BÀI TẬP NHÓM ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM ĐỀ BÀI Câu 1 Đo lường mức sinh lời và rủi ro của các công cụ đầu tư tài chính ? Câu 2 Phân bổ vốn đầu tư giữa các công cụ tài chính ? Câu 3 Các loại[.]
Trang 1BÀI TẬP NHÓM ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
ĐỀ BÀI Câu 1: Đo lường mức sinh lời và rủi ro của các công cụ đầu tư tài chính ? Câu 2: Phân bổ vốn đầu tư giữa các công cụ tài chính ?
Câu 3: Các loại chứng khoán thu thập cố định?
Câu 4 Định giá trái phiếu?
Câu 5 Định giá cổ phiếu?
Câu 6 Quỹ đầu tư?
Câu 7 Tổ chức hoạt động quỹ đầu tư?
Trang 2Câu 1: Đo lường mức sinh lời và rủi ro của các công cụ đầu tư tài chính
1 Đo lường mức sinh lời
a Lãi suất
Bao gồm : + Lãi suất danh nghĩa
+ Lãi suất thực
+ Lãi suất thực cân bằng
+ Lãi suất danh nghĩa cân bằng
- Lãi suất danh nghĩa là đại lượng biểu thị tỷ lệ tăng trưởng của đồng
tiền đầu tư
VD: Một người gửi 100 trđ vào ngân hàng với kỳ hạn 1 năm Đến cuối năm,tiền gốc cộng lãi họ thu được là 110 trđ Tỷ lệ 10/100 = 10% là lãi suất danhnghĩa
- Lãi suất thực là đại lượng biểu thị tỷ lệ tăng trưởng sức mua của đồng
tiền Lãi suất thực được đo bằng lãi suất thực xấp xỉ và lãi suất thựcchính xác
+ Lãi suất thực xấp xỉ r = R- i
R : Lãi suất danh nghĩa
i : Tỷ lệ lạm phát ( Chỉ số CPI )
+ Lãi suất thực chính xác: r = R−i 1+i
VD: cũng số liệu ở VD trên, giả sử tỷ lệ lạm phát năm là 6% thì :
- Lãi suất thực xấp xỉ = 10% - 6% = 4%
- Lãi suất thực chính xác = 0,10−0,061+0,06 = 0,077 = 3,77%
- Mức chênh lệch = 0,23% (23 điểm cơ bản)
Lưu ý: Vào cuối kỳ, chúng ta luôn có thể tính được mức lãi suất thực
trên khoản vốn đầu tư vì tỷ lệ lạm phát được công bố bởi Cục thống kê.Tuy nhiên, lãi suất thực trong tương lai không được biết , và nhà đầu tư
Trang 3chỉ có thể dự đoán lãi suất thực Nói cách khác, bởi vì lạm phát trongtương lai là rủi ro nên tỷ suất sinh lời thực tế là rủi ro ngay cả khi lãisuất danh nghĩa là lãi suất phi rủi ro
- Lãi suất thực cân bằng: 4 yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất thực đó là
cung, cầu, hành động của chính phủ và lạm phát kỳ vọng
Đồ thị biểu diễn đường cung và đường cầu cho thấy đường cầu dốc xuống và đường cung dốc lên Điểm E giao giữa 2 đường là điểm cân bằng
Đường cung dốc lên từ trái sang phải bởi vì lãi suất thực càng cao, cung tiền từ hộ gia đình càng lớn Giả định rằng ở mức lãi suất caohơn các hộ gia đình sẽ lựa chọn trì hoãn một số tiêu dùng hiện tại và tiết kiệm tiền hoặc đầu tư nhiều hơn thu nhập chưa sử dụng để có được thu nhập cao hơn trong tương lai
Đường cầu dốc xuống từ trái qua phải bởi vì lãi suất thực càng thấp, các doanh nghiệp càng muốn đầu tư thêm vào sản xuất, thiết bị, nhà xưởng Giả định rằng doanh nghiệp xếp hạng các dự án theo tỷ suấtsinh lời kỳ vọng trên vốn đầu tư, doanh nghiệp sẽ thực hiện nhiều dự ánhơn nếu lãi suất huy động vốn cần thiết để tài trợ dự án thấp hơn
Chính phủ và ngân hàng trung ương có thể dịch chuyển đường cung và đường cầu sang bên phải hoặc bên trái thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Ví dụ, hãy xem xét trường hợp thâm hụt ngân sách của chính phủ tăng lên Điều này sẽ làm tăng nhu cầu vay
nợ của chính phủ và dịch chuyển đường cầu sang bên phải, do đó dẫn đến điểm cân bằng lãi suất sẽ tăng lên đến điểm E’ Vì vậy, một dự đoán là vay nợ của chính phủ tăng lên sẽ làm tăng lãi suất kỳ vọng trong tương lai Ngân hàng trung ương có thể điều tiết mức tăng này thông qua chính sách tiền tệ mở rộng, điều này dẫn đến dịch chuyển đường cung sang bên phải
- Lãi suất danh nghĩa cân bằng
Trang 4Bởi vì nhà đầu tư quan tâm đến tỷ suất sinh lời thực tế mà họ nhậnđược nên chúng ta kỳ vọng rằng khi lạm phát tăng lên nhà đầu tư sẽyêu cầu tỷ suất sinh lời danh nghĩa trên vốn đầu tư cao hơn Mức tỷsuất sinh lời cao hơn này là cần thiết để duy trì tỷ suất sinh lời thực tế
