Kể từ sau khủng hoảng kinh tế tài chính châu Á 1997, nền kinh tế Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã có nhiều tiến bộ khi các mục tiêu kinh tế xã hội do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm đã được triển khai thực hiện có hiệu quả. Lào là quốc gia được nhận định là có khả năng nắm bắt thời cơ, tạo nên những bước đột phá trong tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho một thời kỳ tăng tốc với quá trình hội nhập kinh tế nhanh chóng.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ sau khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997, nền kinh tế Cộng hoàdân chủ nhân dân Lào đã có nhiều tiến bộ khi các mục tiêu kinh tế - xã hội do các
kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm đã được triển khai thực hiện có hiệuquả Lào là quốc gia được nhận định là có khả năng nắm bắt thời cơ, tạo nên nhữngbước đột phá trong tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho một thời kỳ tăngtốc với quá trình hội nhập kinh tế nhanh chóng
Nền kinh tế Lào bắt đầu hội nhập dần vào kinh tế thế giới kể từ năm 1989.Tuy nhiên quá trình cơ cấu hoạt động thương mại chỉ thực sự diễn ra từ sau khi Làogia nhập ASEAN và AFTA vào tháng 7 năm 1997 Theo đó, Lào bắt đầu thực hiệnHiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung vào tháng 1 năm 1998 và hoàn thànhvào năm 2008 bằng việc giảm mức thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu từ các quốcgia ASEAN xuống còn 0-20% vào năm 2005 và xuống còn 0-5% vào năm 2008.Tháng 1 năm 2013, Lào đã chính thức trở thành thành viên thứ 158 của Tổ chứcthương mại thế giới WTO
Những cải cách về mặt thể chế khi Lào tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế
đã khiến khu vực tiền tệ và hệ thống ngân hàng tại CHDCND Lào có những bướcchuyển mình mạnh mẽ Quy mô của khu vực tiền tệ đã phát triển nhanh chóngnhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế kể từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 Hệthống ngân hàng được khuyến khích mở rộng với sự tham gia của các ngân hàngnước ngoài đã khiến số lượng các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng củaCHDCND Lào tăng lên đột biến Tín dụng đối với khu vực tư nhân lẫn Chính phủđều tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế khi mà thị trường chứngkhoán chưa phát triển Những vấn đề quan ngại khác như tình trạng đô la hóa phổkhoán CSTK lấn át CSTT, hệ thống ngân hàng mới chỉ phát triển về lượng nhưngtrình độ phát triển về chất còn thấp, nền kinh tế có những dấu hiệu phát triển khôngbền vững khi phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu tài nguyên, cán cân vãng lai, dựtrữ ngoại hối thấp Thực trạng này cùng với sự phát triển quá nhanh chóng của khuvực tiền tệ và hệ thống ngân hàng, mặc dù đem lại ích lợi cho tăng trưởng kinh tế,nhưng
Trang 2lại đặt ra những khó khăn nhất định đối với Chính phủ Lào trong điều hành kinh tếnói chung và với Ngân hàng nước CHDCND Lào trong điều hành CSTT nói riêng.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn của Lào cùng vớinhững biến động trong và ngoài nước đã đặt ra những yêu cầu, thuận lợi, cũng nhưnhững thách thức đối với công tác điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCNDLào Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng đã đề ra đường lối phát triển kinh tếtheo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phấn đấu đưa đất nước thoátkhỏi danh sách các nước kém phát triển trong năm 2020
Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có một công trình nghiêncứu khoa học độc lập, khách quan nhằm nhìn nhận, đánh giá thực trạng điều hànhCSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
từ đó có những giải pháp nhằm đổi mới công tác điều hành CSTT trong thời gian tới
Vì vậy, đề tài "Đổi mới điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" được lựa
chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Về khía cạnh lý luận
- Hệ thống hoá các lý luận về CSTT như khái niệm, công cụ và mục tiêu;
- Hệ thống hoá các lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hộinhập kinh tế quốc tế tới công tác điều hành CSTT của NHTW;
- Hệ thống hoá các lý luận về điều hành CSTT của NHTW trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Về khía cạnh thực tiễn
- Trình bày bối cảnh kinh tế và môi trường hoạt động của CSTT tại Lào;
- Phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng điều hành CSTT của Ngân hàngnước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế;
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện điều hành CSTT củaNgân hàng nước CHDCND Lào trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng được sử dụng trong nghiên cứu
Trang 3khoa học nói chung, luận án sử dụng các phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh,phân tích - tổng hợp, diễn dịch, quy nạp để xử lý số liệu là các chỉ tiêu kinh tế, tiền
tệ của CHDCND Lào Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng các bảng biểu và hình vẽ
để làm tăng thêm tính trực quan và sự thuyết phục
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
về CSTT, hội nhập kinh tế quốc tế, tác động của CSTT tới nền kinh tế trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, thực trạng điều hành CSTT của Ngân hàng nướcCHDCND Lào, căn cứ vào đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện điều hànhCSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Phạm vi nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu về thực trạng điều hành
CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay
5 Những đóng góp mới của luận án
Về mặt lý luận, luận án luận giải một cách hệ thống các vấn đề liên quan đến
CSTT và điều hành CSTT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt luận án
đã hệ thống lý luận về tác động của CSTT tới nền kinh tế trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các mô hình, luận án đã rút ra kếtluận về khả năng tác động của CSTT tới nền kinh tế trong điều kiện nền kinh tế mởcũng như các nhân tố ảnh hưởng tới công tác điều hành CSTT của NHTW
Về mặt thực tiễn, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc
về điều hành CSTT tại CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Luận án đã phản ánh trung thực và phân tích toàn diện sâu sắc thực trạng điều hànhCSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào Đặc biệt luận án đã phân tích chi tiếtthực trạng theo bốn giai đoạn cụ thể từ năm 1997 đến quý 2 năm 2002, từ quý 3năm 2002 đến năm 2005, từ năm 2006 đến 2010, và từ năm 2011 đến nay nhằm làm
rõ bối cảnh kinh tế vĩ mô, các biện pháp điều hành tương ứng và kết quả điều hànhCSTT theo từng giai đoạn Căn cứ vào những đánh giá về thành công và tồn tạitrong điều hành CSTT trong các giai đoạn trên cùng với định hướng điều hànhCSTT trong thời gian tới, luận án đã đề ra những giải pháp và kiến nghị phù hợp
Trang 4nhằm hoàn thiện điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 13 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Các nghiên cứu riêng rẽ về điều hành CSTT và hội nhập kinh tế quốc tế tạiLào không nhiều, đặc biệt nghiên cứu về công tác điều hành CSTT của Ngân hàngnước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập vào kinh tế quốc tế gần như chưađược các tác giả trong và ngoài nước tiếp cận Có thể trình bày một số nghiên cứu
cơ bản liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu của luận án như sau:
Khamkinh Phanthavong (2003), Đổi mới hệ thống ngân hàng nhà nước Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào trong nền kinh tế thị trường [10] Luận án đã phân tích,
hệ thống lý luận về ngân hàng từ quá trình ra đời và phát triển, vai trò của hệ thốngngân hàng với nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Kinh nghiệm củacác quốc gia trong quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng đã được tác giả tổng hợp
và phân tích nhằm vận dụng vào quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng củaCHDCND Lào Trên cơ sở đánh giá năng lực tổ chức bộ máy của Ngân hàng nướcCHDCND Lào, tác giả đã chỉ ra những hạn chế căn bản như thẩm quyền tronghoạch định CSTT quốc gia ở mức thấp, thiếu hệ thống pháp luật, quy định, quy chế
để quản lý, chưa có chính sách phát triển ngân hàng phù hợp, thiếu nguồn nhân lựcchất lượng cao Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu vào nghiên cứu công tác điều hànhCSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào một cách toàn diện trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế, một phần là do trong phạm vi khoảng thời gian nghiên cứu,nền kinh tế Lào chưa hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới
Mi Moua (2003), Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm góp phần thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại CHDCND Lào [15], đã phân tích thực trạng
hoạt động tín dụng ngân hàng và những tồn tại cần phải giải quyết Trên cơ sởnghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và khu vực, tác giả đã rút
ra bài học về tín dụng ngân hàng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Lào
Trang 6Luận án đã phân tích về thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng tại Lào gắn vớiquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để chỉ ra những thành công và tồn tại Trên cơ
sở đó, tác giả đã đề xuất kiến nghị tập trung đổi mới hệ thống thanh tra giám sát, đổimới chính sách cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt, cần tách tín dụngthương mại ra khỏi tín dụng chính sách để bảo đảm chất lượng các khoản tín dụng
và tạo điều kiện điều chỉnh cơ cấu lại tín dụng
Watanabe Shinichi (2006), Đô la hoá, kiều hối và chính sách tiền tệ tại
Campuchia, CHDCND Lào và Việt Nam [77], đã mô tả tình trạng đô la hoá tại ba
quốc gia láng giềng này và ảnh hưởng của nó tới hoạt động của hệ thống ngân hàng
và điều hành CSTT Nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2004, tác giả chỉ
ra hai quốc gia Campuchia và CHDCND Lào có mức độ đô la hoá cao khi tỷ trọngtiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán lên tới 60-70% Đây được cho là
hệ quả của cuộc khủng hoảng tài khoá sau khi CHDCND Lào thực hiện các biệnpháp tài khoá và tiền tệ mở rộng để giảm nhẹ tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệnăm 1997, dẫn tới tình trạng lạm phát cao, lòng tin vào nội tệ suy giảm và đồng nội
tệ bị mất giá mạnh Hệ luỵ của tình trạng đô la hoá phổ biến khiến cho NHTW củacác quốc gia này không thể kiểm soát được lượng cung ứng tiền tệ trong nền kinh tếhơn nữa, đồng thời mức độ độc lập trong điều hành chính sách lãi suất của NHTWcũng bị giảm xuống do mức lãi suất ngoại tệ trong nước phụ thuộc vào lãi suất ởnước ngoài Hiệu quả của CSTT vì thế mà bị giảm đi đáng kể Mặc dù tình trạng đô
la hoá đã giảm xuống trong giai đoạn gần đây, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổngphương tiện thanh toán giảm còn 42,5% vào năm 2012 nhưng vẫn ở mức cao so vớiViệt Nam, ở mức 11-12% Điều này là vì Ngân hàng nước CHDCND Lào chưatriển khai quyết liệt các giải pháp phù hợp và đồng bộ như Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam đã từng triển khai trong giai đoạn năm 2011 - 2013
Patricia và Alicia (2008), Đô la hoá và chống đô la hoá: hệ quả đối với
chính sách tiền tệ [70] Nghiên cứu này đã làm rõ khái niệm đô la hoá, xu hướng
đô la hoá hiện nay tại các quốc gia ở Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Isarel và Nga vàphân chia các quốc gia thành từng nhóm có tình trạng đô la hoá cao, trung bình,
và thấp Theo đó, Lào và Campuchia được xếp vào nhóm các quốc gia có tình
Trang 7trạng đô la hoá cao.
Phouphet Kyophilavong (2009), Đánh giá chính sách vĩ mô của Lào [22],
cho thấy Chính phủ CHDCND Lào đã theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hơn là mụctiêu ổn định vĩ mô nhằm nhanh chóng thoát khỏi nhóm các quốc gia kém phát triểnvào năm 2020 CSTT của Lào được điều hành bởi Ngân hàng nước CHDCND Làothông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp lẫn gián tiếp nhưng không có các mụctiêu và kênh truyền dẫn rõ ràng Cụ thể, Ngân hàng nước CHDCND Lào chủ yếudựa vào các công cụ trực tiếp, bao gồm kiểm soát lãi suất huy động và cho vay, trầntăng trưởng tín dụng trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước Chỉ tới năm 1999, nghiệp vụthị trường mở và dự trữ bắt buộc mới được đưa vào áp dụng Ngân hàng nướcCHDCND Lào đã điều hành CSTT với lượng tăng cung tiền hàng năm là mục tiêutrung gian của CSTT được xác định thông qua đẳng thức số lượng tiền tệ Các mụctiêu hoạt động bao gồm lượng tiền dự trữ và lãi suất ngắn hạn của các ngân hàngthương mại Công tác điều hành CSTT tại Lào có những khó khăn nhất định xuấtphát từ các thực trạng như Lào là một quốc gia có tình trạng đô la hoá cao, thời gianban hành chậm trễ và mức độ minh bạch trong quá trình xây dựng và thực hiệnCSTT không hiệu quả, hệ thống tài chính kém phát triển khiến cho quá trình thôngtin và truyền dẫn CSTT bị giảm hiệu quả, mức độ phát triển các công cụ điều hành
và thị trường tiền tệ liên ngân hàng khá hạn chế Thông qua nghiên cứu định lượng,tác giả đã chỉ ra giảm tỷ giá và mở rộng cung tiền không hề mang lại tăng trưởngkinh tế cho Lào, mà trái lại có ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng kinh tế vàchính sách ổn định kinh tế tốt hơn là chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Milan và Ekaterina (2010), Phát triển của Lào thông qua việc mở rộng nhanh chóng khu vực tài nguyên tự nhiên: Những thử thách và lựa chọn chính sách cho CHDCND Lào [17] Nghiên cứu cho thấy khu vực khai thác và xuất khẩu tài
nguyên đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Lào.Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào khu vực này trong thời gian dài nhưng lại thiếu chiếnlược phát triển bền vững trong dài hạn đã đặt ra những thách thức cho nền kinh tếLào Cụ thể, thu nhập dồi dào từ việc xuất khẩu tài nguyên đang có xu hướng được
sử dụng cho việc nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng thay vì được sử dụng để nhập khẩu
Trang 8thiết bị, máy móc Thực trạng "Căn bệnh Hà Lan - Dutch disease" này dẫn tới thâmhụt cán cân thương mại và các hệ luỵ khác như quá trình phân phối lao động vànguồn lực sang các khu vực kém hiệu quả hơn, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến cạnhtranh của hàng hoá xuất khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Ngoài ra,đồng Kip bị định giá thực cao cũng trở thành một trở ngại đối với tăng trưởng kinh
tế Trong bối cảnh nền kinh tế Lào ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực,thực trạng này đặt ra những thách thức cho điều hành chính sách vĩ mô như tạo sựnhất quán trong điều hành các chính sách ngoại thương, tỷ giá, tiền tệ, và tài khoánhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô phải được coi là ưu tiên hàng đầu
Phouphet Khamphounvong (2010), Giải pháp đổi mới hoạt động Ngân hàng
Trung ương Lào trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế [23], đã hệ thống hoá một số
vấn đề cơ bản về lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới về hoạt động củaNHTW trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả đã chỉ raNgân hàng nước CHDCND Lào chưa có một khuôn khổ điều hành CSTT rõ ràng và
ổn định với các mục tiêu của CSTT rõ ràng, chưa thiết lập được cơ chế truyền dẫntác động của CSTT tới các mục tiêu, chưa tính đến độ trễ và tác động kỳ vọng củacác quyết định điều hành, các công cụ CSTT còn đơn giản, chưa được hoàn thiện,chưa xác định rõ mục tiêu của nghiệp vụ thị trường mở là điều tiết lãi suất thịtrường liên ngân hàng hay vốn khả dụng trong từng thời kỳ… Cơ chế điều hành tỷgiá cũng được phân tích là chưa phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế dođồng Kip Lào không được định giá một cách hợp lý trong cơ chế tỷ giá thiếu tínhthị trường Tác giả đã đưa ra những giải pháp đổi mới nhằm nâng cao được vị thế,tầm vóc và năng lực hoạt động của Ngân hàng nước CHDCND Lào như nâng cao vịthế và tính độc lập tương đối của Ngân hàng nước CHDCND Lào, Ngân hàng nướcCHDCND hoạt động hướng tới khuôn khổ thông lệ và chuẩn mực quốc tế, xâydựng môi trường pháp luật và khuôn khổ thể chế hoàn chỉnh và đồng bộ, quản lý vàgiám sát hiệu quả hệ thống ngân hàng
Một nghiên cứu khác về kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách và tình hìnhthương mại quốc tế của Lào cũng bàn đến hoạt động điều hành CSTT củaCHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Nghiên cứu của Ngân hàng
Trang 9thế giới về Tăng trưởng vững chắc trong bối cảnh quan ngại về lạm phát [81] năm
2011 cho thấy xuất khẩu của Lào tăng mạnh trong năm 2011 nhờ diễn biến thuậnlợi của giá cả hàng hoá và nhu cầu trong khu vực đối với hàng xuất khẩu Mặc dùtốc độ gia tăng của nhập khẩu thấp hơn nhưng cán cân vãng lai vẫn tiếp tục xu thếthâm hụt do việc chuyển các khoản thu nhập về nước của các dự án lớn Đồng KipLào lên giá nhẹ so với đồng USD đã phần nào ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt độngngoại thương của Lào Trong khi đó, CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào có
xu hướng thu hẹp, đặc biệt là giảm dần những khoản cho vay trực tiếp đối với các
dự án của chính quyền địa phương cũng như giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng tưnhân Ngân hàng nước CHDCND Lào cũng đã ra định hướng giảm thiểu tăngtrưởng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu nên hệ thống NHTM cũng chủ động thực hiệncác biện pháp hạn chế tăng trưởng tín dụng như thời kỳ trước Ngoài ra, thanhkhoản của hệ thống ngân hàng sụt giảm do tỷ lệ cho vay trên huy động đã tăng từmức 55% vào năm 2008 lên mức 75% vào năm 2010 Tỷ lệ nợ xấu giảm từ mức3,7% vào tháng 6 năm 2010 xuống còn 3% vào cuối năm nhưng vẫn có quan ngại
về kết quả này khi tỷ lệ nợ xấu giảm có thể là do việc cấp tín dụng mới chứ khôngphải do chất lượng các khoản nợ xấu trước đây được phục hồi
Ngân hàng thế giới (2012), Duy trì đà tăng trưởng - giảm thiểu rủi ro và tái
thiết sâu sắc nền kinh tế [Error! Reference source not found.], cho thấy tỷ lệ lạm
phát của Lào đã được kiểm soát tốt CSTT đã góp phần tích cực khi Ngân hàngnước CHDCND Lào đã tăng giá trị phát hành tín phiếu lên gấp đôi, tương đương từmức 124 triệu USD lên 266 triệu USD vào cuối năm 2011 Tăng trưởng tín dụngnăm 2011 thấp hơn các năm trước nhưng vẫn ở mức cao so với tốc độ tăng trưởnghuy động vốn, khiến cho tỷ lệ tín dụng/tiền gửi tiếp tục tăng (81,4%), tạo áp lựcthanh khoản và đặt ra quan ngại về chất lượng tín dụng cho hệ thống ngân hàng.Tình hình đô la hoá có sự cải thiện nhẹ khi tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phươngtiện thanh toán giảm còn 45%
Somphao Phaysith (2012), Cầu tiền tại CHDCND Lào và một số khuyến nghị
chính sách [28], đã đánh giá thực trạng cầu tiền tại Lào thông qua sử dụng phương
pháp định tính và định lượng Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành trình bày
Trang 10lại hệ thống cơ sở lý thuyết về cầu tiền cũng như những nghiên cứu về cầu tiền trênthế giới Tình hình phát triển kinh tế, tiền tệ, hệ thống ngân hàng, CSTT và tìnhtrạng đô la hoá tại Lào đã được trình bày và phân tích kỹ lưỡng trong chương 2 củaluận án Điểm nổi bật về tình hình tín dụng là các khoản nợ quá hạn trong hệ thốngNgân hàng nước CHDCND Lào đã tăng lên đáng kể và tập trung chủ yếu tại cácngân hàng nội địa, xuất phát từ tình hình tài chính yếu kém và chất lượng thẩm địnhtín dụng Trong khi đó, tình trạng sử dụng ngoại tệ trong thanh toán của các doanhnghiệp và công chúng vẫn rất phổ biến, là hệ quả của thời kỳ lạm phát cao trước đây
và đặc điểm về địa lý và thương mại của CHDCND Lào Luận án đã xây dựng sáu
mô hình kinh tế lượng để đo lường các nhân tố tác động tới cầu tiền trong cả ngắnhạn lẫn dài hạn bao gồm thu nhập, tỷ giá, lãi suất, lạm phát trong giai đoạn từ năm
1993 tới 2010 Các hàm cầu tiền ổn định đưa đến kết luận về việc lựa chọn mục tiêutrung gian cho Ngân hàng nước CHDCND Lào và đưa ra khuyến nghị tăng cườngcông tác thanh tra giám sát nhằm bảo đảm sự an toàn cho hệ thống ngân hàng
PhongTiSouk Siphomthaviboun (2011), Hoàn thiện chính sách thương mại
quốc tế của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [24] Tác giả đã phân tích thực trạng
nền kinh tế Lào và các yếu tố ảnh hưởng tới nền kinh tế, quá trình thực hiện cáccam kết quốc tế Kinh nghiệm về hoàn thiện chính sách thương mại nhằm thúc đẩyhoạt động xuất nhập khẩu của Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam đã được phân tích
để rút ra bài học cho CHDCND Lào Thực trạng hoàn thiện chính sách thương mạiquốc tế của CHDCND Lào trong những năm đổi mới từ 1986 cho tới 2011 đã đượctrình bày trong chương số 2 của Luận án bao gồm đặc điểm thương mại quốc tế củaLào và hai sự kiện quan trọng là hội nhập với ASEAN và chuẩn bị gia nhập WTO.Trên cơ sở những đánh giá chung về chất lượng hoàn thiện chính sách thương mạiquốc tế của CHDCND Lào, tác giả đã đề ra các nguyên tắc, mục tiêu, định hướng
và yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế Một số giải pháp nổibật được đề xuất như gắn việc hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế với mụctiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hoàn thiện các văn bản quốc tế phải bảo đảm lợiích của các bên tham gia, tận dụng lợi thế của nước đi sau, tăng tính thống nhấttrong nhận thức về tự do hoá thương mại và bảo vệ mậu dịch
Trang 11Amkha Vongmeunka (2012), Hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế đối
ngoại của nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [1] Thứ nhất, luận án đã trình
bày tổng quan về kinh tế đối ngoại, cơ sở lý luận quản lý nhà nước về kinh tế đốingoại và kinh nghiệm của một số nước trong quản lý Nhà nước về kinh tế đốingoại của Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam để rút ra những bài học cho việcnghiên cứu và áp dụng tại CHDCND Lào Trong chương 2 của luận án, tác giả
đã khái quát quá trình hội nhập kinh tế và phát triển đối ngoại và thực trạng quản
lý nhà nước về kinh tế đối ngoại của CHDCND Lào Những tồn tại bao gồmchưa có đầy đủ và đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật cho hoạt động thực tiễn,chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế đối ngoại chưa cụ thể và triển khai cònchậm chạp Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức về kinh tế đối ngoại và quản lýnhà nước về kinh tế đối ngoại tại Lào chưa theo kịp xu hướng phát triển trongthực tiễn, trình độ cán bộ quản lý còn có sự chênh lệch so với trình độ của cácquốc gia đối tác, chưa có chế tài xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm tronghoạt động kinh tế đối ngoại, khiến cho công tác quản lý gặp khó khăn Trên cơ
sở đó, tác giả đã trình bày một hệ thống giải pháp bao gồ đổi mới nhận thức củacán bộ công chức nhân viên, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sáchquản lý nhà nước, hoàn thiện các quy hoạch về quản lý kinh tế đối ngoại, hoànthiện việc tổ chức thực hiện các công cụ quản lý vĩ mô nhằm khuyến khích cáchoạt động kinh tế đối ngoại…
Nhìn chung, những nghiên cứu trong nước về CSTT và hội nhập kinh tế quốc
tế tại CHDCND Lào là tương đối ít về số lượng Hơn nữa, các nghiên cứu này mớichủ yếu dừng lại ở mức độ tiếp cận riêng lẻ về điều hành CSTT, diễn biến các chỉtiêu tiền tệ, và hội nhập kinh tế quốc tế mà chưa có sự tổng hợp, đánh giá toàn diện
cả hai vấn đề này
1.2 NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là các luận án tiến
sĩ kinh tế về chính sách tiền tệ, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, và hội nhậpkinh tế quốc tế Có thể kể tới các nghiên cứu nổi bật như nghiên cứu của Nguyễn
Trang 12Kim Dung (2004), Nguyễn Văn Khách (2006), Bùi Duy Phú (2008), Nguyễn ThịKim Thanh (2008), Phạm Thị Thư (2010)…
Nguyễn Kim Dung (2004), Xác lập các điều kiện tiền đề của việc hoạch định
và điều hành CSTT ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
[4] Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề có tính chất lý luận về cơ sở tiền tệ vàđiều kiện tiền đề cho việc hoạch định và điều hành tiền tệ Trên cơ sở đánh giá thựctrạng hoạch định và điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và địnhhướng hội nhập kinh tế quốc tế, luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm xác lập cácđiều kiện tiền đề cho việc hoạch định, điều hành CSTT của trong tiến trình hội nhậpkinh tế khu vực
Chu Thị Hồng Minh (2005), Một số ý kiến trao đổi xung quanh thực trạng hệ
thống công cụ chính sách tiền tệ - Vấn đề tiếp tục đổi mới và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập [16] Tác giả đã nhận định trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa
phát triển, Ngân hàng Nhà nước chưa có điều kiện sử dụng các công cụ điều tiếttiền tệ gián tiếp để kiểm soát mức gia tăng cung tiền, việc sử dụng hạn mức tín dụng
là một biện pháp cần thiết Tuy nhiên, trước những bất cập của cơ chế trực tiếp này,Ngân hàng Nhà nước đã không còn sử dụng hạn mức tín dụng như một công cụthường xuyên trong điều hành CSTT Trên thực tế, từ năm 1999 cho tới nay, Ngânhàng Nhà nước đã đổi mới điều hành CSTT theo hướng chuyển đổi mạnh mẽ từ sửdụng công cụ trực tiếp sang sử dụng các công cụ gián tiếp, đặc biệt là từ khi Ngânhàng Nhà nước chính thức áp dụng nghiệp vụ thị trường mở vào tháng 7 năm 2000.Một số biện pháp được đề cập nhằm hoàn thiện các công cụ của CSTT bao gồm xâydựng cơ chế, quy chế hoạt động cho thị trường mở, điều hành linh hoạt và đồng bộgiữa lãi suất và tỷ giá, xây dựng hệ thống lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu có tínhđịnh hướng thị trường… Ngoài ra, tác giả nhấn mạnh việc Ngân hàng Nhà nước cầnsớm thực hiện các biện pháp cần thiết thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệnhằm nâng cao khả năng dự báo và điều chỉnh vốn khả dụng của hệ thống tổ chứctín dụng trong bối cảnh hội nhập kinh tế
Nguyễn Văn Khách (2006), Giải pháp đổi mới hoạt động ngân hàng nhà
nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [11], đã đi từ lý thuyết, kinh
nghiệm
Trang 13quốc tế, thực tiễn và đề xuất các giải pháp cho điều hành CSTT của Ngân hàng Nhànước Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Luận án này khái quát hoámột số vấn đề lý luận cơ bản về NHTW, điều hành CSTT trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế, đúc rút một số kinh nghiệm quốc tế về tổ chức, hoạt động NHTW.Tác giả đã phân tích vị thế, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ngân hàngNhà nước Việt Nam và rút ra một số hạn chế Các hạn chế này bao gồm: mô hình tổchức cồng kềnh, phân tán theo địa giới hành chính; tính độc lập và mức độ minhbạch thấp; hiệu lực và hiệu quả của các công cụ gián tiếp còn hạn chế; cơ chế điềuhành lãi suất và tỷ giá còn nhiều bất cập do chưa thiết lập được hệ thống lãi suất chủđạo và cơ chế tỷ giá thiếu linh hoạt; thị trường tiền tệ chưa phát triển; và hoạt độngthanh tra giám sát còn nhiều thiếu sót về khung pháp lý, mô hình hoạt động Trên cơ
sở những định hướng đổi mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tác giả đã trìnhbày bốn nhóm giải pháp về nâng cao vị trí và tính độc lập, tự chủ cho Ngân hàngNhà nước, đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy, đổi mới hoạt động điều hành và tăngcường sự phối hợp giữa CSTT và CSTK để thiết lập cơ sở cho đổi mới Ngân hàngNhà nước Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Nguyễn Thị Kim Thanh (2008), Hoàn thiện cơ chế truyền tải chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [30],
đã phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống mục tiêu, công cụ của CSTT và cơ chếtruyền tải CSTT đến nền kinh tế Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.Tác giả đã lập luận hoạt động thị trường mở là hoạt động mua, bán giấy tờ có giágiữa NHTW và các thành viên tham gia thị trường và nghiệp vụ swap thực chấtcũng là nghiệp vụ của thị trường mở Luận án đã phân tích các kênh truyền dẫn củaCSTT tại Việt Nam như kênh lãi suất, tỷ giá, và tín dụng và đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả các kênh truyền tải này trong giai đoạn kinh tế Việt Nam hộinhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới
Đoàn Phương Thảo (2010), Đổi mới hoạt động thị trường mở của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam [31], đã nghiên cứu thực trạng hoạt động thị trường mở của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đổi mới
Trang 14hoạt động này trong thời gian tới Tác giả đã đi từ tổng quan về NHTW, hoạt độngthị trường mở của NHTW và kinh nghiệm quốc tế cho tới phân tích thực trạng hoạtđộng thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Các nội dung được phântích bao gồm cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ chức, hàng hoá giao dịch, chủ thể tham gia,phương thức giao dịch, thực hiện… để đưa ra những nhận định như yêu cầu kiểmsoát lượng tiền cung ứng qua nghiệp vụ thị trường mở còn hạn chế, khả năng hỗ trợvốn khả dụng mới chỉ tập trung cho một số tổ chức tín dụng, tồn tại sự lúng túngtrong việc xử lý mối quan hệ giữa lãi suất nghiệp vụ thị trường mở và các loại lãisuất điều hành khác Tác giả nhận định nguyên nhân là do hệ thống văn bản pháp lýchưa hoàn thiện, sự phụ thuộc của CSTT vào CSTK, sự thiếu hụt các loại hàng hoátham gia vào thị trường… Từ xu hướng hoạt động của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam và xu hướng hoạt động nghiệp vụ thị trưởng mở ngày càng gia tăng, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp đổi mới hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động thịtrường mở như phát triển hàng hoá giao dịch đa dạng, tăng cường chất lượng côngtác dự báo vốn khả dụng, tăng cường công tác thanh tra, kiể soát, nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ…
Phạm Thị Thư (chủ nhiệm) (2010), Chính sách tiền tệ của Việt Nam sau khi
gia nhập tổ chức thương mại thế giới [18] Đề tài tập trung làm rõ tác động của quá
trình gia nhập WTO đối với phương thức điều hành CSTT ở Việt Nam; đánh giácông tác điều chỉnh CSTT sau khi Việt Nam gia nhập WTO của Ngân hàng Nhànước Việt Nam; trên cơ sở kinh nghiệm của một số nước và nêu lên các đề xuất, gợi
ý nhằm hoàn thiện cách thức điều hành và cải thiện hiệu quả của CSTT Trên cơ sởphân tích thực trạng của những điều chỉnh và thực thi CSTT của Việt Nam sau khigia nhập WTO, nhất là trong bối cảnh Việt Nam có lạm phát cao cùng lúc phải đốimặt với những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008, nhóm nghiêncứu đánh giá những tác động quan trong và chỉ ra những vấn đề hiện nay mà CSTTcần phải đối mặt
Mai Lan Hương (2010), Vai trò của Nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam [8] Tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về hội nhập kinh tế
quốc tế và vai trò của Nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phân
Trang 15tích những lý thuyết kinh tế chủ yếu và kinh nghiệm của các quốc gia Đông Á Trên
cơ sở phân tích những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mớikinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã trình bày những điều chỉnh trongnước để đáp ứng yêu cầu hội nhập như cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước,thừa nhận và khuyến khích khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế tưnhân, phát triển nền kinh tế theo định hướng thị trường, xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật kinh tế phù hợp với bối cảnh mới Trong chương 3, tác giả đã phântích những cơ hội và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi gia nhập WTO Một
số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với quá trình hộinhập kinh tế quốc tế được phân this bao gồm triển khai chủ trương đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ quốc tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế phù hợp với quyđịnh và thông lệ quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh cải cách sâu rộng kinh tế theo hướng thịtrường, tạo sự đột phá trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại,nâng cao năng lực cạnh tranh, giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế
Khuất Duy Tuấn (2012), Điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm
phát trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam [36] Trong luận án, tác giả
đã giải quyết những vấn đề cơ bản về lạm phát, điều hành CSTT để kiểm soát lạmphát, những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế chuyển đổi ảnh hưởng tới mục tiêukiểm soát lạm phát của CSTT… Kinh nghiệm của các NHTW các quốc gia trên thếgiới về kiềm soát lạm phát thông qua CSTT như Ba Lan, Trung Quốc, Malaysia,Hàn Quốc…cũng được luận án đề cập Diễn biến và nguyên nhân lạm phát đượctrình bày và phân tích là cơ sở để mô tả thực trạng và đánh giá kết quả điều hànhCSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong kiểm soát lạm phát Dựa trên một
số định hướng và quan điểm về kiểm soát lạm phát và điều hành CSTT, tác giả đãtrình bày các giải pháp đối với chính sách lãi suất, tỷ giá, hoàn thiện và phối hợphiệu quả các công cụ của CSTT, tăng cường chất lượng công tác dự báo tiền tệ vànhiều giải pháp bổ trợ khác
Đỗ Văn Độ (2012), Phát triển bền vững thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế [5] Nội dung của luận án xoay quanh
Trang 16thực trạng phát triển của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam từ khi ra đời vàphát triển với giai đoạn phân tích chính là từ năm 1999 tới nay Bên cạnh những kếtquả đạt được như các bộ phận cấu thành của thị trường đã đi vào hoạt động và pháttriển ở mức độ nhất định, chủng loại hàng hoá, doanh số giao dịch, số lượng thànhviên tham gia liên tục tăng, tăng cường mức độ liên kết giữa lãi suất của thị trườngliên ngân hàng và lãi suất thị trường, luận án đã chỉ ra được những tồn tại cần khắcphục Một số hạn chế nổi bật như hoạt động tái cấp vốn mới chỉ dừng lại ở mụcđích bổ sung nguồn vốn ngắn hạn và phương thức thanh toán trong khi các chứcnăng điều chỉnh điều kiện tiền tệ chưa được phát huy, doanh số giao dịch tăngnhưng chưa đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của các các thành viên tham gia thị trường.Tác giả đã trình bày một số giải pháp phát triển thị trường như nâng cao năng lựcquản lý và điều tiết của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cải thiện hoạt động và nângcao năng lực của các thành viên tham gia thị trường, bổ sung, hoàn thiện thể chếcho hoạt động thị trường liên ngân hàng và một số giải pháp, kiến nghị khác.
Đặng Thị Huyền Anh (2012), Tác động tỷ giá thực đến cán cân thương mại
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [2] Trong nội dung về lý luận
chung, tác giả đã trình bày tỷ giá hối đoái thực và tác động của nó lên cán cânthương mại trong sự ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế và trên cơ sở kinhnghiệm quốc tế của Trung Quốc và Thái Lan Trên cơ sở phân tích tiến trình hộikinh tế quốc tế của Việt Nam, chương 2 của luận án đã xác định mức độ ảnh hưởngcủa hội nhập kinh tế quốc tế tới hiệu quả tác động của tỷ giá thực tới cán cân thươngmại của Việt Nam Tác giả đã sử dụng mô hình Marshall-Lerner để kiểm chứng về
hệ số co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu đối với tỷ giá hối đoái Trên cơ sở đó kếthợp với quan điểm và định hướng của Đảng, Nhà nước về vấn đề hội nhập kinh tếquốc tế và phát triển hoạt động xuất nhập khẩu, các giải pháp nâng cao hiệu lực tácđộng của tỷ giá thực đã được trình bày như lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá phùhợp, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ trực tiếp lẫn gián tiếp điều tiết tỷ giá,phát triển thị trường ngoại hối và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng…
Chu Khánh Lân, Nguyễn Minh Phương (2012), Điều hành chính sách tiền tệ
tại Việt nam trong bối cảnh hiện nay - Thực trạng và giải pháp [13], đã phân tích
Trang 17thực trạng điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2004 tới
2012, đặc biệt tập trung vào giai đoạn hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế từ năm
2007 Hai tác giả đã chỉ ra dòng vốn đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam sau sựkiện gia nhập WTO đã tạo ra khó khăn cho công tác điều hành CSTT khi Ngânhàng Nhà nước không can thiệp trung hoà được lượng lớn VND tung ra thị trườngkhi mua vào lượng lớn ngoại tệ Hệ quả của CSTT nới lỏng liên tục là lạm phát tăngcao vào nửa đầu năm 2008 buộc Ngân hàng Nhà nước phải thực thi CSTT thắt chặtvới những biện pháp mang tính "sốc", ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định và an toànthanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng Không chỉ dừng ở đó, đề tài đã phântích được những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài tác động tới nền kinh tế Việt Namxuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế thế giới vào nửa cuối năm
2008 Hai tác giả đi đến kết luận là việc chịu ảnh hưởng của sự biến động tới nềnkinh tế trong nước khi hội nhập kinh tế quốc tế là khó tránh khỏi nhưng điều quantrọng hơn là phản ứng của CSTT lại những tác động đó là rất quan trọng Giải phápchính được đề tài đưa ra là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần ưu tiên mục tiêu ổnđịnh kinh tế vĩ mô và sử dụng linh hoạt các công cụ CSTT để đối phó với các cú sốctiêu cực từ bên ngoài, kiểm soát những ảnh hưởng phụ không tốt của những cú sốctích cực Bên cạnh đó, cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng lành mạnh, nâng caonăng lực tài chính và hoạt động là cần thiết để hệ thống tổ chức tín dụng có thểđứng vững trước các cú sốc ngày càng tăng nhanh về tần suất, phạm vi, và mức độảnh hưởng
Hoàng Thị Lan Hương (2013), Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam giai
đoạn 2010 - 2020 [7] Điểm nổi bật trong nghiên cứu là tác giả đã dành chọn một
chương để giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách tỷ giá trình bàycác nghiên cứu về lựa chọn chế độ tỷ giá, hiệu ứng tác động của tỷ giá tới dự trữngoại hối và bảng cân đối tiền tệ của NHTW, tác động của tỷ giá tới cán cân thươngmại… đi kèm với các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Kinhnghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá tại một số quốc gia châu Á như Trung Quốc,Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã được trình bày, phân tích để rút ra bàihọc kinh nghiệm Diễn biến chính sách tỷ giá của Việt Nam từ năm 1989 đã được
Trang 18trình bày qua bốn giai đoạn lớn và được kiểm định thông quan các mô hình kinh tếlượng về hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá và các nhân tố tác động, kiểm định hệ số
co giãn của cầu xuất nhập khẩu đối với tỷ giá Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựngcác phương án cho chính sách tỷ giá của Việt Nam và đưa ra các đề xuất với Ngânhàng Nhà nước Việt Nam nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá như lựa chọn chế độ tỷgiá cẩn trọng, không phá giá tiền tệ với mục đích cải thiện cán cân vãng lai, nớirộng biên độ tỷ giá, dừng việc hạ lãi suất huy động vốn nội tệ ngắn hạn…
Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Việt Nam (2012), Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối
với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam [38], đã phân tích những vấn đề cơ bản
về CSTT và khuôn khổ điều hành CSTT lạm phát mục tiêu trên phương diện lýthuyết và kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới Các tác giả đã phân tích cácmục tiêu và các công cụ của CSTT, cùng với cơ chế truyền tải trong giai đoạn từnăm 2000 đến 2010 Một số tồn tại được chỉ ra bao gồm chưa xác định rõ cơ chếtruyền dẫn các tác động của CSTT, hệ thống tiêu chí tiền tệ của Ngân hàng Nhànước chưa thực sự rõ ràng, khả năng điều tiết các điều kiện thị trường như cungtiền, lãi suất còn hạn chế, các công cụ điều hành CSTT chưa thực sự hoàn thiện,điều hành CSTT mang nhiều tính hành chính Một trong những nguyên nhân củacác tồn tại trên là việc hệ thống NHTM Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập cònhạn chế về khả năng quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ - tài sản có, chưa có sự phốihợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô, tình trạng đô la hoá hạn chế khả năng canthiệp vô hiệu của Ngân hàng Nhà nước, nguồn nhân lực và công nghệ còn nhữnghạn chế nhất định… Khi xem xét các điều kiện tiên quyết để đưa ra áp dụng lạmphát mục tiêu thành công, các tác giả đi đến kết luận thời điểm hiện nay (2012)chưa phải là thời điểm phù hợp để chuyển sang áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu
Để có thể áp dụng cơ chế này trong tương lai xa, Việt Nam cần phải xây dựng lộtrình cải cách thể chế và chuẩn bị các tiền đề cho việc áp dụng khuôn khổ điều hành(ban đầu có thể áp dụng cơ chế ngầm định hoặc một phần)…
Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu khác về CSTT, hoạt động của Ngân hàng
Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam như: Hà Huy Tuấn (2003), Cơ
sở lý luận và thực tiễn của quá trình hội nhập quốc tế về tài chính ở Việt Nam; Lê
Trang 19Văn Luyện (2003), Những giải pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng
Việt Nam trong điều kiện hội nhập với hệ thống tài chính, tiền tệ quốc tế; Dương
Thu Hương (2005), Hoàn thiện chính sách tiền tệ và giải pháp điều hành phối hợp
với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế giai đoạn 2000 - 2020; Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện mục tiêu, cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Phan Nữ Thanh Thuỷ (2007), Hoàn thiện chính sách tiền
tệ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế; Bùi Duy Phú (2008), Phân tích định lượng về tác động của chính sách tiền tệ tới một số nhân tố vĩ mô của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới…Nguyễn Thị Thu Hiền (2012), Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế.
Nhìn chung, các nghiên cứu này đã giải quyết được các vấn đề liên quan tớihoạt động điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động của hệthống ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trên nhiều mụctiêu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu khác nhau
1.3 NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ giữa các quốc giatrên thế giới trong mấy chục năm vừa qua đã khiến mối quan hệ giữa các quốc giatrở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết Điều này đặt ra một câu hỏi là liệu các NHTW có
bị mất khả năng điều hành CSTT một cách độc lập nhằm đạt được các mục tiêu củaCSTT của mình hay không Lý thuyết kinh tế từ lâu đã thừa nhận mối quan hệ cótác động qua lại giữa nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Mô hình Mundell-Fleming được phát triển từ những năm 1960 và 1970 cũng như các mô hình kinh tếcủa trường phái New Keynesian đã nghiên cứu những ảnh hưởng của các cú sốc củamột quốc gia này tới các quốc gia khác là đối tác thương mại của mình Các môhình này đều cho rằng cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi là đủ để hấp thụ những cú sốc
từ bên ngoài nhằm đảm bảo cho ổn định tài chính trong nước Tuy nhiên, trongnhững năm gần đây, khả năng điều hành CSTT một cách độc lập của các nền kinh
tế lớn nhất trên thế giới đã đứng trước nhiều nghi vấn khi tồn tại ý kiến cho rằng
Trang 20toàn cầu hoá đã khiến việc xác lập một mức lãi suất phù hợp vừa giúp thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế vừa kiềm chế lạm phát trở nên ngày càng khó khăn hơn.
Một cách khái quát nhất, hội nhập kinh tế tài chính quốc tế có thể làm phứctạp và thậm chí là hạn chế khả năng mà CSTT có thể đạt được mục tiêu của mìnhtheo rất nhiều cách và đã được rất nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu như Montot
và Vitale (2009), Woodford (2007), Devereux và Sutherland (2008) Các cách màhội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng tới CSTT bao gồm:
Thứ nhất, khi các quốc gia ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thì
thị trường tài chính, giá cả và các hoạt động kinh tế khác càng dễ bị ảnh hưởng bởicác cú sốc từ bên ngoài Ví dụ, hội nhập kinh tế quốc tế đã dẫn tới cạnh tranh giữacác quốc gia lớn hơn và giá cả linh hoạt hơn, từ đó làm giảm phạm vi mà cácNHTW có thể kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua gia tăng lạm phát và vì thếlàm giảm các mức lạm phát tối ưu (Rogoff (2004), Spiegel (2008)) Khi đó, các nhàhoạch định CSTT phải đối phó với nhiều loại diễn biến kinh tế quốc tế khác nhauhơn và gặp nhiều khó khăn hơn trong dự báo các biến số vĩ mô so với trước đây
Thứ hai, toàn cầu hoá có thể thay đổi các kênh truyền dẫn CSTT Ví dụ khi
thương mại quốc tế ngày càng trở nên quan trọng, CSTT có thể truyền dẫn qua kênh
tỷ giá hối đoái hiệu quả hơn so với qua kênh tác động lên tổng cầu
Thứ ba, sự phát triển mạnh mẽ của các thị trường tiền tệ và thị trường liên
ngân hàng trong những năm vừa qua đã khiến nhiều NHTW phải phát triển một loạtcác công cụ mới nhằm ổn định thị trường và kiểm soát thanh khoản theo một cáchtiếp cận mới là phải phối hợp quốc tế giữa các NHTW để thực hiện chức năngngười cho vay cuối cùng khi mà các định chế tài chính không chỉ thiếu hụt thanhkhoản bằng nội tệ mà hiện nay đang ngày càng phải đối mặt với rủi ro thiếu hụtthanh khoản ngoại tệ (Bernanke, 2008)
Một số các nghiên cứu cụ thể hơn về tác động của hội nhập kinh tế - tàichính quốc tế tới CSTT như: Kamin (2010) đã nghiên cứu về tác động tiềm tàngcủa hội nhập tài chính quốc tế tới CSTT Kết quả nghiên cứu của Kamin đã chỉ
ra rằng các NHTW của quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi có khả năng
Trang 21quyết định mức lãi suất ngắn hạn một cách độc lập và vì thế có ảnh hưởng rộnghơn tới các điều kiện về tài chính cũng như diễn biến kinh tế vĩ mô của quốc gia
đó Tuy nhiên, các điều kiện tài chính nội địa lại dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc
từ bên ngoài, gây khó khăn cho việc đưa ra các quyết định phù hợp của nhàhoạch định CSTT Hơn nữa, khủng hoảng tài chính thế giới đã khẳng định tầmquan trọng của việc thiết lập các kênh truyền dẫn các cú sốc về thanh khoản vàtín dụng giữa các quốc gia với nhau do các giao dịch tài chính hiện nay chủ yếuđược thực hiện bởi các loại tiền tệ mạnh như USD và EUR nên khả năng cungcấp thanh khoản và vai trò người cho vay cuối cùng của nhiều NHTW trở nên bịhạn chế Do vậy, những diễn biến trong hội nhập kinh tế tài chính quốc tế đã cótác động nhất định tới điều hành CSTT
Cooper và Little (2001) đã nghiên cứu về những ảnh hưởng của hội nhậpkinh tế quốc tế tới CSTT của Mỹ trong giai đoạn 1960-2000 Các tác giả đã đưa rabằng chứng chứng tỏ kinh tế Mỹ đã mở cửa hơn so với các nước khác trên thế giớitrong vòng bốn thập kỷ đó như các giao dịch thương mại và giao dịch vốn quốc tế
đã gia tăng đáng kể so với các giao dịch nội địa và những diễn biến trong nền kinh
tế quốc tế đã đặt ra những yêu cầu mới trong điều hành CSTT của Mỹ Cụ thể,ngay từ đầu giai đoạn nghiên cứu, các biện pháp nhằm kiểm soát dòng vốn đầu tưnước ngoài đã được bắt đầu áp dụng khi xuất hiện những quan ngại về vấn đề cáncân thanh toán của Mỹ Bên cạnh đó, trong giai đoạn này khi phải đối mặt với cáccuộc khủng hoảng dầu mỏ khiến giá cả tăng cao, Fed đã phải lựa chọn biện phápcân đối giữa mục tiêu ổn định giá cả và mức việc làm tối đa trong tình hình nếunhư không có hội nhập kinh tế thì có thể đã không xảy ra Một nguy cơ tiềm tàngnữa từ hội nhập kinh tế quốc tế với việc điều hành CSTT của Mỹ là tình trạngthâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài trong nhiều năm đã làm gia tăng mức nợ nướcngoài của Mỹ với các nước khác trên thế giới Hơn nữa trong bối cảnh ngày càngnhiều các quốc gia trở nên bị đô la hoá, Fed sẽ phải cân nhắc tới những quyết định
về CSTT của mình có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế thế giới nói chung và cácquốc gia này nói riêng do hậu quả của đô la hoá có thể dẫn tới việc phụ thuộc lẫnnhau giữa nền kinh tế Mỹ với nền kinh tế các quốc gia đó, làm giảm tính độc lập
Trang 22trong điều hành CSTT của Mỹ.
1.4 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ VỚI ĐỀ TÀI "ĐỔI MỚI ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ" CỦA NGHIÊN CỨU SINH SANTY PHONMEUANGLAO
Luận án "Đổi mới điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nước
CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" sẽ tập trung nghiên cứu
một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện các vấn đề từ lý luận tới thực trạng điềuhành CSTT, hội nhập kinh tế quốc tế; cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào trong giai đoạn đến 2015
Thứ nhất, luận án sẽ trình bày cơ sở lý luận về CSTT, điều hành CSTT với
việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng các công cụ, kênh truyền dẫn trong bối cảnh hộinhập kinh tế Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế tớihoạt động của NHTW và vấn đề liên quan đến tác động của CSTT tới nền kinh tếtrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc sử dụng mô hình IS - LM -
BP được phân tích kỹ lượng nhằm đưa ra kết luận về khả năng tác động của CSTTtrong từng điều kiện cụ thể trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, luận án sẽ mô tả khái quát tình hình kinh tế và tiền tệ của CHDCND
Lào làm cơ sở để phân tích một cách toàn diện và có hệ thống công tác điều hànhCSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào Quá trình tiếp cận được tiến hành mộtcách bài bản từ việc đánh giá tình hình phát triển về kinh tế, diễn biến tiền tệ và hệthống ngân hàng tại Lào với quy mô của khu vực tiền tệ phát triển mạnh, nền kinh
tế có mức độ đô la hoá cao và sự phát triển nhanh chóng của hệ thống NHTM tạiLào cũng như quá trình hội nhập kinh tế ngày một sâu hơn Qua đó, NCS dự địnhchỉ ra được những vấn đề mà Ngân hàng nước CHDCND Lào gặp phải trong việcthực hiện các biện pháp điều hành CSTT
Thứ ba, thực trạng điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCND Lào
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sẽ được trình bày trong 4 giai đoạn tươngứng từ năm 1997 cho tới nay với bối cảnh kinh tế vĩ mô cũng như mục tiêu đặt rađối với CSTT Trên cơ sở đó, luận án sẽ chỉ ra những thành công, hạn chế và nhữngnguyên nhân của các hạn chế trong công tác điều hành CSTT của Ngân hàng nước
Trang 23CHDCND Lào trong giai đoạn nghiên cứu.
Thứ tư, luận án trình bày kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Lào giai
đoạn 2011 - 2015 và định hướng điều hành CSTT của Ngân hàng nước CHDCNDLào Xuất phát từ đánh giá thực tiễn, luận án sẽ xây dựng một hệ thống bao gồm 5nhóm giải pháp cần thực thi để tăng cường hiệu quả CSTT trong bối cảnh hội nhậpkinh tế quốc tế như về lựa chọn mục tiêu, hoàn thiện công cụ CSTT, đặc biệt làcông cụ gián tiếp, lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết với tính linh hoạt ngàycàng tăng dần, giảm dần tình trạng đô la hoá, chủ động và linh hoạt điều hànhCSTT, tăng cường mức độ độc lập của NHTW, lành mạnh hoá hệ thống ngân hàngtrước đòi hỏi từ thực tiễn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ năm, luận án sẽ đề xuất một số kiến nghị liên quan tới đẩy mạnh phối
hợp giữa các chính sách kinh tế vĩ mô với sự tổ chức, điều hành của Chính phủ,thúc đẩy thị trường tài chính, hoạt động thương mại và tăng cường thông tin, tuyêntruyền chính sách nhằm hỗ trợ gián tiếp cho công tác điều hành CSTT của Ngânhàng nước CHDCND Lào
Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định luận án "Đổi mới điều hành chính
sách tiền tệ của Ngân hàng nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" của nghiên cứu sinh Santy Phonmeuanglao, thuộc chuyên
ngành quản lý kinh tế, mã số 62.34.01.01, không trùng lặp với các công trình khoahọc nào trong và ngoài nước CHDCND Lào đã công bố
Trang 24Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
2.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Hiện nay, trong văn bản pháp luật của NHTW các nước và các tài liệu nghiêncứu về CSTT thì thuật ngữ "Chính sách tiền tệ" được định nghĩa là một chính sách
vĩ mô của Chính phủ bên cạnh các chính sách vĩ mô khác như CSTK, chính sáchngoại thương…, trong đó mô tả các công cụ điều hành và các mục tiêu CSTT cùngvới CSTK là hai chính sách kinh tế vĩ mô chủ chốt được Chính phủ ở hầu hết cácquốc gia sử dụng để can thiệp vào nền kinh tế nhằm hướng đến các mục tiêu ổnđịnh và phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, chỉ có một số ít NHTW các nước đưa
ra định nghĩa về CSTT, cụ thể như sau:
NHTW Canada: CSTT là một nhóm các quyết định được thực hiện bởiChính phủ, thường đại diện bởi NHTW, liên quan tới lượng tiền lưu thông trongnền kinh tế [73, tr.19]
Cục Dự trữ liên bang Mỹ: CSTT là các hoạt động thực hiện bởi Cục Dự trữLiên bang Mỹ để tác động tới mức độ sẵn có và chi phí của tiền tệ và tín dụng nhằmthúc đẩy quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia [45]
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ởtầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổnđịnh giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công
cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra [26, tr.1]
Theo quan điểm của tác giả: CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô củaChính phủ được thực hiện bởi NHTW thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ
để tác động tới lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêukinh tế của quốc gia như bình ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm đầy
đủ và các mục tiêu khác
Trang 252.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
2.1.2.1 Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ
Duy trì giá cả ổn định
Lạm phát biến động thất thường và ở mức cao có tác động tiêu cực tới tăngtrưởng kinh tế và sự ổn định, phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu chính sáchkinh tế đã đưa ra một nhận định chung là duy trì giá cả ổn định, thể hiện bởi tốc độtăng giá chậm và ổn định, là mục tiêu hàng đầu của CSTT Nguyên nhân là khi giá
cả tăng cao và biến động bất thường sẽ gây ra sự mất ổn định trong nền kinh tế, ảnhhưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh, hành vi tiêu dùng và đầu tư, sẽ dẫn đếngiảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Kể cả khi lạm phát đã được dự báo trước thì nềnkinh tế phải dành các nguồn lực đáng ra có thể sử dụng vào sản xuất để đối phó vớilạm Đối với lạm phát không dự báo trước được, quá trình phân phối lại thu nhậpthực giữa người đi vay và người cho vay xảy ra, làm cho rủi ro đối với hai chủ thểnày tăng lên và ảnh hưởng tiêu cực tới việc lập kế hoạch tài chính trong dài hạn
Bên cạnh quan điểm về mục tiêu quan trọng nhất của CSTT là duy trì mứcgiá cả ổn định, các nhà thực thi và nghiên cứu chính sách kinh tế còn đưa ra nămmục tiêu khác bao gồm: (1) duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên - công ăn việclàm cao, (2) thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, (3) ổn định thị trường tài chính, (4) ổnđịnh lãi suất, và (5) duy trì sự ổn định của thị trường ngoại hối
(1) Duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên có nghĩa là nền kinh tế chỉ có thất nghiệpchuyển đổi và thất nghiệp cơ cấu mà không có thất nghiệp chu kỳ Tuy nhiên, CSTTthường không thể tác động nhiều vào việc giảm hai loại thất nghiệp này vì hai loạithất nghiệp này luôn tồn tại ở một mức độ nhất định trong nền kinh tế Do vậy, mụctiêu của CSTT là hạn chế tối đa hiện tượng thất nghiệp chu kỳ thường xảy ra trongcác đợt suy thoái kinh tế khi người lao động mất việc làm và không thể tìm đượcviệc làm mới
(2) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì mức công ăn việc làm cao
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi vì doanh nghiệp có xu hướng đầu tư nâng caonăng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp
Trang 26Tuy nhiên, có những tranh luận nhất định về vai trò của CSTT trong việc thúc đẩytăng trưởng kinh tế như quan điểm của Keynes về sự thiếu hiệu quả của CSTT trongkhôi phục lại tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái.CSTT thường được cho là tập trung vào mục tiêu ổn định giá cả trong khi CSTK tậptrung vào mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [17].
(3) Duy trì sự ổn định của thị trường tài chính
Khi thị trường tài chính rơi vào tình trạng bất ổn, doanh nghiệp và người tiêudùng cần vốn không thể tiếp cận được nguồn vốn từ các chủ thể thặng dư vốn, điềunày dẫn tới tình trạng sản xuất kinh doanh bị đình đốn và nhu cầu tiêu dùng bị giảmsút, tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và kéo theocác bất ổn xã hội khác Như vậy, mục tiêu của NHTW là phải thúc đẩy sự phát triểncũng như bảo đảm mức độ an toàn của hệ thống tài chính thông qua các hoạt động
hỗ trợ thanh khoản, thanh tra, giám sát để phát hiện rủi ro và thực thi các biện phápcan thiệp kịp thời và hợp lý Ví dụ, NHTW cần thực hiện vai trò là người cho vaycuối cùng trong trường hợp các ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản trầmtrọng
(4) Ổn định lãi suất thị trường
Lãi suất biến động mạnh sẽ gây ra tính không chắc chắn trong nền kinh tế vàlàm giảm nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình khi họ cầnphải vay mượn Lãi suất biến động cao cũng khiến cho các trung gian tài chính gặpkhó khăn trong việc quản trị rủi ro này Ví dụ, lãi suất tăng lên sẽ làm giảm giá trịcác tài sản có và tăng giá trị các tài sản nợ trên bảng cân đối kế toán của tổ chức tàichính, dẫn tới sự giảm xuống của vốn chủ sở hữu, thậm chí đe dọa sự tồn tại củachính (nhiều hiệp hội tiết kiệm và cho vay và các ngân hàng tại Mỹ đã gặp nhiềukhó khăn nghiêm trọng trong những năm 1980 và 1990 do sự biến động liên tục củalãi suất) [66]
(5) Duy trì sự ổn định của thị trường ngoại hối
Khi các quốc gia ngày càng hội nhập vào kinh tế thế giới, các giao dịch hànghoá và tài chính trở nên phổ biến thì tầm quan trọng của thị trường ngoại hối đãđược các NHTW chú ý hơn bên cạnh các mục tiêu khác của CSTT Sự sụp đổ của
hệ thống Bretton Woods và tiếp theo đó là các cuộc khủng hoảng tiền tệ tại Mexico(1994), châu Á (1997 - 1998), Nga (1998) và Arghentina (2000)… đã chỉ ra tầm
Trang 27quan trọng của phối hợp giữa điều hành CSTT và CSTK trong việc tạo sự ổn địnhgiá trị của đồng nội tệ và thúc đẩy hoạt động ngoại thương.
Trong dài hạn, mục tiêu ổn định giá cả và các mục tiêu khác của CSTT lànhất quán vì giá cả ổn định thúc đẩy kinh tế phát triển và bảo đảm lãi suất và thịtrường tài chính ổn định Tuy nhiên, trong ngắn hạn mục tiêu ổn định giá thườngmâu thuẫn với các mục tiêu mức công ăn việc làm cao và duy trì lãi suất ổn định.Chính vì lý do này, NHTW nhiều quốc gia đã lựa chọn ổn định giá cả là mục tiêuhàng đầu và dài hạn Đạo luật Hệ thống các NHTW Châu Âu và NHTW Châu Âuquy định "mục tiêu hàng đầu của ESCB - European System of Central Banks là duytrì giá cả ổn định Không phương hại đến mục tiêu giá cả ổn định, CSTT sẽ hỗ trợcác chính sách kinh tế của Liên minh với mục tiêu đóng góp cho sự đạt được các
mục tiêu của Liên minh…" [66] trong đó các mục tiêu của Liên minh bao gồm duy
trì mức công ăn việc làm cao cùng với tăng trưởng bền vững không đi kèm lạmphát Trong Đạo luật NHTW Anh 1998, điều 10 cũng quy định "Liên quan đếnCSTT, các mục tiêu của NHTW Anh là (a) duy trì giá cả ổn định, và (b) theo sau
đó, hỗ trợ mục tiêu kinh tế… bao gồm mục tiêu tăng trưởng và việc làm" [40]
Việc NHTW duy trì lạm phát ổn định ở mức thấp sẽ có tác động tích cực đếntăng trưởng kinh tế nên ổn định giá cả đã trở thành mục tiêu hàng đầu của NHTWnhiều quốc gia trong dài hạn Tuy nhiên, thực hiện CSTT với mục tiêu duy trì lạmphát ở mức thấp liên tục trong ngắn hạn sẽ dẫn tới khả năng sản lượng của nền kinh
tế thường xuyên biến động Trong ngắn hạn, NHTW có thể hạn chế mức biến độngtrong sản lượng của nền kinh tế bằng việc cho phép lạm phát chệch ra khỏi mục tiêutrong ngắn hạn, bảo đảm vẫn cam kết duy trì mức lạm phát thấp trong trung và dàihạn Mặc dù vậy, định hướng này của NHTW thường dẫn tới tình huống tập trungtheo đuổi các mục tiêu ngắn hạn và bỏ rơi mục tiêu dài hạn, hay còn gọi là vấn đềkhông nhất quán thời gian Vấn đề này chỉ ra việc điều hành CSTT không nhất quán
có thể dễ dàng gây ra lạm phát cao trong trường hợp NHTW theo đuổi cùng một lúchai mục tiêu trong ngắn hạn là duy trì lạm phát ở mức mục tiêu và tỷ lệ thất nghiệp
ở mức tự nhiên Do đó, một số NHTW trên thế giới đã lựa chọn duy trì giá cả ổnđịnh là mục tiêu trong cả ngắn hạn và dài hạn, không quan tâm tới sự biến độngtrong sản lượng của nền kinh tế
Trang 282.1.2.2 Mục tiêu hoạt động và mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ
NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức tới các mục tiêu cuốicùng của nền kinh tế vì các tác động từ việc sử dụng công cụ CSTT tới các mục tiêucuối cùng luôn cần có thời gian để phát huy tác dụng, cũng như đôi khi khó kiểmsoát được do còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác Nhằm khắc phục hạn chếnày, NHTW thường xác định các mục tiêu hoạt động và mục tiêu trung gian với vaitrò như là những bước trung gian trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng [19]
Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ
Mục tiêu hoạt động của CSTT là những biến số kinh tế mà NHTW có thể sửdụng các công cụ CSTT để kiểm soát hàng ngày Mục tiêu hoạt động phải bảo đảm
là có thể đo lường được; có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ củaCSTT, có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với mục tiêu trung gian được NHTW lựachọn [19] Trên thế giới, lượng tiền cơ sở, dự trữ của các NHTM tại NHTW, vàmức lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn là các mục tiêu hoạt động được NHTW lựachọn Các mục tiêu hoạt động của các NHTW được chia thành những loại chínhnhư sau:
Một hay nhiều mục tiêu hoạt động: NHTW Nhật lại sử dụng hai mục tiêuhoạt động trong khi Cục dự trữ Liên bang Mỹ xác định lãi suất vốn liên bang là mụctiêu hoạt động duy nhất của mình
Mục tiêu hoạt động rõ ràng và mục tiêu hoạt động ngầm: Cục dự trữ Liênbang Mỹ sử dụng lãi suất vốn liên bang là mục tiêu hoạt động rõ ràng trong khiNHTW Châu Âu lại không thể hiện một mục tiêu hoạt động rõ ràng NHTW Nhậtxác định hai mục tiêu rõ ràng của mình là dự trữ vượt mức và lãi suất ngắn hạn
Mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ
Một mục tiêu trung gian là một biến số kinh tế mà NHTW có thể kiểm soátsau một độ trễ thời gian hợp lý, với một độ chính xác tương đối, và có mối quan hệtương đối ổn định và chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng của CSTT Bằng việc theo dõinhững biến số này, NHTW có thể quyết định liệu những chính sách của mình có đạthiệu quả như mong đợi hay không và điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết
Những mục tiêu trung gian điển hình của CSTT là tổng lượng tiền như M1,M2, hoặc M3, dư nợ tín dụng, hoặc lãi suất trung và dài hạn Tuy nhiên, những biến
Trang 29số này thể hiện một số hạn chế như những thay đổi bất thường trong lượng cungtiền và dư nợ tín dụng không cho biết liệu NHTW có nên can thiệp hay không và do
đó không thể hiện tính "mục tiêu" của những biến số này Các nghiên cứu thựcnghiệm đã cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa lãi suất dài hạn và các mục tiêu cuốicùng là sản lượng thực tế và lạm phát, tuy nhiên mối quan hệ này lại không ổn định
và yếu và không thể hiện một tín hiệu cụ thể nào về nền kinh tế trong tương lai
2.1.3 Công cụ của chính sách tiền tệ
Thông qua sử dụng các công cụ CSTT, NHTW có thể tác động trực tiếphoặc gián tiếp tới mục tiêu hoạt động, qua đó tác động tới các mục tiêu trung vàsau đó là các mục tiêu cuối cùng của CSTT Về cơ bản, NHTW sử dụng ba loạicông cụ, đó là nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, và dự trữ bắtbuộc Những công cụ này có nhiều biến đổi qua thời gian và trong những bốicảnh kinh tế khác nhau được sử dụng, phối hợp với nhau theo một định hướng,chủ đích nhất định của người làm chính sách Trong thực tế, các công cụ nàyđược vận dụng linh hoạt thành các công cụ như lãi suất NHTW trả cho các khoản
dự trữ bắt buộc và vượt mức, lãi suất tái chiết khấu, tín phiếu NHTW và lãi suấttín phiếu Kho bạc…
2.1.3.1 Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW thực hiện mua, bán ngắn hạn cácloại giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ như tín phiếu NHTW, tín phiếu Kho bạc,trái phiếu Chính phủ, và một số loại giấy tờ đủ tiêu chuẩn do NHTW quy định,nhằm tác động tới lượng vốn khả dụng của các tổ chức tài chính cũng như ảnhhưởng tới chi phí vốn của các tổ chức này Nghiệp vụ này có tác động đến khốilượng dự trữ của các NHTM, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng củacác NHTM và làm thay đổi khối lượng tiền tệ cung ứng trên thị trường Ngoài ra,lãi suất đấu thầu các chứng khoán sử dụng trong công cụ nghiệp vụ thị trường mởcòn ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất kinh doanh củacác NHTM, và ảnh hưởng tới các hành vi trong nền kinh tế
Các giấy tờ có giá được sử dụng trên thị trường mở là: tín phiếu Kho bạc, tráiphiếu Chính phủ, thương phiếu Các thành viên tham gia thị trường mở là cácNHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, và các doanh nghiệp đáp ứng đầy đủcác tiêu chuẩn để được tham gia thị trường mở
Trang 30Ưu điểm: Nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ linh hoạt, chính xác và cótác động tức thì đến lượng vốn khả dụng của các NHTM NHTW có được sự linhhoạt trong điều tiết lượng tiền cung ứng ở các mức độ khác nhau NHTW có thể chủđộng tiến hành mà không phải lệ thuộc vào nhu cầu của các NHTM Do vậy, nghiệp
vụ thị trường mở được sử dụng nhiều nhất trong các công cụ của CSTT Ngoài ra,NHTW có thể thay đổi định hướng điều hành, hay sửa chữa những sai sót trongđiều hành CSTT qua nghiệp vụ thị trường mở khá dễ dàng
Nhược điểm: Để công cụ này hoạt động có hiệu quả đòi hỏi sự phát triển nhấtđịnh của thị trường tiền tệ và thị trường tài chính thứ cấp Bên cạnh đó, hầu hết tiềntrong lưu thông phải nằm trong tài khoản của các NHTM, phải có sự phát triển caocủa cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt Các giấy tờ có giá cũng cần có khốilượng giao dịch lớn và đa dạng về chủng loại để làm tăng tính thanh khoản và hiệuquả tác động của CSTT thông qua nghiệp vụ thị trường mở Ngoài ra, NHTW phải
có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệthống NHTM
2.1.3.2.Chính sách chiết khấu
Công cụ chiết khấu là công cụ của NHTW dùng để cho vay tái cấp vốn chocác NHTM thông qua cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho cácNHTM Khi NHTW cho các NHTM vay để kinh doanh làm tăng thêm tiền dự trữcho hệ thống ngân hàng, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung ứng NHTW kiểmsoát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cả khoản vay (lãi suất cho vaytái chiết khấu) và các tài sản tài chính có thể mang ra để giao dịch với NHTW
Ưu điểm: NHTW có thể sử dụng công cụ chiết khấu để thực hiện chức năngngười cho vay cuối cùng Chính sách chiết khấu rất hiệu quả để tăng dự trữ của hệthống trong khủng hoảng tài chính vì tiền được bơm ngay lập tức đến các NHTMnào đang cần vốn nhất Ngoài ra, công cụ lãi suất chiết khấu cũng có vai trò thôngbáo về định hướng điều hành CSTT của NHTW tới các chủ thể trong nền kinh tế
Nhược điểm: NHTW không hoàn toàn kiểm soát được tác động của công cụnày tới khối lượng tiền tệ cung ứng trong nền kinh tế bởi vì các NHTM mới làngười quyết định việc sử dụng công cụ này (khi cần vốn mới tham gia giao dịch)
2.1.3.3 Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà các NHTM phải dựtrữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHTW Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được xác địnhbằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian
Trang 31nào đó Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi,vào quy mô và tính chất hoạt động của NHTM Điều chỉnh dự trữ bắt buộc có tácđộng trực tiếp vào lượng tiền cơ sở và từ đó tới lượng cung tiền.
Ưu điểm: Dự trữ bắt buộc là công cụ tạo ra sự chủ động cao nhất cho NHTWtrong số các công cụ CSTT và có tác động mạnh nhất khi một sự thay đổi nhỏ trong
tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể ảnh hưởng rất lớn tới lượng tiền cung ứng
Nhược điểm: NHTW gặp khó khăn trong sử dụng công cụ này khi muốn thayđổi lượng cung tiền ở mức độ nhỏ hoặc vừa phải do ảnh hưởng của việc điều chỉnhnhỏ trong dự trữ bắt buộc có thể gây ra ảnh hưởng tới tới các mục tiêu hoạt động vàtrung gian Ngoài ra, việc thường xuyên thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tạo ra sự biếnđộng lớn trong dự trữ của hệ thống NHTM, có thể gây ra rủi ro thanh khoản cho các
tổ chức này Công cụ này còn có độ trễ về mặt thời gian nên một sự gia tăng haygiảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đòi hỏi NHTW phải nghiên cứu trước sự chịu đựng củacác NHTM, cũng cần phải để thời gian cho các NHTM đủ để tăng khoản dự trữ lênmức bắt buộc mới
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.2.1 Những vấn đề cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Thuật ngữ "hội nhập quốc tế" trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếngnước ngoài (tiếng Anh) là "international integration", có nghĩa là "liên kết quốc tế".Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động đạt đến một trình độ cao nhất định,tốc độ phát triển nhanh của khoa học - kĩ thuật diễn ra nhanh chóng, quy mô và tốc
độ của quá trình hội nhập quốc tế được tạo điều kiện để diễn ra nhanh chóng hơn.Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế,quốc phòng - an ninh, đến các lĩnh vực khác Mặc dù hội nhập quốc tế trên cáclĩnh vực này có mối liên hệ mật thiết, đan xen, và tác động qua lại lẫn nhau nhưngthực tiễn trên thế giới cho thấy, kinh tế chính là lĩnh vực tiên quyết tạo nên sự ra đời
của quá trình hội nhập.Như vậy, có thể hiểu "hội nhập quốc tế là quá trình các nước tiến hành cáchoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mụctiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổcác định chế hoặc tổ chức quốc tế" [32]
Trang 32Hay "hội nhập kinh tế quốc tế là một trình độ cao của hợp tác kinh tế quốc tế,
là quá trình một nước tham gia vào một tổ chức chung, một trào lưu chung của quốc
tế, biến mỗi quốc gia trở thành một bộ phận trong một tổng thể" [25]
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình hội nhập quốc tế trong đó có sự gắn kết,chia sẻ các giá trị và tuân thủ các định chế với nhau trên phương diện kinh tế Hộinhập kinh tế là một nước gia nhập, trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế.Các thành viên tham gia hội nhập cam kết hoạt động theo những nguyên tắc thoảthuận và các thông lệ, chuẩn mực chung [3]
Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế chỉ được hiểu đơn thuần lànhững hoạt động giảm thuế, mở rộng thị trường Nhưng ngày nay, hội nhập kinh tếquốc tế được định nghĩa rộng hơn, là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vàocác tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa cácnước thành viên có sự rằng buộc theo những quy định chung của khối Hội nhậpkinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc, một là gắn nền kinh tế vàthị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới, và hai là gia nhập và gópphần xây dựng các thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau Bản chất của nó là sự
mở cửa nền kinh tế, tham gia các định chế kinh tế - tài chính quốc tế, thực hiện tự
do hoá, thuận lợi hoá thương mại, đầu tư trên hầu hết các lĩnh vực, và kích thích cácyếu tố, điều kiện trong nước để phát triển kinh tế
2.2.1.2 Phân loại hội nhập kinh tế quốc tế
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế theonhiều hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực,liên khu vực, và toàn cầu Trên cơ sở đó, hội nhập kinh tế quốc tế được chia thànhbốn mức độ khác nhau bao gồm: (1) đơn phương, (2) song phương, (3) khu vực,liên khu vực, và (4) đa phương
(1) Hội nhập kinh tế quốc tế đơn phương: các nước chủ động, tự nguyện bỏ
bớt những quy định gây cản trở đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, tự giảmhàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá xuất- nhập khẩu để tự do hoá
và mở cửa nền kinh tế quốc gia
Trang 33(2) Hội nhập kinh tế quốc tế song phương: hội nhập kinh tế giữa hai nền kinh
tế Đây là hình thức mà một số vùng của hai hay một số nước khác nhau gần gũi vềđịa lý thực hiện một số liên kết kinh tế hay kết nối cơ sở hạ tầng nhằm phát huy sự
bổ trợ lẫn nhau về nguồn lực của các vùng này để phát triển kinh tế Ví dụ: Tamgiác Phát triển SIJORI (gồm Singapore + tỉnh Riau của Indonesia + bang Johor củaMalaysia), Tam Giác Phát triển Việt Nam-Lào-Cămpuchia
(3) Hội nhập kinh tế quốc tế khu vực, liên khu vực: một nhóm các nền kinh tế
liên kết với nhau Ví dụ như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Liên minhchâu Âu (EU), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA),… hay giữa các nướcthuộc hai khu vực địa lý khác nhau, như hợp tác Á-Âu ASEM, Khu vực Mậu dịch
tự do EU-ASEA
(4) Hội nhập kinh tế đa phương: tham gia vào hoạt động kinh tế trên quy mô
toàn thế giới với khuôn khổ WTO là một ví dụ điển hình
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể xét đến năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao,bao gồm: (1) khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area); (2) liên minh thuế quan(Custom Union); (3) thị trường chung (Common Market); (4) liên minh tiền tệ(Monetary Union), và (5) liên minh kinh tế (Economic Union),
(1) Khu vực mậu dịch tự do: Đặc trưng cơ bản của khu vực mậu dịch tự do là
những nước tham gia khu vực mậu dịch tự do thực hiện bãi bỏ thuế quan và hàngrào phi thuế quan cho tất cả hoặc gần như tất cả hàng hóa của nhau Tuy nhiên cóhạn chế về định lượng trong thương mại hàng hoá nội khối, đồng thời không cómức thuế quan chung áp dụng cho những nước ngoài khối, các thành viên vẫn duytrì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước này Trên thế giới hiện nay có rấtnhiều khu vực mậu dịch tự do, như Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA),khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do Trung Mỹ,Hiệp hội thương mại tự do Mỹ La tinh (LAFTA)
(2) Liên minh thuế quan: Liên minh thuế quan là mô hình liên kết kinh tế
trong đó các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mạinội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bênngoài khối Nói cách khác, liên minh thuế quan là một khu vực thương mại tự dogiữa các nước thành viên cộng với thuế quan thống nhất của các nước thành viênđối với hàng hoá từ ngoài khu vực Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép
Trang 34tránh được những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, tuy nhiên lại làm nảy sinhnhững khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên Một số ví dụđiển hình cho loại hình liên kết này là Hiệp định chung về thương mại và thuế quan(GATT), Nhóm ANDEAN (Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru) và Liên minh thuếquan Nga-Belarus-Kazakhstan…
(3) Thị trường chung: Thị trường chung là một trong những mô hình của liên
kết kinh tế quốc tế mà trong đó có đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế vàliên minh thuế quan, cộng thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuấtgiữa các nước thành viên Vì thế, thị trường chung không có những cản trở vềthương mại giữa các nước trong cộng đồng Các nước thoả thuận xây dựng chínhsách buôn bán chung với các nước ngoài cộng đồng, đồng thời phối hợp thực hiệncác chính sách về tiền tệ, tài khoá và việc làm Đây là hình thức được phát triển ởmức độ cao và đều phải trải qua một quá trình dài Những thoả thuận sẽ thực hiệnđược mục tiêu một thị trường chung và một cơ sở sản xuất thống nhất trong toànkhối vào năm 2020 trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN là ví dụ điển hình
(4) Liên minh tiền tệ: Liên minh tiền tệ là hình thức liên kết mà trong đó các
nước phối hợp các CSTT với nhau, thoả thuận về dự trữ tiền tệ cũng như phát hànhđồng tiền tập thể Trong đồng minh tiền tệ, các nước thống nhất hoạt động của cácNHTW, đồng thời thống nhất hoạt động của các giao dịch với các tổ chức tiền tệ vàtài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới
(5) Liên minh kinh tế: Liên minh kinh tế được coi là hình thức cao nhất của
hội nhập kinh tế Liên minh kinh tế được xây dựng trên cơ sở các nước thành viênthống nhất thực hiện các chính sách thương mại, tiền tệ, tài chính và một số chínhsách kinh tế-xã hội chung giữa các thành viên với nhau và với các nước ngoài khối.Như vậy, ở Liên minh kinh tế, ngoài việc các luồng vốn, hàng hoá, lao động và dịch
vụ được tự do lưu thông ở thị trường chung, các nước còn tiến tới thống nhất cácchính sách quản lý kinh tế-xã hội, sử dụng chung một đồng tiền Liên minh Châu
Âu là một ví dụ điển hình của một liên minh kinh tế
2.2.1.3 Lợi ích và hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến tất cả các mặt, các lĩnh vực và tất cảcác quốc gia tham gia vào quá trình hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại chocác quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung những lợi ích sau:
Trang 35(1) Củng cố chính sách và thể chế trong nước để tham gia vào thương mại
quốc tế về hàng hoá và dịch vụ
(2) Cải thiện tính dễ dàng và an toàn trong tiếp cận các thị trường.
(3) Tăng cường quyền tiếp cận các cơ chế giải quyết tranh chấp các vấn đề
thương mại
(4) Tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh
phải cạnh tranh với các đối thủ từ bên ngoài
(5) Các nguồn lực tại các quốc gia và trên toàn thế giới được phân bổ hiệu
quả hơn khi các nguồn lực dễ dàng di chuyển tới nơi có hiệu quả sử dụng cao hơn
(6) Các tổ chức có quy mô khu vực và toàn cầu từng bước được hình thành
và củng cố, đưa ra những quy chuẩn để điều phối các hoạt động sản xuất, kinhdoanh và nhiều lĩnh vực khác, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực; đề ranhững biện pháp phòng ngừa và giải quyết khó khăn trong trường hợp cần thiết, làmchủ quá trình toàn cầu hoá Gia nhập các tổ chức quốc tế sẽ giúp các quốc gia thànhviên tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ, và những ưu đãi để phát triển kinh
tế, nâng cao khả năng cạnh tranh và hạn chế được những khó khăn, vượt qua nhữngthách thức trong quá trình hội nhập quốc tế [3]
Tuy vậy, hội nhập kinh tế quốc tế cũng gây ra những khó khăn nhất định chomột quốc gia, bao gồm:
(1) Cạnh tranh giữa các quốc gia tăng lên và khiến những quốc gia không có
lợi thế cạnh tranh gặp phải khó khăn khi nền sản xuất trong nước bị ảnh hưởng tiêucực Các doanh nghiệp nước ngoài với lợi thế, năng lực cạnh tranh tốt hơn sẽ thaythế các doanh nghiệp trong nước và gây ra tình trạng thất nghiệp, sụt giảm sảnlượng sản xuất trong nước Đặc điểm này có thể dẫn tới sự gia tăng bất bình đẳnggiữa các quốc gia tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi các quốc gia
có lợi thế cạnh tranh chỉ tập trung khai thác nguồn tài nguyên giá rẻ tại các quốc giađang phát triển
(2) Quyền lực và khả năng điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế trong
nước của một quốc gia sẽ bị giảm đi khi phải chấp nhận thực hiện chung các chínhsách vĩ mô với một nhóm quốc gia trong cùng một liên minh
Trang 36(3) Nền sản xuất non trẻ trong nước, những ngành, và lĩnh vực trọng tâm
phát triển trong nước, có tầm quan trọng đối với ổn định tài chính, chính trị củamột quốc gia có thể bị ảnh hưởng tiêu cực từ sự xâm nhập của hàng hoá thay thế
từ nước ngoài
(4) Sự di chuyển các nguồn lực trong nền kinh tế với bên ngoài và ngược lại
sẽ được tiến hành dễ dàng hơn, tạo ra sự biến động mạnh hơn trong nền kinh tế vĩ
mô, có thể vượt khỏi khả năng kiểm soát của Nhà nước, thậm chí gây ra tổn thất lớn
về tài chính, tiền tệ, gây ra bất ổn về mặt chính trị đối với quốc gia
2.2.2 Điều hành chính sách tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm điều hành chính sách tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
CSTT bao gồm những quy tắc và hoạt động của NHTW nhằm đạt đượcnhững mục tiêu đề ra như kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn địnhthị trường tài chính Những thay đổi trong công tác điều hành CSTT của NHTWthường được thực hiện khi những cú sốc trong và ngoài nước làm ảnh hưởng tới cácmục tiêu của CSTT Ví dụ, NHTW xác định tỷ lệ lạm phát mục tiêu cho cả năm là10% nhưng nếu như tín dụng trong nền kinh tế tăng nhanh, khiến cho lạm phát và
kỳ vọng lạm phát tăng vượt quá 10%, NHTW sẽ thực hiện các biện pháp tác độngvào điều kiện tiền tệ như điều chỉnh lại lượng cung ứng tiền, lãi suất, tín dụng nhằmhướng tỷ lệ lạm phát về mức mục tiêu đề ra Để làm được việc này, NHTW sử dụngnhững công cụ khác nhau của CSTT được trình bày trong mục 2.1.3 nhằm tác độngtới các mức lãi suất thị trường, cung tiền, tỷ giá, hay tín dụng trong nền kinh tế
Như vậy, điều hành CSTT là việc NHTW sử dụng các công cụ CSTT tácđộng vào các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu của
Về đặc điểm của điều hành CSTT
Khi một quốc gia hội nhập kinh tế quốc tế, công tác điều hành CSTT củaNHTW nổi lên ba đặc điểm sau: gia tăng tính linh hoạt, tính không chắc chắn, và độtrễ
Trang 37Thứ nhất, tính linh hoạt của công tác điều hành CSTT gia tăng.
CSTT có tính linh hoạt khi có thể phản ứng nhanh trước những biến độngthường xuyên trên thị trường tài chính bằng việc sử dụng các công cụ của mìnhnhằm làm ổn định những biến động này Tính linh hoạt của CSTT còn được thểhiện khi NHTW có thể lựa chọn loại công cụ cũng như liều lượng sử dụng của công
cụ chính sách tiền tệ một cách linh hoạt chỉ trong thời gian ngắn, nhằm đạt đượcmức độ tác động như mong muốn CSTT ngày càng cho thấy tính linh hoạt và được
sử dụng nhiều nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế khi hội nhập vào kinh tếquốc tế khi mà CSTK thường đòi hỏi những thay đổi lớn trong chính sách thuế,chính sách chi tiêu, đôi khi phải chờ đợi những quyết sách của Quốc hội, Chínhphủ Điều này đặc biệt phù hợp trong bối cảnh chính sách tài khoá không còn nhiềukhông gian hoạt động khi các nước lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách và nợcông gia tăng nhanh chóng sau giai đoạn khủng hoảng vừa qua
Thứ hai, tính không chắc chắn về tác động tới các mục tiêu của CSTT tăng lên.
CSTT có tính không chắc chắn khi các nhà hoạch định chính sách không thểchắc chắn khả năng tác động của công cụ tới các biến số vĩ mô của nền kinh tế.NHTW chỉ có thể sử dụng các công cụ CSTT để tác động vào lượng tiền dự trữ vàchi phí vốn của hệ thống ngân hàng (gián tiếp) và/hoặc đến lãi suất thị trường (trựctiếp) nhưng không thể nào kiểm soát được quá trình truyền dẫn từ các mục tiêu hoạtđộng và trung gian này tới mục tiêu cuối cùng Điều này do quá trình truyền dẫnCSTT chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như sự phức tạp trong cấu trúc của nềnkinh tế, sự không chắc chắn của các chủ thể khi ra quyết định trong các bối cảnhkinh tế khác nhau, cũng như nhận thức của các chủ thể trong nền kinh tế về CSTT.Khi một nền kinh tế gia nhập vào kinh tế thế giới những thay đổi trong hệ thống tàichính, doanh nghiệp và cơ cấu của toàn nền kinh tế thay đổi liên tục và chịu phụthuộc thêm từ các yếu tố bên ngoài, càng làm gia tăng mức độ không chắc chắc vềtác động của CSTT tới nền kinh tế
Thứ ba, công tác điều hành CSTT có độ trễ khi phải cần một khoảng thời gian dài thì chính sách tiền tệ mới có thể phát huy ảnh hưởng tới nền kinh tế.
Độ trễ của chính sách tiền tệ bao gồm độ trễ nhận biết (là khoảng thời gian từkhi các biến số vĩ mô là mục tiêu của CSTT thay đổi cho tới NHTW nhận biết được
Trang 38cần phải can thiệp điều hành), độ trễ thực thi (là khoảng thời gian từ lúc NHTWnhận biết cần phải can thiệp điều hành đến lúc đưa ra quyết định điều hành thôngqua việc sử dụng các công cụ), và độ trễ tác động (là khoảng thời gian từ khiNHTW sử dụng các công cụ cho tới khi các công cụ phát huy tác động tới các mụctiêu cuối cùng của CSTT) Trong số các độ trễ kể trên, NHTW chỉ có thể chủ độngkiểm soát được hai độ trễ đầu tiên Độ trễ dài của chính sách tiền tệ kết hợp với các
kỹ thuật dự báo không chính xác gây ra hạn chế đáng kể đối với tính linh hoạt củaCSTT [42] Do CSTT có độ trễ nên công tác dự báo cần được hoàn thiện sao chocác nhà điều hành có thể điều chỉnh CSTT nhằm đạt được mục tiêu đã định
2.2.2.2 Nội dung điều hành chính sách tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Về lựa chọn mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Khi hội nhập vào kinh tế quốc tế, nền kinh tế trong nước sẽ trở nên khó kiểmsoát hơn do cùng lúc phải đối mặt với những cú sốc từ trong nước lẫn những cú sốc
từ bên ngoài Trong khi những cú sốc trong nước có thể dễ dự báo và kiểm soáthơn, thì những cú sốc từ bên ngoài lại khó dự đoán về thời điểm, mức độ Ngoài ra,khả năng chống chọi đối với các cú sốc từ bên ngoài của một nền kinh tế, nhất lànền kinh tế mở với quy mô nhỏ, là rất thấp cộng với việc chưa có kinh nghiệm khimới gia nhập kinh tế thế giới Trong đó, hệ thống tài chính - ngân hàng là khu vựcchịu những ảnh hưởng đầu tiên, mạnh mẽ nhất và sau đó lan truyền tới các khu vựckhác thông qua những biến động về lãi suất, tỷ giá, tín dụng…
Trước những rủi ro tiềm ẩn trên, công tác điều hành CSTT phải hướng tớimục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô như là mục tiêu hàng đầu Theo đó, NHTW phải xácđịnh nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, thể hiện ở tăng trưởng bền vững với cơ cấukinh tế hợp lý, chất lượng tăng trưởng cao trên cơ sở đầu tư vào các yếu tố chấtlượng lao động và công nghệ, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp và ổn định Như vậy, điềuhành CSTT phải hướng tới can thiệp trung hoà những cú sốc tới nền kinh tế thay vìchỉ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế Nhiệm vụ này cần phải được NHTWbám sát triển khai trong cả ngắn hạn lẫn trung và dài hạn
Về sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc sử dụng các công cụ của CSTTcủa NHTW sẽ có những khác biệt nhất định so với nền kinh tế đóng Điều này là do
Trang 39các hoạt động thương mại và đầu tư với nước ngoài sẽ được diễn ra với tần suất vàkhối lượng cao hơn dẫn tới nền kinh tế phải đối mặt với nhiều biến động hơn Đặcbiệt, những cú sốc từ bên ngoài nền kinh tế xuất hiện trong thời kỳ đầu một quốcgia hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực và khó lường do cácchủ thể trong nền kinh tế chưa có đủ năng lực và kinh nghiệm để chống lại những
cú sốc này Do đó, nhiệm vụ quan trọng của NHTW là điều hành CSTT, cùng vớicác chính sách vĩ mô khác, trung hoà hoặc giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực,với mục tiêu ổn định nền kinh tế trong nước Xuất phát từ lý do này, sẽ có nhữngthay đổi tương ứng trong công tác sử dụng các công cụ dự trữ bắt buộc, chiết khấu
và nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành CSTT của NHTW
Thứ nhất, với công cụ dự trữ bắt buộc.
NHTW thường chỉ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với mục tiêu giảm khả năng cấptín dụng vào nền kinh tế đang tăng trưởng nóng (do nhận khối lượng lớn vốn đầu tưnước ngoài, hoặc do kỳ vọng lạc quan của các chủ thể vào triển vọng kinh tế) hơn làhướng tới mục tiêu quản trị thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Ví dụ, khi NHTWmua vào ngoại tệ do lượng ngoại tệ vào nền kinh tế gia tăng hoặc do các ngân hàngnhận được số vốn uỷ thác đầu tư, tiền gửi từ các tổ chức nước ngoài vào lớn, dự trữcủa hệ thống ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng Điều này làm gia tăng khả năngcấp tín dụng, đặc biệt là có thể khuyến khích các ngân hàng phân bổ tín dụng vàocác lĩnh vực tăng trưởng mạnh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro như chứng khoán, bấtđộng sản, vàng… Khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nóng và lạm phát cao,việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ mang lại hiệu quả nhanh chóng khi thu hồi lượngtiền dư thừa từ các ngân hàng, ngăn các ngân hàng tiếp tục cấp tín dụng ra nền kinh
tế, từ đó giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, cung tiền, và ổn định nền kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc chỉ nên được NHTW sử dụng khithanh khoản của hệ thống ngân hàng dư thừa Trong trường hợp ngược lại, thiếu hụtthanh khoản do tăng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể dẫn tới tình trạng một vàihoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu ổn định Ngoài ra, tăng tỷ
lệ dự trữ bắt buộc cần được thực hiện trên quan điểm thận trọng khi tồn tại sự khácbiệt lớn về năng lực tài chính và năng lực kinh doanh giữa các ngân hàng Trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng sẽ hình thành những nhóm ngânhàng có quy mô lớn với tiềm lực tài chính mạnh nhưng cũng có những nhóm ngân
Trang 40hàng quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, rủi ro thanh khoản luôn thường trực khiphải phụ thuộc vào các ngân hàng lớn về nguồn vốn Tình trạng sẽ trầm trọng hơnkhi những nhà đầu tư nước ngoài lo ngại rủi ro và rút vốn về nước (do nền kinh tế
đã hội nhập vào kinh tế quốc tế, sự di chuyển của các dòng vốn sẽ diễn ra nhanhchóng và thuận lợi hơn) Điều này có thể gây ra một cuộc khủng hoảng thanhkhoản, khủng hoảng tiền tệ, và thậm chí là sụp đổ hệ thống tài chính ngân hàng nếukhông có biện pháp hỗ trợ kịp thời từ phía NHTW
Thứ hai, đối với công cụ chiết khấu.
NHTW có thể sử dụng lãi suất chiết khấu để tác động tới chi phí vốn của cácngân hàng và qua đó điều tiết mặt bằng lãi suất của nền kinh tế Một trong nhữngmục tiêu về tỷ giá khi một quốc gia hội nhập vào kinh tế thế giới là khuyến khíchhoạt động xuất khẩu, điều chỉnh cán cân thương mại theo hướng tích cực NHTW
có thể giảm lãi suất chiết khấu để giảm mặt bằng lãi suất trong nước so với thế giới,làm tỷ giá tăng (tức nội tệ giảm giá) và khuyến khích hoạt động xuất khẩu Tuynhiên, mức độ hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như
độ co giãn của xuất khẩu với tỷ giá, mức độ cạnh tranh của hàng hoá trong nước vớinước ngoài, diễn biến lạm phát của nền kinh tế, chính sách thương mại như thuếquan, hạn ngạch, trợ cấp…
Việc quy định các khoản vay được phép tái cấp vốn tại NHTW có thể giúpNHTW điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng cho phù hợp với định hướng chuyển dịch cơcấu kinh tế Cạnh tranh sẽ tăng lên khi một quốc gia gia nhập vào kinh tế thế giới,
và mỗi quốc gia phải có chiến lược điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế và các ngành kinh
tế trọng tâm để tạo ra nền tảng vững chắc cho kinh tế trong nước Trong trường hợp,Chính phủ và NHTW muốn tạo điều kiện cho ngành khai thác và chế biến thuỷ sảnphát triển, mức lãi suất tái cấp vốn ưu tiên và quy định về các khoản tín dụng đượcvay tái cấp vốn tại NHTW sẽ khuyến khích hệ thống ngân hàng điều chỉnh cơ cấutín dụng tập trung hơn vào ngành này
Bên cạnh đó, công cụ chiết khấu có thể được NHTW sử dụng để tăng lượngtiền dự trữ cho hệ thống ngân hàng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chínhkhi tiền được bơm trực tiếp và ngay lập tức tới các ngân hàng đang cần vốn nhất.Nhu cầu này hoàn toàn có thể xảy ra khi hội nhập kinh tế quốc tế dẫn tới các cú sốctiêu cực tới sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng