tiếp tục đi sâu giải quyếtmột số vấn sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục làm sáng tỏ một số khái niệm, phạm trù có liên quan

đến đề tài luận án như: nguồn lực con người; phát triển nguồn lực con người;công nghiệp hóa, hiện đại hoá; tầm quan trọng, yêu cầu của việc phát triểnnguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước tahiện nay

Thứ hai, trên cơ sở lý luận chung về nguồn lực con người, phát triển

nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận

án tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay - dưới góc độtriết học

Thứ ba, trên cơ sở khảo sát thực trạng vấn đề phát triển nguồn lực con

người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An, tác giả

đề xuất quan điểm định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trònguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnhNghệ An hiện nay

Trang 33

Chương 2 PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI, CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỤC CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1.1 Nguồn lực con người và cấu trúc của nó

2.1.1.1 Khái niệm nguồn lực con người

Vào nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, do chịu ảnh hưởng của quan điểm

kỹ trị nên ở nhiều quốc gia vấn đề nguồn lực con người dường như khôngđược coi trọng một cách đúng mức Vào thời kỳ đó người ta thường căn cứvào nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính; căn cứ vào sự phong phú về tàinguyên thiên nhiên, tiềm lực kỹ thuật, khối lượng vốn tích lũy và đầu tư v.v

để đánh dấu tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia - dân tộc.Nhưng từ những năm 50 của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của các nền kinh tếmạnh ở các nước có ít tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực vật chất và tài chính

có hạn buộc người ta phải xem xét lại vai trò của nguồn lực con người trongphát triển kinh tế - xã hội Kinh nghiệm của Nhật Bản và các nước côngnghiệp mới nổi ở châu Á ( NICs) cho thấy vị trí quan trọng của nguồn lực conngười, của quản lý con người trong sản xuất, kinh doanh, của tri thức khoahọc, của công nghệ khi được áp dụng vào quá trình sản xuất xã hội

Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về “nguồn lực con người”.Điều đó phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề Nếu tiếp cận nguồn lực conngười dựa vào khả năng lao động thì nguồn lực con người là khả năng laođộng của xã hội, của toàn bộ những người có cơ thể phát triển bình thường, có

Trang 34

khả năng lao động Nếu tiếp cận nguồn lực con người dựa vào trạng thái hoạtđộng kinh tế của con người, thì nguồn lực con người là toàn bộ những ngườiđang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội Nhưng khi chúng tatiếp cận vấn đề này dựa trên khả năng lao động và giới hạn độ tuổi lao độngthì nguồn lực con người bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động,

có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng, nguồn lực con người là tổng thể cáctiềm năng lao động của một nước hay một địa phương tức là nguồn lao độngđược chuẩn bị ở các mức độ khác nhau), sẵn sàng tham gia vào một công việclao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nóichung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu laođộng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Ngoài ra ông cònđưa ra khái niệm nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượngcon người bao hàm cả thể chất và tinh thần sức khỏe và trí tuệ, năng lực vàphẩm chất Cùng với cách tiếp cận này, tác giả Đoàn Văn Khái quan niệm:

“Nguồn nhân lực là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chấtlượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự pháttriển xã hội" [66, tr.62]

Còn tác giả Lê Du Phong trong cuốn Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Nxb

Lý luận chính trị Hà Nội 2006 - quan niệm “nguồn lực con người đượchiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của conngười thể lực, trí lực, nhân cách và tính năng động của con người Tínhthống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thànhnguồn vốn con người [104, tr.14] v.v

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn lực con người được hiểu là toàn bộvốn người (bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở

Trang 35

hữu Ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh cácnguồn vốn vật chất khác như tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.

Không xem nguồn lực con người chỉ là “vốn người”, Liên Hợp quốc(LHQ) tiếp cận nguồn lực con người một cách rộng hơn, coi nguồn lực conngười là: tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sángtạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đấtnước

Trong khi đó Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) có quan niệm rộng hơn và

cụ thể hơn khi cho rằng, nguồn nhân lực (nguồn lực con người) của một quốcgia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực lànguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực conngười cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thểphát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao độngcủa xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhómdân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xãhội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổngthể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.Trên cở sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học, các kết luận trong một số báo cáo của các tổ chức quốc tế, có thể

rút ra kết luận: nguồn lực con người là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tính chuyên nghiệp và tác phong lao động của mỗi cá nhân tham gia vào quá trình lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.

Quan niệm nguồn lực con người như trên đây cho phép chúng ta tiếp cận

vấn đề từ hai góc độ: góc độ nguồn lực con người cá nhân và góc độ nguồn lực con người xã hội C.Mác đã từng nói đến hai cấp độ của tồn tại người: tồn

Trang 36

tại cá nhân và tồn tại xã hội Hai cấp độ này tuy có sự khác nhau nhưng lạithống nhất với nhau, không tách biệt nhau Theo C.Mác:

Sinh hoạt cá nhân và sinh hoạt loài của con người không phải là một

cái gì khác biệt, mặc dù phương thức tồn tại của sinh hoạt cá nhân tất nhiên là một biểu hiện hoặc là đặc thù hơn, hoặc là phổ biến hơn

của sinh hoạt loài, còn sinh hoạt loài là một sinh hoạt cá nhân hoặc

là đặc thù hơn, hoặc là phổ biến hơn [88, tr.171].

Trong luận án của mình, tác giả tiếp cận vấn đề từ góc độ nguồn lực conngười xã hội Đó là giai cấp, là tầng lớp, độ ngũ, nhóm, tập đoàn người v.v.Tất nhiên nguồn lực con người xã hội này phải được hình thành trên cơ sởnguồn lực con người cá nhân Bởi vì xã hội dưới bất cứ hình thức nào cũngchỉ là sự liên kết các cá nhân, những con người riêng lẻ lại với nhau mà thôi

2.1.1.2 Cấu trúc của nguồn lực con người

Cũng như quan niệm về nguồn lực con người, cấu trúc của nguồn lực

con người có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở mức độ khái quát nhất,tác giả luận án cho rằng cấu trúc nguồn lực con người bao gồm hai thành tố

cơ bản, đó là: số lượng và chất lượng nguồn lực con người

Về mặt số lượng: “nguồn lực con người” bao gồm những người trong độ

tuổi (của một quốc gia, một địa phương) có khả năng tham gia vào quá trìnhlao động sản xuất tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong một giaiđoạn lịch sử nhất định

So với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có nguồnnhân lực tương đối dồi dào, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh vàchiếm tỷ lệ cao (67%) trong dân số cả nước Cơ cấu dân số vàng xuất hiện ởnước ta từ năm 2010 và kết thúc khoảng 2040, đây là khoảng thời gian tươngđối dài để chúng ta phát huy lợi thế về nguồn lực lao động nhằm thúc đẩykinh tế - xã hội phát triển

Trang 37

Mặc dù đã được kiểm soát, nhưng dân số Việt Nam trong thời gian quavẫn tiếp tục tăng Năm 1990 dân số Việt Nam có 65,972 triệu người, mườinăm sau (năm 2000) con số đó là 78 triệu người Theo số liệu cuộc tổng điềutra dân số ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam vào thời điểm đó có 85.789.573người và con số đó hiện nay là hơn 90 triệu.

Về chất lượng: nói chất lượng nguồn lực con người là nói đến những yếu

tố về thể lực, trí lực, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, tính chuyênnghiệp, tác phong (hiện nay là tác phong công nghiệp), tính năng động xã hội

và sức sáng tạo, kinh nghiệm sống, tâm lý, đạo đức của nguồn lực conngười, cũng như truyền thống lịch sử và nền văn hoá mà con người được thụhưởng

Chất lượng nguồn lực con người thể hiện sự phong phú, sự sâu sắc củacác năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát vànhững phản ứng của con người trước mọi hoàn cảnh Đó còn là sự thể hiệncác kỹ năng thích ứng của con người - nhất là các kỹ năng mềm- trước nhữngbiến động của cuộc sống Những năng lực, kỹ năng đó được hình thành chủyếu trên cơ sở của trình độ học vấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ xãhội, sự tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xãhội, từ cộng đồng quốc gia tới khu vực, quốc tế

Tuy có thế mạnh về số lượng, nhưng Việt Nam đang vấp phải lực cản

lớn về chất lượng nguồn lực con người Đây là một trong những vấn đề lớn

đối với việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Trong tổng số hơn 90 triệu người thì số người sống ở nông thônchiếm khoảng 73% Trong đó gần 22 triệu người trong độ tuổi lao độngsống ở nông thôn trên phạm vi cả nước, có đến hơn 20 triệu người (tứcchiếm 98%) chưa qua đào tạo và không có chứng chỉ chuyên môn Người

có bằng sơ cấp, công nhân kỹ thuật chỉ chiếm 1,26%, trung cấp 0,87%, đại

Trang 38

học - cao đẳng là 0,22% Nhưng chỉ số này cho thấy chất lượng nguồn nhânlực ở nông thôn nước ta còn rất thấp Cho dù tỷ lệ lao động qua đào tạonăm 2010 đạt 40% tổng lao động đang làm việc, nhưng chủ yếu là ngoàinông nghiệp [113, tr.23].

Không chỉ đối với giai cấp nông dân, ngay cả giai cấp công nhân nước tasau gần 30 năm đổi mới số lượng công nhân không ngừng tăng lên, chiếmkhoảng 13,5% dân số cả nước và 26,4% lực lượng lao động xã hội, nhưngnhìn chung giai cấp công nhân Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về

số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng cácchuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phongcông nghiệp và kỷ luật lao động còn hạn chế; đa phần công nhân từ nông thôn

chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống [33, tr.45].

VN Economy, ngày 10-12-2012 (10:08/10/12) đưa tin, trong một khảosát nghiên cứu giữa Viện Khoa học Lao động và Xã hội với Tập đoànManpower tại 6.000 doanh nghiệp thuộc 9 lĩnh vực tại 9 tỉnh, thành ở ViệtNam, các doanh nghiệp đánh giá chất lượng lao động Việt Nam nằm trongnhóm 10% thấp nhất của khu vực Có 1/4 trong số 6.000 doanh nghiệp chorằng lao động thiếu hiểu biết về công nghệ và khả năng sáng tạo; 1/5 cho rằnglao động thiếu khả năng thích nghi với công nghệ mới; 1/3 doang nghiệptrong số đó cho rằng họ không tìm được lao động có khả năng mà họ cần.Hiện tại, tỉ lệ đóng góp từ nhân lực, trí tuệ, năng suất lao động, côngnghệ vào tăng trưởng ở nước ta chỉ chiếm 28% (trong lúc đó các nướcASEAN là 40% và các nước phát triển là 70%) Năm 2011 năng suất lao độngViệt Nam quy đổi ra tiền tuy đã được cải thiện, đạt 2.400 USD/năm, nhưngvẫn thấp hơn nhiều nước khác khu vực (con số đó năm 2009: Việt Nam là1.459 USD/năm; Philippin là 3.606 USD/năm; Hàn Quốc 38.253 USD/năm)

Trang 39

Theo số liệu của Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực

-Bộ giáo dục và Đào tạo, công nhân có trình độ cao đẳng - Đại học ở nước tachiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung [148]

Về đội ngũ trí thức Đảng ta quan niệm “Trí thức là những người laođộng trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, cónăng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra nhữngsản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [35, tr.82]

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập thế giới hiện nay, khi mà kinh

tế tri thức đóng vai trò quan trọng đối với tiến bộ xã hội, khi mà lợi thế cạnhtranh thuộc về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao thì vai trò củatri thức và đội ngũ trí thức càng trở nên quan trọng Tại Hội nghị Trung ươnglần thứ bảy, khóa X, Đảng ta xác định: “Trí thức Việt Nam là lực lượng laođộng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [35, tr.90].Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học

và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quantrọng, góp phần tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược pháttriển Chính vì xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, sốlượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiếnlên ngang tầm với trình độ trí thức trong khu vực và trên thế giới là một trongnhững nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) chất lượng nguồn nhân lựccủa Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12nước ở châu Á tham gia xếp hạng [141] Gần đây, tập đoàn Intel kiểm tra đầuvào với 2.000 sinh viên ngành công nghệ thông tin cho nhà máy lắp ráp vàkiểm định chíp tại khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cuốicùng chỉ

Trang 40

có 40 ứng viên đủ trình độ tiếng Anh để được tuyển, Intel xác nhận đây là kếtquả tệ nhất mà tập đoàn này gặp phải trong tất cả các nước mà họ đầu tư vào[94] Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của nguồn lực con người ViệtNam còn rất khiêm tốn so với nhiều nước trong khu vực Chính chất lượngnguồn lực con người chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xãhội là một trong những rào cản lớn đối với quá trình CNH,HĐH đất nước.

2.1.2 Phát triển nguồn lực con người và các yếu tố cơ bản tác động đến phát triển nguồn lực con người ở nước ta hiện nay

2.1.2.1 Khái niệm phát triển nguồn lực con người

Vấn đề phát triển con người đã được đề cập đến trong một số tác phẩm

của các nhà kinh điển mác-xít Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản,

C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng: Thay thế xã hội tư sản cũ, với nhữnggiai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó

sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do củatất cả mọi người Như vậy “thay thế xã hội tư sản cũ” bằng xã hội mới- xãhội cộng sản chủ nghĩa mà “giai đoạn thấp” hay “giai đoạn đầu” là xã hội

xã hội chủ nghĩa - là môi trường, là điều kiện cho sự phát triển tự do củacon người

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn lực conngười Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn lực con người là gia tăng giátrị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũngnhư kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động cónhững năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu tolớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội

Một số tác giả khác lại quan niệm, phát triển nguồn lực con người là quátrình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực,đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân

Ngày đăng: 14/07/2023, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w