kỳ vọng trên khoản đầu tư
Người ta cho rằng lãi suất danh nghĩa phải tăng lên khi nhà đầu tư
kì vọng lạm phát dự tính tăng lên Nếu chúng ta sử dụng kí hiệu E(i) là
tỷ lệ lạm phát dự tính hay kỳ vọng trong giai đoạn tới, thì chúng ta cóthể có được phương trình như sau:
R = r + E(i)
Phương trình trên hàm ý rằng nếu lãi suất thực ổn định một cách hợp
lý, thì mức tăng lên trong lãi suất danh nghĩa phải dự đoán lạm phátcao hơn
b Tỷ suất sinh lời quá khứ cho một kì hạn đầu tư
- Để đưa ra lựa chọn đầu tư, nhà đầu tư thường tính toán tỷ suất sinh lờiquá khứ của các công cụ đầu tư làm căn cứ
- Tỷ suất sinh lời kỳ đầu tư HPY ( Holding – Period Yield) được tínhbằng công thức : HPY = HPR – 1 (%)
- HPR ( Holding – Period Return ) là mức sinh lời kỳ hạn, được tình bằnggiá trị đầu tư cuối kỳ/giá trị đầu tư ban đầu
VD: Nhà đầu tư bỏ ra $200 để đầu tư ở thời điểm đầu năm và thuđược $220 ở thời điểm cuối năm (kỳ đầu tư 1 năm)
HPR = 220/200 = 1,1 => HPY = 0,1 = 10%
- HPY luôn ≥ 0
+ Nếu HPR ≥ 1,0: Nhà đầu tư có lãi
+ Nếu HPR < 1,0: Nhà đầu tư bị thua lỗ
+ Nếu HPR = 0: Nhà đầu tư bị mất vốn
- Nếu kỳ đầu tư là nhiều năm, để tính HPY hàng năm ta sử dụng côngthức:
Trang 5- HPR hàng năm = HPR 1/ n
- Trong đó n là số năm nắm giữ tài sản đầu tư
VD: Một TS đầu tư có chi phí $250 và có giá trị $350 sau 2 năm nắm
giữ Ta có HPR = 350/205 = 1,4
- HPR hàng năm = 1,4 1/ 2 = 1,1832
- HPY hàng năm = 0,1832 = 18,32%
Nếu kỳ đầu tư nhỏ hơn 1 năm ?
VD: Một khoản đầu tư $100, sau 6 tháng nắm giữ thu lợi tức $12
- Ta có:
- HPR = 112/100 = 1,12 (n=0,5)
- HPR hàng năm =1,12 1/ 0,5 = 1,2544
- HPY hàng năm = 0,2544 = 25,44 %
HPR và HPY sẽ như thế nào nếu giá trị đầu tư bị suy giảm?
VD1: Giá mua đầu năm $500, giá bán cuối năm $400?
c Tỷ suất sinh lời bình quân quá khứ của nhiều kỳ hạn đầu tư
- Một TS đầu tư riêng lẻ trong nhiều năm có thể có một số năm sinh lờicao, một số năm sinh lời thấp hoặc thậm chí một số năm sinh lời âm
- Với một tập hợp tỷ suất sinh lời hàng năm HPYs, Có 2 thước đo tỷ suấtsinh lời bình quân : Tỷ suất sinh lời trung bình cộng (AM) và tỷ suấtsinh lời trung bình nhân (GM)
- AM= ∑
s=0
n
HPYs n
- GM = (HPR1 X HPR2 X … HPR n¿¿1 /n - 1
VD: Có dữ liệu về một tài sản đầu tư như sau
Trang 6Năm Giá trị đầu Giá trị cuối HPR HPY
d Đo lường tỷ suất sinh lời kỳ vọng
- Trong các VD trước, chúng ta đã xem xét tỷ suất sinh lời quá khứ, khimột nhà đầu tư xem xét phương án đầu tư, anh ta sẽ quan tâm đến tỷsuất sinh lời kỳ vọng trong tương lai
- Tỷ suất sinh lời kỳ vọng trong tương lai là không chắc chắn và mức
độ biến động của tỷ suất sinh lời trong thực tế xung quanh giá trị kỳvọng được xem là độ biến thiên của tỷ suất sinh lời hay chính là rủi rocủa TS đầu tư
- Khi tính toán tỷ suất sinh lời kỳ vọng trong tương lai, nhà đầu tưthường phân tích những khả năng xảy ra của mức sinh lời và xác suấtxảy ra những khả năng đó Những giá trị xác suất này là các ước lượngmang tính chủ quan trên cơ sở diễn biến quá khứ của TS đầu tư vàđược điều chỉnh bởi những kỳ vọng của nhà đầu tư về tương lai
- Nếu gọi E(i) là lợi tức kỳ vọng của một TS đầu tư và Ri là lợi tức dựđoán với xác suất tương ứng Pi, ta có:
Trang 7VD: Có thông tin về tỷ suất sinh lời kỳ đầu tư của chứng khoán X theo
2 Đo lường rủi ro
Có 2 loại đo lường rủi ro
- Đo lường rủi ro của tỷ suất sinh lời kỳ vọng
- Đo lường rủi ro của tỷ suất sinh lời quá khứ
a Đo lường rủi ro của tỷ suất sinh lời
- Trong lý tuyết DMĐT, để đo lường rủi ro, người ta sử dụng 2 thước đo:phuong sai ( variance) và độ lệch chuẩn ( standard deviation) Đây là 2 thước
đo được sử dụng để đo lường sự phân tán của tỷ lệ lợi tức có thể có xungquanh tỷ lệ lợi tức kỳ vọng
Trang 8- Ký hiệu phương sai là:σ2
- Độ lệch chuẩn là căn bậc 2 của phương sai và được ký hiệu là:σ
* Công thức tính phương sai với lợi tức có thể có R i lợi tức kỳ vọng E(R i ) và xác suất trong mỗi trường hợp P i
* Thước đo đối tượng của rủi ro
- Trường hợp có nhiều phương án đầu tư khác nhau ( có khác biệt trong các
tỷ lệ lợi tức kì vọng), người ta sử dụng thước đo tương đối – hệ số phương sai(CV-Correlation Variance) để đo lường rủi ro
Công thức CV= E(R) σi
- Sử dụng hệ số phương sai để so sánh 2 danh mục đầu tư A và B với giảđịnh; Danh mục A có lợi tức của danh mục B là: 0,12 và 0,07
- So sánh thước đo tuyệt đối của rủi ro, danh mục B dường như rủi ro hơn vì
nó có độ lệch chuẩn 7% so với 5% của danh mục A Tuy nhiên, nếu sử dụng
CV để đo lường kết quả sẽ là
- Ta có:
CVA =0,050,07 = 0,714
Trang 9CVB = 0,070,12= 0,583-Rõ ràng DM B có biến động tương đối ít hơn hay rủi ro tính trên mỗi đơn vịlợi tức kỳ vọng thấp hơn
b Đo lường rủi ro của tỷ suất lợi nhuận quá khứ
Để đo lường mức độ rủi ro của một chuỗi các tỷ suất sinh lời quá khứ, ta sửdụng công thức
σ2=∑
i=1
n [HPY i – E(HPY )]2
n
-σ2 : Phương sai của chuỗi tỷ suát sinh lời quá khứ
- HPYi : Lợi suất kỳ đầu tư i
- E(HPY) : Tỷ suất sinh lời quá khứ trung bình
c Múc bù rủi ro
VD: Bạn đang xem xét đầu tư bằng việc mua cổ phiếu của 1 quỹ đầu tư Giá
cổ phiếu quỹ đầu tư hiện tại là $100, và kỳ hạn đầu tư của bạn là 1 năm Bạn
kỳ vọng cổ tức tiền mặt trong năm là $4 Giả sử bạn dự đoán mức giá tốt nhất
có thể sau 1 năm là $110/cổ phiếu( mức lợi vốn $ 10)
HPY = 110−100+4100 = 14%
- Vì không chắc chắn về giá cổ phiếu trong tương lai, nên chúng ta không thểchắc chắn về giá trị cuối kỳ của HPY Giả sử chúng ta có thể lượng hóa dựđoán về tình trạng của nền kinh tế và thị trường chứng khoán theo ba mức độđược trình bày trong bảng dưới đây
Bảng: Phân bổ xác suất HPR trên thị trường chứng khoán
Tình trạng nền kinh tế Xác suất Giá cuối kỳ HPR
Trang 10Bùng nổ 0,25 140 USD 44%
+ Áp dụng công thức tính mức sinh lời kỳ vọng vào số liệu trong bảng, chúng
ta tìm được mức sinh lời kỳ vọng của quỹ đầu tư là:
là phân bố chuẩn quanh giá trị trung bình, δ là thước đo rủi ro tương đối hợplý
- Người ta đo lường phầ thưởng để bù đắp rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu rủi
ro khi đầu tư (HPY) và lãi suất phi rủi ro và lãi suất và lãi suất phi rủiro(chẳng hạn lãi suất tín phiếu kho bạc
Phần thường tính theo một cách trên gọi là mức bù rủi ro (mức sinh lời vượt trội kỳ vọng)
Nhà đầu tư là những người ngại rủi ro theo ý nghĩa nếu mức bù rủi ro bằng 0,
họ sẽ không sẵn sang đầu tư bất kỳ đồng nào vào cổ phiếu Do đó, theo lýthuyết, phải luôn luôn có mức bù rủi ro dương đối với cổ phiếu khiến nhà đầu
Trang 11tư ngại rủi ro nắm giữ cổ phiếu thay vì đê tất cả tiền tiết kiệm của họ vào tàisản phi rủi ro.
Ghi chép số liệu quá khứ
Ghi chép số liệu sinh lời quá khứ là 1 trong những nguồn thông tin cơ bản vềmức bù rủi ro và độ lệc chuẩn Chúng ta có thể dự đoán mức bù rủi ro bằngcách tính giá trị trung bình của mức chênh lệch qúa khứ giữa mức sinh lờicủa tài sản và lãi suất phi rủi ro
c Rủi ro thực tế và rủi ro danh nghĩa
Trái phiếu chính phủ mang lại mức sinh lời danh nghĩa phi rủi ro song khôngthực sư là 1 khoản đầu tư phi rủi ro bởi lẽ trái phiếu này không đảm bảo sứamua của dòng thu nhập nhận được trong tương lai từ trái phiếu này
-Hãy xem xét 1 trái phiếu thanh toán $1.000 sau 20 năm nhưng không thanhtoán lãi định kì Giả sử tỷ suất sinh lời danh nghĩa của trái phiếu là 12%/nămthì giá của trái phiếu là$103,67, (vì 103,67x1,1220= 1.000)
- Phân tích tại mức lạm phát 12% Tại mức lạm phát này, sức mua của $1.000nhận được sau 20 năm sẽ là $103,67= giá mua ban đầu của trái phiếu
- HPY thực tế trong trường hợp này bằng 0 Khi tỷ lệ lạm phát bằng lãi suấtdanh nghĩa, giá hang hóa tăng lên bằng tốc độ lãi suất cộng dồn từ khoản tiềnđầu tư, và do đó không có sự tăng trưởng trong sức mua của đồng tiền
Trang 12Bảng: sức mua của $1.000 sau 20 năm và HPY hang năm thực thế trong
20 năm
Giả định lạm
phát Số lượng dollar cầncó trong 20 năm để
mua $1 ngày hômnay
Giá trị của $1.000 cóthể nhận được sau 20năm
HPY thực
tế hangnăm
- Qua bảng, ta có thể thấy rằng một nhà đầu tư kì vọng tỷ lệ lạm phát là
8%/năm sẽ dự đoán HPY hang năm thực tế là 3,7%.Nếu tỷ lệ lạm phát trởthành 10%/năm, kết quả là HPY thực tế hàng năm chỉ là 1,82%/năm.Mứcchenh lệch này cho thấy sự khác nhau giữa tỷ lệ lạm phát thực tế và tỷ lệ lạmphát dự kiến
-Việc dự đoán lạm phát cho năm tới là một điều vô cùng khó khan.khi ta xemxét 1 tài sản dưới gó độ sức mua của đồng tiền trong tương lai, bạn có thểthấy rằng 1 tài sản mà ít rủi ro(theo lãi suất danh nghĩa) có thể cũng rất rủiro(theo lãi suất thực)
3 Mức ngại rủi ro và hàm hữu dụng
- Lý thuyết DMĐT giả định rằng nhà đầu tư là những người ngại rủi ro, nghĩa
là với 2 TS có mức sinh lời như nhau họ sẽ lựa chọn tài sản có ít rủi ro hơnnếu 2 TS có rủi ro tương tự nhau, học sẽ lựa chọn TS có mức sinh lời cao hơn
Trang 13VD: Với trái phiếu có mức xếp hạng giảm xuống từ AAA đến AA họ sẽ yêu
cầu mức sinh lời cao lên Nếu mức sinh lời bằng nhau, họ sẽ chọn trái phiếuđược xếp hạng AAA thay vì AA
- Bằng chứng của việc ngại rủi ro là các nhà đầu tư đều có xu hướng tìm đếncác sản phẩm BH (BH ô tô, BH y tế, BH hỏa hoạn, BH nhân thọ, )để bằngviệc bỏ ra một khoản chi phí, họ có thể đảm bảo có được một sự bảo vệ chomột sự không chắc chắn trong tương lai
Lưu ý: Giả định này có thể không đúng với những người ưa thích rủi ro như
những người thường xuyên chơi xổ số, cá độ đá bóng, đua ngựa hay đánhbạc(những hoạt động có khả năng thua lỗ rất cao)
- Vì ngại rủi ro nên nhà đầu tư chỉ sẵn sàng xem xét khả năng đầu tư chomột TS nào đó nếu mức bù rủi ro của TS đó có giá trị dương
- Khái niệm mức bù rủi ro được lượng hóa cụ thể thông qua hàm hữu dụngvới giả định rằng mỗi nhà đầu tư có thể gán một độ hữu dụng hoặc hệ số chomột DMĐT nào đó dựa trên mức sinh lời kì vọng và rủi ro của DMĐT đó.Điểm số hữu dụng được xem như là một phương pháp để xếp hạng DMĐT
- Giá trị hàm hữu dụng càng cao đối với một DMĐT thì DMĐT đó càng
có mức sinh lời – rủi ro kì vọng hấp dẫn
- Có nhiều hệ thống tính điểm hữu dụng được sử dụng, trong đó phổ biếnnhất là hàm hữu dụng của Hiệp hội nghiên cữu và đầu tư Mĩ:
U = E(r) – 0,005A σ 2
Trong đó:
U: Giá trị hữu dụng
A: Chỉ số mức ngại rủi ro của nhà đầu tư Chỉ số A càng lớn thì nhà đầu
tư càng ngại rủi ro (chỉ số A giúp chúng ta chia nhà đầu tư thành 3 loại: nhàđầu tư ngại rủi ro, nhà đầu tư trung dung với rủi ro và nhà đầu tư yêu thíchrủi ro)
Trang 140,005: Hằng số quy ước(cho phép biểu diễn giá trị hữu dụng theo phầntrăm thay vì số thập phân)
VD: Hãy lựa chọn cơ hội đầu tư vào một phiếu có mức sinh lời kì vọng 20%
với độ lệch chuẩn = 30% và đầu tư vào tín phiếu kho bạc với lãi suất phi rủi
ro 7% với hai giả định: A=3 và A=2
Câu 2: Phân bổ vốn đầu tư giữa các công cụ tài chính
1 Khái niệm phân bổ vốn đầu tư
- Theo nghĩa hẹp, phân bổ vốn (phân bổ tài sản đầu tư) là quyết định phân
chia tiền của nhà đầu tư/quỹ đầu tư vào các rổ hàng hóa/tài sản khác nhau
- Theo nghĩa rộng, phân bổ vốn đầu tư là một quy yrinhf phân chia vốn của
nhà đầu tư được thực hiện dựa trên các phân tích các đặc điểm và các ddieufkiện thị trường nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận tối ưu
- Quy trình phân bổ vốn đầu tư:
+ Bước 1: xác định các loại tài sản đưa vào DMĐT:
Các công cụ của thị trường tiền tệ
Trái phiếu ( chứng khoán có thu nhập cố định)
Trang 15+ Bước 3: Xác định hiệu quả DMĐT: Nhà đầu tư xác định DMĐT đạt đượcmức sinh lời kỳ vọng tối đa với bất kì mức rủi ro tương ứng nào.
+Bước 4: Tìm ma trận tài sản tối ưu: lựa chọn DMDDT hiệu quả, đáp ứngtốt nhất mục tiêu sinh lời và rủi ro của nhà đầu tư với tỉ trọng TS và vùng chophép thích hợp
Thực hiện quy trình phân bổ nêu trên để tạo ra một bộ các tỷ trọngcho những loại TS trong DM, được gọi là DM chính sách đầu tư- “ the policyportfolio”
VD: Danh mục chính sách đầu tư
2 Vai trò của chiến lược phân bổ vốn đầu tư
- Chiến lược phân bổ vốn đầu tư có vai trò quan trọng, quyết định đến tỷ suấtsinh lời của TS đầu tư Điều này được minh chứng qua việc công bố kết quảnghiên cứu của nhiều nhà khoa học:
(1) 1986 Brinson Hood & Beebower công bố kết quả nghiên cứu qua khảosát 91 quỹ hưu trí Mỹ giai đoạn 1974-1983 : chính sách phân bổ vốn quyếtđịnh 93,6% tỷ suất sinh lời của quỹ trong khi quyết định lựa chọn CK và lựachọn thời điểm đầu tư chỉ chiếm lần lượt 3% và 3,4%
Trang 16(2) 1999 Lehmann Timmermann khảo sát 300 quỹ hưu trí ở Anh giai đoạn1986-1994: chiến lược phân bổ vốn đóng góp 99,5% hiệu quả đầu tư của quỹ (3) 2000 Isbbotson & Kaplan: khảo sát 94 quỹ tương hỗ ở Mỹ giai đoạn4/1988-2/1998: 40% chiến lược phân bổ vốn 60% là lựa chọn CK và thờiđiểm đầu tư
3 Các chiến lược phân bổ vốn đầu tư
- Chiến lược phân bổ cố định: là phương án truyền thống chủ yếu phụ thuộc
vào khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư
+ Trước hết nhà đầu tư cần xác định khả năng chấp nhận rủi ro – mức độđánh đổi lỗ lãi của mình là bao nhiêu để quyết định tỷ trọng đầu tư vào cổphiếu và trái phiếu, chẳng hạn 70/30
+ Nhược điểm: Khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư thường thayđổi theo hoàn cảnh VD: khi thị trường tăng trưởng nhanh, nhà đầu tư trở lênhiếu chiến hơn và ngược lại họ sẽ quá thận trọng và rụt rè khi ra quyết định
- Chiến lược “Lý thuyết ngày sinh”: theo chiết lý càng cao tuổi, nhà đầu tư
càng nên thận trọng hơn trong đầu tư, công thức của chiến lược này là:
% đầu tư vào cổ phiếu=110 – số tuổi
+ Nhược điểm: Có tính bảo thủ và ngược lại với kinh nghiệm tích lũycủa nhà đầu tư
- Chiến lược phân bổ theo chu kỳ: chu kỳ đầu tư thường được xác định từ
10-20 năm Đầu chu kỳ đầu tư, nhà đầu tư cần tạo ra một DMĐT tối thiểu 50%
là vốn vay và đầu tư toàn bộ vào cổ phiếu, sau đó trả nợ dần cùng việc tăngtiền đầu tư vào cổ phiếu
+ Nhược điểm: Không phù hợp với nhà đầu tư trẻ tuổi vì việc đi vay đểđầu tư thường ngầm khuyến khích những thói quen xấu đó là mua đắt bán rẻ
Trang 17- Chiến lược phân bổ trong dài hạn: theo nhiều nghiên cứu cho thấy trong dài
hạn cổ phiếu có mức sinh lời ổn định và đáng tin cậy hơn trái phiếu vì 2 lýdo:
+ Trái phiếu bị ảnh hưởng nặng nề của lạm phát
+ Cổ phiếu phụ thuộc nhiều vào các công ty lớn mạnh có khả năng điềuchỉnh công việc kinh doanh để giữ được mức lợi nhuận tăng theo thời gianbằng năng lực quản trị DN và nhiều công cụ
- Chiến lược Rempel Maximum: chiết lý sử dụng đòn cân nợ trong dài hạn để
đầu tư
+ Thực tế cho thấy 348/400 (87%) người giàu nhất thế giới ( tạp chíForbes) sử dụng nhiều tiền của người khác để đầu tư vào việc kinh doanhhoặc thị trường cổ phiếu
Lưu ý:
- Khi theo đuổi chiến lược đầu tư nào, việc phân bổ vốn trước hết cầnxác định tỷ trọng đầu tư vào danh mục tài sản phi rủi ro và tỷ trọng đầu
tư vào danh mục rủi ro là bao nhiêu
- Trường hợp cần thay đổi tỷ trọng này nhưng không làm tăng thêm mức
độ rủi ro của danh mục tài sản rủi ro thì cần giữ tỷ trọng của từng tàisản đầu tư trong danh mục đó Chẳng hạn:
Khi chuyển của cải từ danh mục đầu tư rủi ro sang tài san phi rủi ro,chúng ta không thay đổi tỷ trọng tương ứng của các tài sản rủi ro khácnhau trong danh mục đầu tư rủi ro Thay vào đó chúng ta giảm bớt tỷtrọng danh mục đầu tư rủi ro nói chung so với tài sản phi rủi ro
Trang 18VD: Nếu ký hiệu danh mục tài sản rủi ro là P và tài sản phi rủi ro là F Giả
định rằng các tài sản rủi ro trong danh mục đầu tư rủi ro bao gồm hai quỹtương hỗ, một quỹ đầu tư vào cổ phiếu và một quỹ đầu tư vào trái phiếu dàihạn trước hết, chúng ta tập trung vào phân bổ vốn giữa danh mục đầu tư nàyvới chứng khoán phi rủi ro Giả sử rằng tổng giá trị thị trường danh mục đầu
tư ban đầu là$300.000, trong đó $90.000 đầu tư vào tín phiếu kho bạc – nhưmột mục tiêu đầu tư vào tài sản phi rủi ro Phần còn lại là $210.000 được đầu
tư vào chứng khoán rủi ro, trong đó: $113.400 đầu tư vào cổ phiếu (E) và
$96.600 đầu tư vào trái phiếu dài hạn (B) tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu và tráiphiếu dài hạn trong danh mục đầu tư rủi ro tương ứng là 54% (E) và 46%(B)
E: w1 = 113.400210.000 = 0,54
B: w2 = 210.00096.600 = 0,46
Nếu ký hiệu tỷ trọng danh mục đầu tư P trong danh mục đầu tư hỗnhợp bao gồm tài sản phi rủi ro là y ta có:
y = 210.000300.000 = 0,7 ( tài sản rủi ro)
1 – y = 300.00090.000 = 0,3 ( tài sản phi rủi ro)
Tỷ trọng mỗi tài sản rủi ro trong danh mục đầu tư hỗn hợp như sau:
- E: w1 = 113.400300.000 = 0,378
- B: w2 = 300.00096.600 = 0,322
Danh mục đầu tư rủi ro có tỷ trọng bằng 0,7 (= 0,378 + 0,322)
Giả sử rằng người sở hữu danh mục đầu tư này hy vọng giảm thiểu rủi
ro bằng cách giảm phân bổ vốn vào danh mục đầu tư rủi ro từ y = 0,7xuống y = 0,56 Danh mục đầu tư rủi ro sẽ chỉ còn tổnggiá trị là
0,56×$300.000 = $168.000
Nhà đầu tư tiến hành bán $42.000 từ giá trị danh mục đầu tư ban đầu
$210.000 của tài sản rủi ro
Trang 19 Số tiền đó được sử dụng mua thêm tín phiếu kho bạc tổng giá trị nắmgiữ tài sản phi rủi ro sẽ tăng lên thành $300.000 × (1 – 0,56) =
$132.000 (hoặc tính bằng giá trị nắm giữ ban đầu cộng thêm số tiền đầu
tư vào tín phiếu kho bạc là: $90.000 +$42.000 = $132.000)
Tuy nhiên điểm quan trọng là nhà đầu tư để tỷ lệ mỗi tài sản trong danhmục đầu tư rủi ro không thay đổi bởi vì tỷ trọng E và B trong danhmục đầu tư rủi ro tương ứng là 0,54 và 0,46, chúng ta bán0,54×$42.000 = $19.320 trái phiếu B sau khi bán tỷ lệ mỗi tài sảntrong danh mục đầu tư rủi ro trên thực tế là không thay đổi:
E: w1 = 113.400−22.680210.000−42.000 = 0,54
B: w2 = 210.000−42.00096.600−19.320 = 0,46
Câu 3: Các loại chứng khoán thu thập cố định?
1.Khái niệm
- Chứng khoán là tên gọi chung của cổ phiếu, trái phiếu Là những chứng chỉ
có giá trị thay mặt cho việc sở hữu một phần của công ty (cổ phiếu) hoặc là chủ nợ của công ty (trái phiếu), …
- Chứng khoán thu nhập cố định: là loại chứng khoán có quyền yêu cầu thu nhập cố định, không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của nhà phát hành Nó
có thể là chứng khoán vô danh hoặc chứng khoán ghi danh, ồm trái phiếu, tín phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi
2.Phân loại chứng khoán thu nhập cố định:
- Phân loại theo loại chứng khoán
- Phân loại theo cách thức trả lãi
- Phân loại theo chủ thể phát hành
- Các sản phẩm mới của chứng khoán thu nhập cố định
a Phân loại theo loại chứng khoán.
Trang 20- Trái phiếu: là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
- Cổ phiếu ưu đãi: là một loại chứng khoán vừa có những đặc điểm giống
cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu
Giống trái phiêu: mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi khác với cổ phiếuthường chỉ có giá trị danh nghĩa, mệnh giá cố phiếu ưu đãi rất quan trọng, có ý nghĩa trong việc chia cổ tức cố định Cổ tức của
cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỉ lệ cố định trên mệnh giá
Giống cổ phiếu:phần vốn góp qua việc mua cổ phiếu là mua vĩnh viễn không được hoàn trả
b Phân loại theo cách thức trả lãi.
- Chứng khoán có trả lãi định kì (năm, nửa năm)
- Chứng khoán không trả lãi định kỳ (trả lãi đáo hạn)
Trái phiếu thanh toán lãi định kỳ.
+ Trái phiếu thanh toán lãi định kỳ (coupon) là loại trái phiếu mà nhà phát hành thực hiện các khoản thanh toán lãi định kỳ cho ngưới nắm giữ trái phiếu trong suốt kỳ hạn của trái phiếu
+ Việc thanh toán này được gọi là thanh toán này được gọi là thanh toán coupon bởi vì các trái phiếu trước đây thường có đính kèm các cuống phiếu cho phép nhà đầu tư định kỳ xé các cuống phiếu này và gửi cho nhà phát hành để nhận được các khoản thanh toán lãi
+ Khi trái phiếu đáo hạn, nhà phát hành sẽ thanh toán nợ gốc bằng cách thanh toán cho người nắm giữ trái phiếu một lượng tiền bằng mệnh giá trái phiếu
+ Lãi suất coupon của trái phiếu sẽ quyết định mức thanh toán lãitrái phiếu định kỳ Các khoản thanh toán lãi hàng năm bằng lãi suất coupon nhân với mệnh giá trái phiếu
Trang 21+ Lãi suất coupon, ngày đáo hạn và mệnh giá trái phiếu là một phần của khế ước trái phiếu, đó chính là hợp đồng giữa người nắm giữ trái phiếu và nhà phát hành trái phiếu.
VD: trái phiếu thanh toán định kỳ
Một trái phiếu có mệnh giá $1.000 và lãi suất coupon 8% có thể được bán cho người mua với giá $1.000 Sau đó người nắm giữ trái phiếu sẽ nhận được ccas khoản thanh toán định kỳ hàng năm 8% của $1.000 tức $80/năm, trong suốt kỳ hạn trái phiếu, ví dụ
30 năm Khoản thanh toán $80 thường được chi trả thành hai lần trong năm, mỗi lần $40 Vào cuối kỳ đáo hạn của trái phiếu 30 năm, nhà phát hành cũng thanh toán mệnh giá $1.000 cho người nắm giữ trái phiếu
Trái phiếu không trả lãi định kỳ.
+ Trái phiếu zero-coupon là loại trái phiếu được phát hành với đặc điểm không thanh toán lãi coupon định kỳ thay vào đó, nhà đầu tư sẽ nhận được mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn
+ Những trái phiếu này được phát hành tại mức giá thấp hơn đáng kể so với mệnh giá, và mức sinh lời của nhà đầu tư có được
từ mức chênh lệch giữa giá phát hành và thanh toán mệnh giá vàongày đáo hạn
VD: Một trái phiếu thường có mệnh giá $10,000, với lãi suất 10%trong vòng 10 năm sẽ được bán với giá $10000, mỗi năm người cầm giữ trái phiếu này có thể được thanh toán số tiền lãi $1000 Khi hết thời hạn 10 năm anh ta sẽ thu hồi lại số tiền gốc $10000 của mình Với trái phiếu lãi suất 0 có mệnh giá $10000 có thời hạn 10 năm giá bán sẽ được khấu trừ ngược còn 4000$ Tính ra lãi suất của loại trái phiếu này đạt 150% trong 10 năm, nhưng lại không được trả lãi định kì
c Phân loại theo chủ thể phát hành.
- Trái phiếu chính phủ
- Trái phiếu công ty
- Trái phiếu chính quyền địa phương
Trang 22 Trái phiếu chính phủ:
+ Trái phiếu chính phủ ngắn hạn
Thời gian đáo hạn: không qua 10 năm
Trả lãi định kì (1 năm thường trả 2 lần) +Trái phiếu chính phủ trung hạn
Thời gian đáo hạn trêm 10 năm
Trả lãi định kì (1 năm thường trả 2 lần)
Có thể được mua lại vào một thời điểm nhất định trong tương lai (thường được mua lại trong 5 năm), theo đó kho bạc co quyền mua lại trái phiếu bằng mệnh giá
Trái phiếu công ty
+ Trái phiếu ghi danh: công phát hành ghi chép thông tin người
sở hữu trái phiếu và có thể gửi các phiếu lãi suất đến các chủ sở hữu này
+ Trái phiếu vô danh là những trái phiếu được giao dịch mà không ghi danh tên chủ sở hữu
+ Trái phiếu có thể được mua lại là loại trái phiếu công ty được phát hành với điều khoản mua lại cho phép nhà phát hành mua lạitrái phiếu với giá mua lại được xác đinh trước ngày đáo hạn trái phiếu Những người nắm giữ trái phiếu này sẽ buộc phải bán trái phiếu tại mức giá mua lại của công ty, do đó họ không được hưởng mức lãi suất coupon cao như thời điểm ban đầu + Trái phiếu có thể bán lại là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ trái phiếu quyền được bán lại trái phiếu cho nhà phát hành.+ Trái phiếu có thể được chuyển đổi là trái phiếu cho phép người nắm giữu có quyền lựa chọn chuyển đổi một trái phiếu thành một
số lượng nhất đinh cổ phiếu thường của công ty Hệ số chuyển đổi là số lượng cổ phiếu mà mỗi trái phiếu có thể được chuyển đổi thành Người nắm giữ trái phiếu này sẽ có lơi khi giá cổ phiếucông ty tang, tuy nhiên trái phiếu này lại có lãi suất coupon thấp
Trang 23lơi và lợi suất đáo hạn thực hiện thấp hơn trái phiếu không thể chuyển đổi.
VD: Giả sư một trái phiếu có thể chuyển đổi được phát hành với
giá bằng mệnh giá là $1.000 và có thể được chuyển đổi thành 40
cổ phiếu thường của công ty Giá cổ phiếu công ty hiện hành là
$20/cổ phiếu, chính vì vậy quyền chọn để chuyển đổi không có lợi tại thời điểm hiện tại Tuy nhiên, nếu sau đó giá cổ phiếu tăng lên $30/cổ phiếu, thì mỗi trái phiếu có thể được chuyển đổi thành
cổ phiếu có giá trị $1.200
+ Trái phiếu có lãi suất thả nổi là loại trái phiếu thực hiện thanh toán các khoản lãi gắn với một số thước đo lãi suất thị trường hiện hành
VD: Lãi suất có thể được điều chỉnh hằng năm theo lãi suất tín
phiếu kho bạc cộng thêm 2% Nếu lãi suất tín phiếu kho bạc 1 năm vào ngày thực hiện điều chỉnh là 4%, thì lãi suất coupon của trái phiếu trong năm tới là 6%
Việc điều chỉnh này có nghĩa là trái phiếu luôn luôn thanh toán lãi xấp xỉ bằng lãi suất thị trường
+ Trái phiếu quốc tế thường được chia thành hai loại là trái phiếu nước ngoài và Eurobonds:
Trái phiếu nước ngoài được phát hành bởi người đi vay từ một nước khác thay vì từ nước mà trái phiếu được phát hành với mệnh giá bằng đồng tiền của nước mà trái phiếu phát hành
VD: một công ty của Đức bán trái phiếu có mệnh giá bằng đồng USD thì trái phiếu này được gọi là trái phiếu nước ngoài
Trái phiếu nước ngoài được đặt tên mang đặc điểm của quốc gia mà trái phiếu được phát hành và được đăng kí với
sở giao dịch
Trang 24VD: trái phiếu nước ngoài được bán ở Mỹ được gọi là trái phiếu Yankee Trái phiếu được yết theo đông yên Nhật và được bán ở Nhật bởi nhà phát hành không phải của nước này được gọi là trái phiếu Samurai,…
Trái phiếu Eurobonds là trái phiếu được phát hành bừng đồng tiền của một nước nhưng được bán ở thị trường quốc gia khác
VD: Trái phiếu Eurodollar là trái phiếu có mệnh giá bằng USD nhưng được bán bên ngoài nước Mỹ,…
Trái phiếu chính quyền địa phương
+ Đây là những trái phiếu được các chính quyền địa phương pháthành để huy động vốn cho các mục đích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình hạ tầng cơ sở hay phúc lợi công cộng của địa phương
+ Khác với trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương tiềm ẩn rủi ro thanh toán, tuỳ theo từng chính quyền địa phương mà mức độ rủi ro này cũng khác nhau.
d Các sản phẩm mới của chứng khoán thu nhập cố định.
- Trái phiếu được đảm bảo bằng tài sản
- Trái phiếu rủi ro thiên tai
- Trái phiếu chỉ số
Trái phiếu được đảm bảo bằng tài sản
+Là loại trái phiếu với lãi suất coupon gắn chặt với kết quả tài chính của công ty
VD: Trái phiếu đảm bảo thanh toán lãi suất theo kết quả tài chínhcủa Walt Disney
Trái phiếu rủi ro thiên tai
+ Là loại trái phiếu được phát hành với cam kết thanh toán gắn với khả năng xảy ra thiên tai
+ Những trái phiếu này đại diện cho một cách để có được bảo hiểm từ thị trường vốn trước những thảm họa nhất đinh
Trang 25VD: Electrolux đã phát hành một loại trái phiếu có khoản thanh
toán cuối cùng phụ thuộc vào liệu có động đất ở Nhật Bản hay không Winterthur vừa phát hành một loại trái phiếu mà các khoản thanh toán của trái phiếu này phụ thuộc vào tình hình liệu
có các cơn mưa đá ở Switzerland hay không
Trái phiếu chỉ số
+ Là loại trái phiếu thực hiện các khoản thanh toán gắn với một chỉ số giá nhất định hoặc giá cả của một loại hàng hóa cụ thể
VD1: Mexico vừa phát hành trái phiếu 20 năm với các khoản
thanh toán phụ thuộc vào giá dầu
VD2: chính phủ Mỹ phát hành trái phiếu chỉ số lạm phát vào
tháng giêng năm 1997 Bằng cách gắn mệnh giá của trái phiếu với mức giá chung, thanh toán coupon của trái phiếu cũng như thanh toán mệnh giá cuối kỳ của trái phiếu này tăng lên cùng chiều với chỉ số giá tiêu dùng Do đó, lãi suất của trái phiếu này
là lãi suất thực phi rủi ro
VD3: mộ trái phiếu mới được phát hành, kỳ hạn 3 năm, mệnh giá
$1.000 và lãi suất coupon 4%/năm Giả sử rằng lạm phát lần lượt
là 2%, 3% và 1% trong 3 năm tới Khoản thanh toán đầu tiên được chi trả vào cuối năm thứ nhất, tại thới điểm t=1 Bới vì làm phát sau 1 năm là 2%, nên mệnh giá của trái phiếu tăng từ $1.000lên $1.020 Do lãi suất coupon là 4%, nên khoản thanh toán coupon là 4% của mệnh giá mới này, hay chính là $40,80
Câu 4 Định giá trái phiếu ?
1.Định nghĩa
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp củangười sở hữu đối với phần vốn nợ của tổ chức phát hành
Trang 26Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn do Chính phủ hoặc Công ty phát hànhnhằm huy động vốn dài hạn.
2.Ước định giá trái phiếu
a, Ước định giá trái phiếu thông thường
-Trái phiếu thông thường là loại trái phiếu có mệnh giá, kỳ hạn và lãi suấtcuống phiếu (coupon) xác định, không kèm theo các điều kiện có thể chuyểnđổi, có thể mua đi bán lại trên thị trường
-Có 2 mô hình xác định giá trái phiếu thông thường:
+ Mô hình giá trị hiện tại hóa
+ Mô hình lợi suất
Mô hình giá trị hiện tại hóa
- Giá trị của một trái phiếu bằng giá trị hiện tại của dòng tiền kỳ vọng trongtương lai của trái phiếu đó
C: tiền lãi trái phiếu định kỳ
M: mệnh giá trái phiếu
n: số kỳ trái phiếu còn lưu hành cho đến khi đáo hạn
r: lãi suất chiết khấu
Trang 27VD: Giả sử một trái phiếu có lãi suất coupon 8%, kỳ hạn 30 năm, mệnh giá
$1.000, thanh toán laiz nửa kỳ năm với mỗi lần thanh toán là $40 Giả sửrằng lãi suất thị trường là 8% hằng năm, hoặc r = 4% kỳ 6 tháng
Khi đó giá trị của trái phiếu được tính như sau:
Nhận xét: Lãi suất coupon bằng với lãi suất thị trường và trái phiếu bằng với
mệnh giá Nếu lãi suất thị trường không bằng với lãi suất coupon của tráiphiếu thì trái phiếu không được bán với giá bằng mệnh giá
Tại mức lãi suất cao hơn, giá trị hiện tại của các khoản thanh toán nhận đượcbởi người nắm giữ trái phiếu sẽ thấp hơn Do đó, giá trái phiếu sẽ giảm xuốngkhi lãi suất thị trường tăng lên Điều này thể hiện nguyên tắc cơ bản trongđịnh giá trái phiếu Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu sẽ giảm xuốngbởi vì giá trị hiện tại của các khoản thanh toán trái phiếu nhận được sẽ đượcchiết khấu về hiện tại vớ mức lãi suất chiết khấu cao hơn
VD: Ước định giá TP mệnh giá $1000 với coupon 8% trả nửa năm với các
mức lãi suất thị trường lần lượt là 4%, 6%, 8%, 10%, 12%
Bảng giá TP với coupon 8% trả nửa năm với các mức lãi suất thị trường: